Tải bản đầy đủ (.doc) (31 trang)

CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN VÀ VAI TRÒ CỦA CON NGƯỜI TRONG CÔNG CUỘC XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC HIỆN NAY

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (336.58 KB, 31 trang )

2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH
KHOA KINH TẾ - LUẬT & NGOẠI NGỮ

BÀI TIỂU LUẬN
MÔN: XÃ HỘI HỌC ĐẠI CƯƠNG
ĐỀ TÀI: CON NGƯỜI TRONG TRIẾC HỌC MÁC – LÊNIN VÀ
VAI TRÒ CỦA CON NGƯỜI TRONG CÔNG CUỘC
XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC HIỆN NAY
Giảng viên hướng dẫn: Phạm Thị Tố Thi
Nhóm sinh viên thức hiện: (Nhóm 2 Lớp DA12LD)
1. Sơn Thị Sika.
2. Lê Thị Kiều Anh.
3. Võ Trần Duy.
4. Nguyễn Văn Thịnh.
5. Nguyễn Phước Toàn.
6. Trương Văn Hưởng.
Trà Vinh: ngày 28, tháng 03, năm 2013.
2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH
KHOA KINH TẾ - LUẬT & NGOẠI NGỮ

BÀI TIỂU LUẬN
MÔN: XÃ HỘI HỌC ĐẠI CƯƠNG
ĐỀ TÀI: CON NGƯỜI TRONG TRIẾC HỌC MÁC – LÊNIN VÀ
VAI TRÒ CỦA CON NGƯỜI TRONG CÔNG CUỘC
XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC HIỆN NAY
Giảng viên hướng dẫn: Phạm Thị Tố Thi
Nhóm sinh viên thức hiện: (Nhóm 2 Lớp DA12LD)


1. Sơn Thị Sika 114112271
2. Lê Thị Kiều Anh 114112369
3. Võ Trần Duy 114112230
4. Nguyễn Văn Thịnh 114112385
5. Nguyễn Phước Toàn 114112280
6. Trương Văn Hưởng 114112235
Trà Vinh: ngày 28, tháng 03, năm 2013.
2
MỤC LỤC
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài………………………………………………………2
2. Tình hình nghiên cứu đề tài………………………………………………… 4
3. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài…………………………………………… 4
4. Phương pháp nghiên cứu đề tài……………………………………………….5
5. Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài……………………………………………5
6. Kết cấu của đề tài …………………………………………………………….5
B. PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I: CON NGƯỜI TRONG XÃ HỘI HỌC
1. Khái niệm xã hội học con người………………………………………………8
2. Bản chất của con người
2.1. Quan điểm của các nhà triết học trước Mác về con người…………… 8
2.2. Quan điểm chủ nghĩa Mác Lênin về con người…………………………10
2.3. Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người……………………………………14
CHƯƠNG II. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI
1. Phát triển mạnh mẽ giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ 19
2. Giải quyết hài hòa các quan hệ lợi ích………………………………………20
3. Xây dựng và thực hiên một cơ chế dân chủ hóa mọi mặt đời sống xã
hội 21
CHƯƠNG III. VAI TRÒ CỦA CON NGƯỜI TRONG QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI
HIỆN NAY………………………………………………………………………… 22

C.PHẦN KẾT LUẬN……………………27
TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………………………….28
PHỤ LỤC……………………………….……………………… 29
A. PHẦN MỜ ĐẦU
2
1. Tính cấp thiết của đề tài
Phát triển con người là mục tiêu cao cả nhất cả nhất của toàn nhân loại. Làn
sóng văn minh thứ ba đang được loài người tới một kỉ nguyên mới, mở ra bao khả
năng để họ tìm ra những con đường tối ưu đi tới tương lai. Trong bối cảnh đó sự tan rã
của hệ thống xã hội chủ nghĩa càng làm cho các tư tưởng tự do tìm kiếm con đường
khả quan nhất cho sự nghiệp phát triển con người Việt Nam càng dễ đi đến phủ nhận
vai trò và khả năng của chủ nghĩa Mác - Lênin. Tại sao lại phải nghiên cứu vế phạm
trù con người và vấn đề về con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước trong khi thế giới đã trải qua hai cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật vĩ đại và
trên thế giới đã có rất nhiều, rất nhiều nước đã trở thành những nước công nghiệp lớn.
Phải chăng đó là vì công nghiệp hóa, hiện đại hóa là phương thức duy nhất để phát
triển nền kinh tế thế giới vá bất kỳ một quốc gia nào bỏ qua quá trinh này thì sẽ trở
nên quá chậm, quá lạc hậu so với bước đi của thế giới? Và phải chăng giống như các
quốc gia khác, Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật chung đó? Nhưng quan
trọng hơn cả, phải chăng con người là chủ thể, là mấu chốt, là điểm khởi đầu cững
như là cái đích của quá trình lâu dài này?
Đúng là thực tế ở nhiều quốc gia công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã tạo ra
nhiều thành tựu khoa học không thể phủ nhận được. Chẳng hạn như việc sử dụng
năng lượng nguyên tử, năng lượng mặt trời đã làm giảm sự phụ thuộc của con người
vào nguồn năng lượng khoáng sản; sự ra đời của các vật liệu tổng hợp không những
giúp con người giảm phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên không tái sinh được mà
còn cung cấp cho con người nguồn vật liệu mới có tính năng ưu việt hơn và tái sinh
được. nhờ phát minh con người sử dụng nguồn vật liệu mới này mà con người có thể
thu nhỏ máy tính điện tử xuống hàng vạn lần về thể tích đồng thời tăng hiệu năng của
nó lên hàng chục vạn lần so với ba chục năm trước. sự ra đời và xuất hiện các loại vật

