Tải bản đầy đủ (.pdf) (21 trang)

SKKN: Vận dụng tài liệu chuẩn kiến thức, kĩ năng thiết kế tiết đọc – hiểu Văn học Việt Nam trong trường THPT

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (470.76 KB, 21 trang )









SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

VẬN DỤNG TÀI LIỆU CHUẨN
KIẾN THƯC, KĨ NĂNG THIẾT
KẾ TIẾT ĐỌC – HIỂU VĂN
HỌC VIỆT NAM
TRONG TRƯỜNG THPT
GV Huỳnh Quang Sơn




A. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

iệc nhận thức về tài liệu Chuẩn kiến thức, kĩ năng còn có nhiều ngộ nhận
Khái niệm Chuẩn kiến thức, kĩ năng nên hiểu thế nào ? Nên dạy đúng Chuẩn
để HS dễ hiểu hay nên phát triển thêm kiến thức, dạy đúng cấu trúc trong
sách Chuẩn để an toàn cho GV hay nên phá vỡ cấu trúc ? Chỉ đạo từ phía thanh
tra chuyên môn có sức thuyết phục hay chỉ đạo của HĐBM có sức thuyết phục
hơn ? Mặt khác, chưa có sự đồng thuận cao ở nội bộ từng tổ chuyên môn và
các tổ chuyên môn Ngữ văn THPT trong tỉnh.
Việc cụ thể hóa nhận thức về Chuẩn vào thiết kế bài dạy và tiến trình tổ
chức các hoạt động dạy – học trên lớp còn nhiều lúng túng càng phát lộ những


mâu thuẫn ở không ít GV.

Thống nhất việc thiết kế bài dạy – học môn Ngữ văn đã được HĐBM Ngữ
văn đặt ra một cách cấp thiết. Vì thế, chúng tôi tham gia vào việc giải quyết vấn
đề soạn và dạy Ngữ văn qua sáng kiến Vận dụng tài liệu chuẩn kiến thức, kĩ năng
thiết kế tiết Đọc – hiểu văn học Việt Nam trong trường THPT.

B. THỰC TRẠNG TRƯỚC KHI THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP
Đề xuất những giải pháp cụ thể cho việc dạy – học chương trình Chuẩn rất
cần sự chia sẻ những thuận lợi, khó khăn và những cách khắc phục khó khăn của
GV dạy Ngữ văn.
I. Một số thuận lợi, khó khăn cơ bản khi thực hiện Chuẩn
1) Thuận lợi
Ý kiến của một số truờng trong tỉnh Đồng Nai: Thiết kế bài dạy theo
Chuẩn có nhiều thuận lợi
+ Nội dung ngắn gọn, định hướng được trọng tâm, dễ nhớ, dễ truyền đạt, tạo
mối liên hệ giữa GV và HS tốt hơn. Chuẩn bị thi tốt. HS thực hành ở nhà nhiều
hơn.
+ Kiến thức hay, tạo sự đồng bộ, phát huy tích cực
+ Gọn sâu, phù hợp các đối tượng
+ GV không dạy quá tải.
+ Bên cạnh đó, trong dự thảo, Bộ GD - ĐT hướng dẫn với những phần kiến
thức được điều chỉnh “không dạy” hoặc “đọc thêm”, những phần kiến thức
không yêu cầu HS phải ghi nhớ, các trường không được tổ chức kiểm tra, đánh
giá. Những kiến thức đã lược bỏ cũng sẽ không có trong nội dung đề thi của
các kì kiểm tra học kì, cuối năm, kì thi tốt nghiệp THPT…; phát huy chất xám
của toàn ngành nhằm thực hiện giảm tải, nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo
dục, tạo cơ sở quan trọng cho việc đổi mới chương trình – SGK phổ thông vào
năm 2015; Tỉ lệ GV dạy có uy tín ngày càng cao, nhiều GV trẻ đã phát huy sở
trường và sớm có uy tín trong trường, trong ngành GD – ĐT; Tâm huyết, đức

hi sinh của thầy cô giáo dạy Ngữ văn luôn dành cho các em HS, cho nghề dạy
học.
V



+ Thực tế trong chương trình hiện nay có những bài học nội dung ít nhưng
dành thời gian nhiều, ngược lại có những bài nội dung nhiều nhưng thời gian
rất ít, vì vậy chủ trương giảm tải đã tháo gỡ được khó khăn này.
2) Khó khăn
Thiết kế bài dạy theo Chuẩn có không ít bất lợi.
Có những hạn chế khi lập kế hoạch bài dạy do chủ quan từ phía GV. Một
số thầy cô giáo hiểu trách nhiệm cá nhân chưa thấu đáo; có những khó khăn từ
phía cán bộ quản lí giáo dục; từ phía phân phối chương trình… Nhưng chung
quy lại, những khó khăn từ nhiều nguyên nhân là có thực. Xin nêu lại một vài
thực trạng :
+ Một số GV thiếu tầm xác định và bám sát chuẩn tối thiểu, luôn thụ động
trong cách truyền thụ, không biết “đãi cát tìm vàng” ( ). Hậu quả là người
học bị nhồi nhét kiến thức, luôn phải chịu áp lực quá tải.
+ Có nhiều GV tích cực suy nghĩ, tìm tòi, cải tiến và đổi mới PPDH với nhiều
cách thức sáng tạo nhưng không được sự hưởng ứng vì đồng nghiệp sợ không
sát đáp án thi… sinh ra bất lợi. Khi đánh giá một tiết dạy người dự coi trọng
tính bài bản của từng bước thực hiện ( Nội dung – nghệ thuật – ý nghĩa văn
bản ) mà xem nhẹ khả năng sáng tạo của người dạy. Kết cấu bài học theo
kiểu kịch “tam duy nhất ( Nội dung – nghệ thuật – ý nghĩa văn bản ) phá vỡ
nguyên tắc Đọc – hiểu văn bản nói chung, Đọc – hiểu văn bản theo loại thể nói
riêng. Thực tế để ứng xử với điều này GV an ủi nhau : dạy cho kịp giờ, tròn
bài, đủ ý để an toàn. Nhiều giờ đánh giá loại giỏi lại từ cái gọi là tiêu chí này.
Khoảng cách giữa GV có năng lực thật sự và GV kinh nghiệm còn khiêm tốn
vô hình trung bị xóa nhòa, rút ngắn.

+ Khâu biên soạn SGK, phân phối khung chương trình THPT là do Vụ Trung
học quyết định, khâu ra đề thi lại do Cục Khảo thí làm. Hai khâu này dường
như vẫn chưa tìm được tiếng nói chung”.
+ GV chỉ dừng lại ở việc trình bày những kiến thức đơn giản, tối thiểu ( mà
HS dễ dàng tự học ) thì dễ gây hiện tượng nhàm chán, chủ quan ở HS.
+ Khái niệm “quá tải” không được diễn giải một cách rõ ràng, nếu không
muốn nói là còn mơ hồ.
+ Học Chuẩn không học SGK cũng không đủ, ngược lại học SGK cũng sợ
thiếu kiến thức. Nói gì ? Bỏ gì ? Cho ghi thế nào là đủ kiến thức ? Theo chuẩn
không thực sự an tâm. Khổ vì Chuẩn và sách “đá”nhau.
+ Bài soạn theo chuẩn không đủ kiến thức cho HS thi TN THPT.
+ Sự cố “lệch pha” giữa đáp án và hướng dẫn ôn tập của Bộ. Thí sinh trả lời
theo chuẩn đã bị thiếu đơn vị kiến thức trong khi Bộ GD - ĐT yêu cầu GV
không “quá lệ thuộc vào SGK” ( mà phải “bám sát Chuẩn kiến thức, kĩ năng”
). Vẫn còn đó nỗi ám ảnh của GV và HS.
- Hiện nay, GV dạy Ngữ văn có những bức xúc trong việc thực hiện
chương trình Chuẩn kiến thức, kĩ năng
Bộ GD-ĐT yêu cầu GV bám sát “Chuẩn kiến thức - kĩ năng”, “không quá
lệ thuộc vào SGK”. Vậy thế nào là “quá lệ thuộc vào SGK”, trong khi Luật Giáo
dục 2005 đã quy định “Yêu cầu về nội dung kiến thức và kĩ năng quy định trong


chương trình giáo dục phải được cụ thể hóa thành SGK ở giáo dục phổ thông” (
khoản 3, điều 6 ).
- Nhiều GV không đồng tình tên gọi của bộ tài liệu này : Đã gọi là tài liệu
Chuẩn, nội dung, kiến thức biên soạn trong đó phải đạt đến độ hoàn hảo,
chính xác. Những gì trong tài liệu này lại cho thấy chưa đúng như tên gọi thật
sự của nó. Thậm chí, GV còn dùng các kiến thức của SGV và nhiều tài liệu
khác để nhặt lỗi và sửa sai cho sách Chuẩn.
3) Số liệu thống kê :


KHỐI TỔNG SỐ TRƯ
ỚC TÁC ĐỘNG
SAU TÁC ĐÔNG

12 93 36 (38.7%) 57 (61.3 %)
11 80 27 (33,8 %) 53 (66.2 %)
10 79 23 (29.1 %) 56 (70,9 %)
3 KHỐI 252 86 (34.1 %) 166 (65.9 %)

Như vậy, khi áp dụng chuẩn kiến thức vào dạy học, đa số HS thỏa mái học
tập hơn. Điều này cũng đúng với các trường trong 2 huyện lân cận. Có lẽ nói,
đó là cơ sở thực tiễn của vấn đề.

C. NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI
I- Cơ sở lí luận
- Chuẩn là những yêu cầu, tiêu chí (gọi chung là yêu cầu) tuân theo những
nguyên tắc nhất định, được dùng để làm thước đo đánh giá hoạt động, công
việc, sản phẩm của lĩnh vực nào đó. Đạt được những yêu cầu của Chuẩn là đạt
được mục tiêu, mong muốn của thầy cô giáo
Một trong những lí do khiến GV chưa hiểu về Chuẩn là GV không đọc kĩ
Giới thiệu chung về Chuẩn kiến thức kĩ năng của chương trình giáo dục phổ
thông ở những trang đầu mỗi cuốn tài liệu Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức
kĩ năng, dẫn đến điều từng được kì vọng thành điều bất an. Theo ông Vũ Đình
Chuẩn, Vụ trưởng Vụ Giáo dục phổ thông, Bộ GD – ĐT thì mục đích của việc
giảm tải lần này là cắt giảm các nội dung quá khó, trùng lặp, chưa thật sự
cần thiết đối với học sinh cũng như các câu hỏi, bài tập, đòi hỏi phải khai
thác quá sâu kiến thức lý thuyết, để giáo viên và học sinh dành thời gian cho
các nội dung khác nhau. Tạo thêm điều kiện cho giáo viên đổi mới phương
pháp dạy học theo yêu cầu chương trình giáo dục phổ thông năm học 2011 –

2012. Các Sở sẽ triển khai nội dung tới các trường và hướng dẫn GV thực hiện.
Để đảm bảo chương trình, Bộ sẽ phối hợp với các Sở kiểm tra, đánh giá. Những
phần nào không dạy, đọc thêm sẽ không nằm trong chương trình kiểm tra”.
Như vậy, trọng tâm giảm tải đã được lưu ý, ghi chú, sửa chữa, loại bỏ
những kiến thức những sai sót, dư thừa trong SGK phát hành trước 2011. GV
chỉ cần đối chiếu và thực hiện đúng hướng dẫn để đảm bảo tính thống nhất của
chủ trương.
- Quan điểm của lãnh đạo ngành giáo dục và các nhà nghiên cứu,
chương trình Chuẩn kiến thức, kĩ năng


- Quy định trong Chương trình giáo dục phổ thông, ban hành theo Quyết
định số 16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 5 tháng 5 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ GD -
ĐT. Đó là những “ Yêu cầu cơ bản, tối thiểu về kiến thức, kĩ năng của môn
học, hoạt động giáo dục mà HS cần phải và có thể đạt được…”; “ là cơ sở để
biên soạn SGK, quản lí dạy học, đánh giá kết quả giáo dục ở từng môn học và
hoạt động giáo dục…”. Bộ GD-ĐT không hề chỉ đạo GV phải dạy hết những
nội dung trong SGK, mà cả việc dạy học cũng như kiểm tra, đánh giá đều phải
bám sát chương trình. Tình trạng GV dạy ôm đồm tất cả những gì ở SGK là do
GV chưa hiểu sâu yêu cầu chương trình, do chất lượng tập huấn GV dạy chương
trình mới không đạt hiệu quả và cán bộ quản lí giáo dục các cấp không hướng
dẫn rõ ràng, cụ thể cho GV khi triển khai chương trình - SGK mới. GV hiểu
chưa đúng thì HS cũng như vậy.
- Quan điểm giảm tải nêu trên đã định hướng tổng quát về phương
pháp :
Ông Vũ Nho phát triển thêm khái niệm Chuẩn để làm rõ mức độ khác nhau
của khái niệm Chuẩn. Có 3 loại chuẩn : Chuẩn tối thiểu, Chuẩn thông dụng,
Chuẩn tối đa. Chuẩn tối thiểu ( Thể hiện điều cần thiết và cơ bản mà mọi HS tại
một trình độ nhất định ở một môn nhất định phải biết và nắm vững được; Thể
hiện mục tiêu của GV và của trường để đưa tất cả HS tới trình độ này ). Chúng

ta đã xây dựng chương trình và viết SGK theo cả ba mức Chuẩn. Chúng ta dạy
học và kiểm tra đánh giá cũng kết hợp cả ba mức Chuẩn. Tùy từng vùng miền,
tùy từng lớp học cụ thể, người GV sử dụng phối hợp tỉ lệ ba mức Chuẩn đó sao
cho hiệu quả nhất.
Để thực hiện định hướng giảm tải, bản thân GV phải cụ thể hoá, chi tiết
hoá, tường minh hoá những nội dung, những căn cứ để dạy học, kiểm tra, đánh
giá chất lượng. Phải biết dừng, lướt qua một số đơn vị trí thức và kĩ năng HS đã
thật sự thông hiểu để mở rộng, nâng cao…

Giảng dạy là một nghệ thuật hợp tác. GV không cung cấp, nhồi nhét kiến
thức có sẵn cho HS mà phải hình dung trước công việc mà thầy cô giáo sẽ tổ
chức cho HS học tập trên lớp. Điều đó chứng tỏ thầy mới thật sự là “sư”, trò
mới được tôn trọng… , hiệu quả tiết dạy mới phát huy tính tích cực.
Cần phối hợp các phương pháp và các hình thức tổ chức dạy học ( HĐBM
Ngữ văn Đồng Nai đã hướng dẫn kĩ )… Khai thác sâu phương pháp bình văn,
thảo luận nhóm và nêu vấn đề… nhằm phát huy cao nhất phương pháp chủ
động, tích cực.

II. Nội dung và giải pháp cụ thể
1) Xác định đúng mục tiêu bài học
Căn cứ vào Chuẩn kiến thức đã định hướng. Ngoài ra cần bổ sung mục
tiêu bài dạy – học qua tích hợp giáo dục (KNS, bảo vệ môi trường, giới tính…);
tích hợp ba phân môn : Tiếng Việt – Làm văn – Văn học). Tùy từng bài để khéo
léo chọn lựa nội dung tích hợp. Mũi tên bắn không trúng đích thường đi xa hơn
đích; Bài dạy thường kéo dài nếu mục đích xác định không sát hợp.


Mở đầu tiết dạy, GV hỏi HS : Chúng ta học bài hôm nay để đạt được điều
gì ?. GV giúp HS phải trả lời được điều này.
Khi tự học, HS có thói quen suy nghĩ về mục tiêu bài học để các em xác

định được nội dung, cách học bài…
2) GV phải hiểu và cảm bài dạy - học thật sâu.
Hiểu đời và hiểu người, có kiến thức thực tế phong phú, chúng ta sẽ dễ
dàng thuyết phục HS hơn
Với tư cách bạn đọc, nhất là với tư cách người dạy GV phải sống với tác
phẩm bằng toàn bộ tâm hồn, bằng toàn bộ sự hiểu biết của mình qua đó cảm
nhận được cái thông điệp thẩm mĩ - ý đồ sáng tạo của nghệ sĩmà nghệ sĩ muốn
gửi đến cho độc giả. Chỉ có hiểu biết mới gợi được hiểu biết, chỉ có tình yêu mới
gợi được tình yêu.
3) Vai trò của người thầy trong việc dạy học theo phương pháp tích cực:
Vai trò của GV vô cùng quan trọng trong sự nghiệp đổi mới giáo dục. Đó
là vai trò đạo diễn, mặt khác phải quán triệt rõ ý nghĩa của việc dạy học vì bản
chất của dạy học là dạy người khác, hướng dẫn người khác học cái gì và học
như thế nào cho có hiệu quả. Hơn bao giờ hết, người GV rất cần : phải trang bị
kiến thức và các kĩ năng quản lí chất lượng dạy học như: soạn bài – lên lớp –
chấm bài, đánh giá kết quả học tập của HS – rút kinh nghiệm, cải tiến phương
pháp dạy học… theo một lịch trình, hợp lí và hiệu quả. Từ đó, họ mới thực sự
trở thành “lực lượng quyết định chất lượng giáo dục” của nhóm, tổ bộ môn, của
từng trường học, và rộng hơn, của cả nền giáo dục.
Bên cạnh tri thức sâu rộng, người GV ngày nay, khi chuẩn bị cho giờ lên
lớp ở các khâu: soạn bài, nhất thiết phải thiết kế, lựa chọn, tổ chức sắp xếp nội
dung kiến thức và hệ thống phương pháp dạy học sao cho vừa tuân thủ tính chặt
chẽ và logic của tri thức khoa học, vừa đạt những yêu cầu sư phạm phù hợp với
các quy luật dạy học và quy luật nhận thức của HS; khi dạy học trên lớp lại phải
tổ chức, thiết kế các tình huống hoạt động giữa thày và trò, tổ chức, điều hành,
hướng dẫn, khích lệ, động viên các hoạt động của HS một cách sinh động sao
cho các em được làm việc tích cực, được nghĩ, được nói, được thể hiện khả năng
và bản sắc riêng của mình, được tạo nhiều cơ hội nhằm phát triển việc học của
họ.
Tiến trình đổi mới phương pháp dạy học ngày nay đòi hỏi người GV còn