liệu mới đang ngày càng trở thành nhân tố vô cùng quan trọng của sự phát triển sức
sản xuất xã hội về tiến bộ khoa học công nghệ cùng với quá trình tự đông hóa tiến bộ
khoa học công nghệ cho thấy loài người sẽ tiến tới một xã hội của cải tuôn ra rào rạt.
Còn Việt Nam thì sao?
Cho đến nay, Việt Nam vẫn thuộc loại những nước nghèo nhất thế giới, nền
kinh tế vẫn ở tình trạng lạc hậu còn mang tính chất tự cấp, tự túc đất nước chưa ra
2
khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội, lạm phát còn ở múc cao, sản xuất chưa ổn đình tình
hình mất cân đối vẫn nghiêm trọng, bộ chi ngân sách càng lớn, tốc độ tăng dân số cao,
lao động thất nghiệp hoặc không đủ việc làm, đời sống nhân dân còn nhiều khó khó
khăn. Vì vậy muốn không bị tuột hậu xa hơn nữa, muốn ổn định mọi mặt để đi lên và
phát triển thì tất yếu phải thực hiện công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.
Nhưng nếu chỉ có như vậy thì tại sao lại phải đề cập đến vấn đề con người?
Liệu có phải con người đang giữ một vai trò gì đó trong sự nghiệp công nghiệp hóa
hiện đại hóa đất nước, và hơn thế nữa phải chăng đó là một vai tro quan trọng, quyết
định sự thành bại của sự nghiệp đổi mới này.
Trước hết có thể nói rằng xã hội loài người tồn tại và phát triển dựa váo hai
nguồn tài nguyên là: thiên nhiên và con người. Cái quý nhất trong nguồn tài nguyên
con người là trí tuệ. Theo quan niệm cổ điển, mọi nguồn tài nguyên thiên nhiên đều
có hạng và đều có thể bị khai thác cạn kiệt. Song, sự hiểu biết của con người đã, đang
và sẽ không bao giờ chịu dừng lại, nghĩa là nguồn tài nguyên trí tuệ không có giới
hạn. tính vô tận của nguồn tiềm năng trí tuệ là nền tảng để con người nhận thức tính
vô tận của thế giới vật chất, tiếp tục nghiên cứu những nguồn tài nguyên còn vô tận
nhưng chưa được khai thác và sử dụng, phát hiện ra những tính năng mới của nhưng
dang tài nguyên đang sử dụng hoặc sáng tạo ra những nguồn tài nguyên mới vốn
không có sẵn trong tự nhiên, nhằm phục vụ cho sự phát triển của xã hội. Bởi vậy có
thể nói, trí tuệ con người là nguồn lực vô tận của sự phát triển xã hội.
Đồng thời, nguồn lực phát triển của xã hội, trước hết và quan trọng hơn cả
cũng chính là con người-nguồn tiềm năng sức lao động. Con người đã làm nên lịch sử
của chính mình bằng lao động được định hướng bởi trí tuệ đó. Ta đả biết rằng,”tất cả

cái gì thúc đẩy con người hoạt động điều tất nhiên phải thông qua đầu ốc của họ”. Mọi
máy móc dù hoàn thiện, dù thông minh đến đâu cũng chỉ là vẻ trung gian cho hoạt
động của con người. Do đó con người luôn luôn đã và vẫn là chủ thể duy nhất của mọi
hoạt động xã hội.
Một lần nữa ta có thể khẳng định tính cấp thiết và ý nghĩa quan trọng của việc
nghiên cứu đề tài này.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
2
Hiện nay, ở Việt Nam có rất nhiều công trình nghiên cứu vấn đề con người
trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước tiêu biểu như: “Vấn đề con
người trong sư nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa” của Phạm Minh Hạc, “Chiến
lược huy động vốn và nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước” của Trần Kiên, “Định hướng phát triển đội ngũ tri thức Việt Nam trong quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa” của Nguyễn Tất Dong và nhiều công trình nghiên
cứu khác,…
Trên cơ sở vận dụng khoa học và sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin về con người
tại hội nghị lần thứ tư của ban chấp hành trung ương khoá VII, Đảng ta đã đề ra và
thông qua nghị quyết về việc phát triển con người Việt Nam toàn diện với tư cách
quyết về việc phát triển con người Việt Nam toàn diện với tư cách là “động lực của sự
nghiệp xây dựng xã hội mới đồng thời là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội. Đó là “con
người phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong
sáng về đạo đức”.
3. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
Phát triển con người Việt Nam toàn diện - đó cũng chính là động lực, là mục
tiêu nhân đạo của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá mà chúng ta đang từng
bước tiến hành. Bởi lẽ, người lao động nước ta ngày càng đóng vai trò quan trọng
trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và trong sự phát triển nền kinh tế đất nước
theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa,
thì chất lượng người lao động là nhân tố quyết định. Nghị quyết đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ VIII của Đảng đã khẳng định: “Nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy

nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của công
cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá”. Để thoát khỏi cái vòng luẩn quẩn này và tạo đà
cho bước phát triển tiếp theo của sự nghiệp công nghiệp nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước, thì một nước đang còn ở tình trạng kém phát triển như nước ta không thể không
xây dựng một chính sách phát triển lâu bền, có tầm nhìn xa trông rộng, phát triển con
người, nâng cao dần chất lượng của người lao động.
4. Phương pháp nghiên cứu đề tài
2
- Phương pháp logic lịch sử.
- Phương pháp phân tích tổng hợp.
- Phương pháp diễn dịch.
- Phương pháp quy nạp.
5. Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài
Qua việc nghiên cứu đề tài đả giúp cho chúng ta nhận thức được tầm quan trọng
của vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. Từ đó
đưa ra những giải pháp sử dụng nguồn nhân lực cho quá trình đổi mới đất nước sao
cho hợp lí, góp phần thúc đẩy nền kinh tế thị trường phát triển.
6. Kết cấu của đề tài
Đề tài nghiên cứu về “ Con người trong triết học Mác – Lênin và vai trò của con
người trong công cuộc xây dựng đất nước hiện nay” được chia làm 3 phần và 3
chương. Nội dung cụ thể như sau:
2
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
3. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
4. Phương pháp nghiên cứu đề tài
5. Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài
6. Kết cấu của đề tài
B. PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG I: CON NGƯỜI TRONG XÃ HỘI HỌC
1. Khái niệm xã hội học con người
2. Bản chất của con người
2.1. Quan điểm của các nhà triết học trước Mác về con người
2.2. Quan điểm chủ nghĩa Mác Lênin về con người
2.3. Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người
CHƯƠNG II. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI
1. Phát triển mạnh mẽ giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ
2. Giải quyết hài hòa các quan hệ lợi ích
3. Xây dựng và thực hiên một cơ chế dân chủ hóa mọi mặt đời sống xã hội
CHƯƠNG III. VAI TRÒ CỦA CON NGƯỜI TRONG QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI
HIỆN NAY
C. PHẦN KẾT LUẬN
B. PHẦN NỘI DUNG
2
CHƯƠNG I: CON NGƯỜI TRONG XÃ HỘI HỌC
1. Khái niệm xã hội học con người
2. Bản chất của con người
2.1. Quan điểm của các nhà triết học trước Mác về con người
2.2. Quan điểm chủ nghĩa Mác Lênin về con người
2.3. Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người
CHƯƠNG II. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI
1. Phát triển mạnh mẽ giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ
2. Giải quyết hài hòa các quan hệ lợi ích
3. Xây dựng và thực hiên một cơ chế dân chủ hóa mọi mặt đời sống xã hội
CHƯƠNG III. VAI TRÒ CỦA CON NGƯỜI TRONG QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI
HIỆN NAY
CHƯƠNG I: CON NGƯỜI TRONG XÃ HỘI HỌC
1. Khái niệm xã hội học con người
2