phải kết hợp sử dụng các phương tiện, thiết bị, giáo dục hỗ trợ cho phương pháp
dạy học của mình, tổ chức các hình thức, biện pháp kiểm tra nhằm nắm vững kết
quả học tập, tu dưỡng. Từ đó, đánh giá đúng chất lượng học tập của HS mình
dạy, còn phải phát hiện những điểm mạnh, yếu trong cả việc dạy của mình để đề
xuất những cải tiến và chương trình rèn luyện
Không cho phép bản thân mình là nguồn tri thức để nhồi vào tâm trí hồn
nhiên của HS. GV lâu năm đã từng phát biểu : Thức dậy khát vọng học trò
trong những giờ giảng văn là tạo ra bầu không khí văn chương. Đó là một bầu
không khí cởi mở dân chủ, bầu không khí đối thoại. Bước vào giờ giảng là bước
vào một không khí được sẻ chia, được trao đổi, tâm tư, ở đó, thầy và trò bình
đẳng với nhau trong quá trình khám phá và sáng tạo. Mọi áp đặt, mọi thiên
kiến chủ quan, mọi bài xích và thoá mạ sẽ giết chết không khí văn chương. Bao


nhiêu năm đi dạy, chúng tôi đã kiên nhẫn, đã khuyến khích để lắng nghe được ý
kiến từ học trò. Một câu hỏi đúng lúc, đúng chỗ, vừa sức; một ánh mắt thiện
cảm, một lời động viên khích lệ, một sự chờ đợi không nôn nóng, một sự tranh
thủ thêm nhiều ý kiến, một giả định, một nhận xét thoả đáng, đó là những gì
ngoài văn chương hết sức cần thiết để nhen lên khát vọng từ học trò vốn dĩ đã
nguội lạnh.
Văn chương hấp dẫn người đọc bởi tính hình tượng, tính gợi hình gợi cảm
của nó. Dạy đúng chưa phải là cái đích của môn văn mà còn phải dạy sao cho
có hồn, cho sinh động, cho hay.
4) Vấn đề tiến trình tổ chức hoạt động của thầy và trò
Việc thực hiện các bước lên lớp phải thật mềm dẻo. Không nhất nhất phải
là 5 bước và phải theo đúng trình tự có tính chất truyền thống.
Kiểm tra bài cũ đồng thời kiểm tra việc chuẩn bị bài mới. Với lớp yếu, việc
kiểm tra bài cũ đầu giờ đối với HS không thuộc bài, thầy bực mình la mắng…
trò hồn kinh phách lạc, giờ học không thể thực hiện theo hướng Vui để học mà
chỉ là nghĩa vụ phải dạy và nghĩa vụ phải học. Có thể kiểm tra đan xen vào quá

trình dạy một cách khéo léo; có thể kiểm tra vào cuối giờ học.
Khi hướng dẫn HS học tại nhà, GV cần gợi ý cách tìm hiểu, phát hiện vấn
đề song song với yêu cầu nắm các đơn vị kiến thức.
Ngay cả việc thực hiện từng bước cũng phải linh hoạt về hình thức tổ
chức và dung luợng kiến thức truyền thụ vì chương trình và SGK mới đã được
thiết kế theo lối dạy và học "động". .
5) Tìm hiểu chung cần tinh giản, linh hoạt, có không khí văn chương.
Không chờ tới bước Đọc - hiểu văn bản mới thể hiện điều này. Giới thiệu
tác giả, sách Chuẩn kiến thức, kĩ năng nhấn mạnh ở yếu tố con người và vị trí
của tác giả. Đó là ý đồ của người viết sách ( Xem lại quan niệm về Chuẩn ). GV
không nên cho rằng người viết sách chưa viết đủ kiến thức. Phần tiểu sử, con
người; Quan điểm sáng tác; sự nghiệp sáng tác; phong cách tác giả đã có trong
tiểu dẫn – sách HS, sách GV, tư liệu tham khảo của thầy cô giáo. Theo chúng
tôi, hoạt động này nên tạo điều kiện cho HS thể hiện dưới sự điều khiển của
thầy cô giáo. HS ghi chép kết hợp gạch chân bằng bút đỏ vào sách. GV cần gợi
dẫn cho HS.
Ví dụ : Tại sao tác giả lại viết văn lãng mạn mà không viết văn hiện thực ?
Yếu tố nào thuộc tiểu sử, con người tác giả có tác động tích cực cho việc ra đời
tác phẩm (mối quan hệ của các yếu tố quê hương, gia đình, bản thân). Không
đặt vấn đề này HS không chịu động não.
Phần giới thiệu – phân tích khái quát tác phẩm cần
Xác định thể loại ( Nhận diện đặc điểm thể loại, phân tích vai trò và tác
dụng của thể loại ) Không bỏ sót, không cho là dễ mà lướt qua. Tác giả chọn thể
loại không hề ngẫu nhiên. GV không nên cho rằng giảm tải thì muốn cắt xén
kiến thức thế nào thì cắt.
Việc đọc tác phẩm cần hướng dẫn về âm hưởng, tiết tấu và giải thích từ
khó, từ có vai trò ngữ pháp nòng cốt, từ Hán – Việt, điển tích, điển cố, hư từ…
có nhiều ý nghĩa trong biểu hiện. Giải nghĩa từ và nhóm từ giúp HS mạnh dạn
khai thác nghĩa văn cảnh, mạnh dạn phát biểu cảm nhận ngôn từ…



Tìm bố cục của văn bản trong phạm vi nhà trường là cần thiết ( Khác phân
tích văn học ngoài nhà trường ). Ví dụ tìm bố cục cho bài thơ trữ tình GV hỏi
HS bài thơ có mấy chặng cảm xúc chính.?
6) Đặc biệt là buớc Đọc – hiểu ( phần phân tích trực tiếp tác phẩm ).
GV và HS phải đi sâu vào xác định và phân tích các tín hiệu thẩm mĩ của
văn bản văn học bằng một hệ thống câu hỏi.
Dạy chuẩn kiến thức, kĩ năng càng phải biết đặt câu hỏi. Cũng như việc
thiết lập hệ thống câu hỏi trước khi có chương trình Chuẩn, tránh hỏi để hỏi hay
hỏi nhiều câu tái hiện khiến HS tri nhiều mà thức ít. Câu hỏi hay là kết quả của
khoa học, nghệ thuật và sư phạm. Chú trọng câu hỏi có tính chất vừa sức lại có
sự tạo sức; Câu hỏi trên lớp có quan hệ với câu hỏi trong SGK và trong Thiết kế
… của GV. Câu hỏi còn phải phong phú và hấp dẫn và có vấn đề… Hỏi hướng
vào các yếu tố của văn bản, yếu tố ngoài văn bản và hỏi về vai trò của người
tiếp nhận. Hỏi là quyền, biết hỏi là biến. Hỏi là thứ quyền biến trong tay người
thầy.
7) Vấn đề bình văn
Cần chủ động bình cái gì, bình như thế nào, kết hợp với giảng ra sao thì
mới khai thác cái hay, cái đẹp của nội dung, của nghệ thuật và mối quan hệ giữa
nội dung và nghệ thuật. HS có hứng thú hay không phụ thuộc vào phương pháp
này rất nhiều. Qua bình văn các em có hạnh phúc trí tuệ, hạnh phúc thẩm mĩ và
biết vận dụng diễn đạt – hành văn khi nói – viết.
8) Vấn đề ghi bảng và trình bày thiết kế bài dạy – học
Ví dụ :
1/- Phố huyện lúc chiều tàn
 Chiều êm như ru, văng vẳng tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng…
 Trên đất chỉ còn rác rưởi, vỏ bưởi, vỏ thị… mùi ẩm bốc lên. Mấy
đứa trẻ con nhà nghèo lom khom nhặt nhạnh…
 Mẹ con chị tí dọn hàng
 Ngọn đèn Hoa kì vặn nhỏ, leo lét

Sau đó ta phân tích và khái quát bức tranh thiên nhiên; Cách miêu tả ( Nghệ
thuật ) => Ý nghĩa phản ánh.

Còn ý nghĩa biểu hiện là vấn đề trao đổi và HS tự ghi. HS biết cách dạy của
thầy sẽ biết cách ghi bài.
(…)

Chúng tôi chia sẻ với tác giả viết Chuẩn kiến thức, kĩ năng ở cách trình
bày ( Nội dung - hình thức – ý nghĩa văn bản ) : Vì mục đích đưa ra kiến thức
tối thiểu cho HS cấp THPT nên không yêu cầu cao. Vì thế, GV cứ nghĩ Chuẩn
kiến thức, kĩ năng là giáo án – Giáo án thì phải kĩ lưỡng cả về nội dung cần đạt,
hoạt động từng phần. GV không nhìn thấy khi viết sách tác giả phải thỏa mãn
nhiều giới hạn nên cần có kiến thức vừa khách quan, vừa trung dung. Và vì thế
ghi theo cấu trúc : Nội dung – Nghệ thuật – Ý nghĩa văn bản để khái quát các
kiến thức.


Chúng tôi không chấp nhận khi dạy học lại trói cột GV theo cấu trúc đó,
bởi đứng ở góc độ chuyên môn cấu trúc đó hoàn toàn không khả thi. Có chăng
chỉ phù hợp với định hướng chuẩn hay ôn tập kiến thức. Đó không phải là Thiết
kế của người dạy. Nên chăng có thể ghi: Tìm hiểu chung – Đọc hiểu văn bản –
Ghi nhớ.
9) Vấn đề đánh giá giờ dạy của GV
Đánh giá hoạt động dạy học không chỉ đánh giá thành tích học tập của HS,
mà còn đánh giá cả quá trình dạy học nhằm cải tiến hoạt động dạy học.
Một đến hai tiết dự giờ đánh giá cả quá trình một năm học hoặc hơn thế
nữa. Vì vậy cần hướng vào tính hiệu quả, nghiệp vụ sư phạm ( Xử lí tình huống
). Một giờ dạy không có hồn nhưng đúng giờ là kém ý nghĩa, nhưng thực tế
người dự giờ thường đánh giá cao. Trên phiếu đánh giá không thể hiện sự mềm
hóa trong đánh giá – nặng về định lượng, nảy sinh sự thiếu công bằng, thiếu

thân ái. Cũng cần phải công nhận rằng : Tiến hành giờ dạy hoàn hảo cả về kiến
thức, kĩ năng, tạo dấu ấn… và đúng thời gian … thì quá tuyệt vời.
10) Vấn đề kiểm tra, đánh giá HS
Kiểm tra đánh giá được quan niệm là việc học tập dưới hình thức mới hay
là cách để điểu chỉnh dạy và học… Nói cách khác đó là khâu kiểm soát các yếu
tố đầu ra của quá trình dạy – học. Kiểm tra để rút kinh nghiệm lần sau tốt hơn.
Kiểm tra thường xuyên và định kì theo hướng vừa đánh giá được đúng
Chuẩn kiến thức, kĩ năng, vừa có khả năng phân hoá cao ; kiểm tra kiến thức, kĩ
năng cơ bản, năng lực vận dụng kiến thức của người học, thay vì chỉ kiểm tra
học thuộc lòng, nhớ máy móc kiến thức.
GV không tự trói cột mình vào hệ thống câu hỏi và bài tập trong tài liệu
Chuẩn kiến thức, kĩ năng - đã giảm tải, rồi khen chê thiên về sự chủ quan. Thầy
cô là nhà sư phạm, nhà nghiên cứu khoa học, nhà tâm lí, ngừơi dạy nghệ thuật
phải bổ sung bài tập sau tiết dạy tùy trình độ của đối tác – HS, tùy vùng miền…
Thêm một lần nữa, chúng tôi muốn nhắc lại : Đơn vị kiến thức đã tối thiểu thì
đừng để thiếu, còn mức độ kiến thức mở rộng, đào sâu… là tùy GV – HS. Quả
thật HS đã giỏi có thể các em viết chuyên đề đuợc chứ không chỉ trả lời câu hỏi
củng cố, mở rộng và nâng cao.
11) Vấn đề giáo dục tư tuởng
Vấn đề giáo dục tư tuởng đan xen trong quá trình dạy học. Kết hợp khi khai
thác thông điệp của tác giả qua chi tiết tiêu biểu, qua điểm sáng nghệ thuật…
Không biến cách liên hệ - rút ra bài học theo một công thức. Giáo dục tư tưởng
của giờ văn khác với giờ giáo dục công dân. Vốn dĩ văn chương là nghệ thuật.
Giáo dục không khéo sẽ tạo sự phản cảm.
Ví dụ : Dạy bài Mộ - Hồ Chí Minh trong lúc cả dân tộc Học tập và làm theo
tấm gương đạo đức của Người, cần nhận thức : Bác – nhân vật trữ tình trong bài
thơ quả là bậc trí nhân mới có thể quên đi những nỗi đau khổ tột độ của riêng
mình để trìu mến từng cánh chim trời, từng đám mây trôi, để nặng tình thương



cho một kiếp sống cần lao, hay còn vĩ đại hơn nữa nếu được hiểu rằng – để chia
sẻ với những niềm vui rất đỗi bình thường của người dân mà Bác không hề quen
biết…
Biết rằng nói thì dễ, làm thì khó nhưng không khởi động thì sao có chuyển
động, chuyển động tích cực. Hi vọng gieo lúa thì gặt lúa ( đôi khi phải gặt cỏ )
nhưng gieo cỏ thì không thể gặt lúa.

D- KẾT QUẢ THỰC HIỆN
1 HS có học lực trung bình tự tin hơn khi học môn Ngữ văn. Thậm chí còn
thuộc cả bài dạy và làm được nhiều câu hỏi và bài tập. HS khá đã tăng lên kể
cả lớp học yếu.
2 Tổ bộ môn Văn không phải bàn luận quá nhiều về việc dạy cái gì ? và dạy
như thế nào cho đúng Chuẩn.
3 Việc thi cử đã sát với trọng tâm hơn. Công bằng, khách quan hơn.
4 Ban giám hiệu bớt phần lo lắng về chất lượng bộ môn

E- BÀI HỌC KINH NGHIỆM
1 Phải đọc tài liệu Chuẩn thật kĩ mới thực sự hiểu tầm khái quát vấn đề của
người viết tài liệu. Qua đó thấy độ hàm súc của vấn đề.
2 HS sẽ phải chuẩn bị kĩ trước khi học trên lớp vì chủ quan sẽ không cụ thể
hóa được bài học. GV cũng không thể chủ quan vì thấy bài ghi trong tài liệu
ngắn, bởi làm cho bài dạy có chiều sâu và sôi nổi không đơn giản.
3 Nên soan bài từ dịp hè mỗi năm may ra mới kịp tiến độ. Nước ngoài họ
cũng làm như vậy.
4 Trước khi có tài liệu Hướng dẫn thực hiện chuẩn KT-KN môn Ngữ văn, GV
thường dựa trên hai nguồn chủ yếu sau để xác định mục tiêu bài học : Kết
quả cần đạt trong SGK và Mục tiêu bài học trong Sách Giáo viên. Nay, khi
đã có tài liệu Hướng dẫn thực hiện chuẩn KT-KN môn Ngữ văn, GV cần
dựa vào phần Mức độ cần đạt và Trọng tâm kiến thức kĩ năng của tài liệu
này (có đối chiếu với các nguồn trong SGV và SGK) để xác định mục tiêu

bài học, tiết học.
5 Nhìn chung, giữa các tài liệu này không có sự mâu thuẫn nào cả. Tài liệu
Hướng dẫn thực hiện chuẩn KT-KN môn Ngữ văn cũng được biên soạn trên
cơ sở CT GDPT môn Ngữ văn và đã có đối chiếu, thống nhất với SGK và
SGV. Trong trường hợp có sự vênh lệch nhất định nào đó thì Hướng
dẫn thực hiện chuẩn KT-KN môn Ngữ văn chính là căn cứ pháp lý cuối
cùng mà người GV cần phải dựa vào để xác định mục tiêu tiết học, bài
học.
6 Cũng giống như trên, trước khi tài liệu Hướng dẫn thực hiện Chuẩn KT-
KN môn Ngữ văn ra đời, nhiều GV và cán bộ chỉ đạo chuyên môn chủ yếu
dựa vào phần Trọng tâm bài học (SGV) và Ghi nhớ (SGK) để xác định và
thống nhất những KT-KN căn bản, tối thiểu của bài học, tiết học. Tuy
nhiên, nội dung KT-KN được trình bày ở các tài liệu trên cũng rất khái