Xã hội học là khoa học về các quy luật và tính quy luật xã hội chung, và đặc thù
của sự phát triển và vận hành của hệ thống xã hội xác định về mặt lịch sử; là khoa học
về các cơ chế tác động và các hình thức biểu hiện của các quy luật đó trong các hoạt
động của cá nhân, các nhóm xã hội, các giai cấp và các dân tộc.
Con người là một thực thể tự nhiên mang đặc tính xã hội; có sự thống nhất biện
chứng giữa hai phương diện tự nhiên và xã hội. Tiền đề vật chất đầu tiên quy định sự
hình thành, tồn tại và phát triển của con người chính là giới tự nhiên. Vì vậy, bản tính
tự nhiên là một trong những phương diện cơ bản của con người, loài người. Do vậy,
việc nghiên cứu, khám phá khoa học về cấu tạo tự nhiên và nguồn góc tự nhiên của
con người là cơ sở khoa học quan trọng để con người hiểu biết về chính bản thân
mình, tiến đến làm chủ bản thân mình trong mọi hành vi cà hoạt động sáng tạo ra lịch
sử của nó, tức lịch sử nhân loại.
Tóm lại xã hội học con người là một ngành khoa học chuyên sâu đi vào nghiên cứu
các vấn đề xã hội liên quan đến đời sống và hoạt động của con người trên tất cả các
lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, tư tưởng và hổ trợ cho các ngành khoa học khác.
2. Bản chất của con người
2.1. Quan điểm của các nhà triết học trước Mác về con người
Có thể nói vấn đề con người là một trong những vấn đề quan trọng nhất của thế
giới từ trước tới nay. Đó là vấn đề mà luôn được các nhà khoa học, các nhà nghiên
cứu phân tích một cách sâu sắc nhất. Không những thế trong nhiều đề tài khoa học của
xã hội xưa và nay thì đề tài con người là một trung tâm được các nhà nghiên cứu cổ
đại đặc biệt chú ý. Các lĩnh vực tâm lý học, sinh học, y học, triết học, xã hội học.
v.v Từ rất sớm trong lịch sử đã quan tâm đến con người và không ngừng nghiên cứu
về nó. Mỗi lĩnh vực nghiên cứu đó đều có ý nghĩa riêng đối với sự hiểu biết và làm
lợi cho con người.
Hơn bất cứ một lĩnh vực nào khác, lĩnh vực triết học lại có nhiều mâu thuẫn
trong quan điểm, nhận thức và nó đã gây nên sự đấu tranh không biết khi nào dừng.
Những lập trường chính trị trình độ nhận thức và tâm lý của những người nghiên cứu
khác nhau và do đó đã đưa ra những tư tưởng hướng giải quyết khác nhau.
Khi đề cập tới vấn đề con người các nhà triết học để tự hỏi: Thực chất con

người là gì và để tìm cách trả lời câu hỏi đó phải giải quyết hàng loạt mâu thuẫn troch
2
chính con người. Khi phân tích các nhà triết học cổ đại coi con người là một tiểu vũ
trụ, là một thực thể nhỏ bé trong thế giới rộng lớn, bản chất con người là bản chất vũ
trụ. Con người là vật cao quý nhất trong trời đất, là chúa tể của muôn loài. Chỉ đứng
sau thần linh. Con người được chia làm hai phần là phần xác và phần hồn. Chủ nghĩa
duy tâm và tôn giáo thì cho rằng: Phần hồn là do thượng đế sinh ra; quy định, chi phối
mọi hoạt động của phần xác, linh hoòn con người tồn tại mãi mãi. Chủ nghĩa duy vật
thì ngược lại họ cho rằng phần xác quyết định và chi phối phần hồn, không có linh
hồn nào là bất tử cả, và quá trình nhận thức đó không ngừng được phát hiện. Càng
ngày các nhà triết học tìm ra được bản chất của con người và không ngừng khắc phục
lý luận trước đó.
Triết học thế kỷ XV - XVIII phát triển quan điểm triết học về con người trên cơ
sở khoa học tự nhiên đã khắc phục và bắt đầu phát triển. Chủ nghĩa duy vật máy móc
coi con người như một bộ máy vận động theo một quy luật cổ. Học chủ nghĩa duy tâm
chủ quan và thuyết không thể biết một mặt coi cái tôi và cảm giác của cái tôi là trung
tâm sáng tạo ra cái không tôi, mặt khả cho rằng cái tôi không có khả năng vượt quá
cảm giác của mình nên về bản chất là nhỏ bé yếu ớt, phụ thuộc đấng tới cao. Các nhà
triết học thuộc một mặt đề cao vai trò sáng tạo của lý tính người, mặt khác coi con
người, mặt khác coi con người là sản phẩm của tự nhiên và hoàn cảnh.
Các nhà triết học cổ điển đức, từ Cartơ đến Heghen đã phát triển quan điểm
triêt học về con người theo hướng của chủ nghĩa duy tâm. Đặc biệt Heghen quan niệm
con người là hiện thân của ý niệm tuyệt đối là con người ý thức và do đó đời sống con
người chỉ được xem xét vè mặt tinh thần Song Heghen cũng là người đầu tiên thông
qua việc xem xét cơ chế hoạt động của đời sống tinh thần mà phát hiện ra quy luật về
sự phát triển của đời sống tinh thần cá nhân. Đồng thời Heghen cũng đã nghiên cứu
bản chất quá trình tư duy khái quát các quy luật cơ bản của quá trình đó.
Sau khi đoạn tuyệt với chủ nghĩa duy tâm Heghen, phơ bách đã phê phán tính
siêu tự nhiên, phi thể xác trong quan niệm triết học Heghen, ông quan niệm con người
là sản phẩm cảu tự nhiên, có bản năng tự nhiên, là con người sinh học trực quan, phụ

thuộc vào hoàn cảnh, ông đã sử dụng thành tựu của khoa học tự nhiên để chứng minh
mối liên hệ không thể chia cắt của tư duy với những quá trình vật chất diễn ra trong cơ
2
thể con người, song khi giải thích con người trong mối liên hệ cộng đồng thì phơ bách
lại rơi vào lập trường của chủ nghĩa duy tâm.
Tóm lại: Các quan niệm triết học nói trên đã đi đến những các thức lý luận
xem xét người một cách trừu tượng. Đó là kết quả của việc tuyệt đối hoá phần hồn
thành con người trừu tượng. Tự ý thức còn chủ nghĩa duy vật trực quan thì tuyệt đối
hoá phần xác thành con người trừu tượng. Sinh học, tuy nhiên họ vẫn còn nhiều hạn
chế, các quan niệm nói trên đều chưa chú ý đầy đủ đến bản chất con người.
Sau này chủ nghĩa Mác đã kế thừa và khắc phục những mặt hạn chế đó, đồng thời
phát triển những quan niệm về con người đã có trong các học thuyết triết học trước
đây để đi tới quan niệm về con người thiện thực, con người thực tiễn cải tạo tự nhiên
và xã hội với tư cdách là con người hiện thực. Con người vừa là sản phẩm của tự
nhiên và xã hội đồng thời vừa là chủ thể cải tạo tự nhiên.
2.2. Quan điểm chủ nghĩa Mác Lênin về con người
Chủ nghĩa xã hội do con người và vì von người. Do vậy, hình thành mới quan
hệ đúng đắn về con người về vai trò của con người trong sự phát triển xã hội nói
chung, trong xã hội chủ nghĩa nói riêng là một vấn đề không thể thiếu được của thế
giới quan Mác - Lênin.
Theo chủ nghĩa Mác - Lênin con người là khái niệm chỉ những cá thể người
như một chỉnh thể trong sự thống nhất giữa mặt sinh học và mặt xã hội của nó. Con
người là sản phẩm của sự tiến hoá lâu dài từ giới tự nhiên và giới sinh vật. Do vậy
nhiều quy luật sinh vật học cùng tồn tại và tác động đến con người. Để tồn tại với tư
cách là một con người trước hết con người cũng phải ăn, phải uong Điều đó giải
thích vì sao Mác cho rằng co người trước hết phải ăn, mặc ở rồi mới làm chính trị.
Nhưng chỉ dừng lại ở một số thuộc tỉnh sinh học của con người thì không thể
giải thích được bản chất của con người. Không chỉ có “con người là tổng hoà các quan
hệ xã hội” mà thực ra quan điểm của Mác là một quan điểm toàn diện.
Mác và Anghen nhiều lần khẳng định lại quan điểm của những nhà triết học đi