quát, gây không ít khó khăn cho GV nhất là khi phải minh định thật chi tiết
các đơn vị kiến thức của bài học.
7 Sự ra đời của cuốn Hướng dẫn thực hiện chuẩn KT-KN môn Ngữ văn
giúp GV giải quyết vướng mắc đó, song cũng đòi hỏi người sử dụng phải
khai thác tài liệu này thật sự khoa học và sáng tạo. Một mặt, cần bám sát
Chuẩn KT-KN, nhất là các mục II. Trọng tâm KT-KN và III. Hướng dẫn
thực hiện để thiết kế dạy học nhằm đạt được các yêu cầu cơ bản, tối thiểu
của giờ học, tránh lệ thuộc hoàn toàn vào SGK hay cố dạy hết toàn bộ nội
dung mà SGV nêu ra dẫn đến thiếu thời gian, quá tải, nặng về thuyết trình.
Mặt khác, cần căn cứ vào khả năng tiếp thu của HS, vào mục tiêu bồi
dưỡng HS năng khiếu để điều chỉnh, bổ sung, dạy vượt chuẩn, trên chuẩn,
chứ không cứng nhắc và máy móc chỉ dừng lại ở chuẩn.
8 Chuẩn KT-KN, trước hết là “đề cương chi tiết” để người GV xuất phát từ
đó xác định các tri thức cụ thể trong SGK hoặc trong các tài liệu tham khảo.
Nói cách khác, việc khai thác tri thức nào của bài học trong SGK hay trong

tài liệu tham khảo là dựa trên các đơn vị kiến thức đã được nêu ra trong
Hướng dẫn thực hiện chuẩn KT-KN môn Ngữ văn.
F- KẾT LUẬN
1. Để dạy và học theo Chuẩn HS phải làm việc nhiều hơn, nhất định phải
nghiên cứu trước các dữ liệu, từ đó các em tự rút ra kiến thức cho mình.
2. GV còn phải nghiên cứu tài liệu Hướng dẫn thực hiện chuẩn KT-KN môn
Ngữ văn để xác định những phạm vi KT-KN mà HS cần phải đạt được sau
tiết học. Điều này có nghĩa là trong hồ sơ dạy học của mình, kể từ bây giờ,
người GV có thêm một công cụ thường trực và đắc lực giúp cho việc dạy
học một cách hiệu quả. Về phía cơ quan chỉ đạo, Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ
chỉ đạo các bộ phận chức năng, NXB Giáo dục nhanh chóng in và phát
hành tài liệu Hướng dẫn thực hiện chuẩn KT-KN môn Ngữ văn để mỗi GV
có một bộ (03 quyển) và các bậc phụ huynh có thể mua giám sát việc học
tập của con em mình.
3. Công việc dạy Ngữ văn là công việc luôn đòi hỏi chúng ta không ngừng tận
tâm, tận lực một cách say mê với nghề; công việc đầy nhọc nhằn ngày đêm
nhưng cũng chính vì thế mà dạy Văn đem lại cho cuộc đời ta bao hạnh phúc
tinh thần. Ta có quyền tự hào về điều đó.
4. GV dạy Ngữ văn đã có quá nhiều nỗ lực trong công việc của mình, nay cần
nỗ lực hơn nữa để bắt kịp yêu cầu mới; Phải khiêm tốn học hỏi đồng nghiệp
qua các cuộc họp tổ chuyên môn, qua trao đổi thông tin, tư liệu với đồng
nghiệp xa gần.
5. Tình yêu văn học, ý chí phấn đấu là điều kiện cần nhưng còn cần lắm sự
chia sẻ của các cấp lãnh đạo qua các tiết dự giờ thăm lớp, thao giảng cấp
trường. Điều này rất quan trọng vì nó tác động đến hứng thú, hiệu quả học
văn, ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng thi cử. bên cạnh đó sự cảm thông
và chỉ đạo chuyên môn kịp thời sẽ giúp thầy cô giáo dạy Văn để họ giữ lửa
tốt hơn, góp phần đắc lực hơn nữa trong việc thực hiện thiên chức dạy chữ
và dạy Người.



6. Nhà trường cần mua sắm các thiết bị phục vụ thiết thực, kịp thời cho bộ
môn Văn.
7. Môn Ngữ văn là môn khoa học và nghệ thuật. Vì thế các cấp quản lí cần có
sự nhìn nhận, đánh giá linh hoạt hơn, thỏa đáng hơn đối với khâu lập kế
hoạch bài dạy cũng như thực hiện trên lớp.

THIẾT KẾ THỂ NGHIỆM

Là thiết kế cụ thể để minh họa chuyên đề, không phải là thiết kế mẫu. Đồng
nghiệp sẽ tham khảo được điều gì đó và sẽ rút được kinh nghiệm từ sự chưa vừa
ý của bản thân.

Tiết : 82
ĐÂY THÔN VĨ DẠ
( HÀN MẶC TỬ )

I. MỨC ĐỘ CẦN ĐẠT
- Cảm nhận được tình yêu đời, lòng ham sống mãnh liệt và đầy uẩn khúc qua
bức tranh phong cảnh xứ Huế;
- Nhận biết đuợc sự vận động của tứ thơ, của tâm trạng chủ thể trữ tình và
bút pháp tài hoa, độc đáo của Hàn Mặc Tử.
II.
TRỌNG TÂM KIẾN THỨC, KĨ NĂNG

1) Kiến thức
- Vẻ đẹp thơ mộng, đượm buồn của thôn Vĩ và nỗi buồn, cô đơn trong cảnh
ngộ bất hạnh của một con người tha thiết yêu thiên nhiên, yêu sự sống.
- Phong cách thơ Hàn Mặc Tử qua bài thơ : Một hồn thơ luôn quằn quại yêu,
đau; trí tưởng tượng phong phú; hình ảnh thơ có sự hòa quyện giữa thực và ảo.

2) Kĩ năng
- Đọc hiểu một bài thơ trữ tình theo đặc trưng thể loại
- Cảm thụ, phân tích tác phẩm thơ.
3) Thái độ : Tình yêu thiên nhiên, đất nước và con người.
III. TIẾN TRÌNH TỔ CHỨC DẠY HỌC
1) Ổn định tổ chức lớp
2) Kiểm tra việc chuẩn bị bài của HS
3) Dẫn vào bài mới ( HS mở sách vở xong, GV nói chậm lời vào bài. )
Trời hỡi nhờ ai cho khỏi đói
Gió trăng có sẵn làm sao ăn
Làm sao giết đuợc nguời trong mộng
Để trả thù cho duyên kiếp phũ phàng.
Hàn Mặc Tử thầm yêu Hoàng Cúc, một thiếu nữ xinh đẹp ở thôn Vĩ Dạ -
Huế. Rồi xa cách. Rồi lâm bệnh. Lâu chưa về Vĩ Dạ… Khoảnh khắc kì diệu của
tâm linh, thi nhân đã để cho đời một bài thơ bất tử - Đây thôn Vĩ Dạ

HOẠT ĐỘNG CỦA THẦY VÀ TRÒ YÊU CẦU CẦN ĐẠT


I HOẠT ĐỘNG CỦA THẦY VÀ TRÒ

Hoạt động 1 : TÌM HIỂU KHÁI QUÁT
 HS đọc tiểu dẫn và tóm tắt
* GV hỏi : Cuộc đời và sự nghiệp văn học của Hàn
Mặc Tử có gì đặc biệt ?
 HS trả lời
* GV nhấn mạnh :
Cuộc đời đầy bất hạnh và ngắn ngủi. Càng tự tuyệt
giao với xã hội, tình nhớ thương càng mãnh liệt, quằn
quại đến kinh dị (Sống 28 năm, 4 năm cuối đời sống xa

lánh mọi người, tình duyên trắc trở, ở Quy Hòa…).
* GV cho HS xem 1 số hình ảnh về Hàn Mặc Tử, Vĩ Dạ,
Huế.
* GV hỏi : Vị trí của Hàn Mặc Tử trong phong trào
Thơ mới ?
 HS trả lời
* GV nhấn mạnh : -Sức sáng tạo mạnh mẽ - Hiện tuợng
thơ lớn và kì lạ vào bậc nhất của phong trào Thơ mới. Bút
danh Phong Trần, Lệ Thanh…

1- Tác giả Hàn
Mặc Tử - Nguyễn
Trọng Trí ( 1912 –
1940 )
- Là người có số
phận bất hạnh ( bị
bệnh phong hành hạ

=> Chủ động tuyệt
giao với tất cả
nhưng không tuyệt
tình.)
- Có sức sáng tạo
mãnh liệt trong
phong trào Thơ mới;
Ngôi sao chổi trên
bầu trời thơ Việt
Nam.
2- Tác phẩm
 HS trình bày lại Hoàn cảnh sáng tác ?