trước rằng. Con người là một bộ phận của giới tự nhiên, là một động vật xã hội, nhưng
khác với họ, Mác, Anghen; xem xét mặt tự nhiên của con người, như ăn, ngủ, đi lại,
yêu thích Không còn hoàn mang tính tự nhiên như ở con vật mà đã được xã hội hoá.
Mác viết: “Bản chất của con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá
2
nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó bản chất của con người là tổng hoà của
những mối quan hệ xã hội” con người là sự kết hợp giữa mặt tự nhiên và mặt xã hội
nên Mác nhiều lần đã so sánh con người với con vật, so sánh con người với những con
vật có bản năng gần giống với con người Và để tìm ra sự khác biệt đó. Mác đã chỉ ra
sự khác biệt ở nhiều chỗ như chỉ có con người làm ra tư liệu sinh hoạt của mình, con
người biến đổi tự nhiên theo quy luật của tự nhiên, con người là thước đo của vạn vật,
con người sản xuất ra công cụ sản xuất Luận điểm xem con người là sinh vật biết
chế tạo ra công cụ sản xuất được xem là luận điểm tiêu biểu của chủ nghĩa Mác về con
người.
Luận điểm của Mác coi “Bản chất của con người là tổng hoà các quan hệ xã
hội” Mác hoàn toàn không có ý phủ nhận vai trò của các yếu tố và đặc điểm sinh học
của con người, ông chỉ đối lập luận điểm coi con người đơn thuần như một phần của
giới tự nhiên còn bỏ qua, không nói gì đến mặt xã hội của con người. Khi xác định
bản chất của con người trước hết Mác nêu bật cái chung, cái không thể thiếu và có
tính chất quyết định làm cho con người trở thành một con người. Sau, thì khi nói đến
“Sự định hướng hợp lý về mặt sinh học” Lênin cũng chỉ bác bỏ các yếu tố xã hội
thường xuyên tác động và ảnh hưởng to lớn đối với bản chất và sự phát triển của con
người. Chính Lênin cũng đã không tán thành quan điểm cho rằng mọ người đều ngang
nhau về mặt sinh học. Ông viết “thực hiện một sự bình đẳng về sức lực và tài năng
con người thì đó là một điều ngu xuẩn Nói tới bình đẳng thì đó luôn luôn là sự bình
đẳng xã hội, bình đẳng về địa vị chỉ không phải là sự bình đẳng về thể lực và trí lực
của cá nhân”.
Để khẳng định cho tiến trình phát triển lịch sử của xã hội loài người là sự thay
thế lẫn nhau của các hình thái kinh tế - xã hội, Mác đã nói tới việc lấy sự phát triển
toàn diện của con người làm thước đo chung cho sự phát triển xã hội, Mác cho rằng

xu hướng chung của tiến trình phát triển lịch sử được quy định bởi sự phát triển của
lực lượng sản xuất xã hội bao gồm con người và những công cụ lao động do con
người tạo ra, sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội, tự nó đã nói lên trình độ phát
triển của xã hội qua việc con người đã chiếm lĩnh xã hội và sử dụng ngày càng nhiều
lực lượng tự nhiên với tư cách là cơ sở vật chất cho hoạt động sống của chính con
người và quyết định quan hệ giữa người với người trong sản xuất. Sản xuất ngày càng
2
phát triển tính chất xã hội hoá ngày cnàg tăng. Việc tiến hành sản xuất tập thể bằng
lực lượng của toàn xã hội và sự phát triển mới của nền sản xuất do nó mang lại sẽ cần
đến những con người hoàn toàn mới. Những con người có năng lực phát triển toàn
diện và đến lượt nó, nền sản xuất sẽ tạo nên những con người mới, sẽ làm nên những
thành viên trong xã hội có khả năng sử dụng một cách toàn diện năng lực phát triển
của mình theo Mác "phát triển sản xuất vì sự phồn vinh của xã hội, vì cuộc sống tốt
đẹp hơn cho mỗi thành viên trong cộng đồng xã hội và phát triển con người toàn diện
là một quá trình thống nhất để làm tăng thêm nền sản xuất xã hội" để sản xuất ra
những con người phát triển toàn diện hơn nữa, Mác coi sự kết hợ chặt chẽ giữa phát
triển sản xuất và phát triển con người là một trong những biện pháp mạnh mẽ để cải
biến xã hội.
Con người không chỉ là chủ thể của hoạt động sản xuất vật chất là yếu tố hàng
đầu, yếu tố đóng vai trò quyết định trong lực lượng sản xuất của xã hội mà hơn nữa,
con người còn đóng vai trò là chủ thể hoạt động của quá trình lịch sử. Thông qua hoạt
động sản xuất vật chật con người sáng tạo ra lịch sử của mình, lịch sử 7của xã hội loài
ngoài. Từ đó quan niệm đó Mác khẳng định sự phát triển của lực lượng sản xuất xã
hội có ý nghĩa là sự phát triển phong phú bản chất con người, coi như là một mục đích
tự thân. Bởi vậy theo Mác ý nghĩa lịch sử mục đích cao cả của sự phát triển xã hội là
phát triển con người toàn diện, nâng cao năng lực và phẩm giá con người, giải phóng
con người, loại trừ ra khỏi cuộc sống con người để con người được sống với cuộc
sống đích thực. Và bước quan trọng nhất trên con đường đó là giải phóng con người
về mặt xã hội.
Điều đó cho thấy trong quan niệm của Mác thực chất của tiến trình phát triển

lịch sử xã hội loài người là vì con người, vì cuộc sống ngày cnàg tốt đẹp hơn cho con
người, phát triển con người toàn diện và giải phóng con người, nói theo Anghen là
đưa con người từ vương quốc của tất yếu sang vương quốc của tự do, con người cuối
cùng cũng là người tôn tại của xã hội của chính mình, đồng thời cũng trở thành người
chủ của tự nhiên, người chủ bản thân mình. Đó là quá trình mà nhân loại đã tự tạo ra
cho mình những điều kiện, những khả năng cho chính mình nhằm đem lại sự phát
triển toàn diện, tự do và hài hoà cho mỗi con người trong cộng đồng nhân loại tạo cho
con người năng lực làm chủ tiến trình lịch sử của chính mình.
2
Quan niệm của Mác về định hướng phát triển xã hội lấy sự phát triển của con
người làm thước đo chung càng được khẳng định trong bối cảnh lịch sử của xã hội
loài người. Ngày nay loài người đang sống trong bối cảnh quốc tế đầy những biến
động, cộng đồng thế giới đang thể hiện hết sức rõ ràng tính đa dạng trong các hình
thức phát triển của nó xã hội loài người kể từ thời tiền sử cho đến nay bao giờ cũng là
một hệ thống thống nhất tuy nhiên cũng là một hệ thống hết sức phức tạp và chính vì
sự phức tạp đó đã tạo nên tính không đồng đều trong sự phát triển kinh tế xã hội ở các
nước, các khu vực khác nhau. Đến lượt mình, tính không đồng đều của sự phát triển
này lại hình thành nên một bức tranh nhiều màu sắc về định hướng nào, thì mọi định
hướng phát triển vẫn phải hướng tới giá trị nhân văn của nó - tới sự phát triển con
người.
Xã hội bao giờ cũng tồn tại nhiều giai cấp đó điều quan trọng là giai cấp đó có
phục tùng được lòng dân hay không. Trải qua thời kỳ phát triển của xã hội loại người
chỉ có giai cấp vô sản là giai cấp đáp ứng đầy đủ mọi quy luật của cuộc sống và đó
chính là lý do tại sao mác lại lấy giai cấp vô sản để nghiên cứu trong đó Mác tập trung
nghiên cứu con người vô sản là chủ yếu.
Theo Mác, người vô sản là ngừơi sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội hiện
đại, nhưng lao động của họ lại bị tha hoá, lao động từ chỗ gắn bó với họ nay trở nên
xa lạ nghiêm trọng hơn nữa chính nó đã thống trị họ, tình trạng bất hợp lý này cần
phải được giải quyết. Với Mác, người vô sản là người tiêu biểu cho phương thức sản
xuất mới, có sứ mệnh và hoàn toàn có khả năng giải phóng mình, giải phóng xã hội để

xây dựng xã hội mới tốt đẹp hơn. Theo Mác "đến xã hội cộng sản chủ nghĩa, con
người không còn thất nghiệp, không còn bị ràng buộc vào một nghề nghiệp nhất định
họ có thể làm bất kỳ một nghề nào nếu có khả năng và thích thú, họ có quyền làm theo
năng lực, hướng theo nhu cầu tuy nhiên những ý muốn đó không xảy ra bởi vì cách
mạng cộng sản chủ nghĩa không diễn ra theo ý của họ. Nó không diễn ra đồng loạt
tren tất cả các nước tư bản, ít ra là ở các nước tư bản tiên tiến, trái lại nó lại diễn ra ở
những nước xã hội chủ nghĩa tiêu biểu là nước Nga (Liên Xô cũ)… Một nước công
nghiệp chưa phát triển, nông dân chiếm số đông trong dân số. Vì vậy quan niệm của
ông về con người khó có điều kiện được chứng minh.
2.3. Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người
2
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một bước phát triển mới của chủ nghĩa Mác - Lênin,
được vận dụng một cách sáng tạo vào thực tiễn giải phóng dân tộc và xây dựng chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam. Điều cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh là độc lập dân tộc
gắn liền với giải quyết xã hội và giải phóng con người. Trong đó, vấn đề con người là
vấn đề lớn, được đặt lên hàng đầu và là vấn đề trung tâm, xuyên suốt trong toàn bộ nội
dung tư tưởng của Người. Tin ở dân, dựa vào dân, tổ chức và phát huy sức mạnh đoàn
kết toàn dân, bồi dưỡng, đào tạo và phát huy mọi năng lực của dân (ở từng cá nhân
riêng lẻ và của cả cộng đồng), đó là tư tưởng được Hồ Chí Minh vận dụng và phát
triển trong toàn bộ sự nghiệp đấu tranh cách mạng giành độc lập dân tộc cũng như xây
dựng đất nước. Tư tưởng đó cũng chính là nội dung cơ bản ủa toàn bộ tư tưởng về con
người của Hồ Chí Minh.
Đối với Hồ Chí Minh, con người vừa tồn tại vừa tư cách cá nhân, vừa là thành
viên của gia đình và của cộng đồng, có cuộc sống tập thể và cuộc sống cá nhân hài
hòa, phong phú. Người đã nêu một định nghĩa về con người: "Chữ người, nghĩa hẹp là
gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn. Nghĩa rộng là đồng bào cả nước. Rộng nữa là cả
loài người". Quan điểm đó thể hiện ở chỗ Người chưa bao giờ nhìn nhận con người
một cách chung chung, trừu tượng. Khi bàn về chính sách xã hội, cũng như ở mọi nơi,
mọi lúc, trong mọi hoàn cảnh, Người luôn quan tâm đến nhu cầu, lợi ích của con
người với tư cách nhu cầu chính đáng. Đem lại lợi ích cho con người chính là tạo ra

động lực vô cùng lớn lao cho sự nghiệp chung, vì nếu như những nhu cầu, lợi ích của
mỗi cá nhân không được quan tâm thỏa đáng thì tính tích cực của họ sẽ không thể
phát huy được. Trong khi phê phán một cách nghiêm khắc chủ nghĩa cá nhân, Người
viết: "Đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không phải là "giày xéo lên lợi ích cá nhân".
Mỗi người đều có tính cách riêng, sở trường riêng, đời sống riêng của bản thân và của
gia đình mình". Trong quan điểm về thực hiện một nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, theo
Người, phải là một nền dân chủ chân chính, không hình thức, không cực đoan, trong
đó mỗi con người cụ thể phải được đảm bảo những quyền lợi và nghĩa vụ của mình
theo hiến pháp và pháp luật. Con người, với tư cách là những cá nhân, không tồn tại
biệt lập mà tồn tại trong mối quan hệ biện chứng với cộng đồng dân tộc và với các
loài người trên toàn thế giới.
2
Con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh không tồn tại như một phạm trù bản thể
luận có tính trừu tượng hóa và khái quát hóa, mà được đề cập đến một cách cụ thể, đó
là nhân dân Việt Nam, những con người lao động nghèo khổ bị áp bức cùng cực dưới
ách thống trị của phong kiến, đế quốc; là dân tộc Việt Nam đang bị đô hộ bởi chủ
nghĩa thực dân; và mở rộng hơn nữa là những "người nô lệ mất nước" và "người cùng
khổ". Lôgíc phát triển tư tưởng của Người là xuất phát từ chủ nghĩa yêu nước để đến
với chủ nghĩa Mác - Lênin, đến với chủ nghĩa quốc tế chân chính. Theo lôgíc phát
triển tư tưởng ấy, khái niệm "con người" của Hồ Chí Minh tiếp cận với khái niệm
"giai cấp vô sản cách mạng". Người đề cập đến giai cấp vô sản cách mạng và sự
thống nhất về lợi ích căn bản của giai cấp đó với các tầng lớp nhân dân lao động khác
(đặc biệt là nông dân). Người nhận thức một cách sâu sắc rằng, chỉ có cuộc cách mạng
duy nhất và tất yếu đạt tới được mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và
toàn thể nhân loại khỏi mọi sự nô dịch, áp bức. Toàn bộ các tư tưởng, lý luận (chiếm
một khối lượng lớn trong các tác phẩm của Người) bàn về cách mạng (chiến lược giải
pháp; bàn về người cách mạng và đạo đức cách mạng, về hoạch định và thực hiện các
chính sách xã hội; về rèn luyện và giáo dục con người v.v ) về thực chất chỉ là sự cụ
thể hóa bằng thực tiễn tư tưởng về con người của Hồ Chí Minh.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, con người được khái niệm vừa là mục tiêu của sự

nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, vừa là động lực của chính sự nghiệp
đó. Tư tưởng đó được thể hiện rất triệt để và cụ thể trong lý luận chỉ đạo cách mạng
dân tộc dân chủ nhân dân và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Trong lý luận về xây dựng chế độ mới, Hồ Chủ tịch đã khẳng định xây dựng chế
độ dân chủ nhân dân gắn liền với việc thực hiện bước tiến lên chủ nghĩa xã hội. Trong
kháng chiến giải phóng dân tộc cần xây dựng chế độ dân chủ nhân dân để đẩy mạnh
công cuộc kháng chiến, đồng thời tạo ra những tiền đề cho việc xây dựng chủ nghĩa
xã hội; trong xây dựng chủ nghĩa xã hội cần phải thực hiện chế độ dân chủ nhân dân,
vì như Người nói: "Đây là cuộc chiến đấu khổng lồ chống lại những cái gì đã cũ kỹ,
hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi". Cuộc chiến đấu ấy sẽ không đi đến
thắng lợi, nếu không "dựa vào lực lượng của toàn dân". Về chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí
Minh không bao giờ quan niệm hình thái xã hội đó như một mô hình hoàn chỉnh, một
công thức bất biến. Bao giờ Người cũng coi trọng những điều kiện kinh tế, xã hội,
2
chính trị, văn hóa khách quan. Người chỉ đề ra những mục tiêu của công cuộc xây
dựng chủ nghĩa xã hội với những bước đi thiết thực và những nội dung cơ bản nhất.
Theo Người: "Nói một cách tóm tắt, mộc mạc, chủ nghĩa xã hội trước hết là làm cho
nhân dân lao động thoát khỏi bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm, được
ấm no và được sống đời hạnh phúc"; "Chủ nghĩa xã hội là nhằm nâng cao đời sống vật
chất và văn hóa của nhân dân" xây dựng chủ nghĩa xã hội tức là làm cho nhân dân ta có
một đời sống thật sung sướng, tốt đẹp. Người dạy xây dựng chủ nghĩa xã hội phải
thiết thực, phù hợp với điều kiện khách quan, phải nắm được quy luật và phải biết vận
dụng quy luật một cách sáng tạo trên cơ sở nắm vững tính đặc thù, tránh giáo điều, rập
khuôn máy móc. Sự sáng tạo đó gần gũi, tương đồng, nhất quán với luận điểm của
Ăngghen: "Đối với chúng ta, chủ nghĩa cộng sản không phải là trạng thái cần phải
sáng tạo ra, không phải là một lý tưởng mà hiện thực phải khuôn theo. Chúng ta gọi
chủ nghĩa cộng sản là một phong trào hiện thực, nó xóa bỏ trạng thái hiện nay". Vì
vậy, không chỉ trong lý luận về đấu tranh giành độc lập dân tộc mà cả trong lý luận
xây dựng chủ nghĩa xã hội khi định ra những mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, trước hết,
"cần có con người xã hội chủ nghĩa", Hồ Chí Minh đã thể hiện nhất quán quan điểm

về con người: con người là mục tiêu, đồng thời vừa là động lực của sự nghiệp giải
phóng xã hội và giải phóng chính bản thân con người.
Tấm lòng Hồ Chí Minh luôn hướng về con người. Người yêu thương con người,
tin tưởng con người, tin và thương yêu nhân dân, trước hết là người lao động, nhân
dân mình và nhân dân các nước. Với Hồ Chí Minh, "lòng thương yêu nhân dân,
thương yêu nhân loại" là "không bao giờ thay đổi". Người có một niềm tin lớn ở sức
mạnh sáng tạo của con người. Lòng tin mãnh liệt và vô tận của Hồ Chí Minh vào nhân
dân, vào những con người bình thường đã được hình thành rất sớm. Từ những năm
tháng Người bôn ba tìm đường cứu nước, thâm nhập, lăn lộn, tìm hiểu thực tế cuộc
sống và tâm tư của những người dân lao động trong nước và nước ngoài. Người đã
khẳng định: "Đằng sau sự phục tùng tiêu cực, người Đông Dương ẩn giấu một cái gì
đang sôi sục, đang gào thét, và sẽ bùng nổ một cách ghê gớm khi thời cơ đến"1. Tin
vào quần chúng, theo quan điểm của Hồ Chí Minh, đó là một trong những phẩm chất
cơ bản của người cộng sản. Và đây cũng chính là chỗ khác căn bản, khác về chất, giữa
quan điểm của Hồ Chí Minh với quan điểm của các nhà Nho yêu nước xưa kia (kể cả
2
các bậc sĩ phu tiền bối gần thời với Hồ Chí Minh) về con người. Nếu như quan điểm
của Hồ Chí Minh: "Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới
không có gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết toàn dân", thì các nhà Nho phong kiến xưa
kia mặc dù có những tư tưởng tích cực "lấy dân làm gốc", mặc dù cũng chủ trương
khoan thư sức dân", nhưng quan điểm của họ mới chỉ dừng lại ở chỗ coi việc dựa vào
dân cũng như một "kế sách", một phương tiện để thực hiện mục đích "trị nước", "bình
thiên hạ". Ngay cả những bậc sĩ phu tiền bối của Hồ Chí Minh, tuy là những người
yêu nước một cách nhiệt thành, nhưng họ chưa có một quan điểm đúng đắn và đầy đủ
về nhân dân, chưa có đủ niềm tin vào sức mạnh của quần chúng nhân dân. Quan điểm
tin vào dân, vào nhân tố con người của Người thống nhất với quan điểm của Mác,
Ăngghen, Lênin: "Quần chúng nhân dân là người sáng tạo chân chính ra lịch sử".
Tin dân, đồng thời lại hết lòng thương dân, tình thương yêu nhân dân của Hồ
Chí Minh có nguồn gốc sâu xa từ trong truyền thống dân tộc, truyền thống nhân ái
ngàn đời của người Việt Nam. Cũng như bao nhà Nho yêu nước khác có cùng quan