* GV bổ sung ngắn gọn và chốt lại : Tác giả
tặng cô gái thôn Vĩ tập Gái quê, sau khi xuất
bản. Hoàng Cúc nhận tập thơ và biết tác giả lâm
bệnh hiểm nghèo, cô đã gửi bức ảnh phong
cảnh Huế và lời hỏi thăm => Duyên cớ để viết
bài thơ này.
* GV hướng dẫn HS đọc văn bản (Giọng hân
hoan – bồi hồi; trầm ngâm - sâu lắng; Trách
móc - nghi ngờ. GV nhận xét 2 HS đọc và Giải
thích từ - nhóm từ : Vĩ Dạ, sông trăng, khách,)
Thơ điên ( trạng thái sáng tạo từ đau
thương bên trong, hưng phấn cực điểm, tâm tư
xé rào vượt biên giới thông thường, không phải
trạng thái bệnh lí . )
Vĩ Dạ ngày nay :
Nhà ai ở tuốt sâu trong hẽm
Bỗng chốc xông ra giữa mặt tiền.
Hình ảnh Vĩ Dạ không còn nguyên như lúc tác
giả sáng tác do đô thị hóa.

a) Hoàn cảnh sáng tác
Viết năm 1938, in trong tập
thơ Điên – tập thơ được khơi
nguồn cảm hứng từ mối tình
đơn phương của Hàn Mặc Tử
với Hoàng Thị Kim Cúc.

b) Thể thơ
Thất ngôn trường thiên ( 3
khổ / bài, mỗi khổ 4 câu ).


c) Bố cục
3 đoạn = 3 chặng cảm xúc.
- Cảnh ban mai thôn Vĩ và
tình người
- Cảnh hoàng hôn thôn Vĩ và
tâm trạng của tác giả.
- Nỗi niềm thôn Vĩ

HoạT động 2 : ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN
1- Khổ 1 : Cảnh ban mai thôn Vĩ và tình người
 HS đọc 4 câu đầu
* GV hỏi HS : Qua 4 câu thơ đầu, em cho
- Câu đầu là câu hỏi tu từ
mang nhiều sắc thái :


biết dạng thức và chủ thể của từng câu thơ ?
 HS trả lời
* GV định hướng:
- Câu thơ đầu là lời hỏi bức xúc của cô gái đối
với chàng trai => khơi tỏa một tình thế: Mong
anh về đã lâu mà sao không thấy. Bức xúc tâm
trạng tạo nên bức xúc thi ca. Bài thơ ra đời từ
đó.



- 3 câu sau cả thế giới thơ mộng cũng để nhấn
mạnh cảnh đẹp thế mà sao anh không về ? (

Câu 2 hướng lên trời cao; Câu 3 - 4 đưa ta về
với đất. Câu 3 là sắc, câu 4 là hình). Một kiểu
tạo hình không tả mà gợi, câu thơ đầy e ấp.


* GV hỏi : Bức tranh thiên nhiên thôn Vĩ
trong tưởng tượng của nhà thơ hiện lên như
thế nào ( Thời gian, cảnh sắc ) ? Tác dụng
của điệp từ nắng, từ mướt và so sánh xanh
như ngọc ?
 HS tái hiện, trình bày cảm nhận
* GV định hướng:
Thời gian : Lúc bình minh. Cảnh đuợc tái
hiện, tái tạo trong hồi tuởng, tuởng tượng từ nét
bút gợi tả và quan sát tinh tế.
Cảnh sắc : nắng hàng cau thanh tân ,
nắng mới lên tinh khiết, thanh sạch như chưa
hề vướng bụi trần… mướt quá, xanh như ngọc :
mỡ màng, mềm mại, tràn trề nhựa sống => đảo
ngọc. Cảnh như hư, như thực.
* GV hỏi : Mặt chữ điền là khuôn mặt như
thế nào ? Mặt của ai ? Vì sao ? Hình ảnh
mặt chữ điền thấp thoáng qua màn lá trúc
gợi lên cảm xúc gì ?
 HS trả lời (1- 2 em)
* GV định hướng : Có nhiều cách hiểu về mặt
chữ điền trong đó có 2 cách hiểu chính: Mặt
của cô gái thôn Vĩ phúc hậu, thủy chung; mặt
của chính chủ thể trữ tình – chàng trai. Lá trúc
che ngang mặt chữ điền : Vẻ đẹp kín đáo, dịu

dàng.
* GV hỏi : Đặt bức tranh thôn Vĩ ( đẹp,
 Cô gái trách nhẹ nhàng
(7chữ, 6 thanh bằng, âm điệu
trách cứ dịu nhẹ đi; có thương
mới trách ) – lời mời gọi ân
cần ( như một cây cầu để nhà
thơ trở về mảnh vườn xưa ).
 Thực chất là lời tác giả tự
vấn mình : Sao không về Vĩ Dạ
=> Khao khát ( vừa hỏi, vừa
nhắc đến việc cần làm, đáng
làm ) Tự vấn ( chẳng bao
giờ có cơ hội để thực hiện ).

- Ba câu sau :
 Thiên nhiên Vĩ Dạ buổi sớm
mai
Gợi lên vẻ đẹp hữu tình
Không gian : trong trẻo,
như chưa hề vướng bụi trần,
tinh khiết…/ Rời rợi sắc
xanh…/ trong buổi bình minh
ngà ngọc, càng trở nên ấm áp
khi xuất hiện con người ( nắng
hàng cau, nắng mới lên, mướ
t,
xanh như ngọc ).









 Người thôn Vĩ
- Mặt chữ điền : Đẹp, phúc
hậu…
- Lá trúc che ngang : Tạo
hình, không tả mà gợi vẻ đẹp
kín đáo, dịu dàng.
=> Hình ảnh cách điệu hóa :
Thiên nhiên và con người Huế
hài hòa trong vẻ đẹp dịu dàng,
kín đáo, bí ẩn và khêu gợi

 Đằng sau bức tranh phong


trong trẻo, gợi cảm, đầy sức sống ) trong nỗi
niềm của thi nhân hướng về nguời con gái Vĩ
Dạ mà tác giả đang thầm yêu, trộm nhớ em
hình dung tâm trạng của nhà thơ trong khổ
này như thế nào ?
( Niềm vui, hi vọng lóe sáng khi bắt được tín
hiệu tình cảm. )
* GV hỏi : Hãy khái quát vẻ đẹp của mảnh
vườn Vĩ Dạ
cảnh thôn Vĩ đẹp là tâm hồn

nhạy cảm, yêu thiên nhiên, yêu
con người tha thiết cùng niềm
day dứt, băn khoăn .

 Cảnh ban mai thôn Vĩ
tươi sáng, ấm áp, sống động
và tình người tha thiết trở về
trong hoài niệm, sống trọn vẹn
với kí ức đẹp đẽ nhất.
Khổ 2 : Cảnh hoàng hôn và tâm trạng của tác giả
* GV hỏi : Phạm vi không gian và thời gian có gì
thay đổi ? Phân tích bức tranh thiên nhiên ở hai
câu thơ đầu ?
 HS đọc và trả lời
* GV bổ sung - nhấn mạnh :
Không gian : Cảnh ban mai thôn Vĩ nhường lại cho
cảnh trời, mây, sông, nước Huế.
Thời gian : Buổi ban mai ở Vĩ Dạ đã chuyển vào
ngày rồi sang đêm. Thiên nhiên ban ngày mở ra
trước hết là một thiên nhiên đứt gãy… Tứ thơ vận
động từ thực sang ảo. Lời thơ tách thành hai vế tiểu
đối => Ừ thì Huế đẹp thơ nhưng mà Huế trắc trở
lắm thay.
Hương giang như một sinh thể có tâm trạng
buồn. Dòng sông lững lờ hay chính dòng đời mệt
mỏi. Nỗi buồn sông nuớc xâm chiếm cả vào hồn
bắp bên sông  Thiên nhiên ảm đảm nhuốm màu
chia lìa, sự sống mệt mỏi, yếu ớt.

* GV hỏi : Em cảm nhận đuợc điều gì về Huế

qua hai câu thơ tiếp ?
 HS cảm nhận
* GV bình : dòng sông hiện thực đã thành dòng
sông mơ mộng, huyền ảo, đẹp lung linh… Cuộc đời
hay giấc mơ ? câu dưới thảng thốt : Có chở trăng/
về/ kịp tối nay; câu thơ đầy phấp phỏng : Có chở
trăng; thấp thỏm, hi vọng : có chở trăng về. Da diết
, ngóng trông : có chở trăng về kịp.
 Khắc khoải, lo âu vì sợ muộn màng. Một niềm
khát vọng thật đau đớn (…)
Hai câu đầu :
Bao quát toàn cảnh với :
- Hình ảnh gió mây chia
lìa đôi ngả;
- Dòng nước buồn thiu
hoa bắp lay gợi nỗi buồn
hiu hắt.
=> Mặc cảm chia lìa bỏ
buồn vào sông nước, chia
lìa cả gió, mây.