điểm "ái quốc là ái dân", nhưng điểm khác cơ bản trong tư tưởng "ái dân" của Người
là tình thương ấy không bao giờ dừng lại ở ý thức, tư tưởng mà đã trở thành ý chí,
quyết tâm thực hiện đến cùng sự nghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải
phóng nhân loại cần lao, xóa bỏ đau khổ, áp bức bất công giành lại tự do, nhân phẩm
và giá trị làm người cho con người. ở Hồ Chí Minh, chủ nghĩa yêu nước gắn bó không
tách rời với chủ nghĩa quốc tế chân chính. Tình thương yêu cũng như toàn bộ tư tưởng
về nhân dân của Người không bị giới hạn trong chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi mà nó tồn
tại trong mối quan hệ khăng khít giữa các vấn đề dân tộc và giai cấp, quốc gia với
quốc tế. Yêu thương nhân dân Việt Nam, Người đồng thời yêu thương nhân dân các
dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới. Trong sự nghiệp lãnh đạo cách mạng, Hồ Chí
Minh luôn coi trọng sức mạnh đoàn kết toàn dân và sự đồng tình ủng hộ to lớn của bè
bạn khắp năm châu, của cả nhân loại tiến bộ. Người cũng xác định sự nghiệp cách
mạng của nước ta là một bộ phận không thể tách rời trong toàn bộ sự nghiệp đấu tranh
giải phóng nhân loại trên phạm vi toàn thế giới.
Tóm lại: Quan niệm về con người, coi con người là một thực thể thống nhất của
"cái cá nhân" và "cái xã hội", con người tồn tại trong mối quan hệ biện chứng giữa
cá nhân với cộng đồng, dân tộc, giai cấp, nhân loại; yêu thương con người, tin tưởng
2
tuyệt đối ở con người, coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp
giải phóng xã hội và giải phóng chính bản thân con người, đó chính là những luận
điểm cơ bản trong tư tưởng về con người của Hồ Chí Minh. Xuất phát từ những luận
điểm đúng đắn đó, trong khi lãnh đạo nhân dân cả nước tiến hành cuộc đấu tranh
giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước, Hồ Chí Minh luôn tin ở dân, hết lòng
thương yêu, quý trọng nhân dân, biết tổ chức và phát huy sức mạnh của nhân dân. Tư
tưởng về con người của Người thông qua thực tiễn cách mạng của Người thông qua
thực tiễn cách mạng đã trở thành một sức mạnh vật chất to lớn và là nhân tố quyết
định thắng lợi của chính sự nghiệp cách mạng ấy.
Tư tưởng về con người của Hồ Chí Minh dựa trên thế giới quan duy vật triệt để
của chủ nghĩa Mác - Lênin. Chính vì xuất phát từ thế giới quan duy vật triệt để ấy, nên
khi nhìn nhận và đánh giá vai trò của bản thân mình (với tư cách là lãnh tụ), Người

không bao giờ cho mình là người giải phóng nhân dân. Theo quan điểm của Hồ Chí
Minh, người cán bộ (kể cả lãnh tụ) chỉ là "đầy tớ trung thành" có sứ mệnh phục vụ
nhân dân, lãnh tụ chỉ là người góp phần vào sự nghiệp cách mạng của quần chúng. Tư
tưởng này đã vượt xa và khác về chất so với tư tưởng "chăn dân" của những người
cầm đầu nhà nước phong kiến có tư tưởng yêu nước xưa kia. Và đây, cũng chính là
điều đã làm nên chủ nghĩa nhân văn cao cả ở Hồ Chí Minh, một chủ nghĩa nhân văn
cộng sản trong cốt cách của một nhà hiền triết phương Đông.
Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lấy chủ nghĩa Mác
- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành
động. Tư tưởng về con người của Đảng Cộng sản Việt Nam nhất quán với tư tưởng về
con người của Hồ Chí Minh. Sự nhất quán ấy được thể hiện qua đường lối lãnh đạo
cách mạng và qua các chủ trương chính sách của Đảng trong suốt quá trình Đảng lãnh
đạo công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Trong sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay, tư tưởng đó tiếp tục được Đảng ta quán
triệt vận dụng và phát triển. Con người Việt Nam đang là trung tâm trong "chiến lược
phát triển toàn diện"; đang là động lực của công cuộc xây dựng xã hội mới với mục
tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa
xã hội".
CHƯƠNG II. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI
2
1. Phát triển mạnh mẽ giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ
Phát triển mạnh mẽ giáo dục – đào tạo và khoa học – công nghệ nhằm, một mặt,
phục vụ trực tiếp cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, mât khác xây
dựng tiềm lực trí tuệ - cốt lõi của nguồn nhân lực cao. Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã
khẳng định: một dân tộc dốt là một dân tộc yếu và “vì lợi ích mười năn thì phải trông
cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trông người”.
Trí tuệ là một trong những chỉ số quan trọng nhất của chất lượng nhân tố con người,
nhất là thời đại cách mạng khoa học và công nghệ có những bước phát triển nhảy vọt,
khoa học đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp và sự xuất hiện của kinh tế tri
thức hiện nay. Bên cạnh đó, cần phải chú trọng công tác giáo dục đạo đức, lối sống

con người, trước hết là các thế hệ trẻ - những chủ nhân tương lai của đất nước. Bởi vì,
xa hội hiên nay không chỉ cần những con người chuyên gia, mà còn rất cần những con
người công dân, có nhân cách và trách nhiêm cao đối với cộng đồng và xã hội. Do đó,
quan điểm của Đảng về “giáo dục – đào tạo và khoa học – công nghệ là quốc sách
hàng đầu” phải trở thành tư tưởng chỉ đạo, được tất cả các cấp, các ngành, gia đình và
xã hội quán triệt sâu rộng và thực thi nghiêm túc nhằm đáo tạo những con người Việt
Nam phát triển toàn diện, có đủ đức lẩn tài,cả sức khỏe dồi dào lẫn tinh thần phong
phú, tạo nền tảng đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững. Mặt khác, đẻ phát huy
vai trò của của giáo dục – đào tạo trong sự nghiệp đổi mới, cần giải quyết tốt các mối
quan hệ giữa đòa tạo và sử dụng hợp lý,hiệu quả lực lượng lao động. Đồng thời, cần
kết hợp giữa nâng cao trình độ dân trí và phát triển nguồn nhân lực đồng đều giữa các
vùng miền, các cộng đồng xã hội; gắn chiến lược phát triển khoa học công nghệ với
nâng cao hàm lượng trí tuệ trong nhân tố con người. Từ chỗ có nguồn lực con người
đảm bảo về chất lượng, cần xây dựng và thực hiện những phương thức, cơ ghế phát
huy nguồn lực đó.
Quan tâm đúng mức tới nhu cầu và lợi ích của người lao động trong sản xuất
cũng như trong hoạt động xã hội, con người luôn luôn bị kích thích, bị thôi thúc bởi
hàng loạt các động lực ở nước ta hiện nay, nền kinh tế tuy đã thoát khỏi khủng hoảng
và bước vào thời kỳ phát triển mới, nhưng đời sống vật chất của người lao động còn
khó khăn, do đó cần có sự quan tâm đúng mức tới nhu cầu và lợi ích của người lao
động mà trước hết là lợi ích kinh tế. Trước đây chúng ta đã có lúc chúng ta nặng về
2
kêu gọi nhân dân “ thắt lưng buộc bụng” để xây dựng chủ nghĩa xã hội mà ít chú ý
đến lợi ích kinh tế của họ cho nên ở chừng mực nhất định, chúng ta chẳng những đã
không kích thích người lao động, hăng say sản xuất, mà còn có khi ngược lại, làm cho
họ quay lưng lại với sản xuất chúng ta đã quên rằng nhu cầu thiết thực trước mắt bảo
đảm sự tồn tại của người lao động chính là những động lực to lớn thúc đẩy lợi ích,
kinh tế cho người lao động làm một khâu rất quan trọng tạo ra động lực phát huy tính
năng động.
2. Giải quyết hài hòa các quan hệ lợi ích