Hai câu sau
- Tả dòng Hương giang
trong đêm trăng lung linh,
huyền ảo, vừa thực, vừa
mộng. Mộng mà vẫn thực
ở tấm lòng.
- Đằng sau cảnh vật, vượt
lên tất cả là tâm trạng vừa

đau đớn, khắc khoải; vừa
khát khao cháy bỏng hạnh
phúc đến với nhà thơ.
 Cảnh xứ Huế và niềm
đau cô lẻ, dự cảm hạnh
phúc chia lìa
Khổ 3 : Nỗi niềm thôn Vĩ
* GV gọi 1 HS đọc và phát hiện sự khác biệt về cảnh vật và
con người ở khổ thơ thứ 3 so với khổ 2 ?
 HS đọc và so sánh
Cảnh, người
trong mộng
(mơ). Thiên


* GV nêu vấn đề để thảo luận nhóm ( Tổ ). Thời gian : 4
phút. Cả khổ thơ xoáy vào hình bóng của ai ? Hình bóng
ấy xuất hiện trong mộng ảo như thế nào ? ( phân tích cái
ảo của một giấc mơ, cái ảo của một sắc áo, cái ảo của một
lời giải thích ).
G
-
 HS thảo luận – đại diện nhóm phát biểu – các nhóm nhận
xét lẫn nhau .

* GV bổ sung, cho điểm mỗi nhóm, nhấn mạnh:

Thế giới ảo tràn ngập khổ thơ, chồng chất ba tầng
Thứ nhất – Cái ảo của một giấc mơ : Giấc mơ được cắt ra
hai cõi

+ Mơ : Cõi chủ thể, ngóng đợi đau đáu đến mộng mị
+ Khách đường xa : Cõi khách thể, phép điệp ngữ đẩy
bóng mĩ nhân xa dần… xa dần… rồi hút bóng. Chủ thể hướng
tới, khách thể lùi xa. Phép điệp ngữ như tiếng gọi cuống quýt
bất lực của thi nhân.
Thứ hai – Cái ảo của một sắc áo
Vì mĩ nhân xa hút, hình ảnh thành ảo ảnh. Sắc áo không
còn mà chỉ có một ấn tượng ghê gớm : Áo em trắng quá nhìn
không ra. ( sắc trắng làm nhòa thi giác ), chỉ còn ấn tượng
cảm giác ( trắng quá ). Thị giác bất lực trước sắc trắng không
bình thường, trong một cái nhìn không bình thường, tất cả run
lên trong một câu thơ quá hồi hộp, quá đam mê, quá ngưỡng
vọng cho nên quá xót xa. Một vẻ đẹp quá tầm tay, một khát
vọng quằn quại vì bất lực, một niềm yêu và nỗi đau thật riêng
tư, bức bối.
Thú ba – Cái ảo của một lời giải thích
Tại sao sắc áo nhìn không ra ? Vì khách quan ( sương
khói mờ nhân ảnh ) ? hay vì chủ quan ( Ai biết tình ai…) ?

Thì ra trái tim mĩ nhân mới chính là thiên đường bí mật nằm
trong tà áo trắng. Đâu phải chuyện không nhìn ra sắ
c áo mà
là chuyện không nhìn ra sắc lòng. Cái bí mật này mới là cội
nguồn đích thực của bài thơ. Tình thế ở khổ 1 hóa ra là tình
thế giả. Đến câu kết của bài thơ ta mới nhận ra nơi ẩn náu của
tình thế thật của bài thơ : tình thế tương tư. Bảng lảng trong
bài thơ là một tà áo kì lạ, như có, như không. Cái đẹp là thế :
Vừa quyến rũ cao sang để ta đam mê, ngưỡng vọng, vừa quá
tầm tay, đầy bí ẩn để ta suốt đời theo đuổi rồi hụt hẫng.
nhiên nhường

chỗ cho sự hiện
diện của con
người.







- Hai câu đầu
Bóng dáng
người xa hiện
lên mờ ảo, xa
vời trong sương
khói mờ nhân
ảnh trong cảm
nhận của khách
đường xa.







Hai câu cuối
Mang chút
hoài nghi mà lại
chan chứa niềm

thiết tha với
cuộc đời.
Bỏ cái thực,
chạy theo cái
đẹp mơ ảo là bi
kịch riêng của
Hàn Mặc Tử và
của các nhà thơ
lãng mạn nói
chung.

Hoạt động 3 : III - TỔNG KẾT
* HS đọc Ghi nhớ và tóm tắt
* GV hỏi : Đặc sắc nghệ thuật của bài thơ ?
1- Nghệ thuật
- Trí tuởng tượng phong phú.


 HS trả lời
* GV giải thích thêm:
Bài thơ đan cài hư – thực, tỉnh – say…
trong bút pháp lãng mạn giàu màu sắc siêu
thực, với nhiều đột biến bất ngờ, rất đặc trưng
cho hồn thơ Hàn Mặc Tử.
- Nghệ thuật so sánh, nhân
hóa, thủ pháp lấy động gợi
tĩnh, sử dụng câu hỏi tu từ…
- Hình ảnh sáng tạo, có sự
hòa quyện giữa thực và ảo.
2- Ý nghĩa văn bản

* GV hỏi HS trung bình : Bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ nói lên điều
gì ?
 HS ( 1 - 2 em ) trả lời
* GV hỏi HS giỏi : Nêu những cách hiểu khác về ý nghĩa văn
bản?
 HS trả lời, GV định hướng, cho HS điểm
* GV chốt lại : Thiên nhiên trong bài thơ chưa phải là chủ ý chính,
dường như Hàn Mặc Tử muốn hướng tới một cái Đẹp tổng hợp
hơn. Cái Đẹp của tình đời, tình người vừa cao khiết, vừa thánh
thiện. Nhưng dễ mấy ai trong đời nắm được trong tay một cái Đẹp

như thế. Cái Đẹp là bí ẩn, đó là sức hút vô tận của thơ ca và của
cuộc đời này.
* GV mở dĩa DVD – Hồng Vân ngâm bài Đây thôn Vĩ Dạ

Bức
tranh
phong cảnh
Vĩ Dạ và
lòng yêu
đời, ham
sống mãnh
liệt mà đầy
uẩn khúc
của nhà
thơ.

Hoạt động 4 : IV - HƯỚNG DẪN TỰ HỌC
1/- Tại lớp
* Vì sao nói Hàn Mặc Tử là một hiện tượng lạ trong thi ca Việt Nam hiện đại ?

 HS trả lời ( Từ 1- 2 HS )
- GV bổ sung và cho HS điểm.
- Phân tích cấu tứ độc đáo của bài thơ và mạch cảm xúc của nhân vật trữ tình
trong Đây thôn Vĩ Dạ
 HS trả lời
* GV gợi dẫn và cho HS điểm
2/- Tại nhà
- Học thuộc lòng bài thơ
- “Đây thôn Vĩ Dạ” vừa đem đến cho người đọc bức tranh thiên nhiên đặc
trưng cho hoa cỏ, núi sông một vùng miền Trung nước Việt, vừa cho người ta
thấy được vẻ đẹp lãng mạn của tình yêu thời Thơ mới”.
Anh ( chị ) hiểu như thế nào về ý kiến trên.


Thiết kế ( Đại cương)

Tiết 67 - 68
NHỮNG ĐỨA CON TRONG GIA ĐÌNH
(Trích – Nguyễn Thi)



I. MỨC ĐỘ CẦN ĐẠT
 Hiểu được nguồn gốc tạo nên sức mạnh tinh thần to lớn và những chiến
thắng của dân tộc Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mĩ .
 Nắm được một số nét đặc sắc về nghệ thuật của tác phẩm.
II. TRỌNG TÂM KIẾN THỨC, KĨ NĂNG
1. Kiến thức
 Phẩm chất tốt đẹp của những con người trong gia đình Việt, nhất là Chiến
và Việt.

( SGV yêu cầu giúp HS hiểu hiện thực đau thương, đầy hi sinh gian khổ nhưng
rất đỗi anh dũng, kiên cường, bất khuất của nhân dân miền nam trong những
năm chống Mĩ, cứu nước ).
 Nghệ thuật trần thuật đặc sắc, nghệ thuật xây dựng tính cách và miêu tả tâm
lí nhân vật, ngôn ngữ phong phú, góc cạnh, đậm chất hiện thực và màu sắc Nam
Bộ.
( SGV và SHS có nhấn mạnh tư tưởng và phong cách Nguyễn Thi )
2. Kĩ năng
 Đọc – hiểu truyện ngắn hiện đại theo đặc trưng thể loại.
3. Thái độ :
Biết trân trọng yêu thương và cảm phục những con người bình thường mà
giàu lòng trung hậu, vô cùng dũng cảm, đã đem máu xương giữ gìn đất nước.
III. TIẾN TRÌNH TỔ CHỨC DẠY HỌC
1. Ổn định tổ chức lớp
2. Kiểm tra việc chuẩn bị bài của HS
3. Dẫn vào bài mới (Giao quyền chủ động cho HS giới thiệu bài mới để tạo
tâm thế)
GV định hướng : Cái sâu sắc của Nam Cao, cái châm biếm của Nguyễn Công
Hoan, cái mới lạ của Trần Đăng, cái tinh tế của Bùi Hiển… ít nhiều đều có dấu ấn trong
Nguyễn Thi… Nguyễn Thi cho ta thấy bao nhiêu là tình sâu nghĩa nặng trong một từ
gia đình, nó là nỗi niềm sâu thẳm của người chiến sĩ ra trận lần đầu. Chúng ta cùng chia
sẻ điều đó với tác giả qua tác phẩm Những đứa con trong gia đình – Nguyễn Thi.

HOẠT ĐỘNG CỦA THẦY VÀ TRÒ YÊU CẦU CẦN ĐẠT

Hoạt động 1 : Tìm hiểu khái quát
 GV cho HS chuẩn bị ở nhà trên cơ sở
dựa vào tiểu dẫn (nhất là câu văn khái quát
về sự nghiệp văn học của Nguyễn Thi) và
các nguồn tài liệu khác.

 GV gọi 2 HS giới thiệu tác giả, sau đó
GV nhận xét và chốt lại và cho HS gạch
chân 1 số ý quan trọng (Tên tác phẩm; giải
thưởng…).
 HS : Thực hiện chỉ dẫn

I- TÌM HIỂU KHÁI QUÁT
1. Tác giả Nguyễn Thi (1928 – 1968)

– Là một trong những cây bút văn
xuôi hàng đầu của văn nghệ giải phóng
miền Nam thời kì chống Mĩ cứu nước.
– Ông gắn bó sâu sắc với nhân dân
Nam Bộ. Nguyễn Thi cũng là cây bút
có năng lực phân tích tâm lí sắc sảo.
2. Tác phẩm Những đứa con trong
gia đình



Hoạt động 2 : Đọc và kể tóm tắt văn bản
 GV :Yêu cầu đọc : Giọng hồi ức.

 GV nêu tiêu đề từng đoạn; HS nêu
giới hạn đoạn hoặc ngược lại
 HS làm theo yêu cầu của GV

 GV : Tác giả chọn cách trần thuật kể
chuyện nào ? tác dụng của cách không
theo sự việc một cách trình tự.

 GV có thể chiếu sơ đồ hóa cốt truyện
để HS theo dõi (…)

 HS suy nghĩ trả lời







Hoạt động 3 : Đọc – hiểu chi tiết
 GV : Hãy khái quát tính cách và vai
trò của nhân vật Việt?
 HS thảo luận và trả lời



 GV : Hãy khái quát tính cách và vai
trò nhân vật Chiến ?

 GV: Đặc điểm chung của hai chị em
Chiến, Việt?
 HS trả lời
 GV chốt lại:
 GV : Là độc giả, em sẽ ghi những gì
về tình cảm của mình vào phiếu học tập,
khi cầm trên tay cuốn sổ gia đình?
 HS ghi cảm nhận…






là một tác phẩm xuất sắc nhất của
Nguyễn Thi được sáng tác trong những
ngày chiến đấu ác liệt của cuộc kháng
chiến chống Mĩ cứu nước.
a) Nhan đề : Vừa có ý nghĩa cụ thể
(…); vừa có ý nghĩa khái quát (…).
b) Xuất xứ : Là một trong những sáng
tác xuất sắc nhất của Nguyễn Thi, được
viết ngay trong những ngày chiến đấu
ác lệt, khi nhà văn công tác ở Tạp chí
Văn nghệ quân đội
c) Thể loại : Truyện ngắn
– Phương thức biểu đạt : Tự sự
(Miêu tả + biểu cảm) và trần thuật ( Từ
điểm nhìn của nhân vật Việt – Ngôi thứ

=> Tác dụng của cách trần thuật : Đồng
hiện; Trữ tình; tự nhiên; cốt truyện linh
hoạt.
d) Tóm tắt cốt truyện
e) Bố cục đoạn trích Những hồi ức của
Việt khi Việt tỉnh dậy lần thứ tu: 3 đoạn


II- ĐỌC – HIỂU CHI TIẾT
1- Nhân vật Việt

- Là một thanh niên mới lớn, rất hồn
nhiên (không sợ chết nhưng lại rất sợ
ma, hay giành với chị, đi chiến đấu vẫn
mang súng cao su trong người,…);
- Có một tình yêu thương gia đình sâu
đậm, một tính cách anh hùng, tinh thần
chiến đấu gan dạ, kiên cường.
- Trong anh có dòng máu của những
con người gan góc, sẵn sàng hi sinh vì
độc lập, tự do của Tổ quốc (còn nhỏ mà
dám tấn công kẻ giết cha, xin đi tòng
quân và chiến đấu rất dũng cảm,…)
2- Nhân vật Chiến
- Là cô gái mới lớn, tính khí vẫn
còn nét trẻ con nhưng cũng là một
người chị biết nhường em, biết lo toan,
tháo vát;
- Vừa có những điểm giống mẹ,
vừa có những nét riêng:
Chiến căm thù giặc sâu sắc, gan góc,
dũng cảm, lập được nhiều tấn công.











Hoạt động 4 : III - TỔNG KẾT
 GV : Em hãy khái quát những thành
công tiêu biểu về mặt nghệ thuật của
truyện ngắn Những đứa con trong gia
đình?
 HS ( Thảo luận 3 phút. Mỗi tổ một
nhóm – Sau đó cử đại diện trả lời khái
quát.)

 GV hỏi (Dành cho HS giỏi) :
Qua câu chuyện Những đứa con trong
gia đình, em lí giải như thế nào về sức
mạnh kì diệu của dân tộc ta thời cả nước
đánh Mĩ?
 HS trả lời
 GV định hướng (…)
 GV : Em hãy đọc kĩ Ghi nhớ
 HS đọc và nhập tâm.

 GV : Qua câu chuyện về những con
người trong một gia đình nông dân Nam
Bộ có truyền thống yêu nước, căm thù
giặc, thủy chung với quê hương, với cách
mạng, nhà văn khẳng định điều gì ?
 HS : 1 em trả lời, 1 em nhận xét
 GV định hướng
Đặc điểm chung của hai chị em
Chiến, Việt?
Chiến và Việt là hai “khúc sông”

trong “dòng sông truyền thống” của gia
đình. Hai chị em là sự tiếp nối thế hệ
của chú Năm và má, song lại mất dấu
ấn riêng của thế hệ trẻ miền Nam thời
kì chống Mĩ cứu nước.
III - TỔNG KẾT
1- Nghệ thuật
 Tình huống truyện: Việt – một
chiến sĩ Quân giải phóng – bị thương
phải nằm lại chiến trường.
 Truyện kể theo dòng nội tâm của
Việt khi liền mạch (lúc tỉnh), khi gián
đoạn (lúc ngất) của “người trong cuộc”
làm câu chuyện trở nên chân thật hơn;
có thể thay đổi đối tượng, không gian,
thời gian, đan xen tự sự và trữ tình.
 Chi tiết được chọn lọc vừa cụ thể
vừa giàu ý nghĩa, gây ấn tượng mạnh.
 Ngôn ngữ bình dị, phong phú,
giàu giá trị tạo hình và đậm sắc thái
Nam Bộ.
2- Ý nghĩa văn bản
Sự hòa quyện giữa tình cảm gia
đình và tình yêu nước, giữa truyền
thống gia đình và truyền thống dân tộc
đã tạo nên sức mạnh tinh thần to lớn
của con người Việt Nam, dân tộc Việt
Nam trong cuộc kháng chiến chống Mĩ
cứu nước.



Hoạt động 5 : Hướng dẫn tự học

1/- Cảm nhận của em về nhân vật chú Năm (chú ý câu nói, điêu hò và lời bình điệu
hò…). Có thể so sánh với nhân vật cụ Mết trong Rừng xà nu.
2/- Khái quát về tính cách và vai trò của má Việt trong truyện?
3/- Tìm đọc trọn vẹn tác phẩm Những đứa con trong gia đình.
4/- So sánh kĩ hai nhân vật Chiến và Việt
5/- Soạn bài Chiếc thuyền ngoài xa
6/- GV hỏi ( Dành cho HS giỏi ) :
Đọc và trình bày cảm nhận của em về một đoạn văn mà em thấy xúc động


nhất.




TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Ngữ văn 12, 11-SGV - 2008 - Hà Nội.
2. Kiểm tra đánh giá thường xuyên và định kì môn Ngữ văn 12 - 2008
3. ]Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Ngữ văn 10-11-12 –
Bộ GD-ĐT – 2010.
4. Tài liệu tập huấn giáo viên thực hiện dạy học và kiểm tra đánh giá theo
chuẩn kiến thức kĩ năng chương trình giáo dục phổ thông – Nguyễn Trọng
Hoàn (chủ biên) 8/ 2010 – Vụ THPT – Bộ GD – Đ T – Hà Nội.

































NGƯỜI THỰC HIỆN





HUỲNH QUANG SƠN




×