Cần quan tâm giải quyết hài hòa các quan hệ lợi ích theo phương châm đảm bảo
công bằng xã hội trong tưng chính sách, tưng bước phát triển.lợi ích chính là điểm
mấu chốt, là một trong nhưng đông lực hàng đầu nhằm phát huy nhân tố con người.
trong thực tiên cách mạng trước đây, do nhu cầu giải phóng dân tộc nổi lên hàng đẩu
nên lợi ích dân toàn tộc phải được đặt lên trên hếttrong giai quyết mọi quan hệ lợi ích.
Tuy nhiên, khi đất nước hòa bình, các nhu ầu và lợi ích chính đáng của ngưới dân cạn
được tôn trọng và đảm bảo ngày càng tốt hơn. Theo đó, để phát huy vai trò của nguồn
lực con người trong sự nghiệp đổi mới đất nước, không thể không đặt ra vấn đề giải
quyết hài hòa giữa lợi ích cá nhân với lợi ích cộng đồng và lợi ích toàn xã hội, giữa lợi
ích trực tiếp với lợi ích lâu dài, giữa lợi ích vật chất với lợi ích tinh thần… bên cạnh
đó, cần coi trong và thực hiện tốt hệ thông chính sách xã hội theo hướn lấy con người
làm trung tâm. Đặc biệt, Đảng và Nhà nước cấn có chính sách đảm bảo công bằng xã
hội, tao điều kiên cho tất cả mọi người đều được hưởng lợi ích từ sự tăng trưởng của
nền kinh tế, có cơ hội bình đăng trong việc tiếp cận các dịch vụ liên quan đên phát
triển con người. Đó chính là quá trình tích lũy về lượng để có nhũng biến đổi về chất
trong trường hợp mà chúng ta đang xem xét, là sự cống hiến ở mức cao nhất năng lực
cá nhân của mỗi con người cho cộng đồng, xã hội.
Xây dựng môi trường xã hội, tạo điều kiện để phát huy yếu tố con người. Con
người là chủ thể, đồng thời con người cũng là sản phẩm của sự vận động xã hội, của
chế độ xã hội. Vì vậy muốn phát huy được yếu tố con người cần phải có môi trường
thích ứng. Việc giải phóng lực lượng sản xuất được thực hiện trước tiên và chủ yếu
nhất là ở khâu xoá bỏ những cơ chế đã và đang kìm hãm tính tích cực chủ động sáng
2
tạo của người lao động, do đó xây dựng môi trường là tiềm đề cho xây dựng con
người mới tỏng công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước.
3. Xây dựng và thực hiên một cơ chế dân chủ hóa mọi mặt đời sống xã hội
Nhằm tạo môi trường, điều kiện thiết yếu để phát huy vai trò nguồn lực của con
người trong các lĩnh vực đời sống xã hội. Nhân tố con người chỉ được khai thác và
phát huy tối đa khi con người thực sự lam chủ tự nhiên, làm chủ xã hội và làm chủ
chính mình. Để phát huy tính tích cực, tự giác, sáng tạo của co người trong mọi hoạt

động thì nhất thiết phải xây dựng và thực hiện một cơ chế dân chủ, trong đó ngày
càng quan tâm đến dân chủ trực tiếp nhằm thực hiên hóa những giá trị dân chủ xã hội
chủ nghĩa trong đời sống xã hội. Việc phát huy dân chủ không chỉ tạo cơ hội thuậ lợi
cho tất cả mọi người có thể cống hiến năng lực của mình cho xã hội, mà còn có ý
nghĩa tạo điều kiện cho việc thực hiên cơ chế phản biện xã hội với tinh thần lành
mạnh, xây dựng và phát huy trách nhiêm công dân. Nói cách khác thông qua quá trình
dân chủ hóa, trí tuệ của toàn dân được huy động và đóng góp vào sự phát triển chung
của xã hội. Đó cũng là lý do tại sao Hồ Chí Minh coi dân chủ là chìa khóa vạn năng
để giải quyết mọi vấn đề mà thực tiễn cách mạng đặt ra.
Xây dựng môi trường xã hội, tạo điều kiện để phát huy yếu tố con người. Con
người là chủ thể, đồng thời con người cũng là sản phẩm của sự vận động xã hội, của
chế độ xã hội. Vì vậy muốn phát huy được yếu tố con người cần phải có môi trường
thích ứng. Việc giải phóng lực lượng sản xuất được thực hiện trước tiên và chủ yếu
nhất là ở khâu xoá bỏ những cơ chế đã và đang kìm hãm tính tích cực chủ động sáng
tạo của người lao động, do đó xây dựng môi trường là tiềm đề cho xây dựng con
người mới tỏng công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước.
CHƯƠNG III. VAI TRÒ CỦA CON NGƯỜI TRONG QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI
HIỆN NAY
Do nhân thức được vai trò và tầm quan trọng của vấn đề con người đạc biệt là
2
vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước ta hiện nay.
Đảng và nhân dân ta đã và đang xây dựng và phát triển đất nước toàn diện về nhiều
mặt đặc biệt là lĩnh vực kinh tế, nó phụ thuộc rất nhiều vào nhiều chiến lược con
người: Cần đào tạo con người một cách có chiều sâu lấy tư tương và chủ nghĩa Mác -
Lênin làm nền tảng, cũng như trên thế giới ở nước ta chiến lược con người nó có một
ý nghĩa hết sức quan trọng và để phát triển đúng hướng chiến lược đó cần có một
chính sách phát triển con người, không để con người đi lệch tư tưởng tuy nhiên trong
thực tế không ít người sẽ ngang đi tìm khả năng phát triển nó trong chủ nghĩa tư bản.
Nhiều người trở về phục sinh và tìm sự hoàn thiện con người trong các tôn giáo và các
hệ tư tưởng truyền thống. Có người lại sáng tạo ra tư tưởng tôn giáo mới cho phù hợp

với con người Việt Nam. Song nhìn lại một cách khách quan và khoa học sự tồn tại
của chủ nghĩa Mác - Lênin trong xã hội Việt Nam có lẽ không ai có thể phủ nhận
được vai trò ưu trội và triển vọng cuả nó trong sự nghiệp phát triển con người tạo đà
cho bước phát triển tiếp theo của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá thì một
nước đang còn ở tình trạng kém phát triển như nước ta không thể không xây dựng một
chính sách phát triển lâu dài, có tầm nhìn xa trông rộng phát triển con người nâng cao
chất lượng của người lao động. Hơn bất cứ một lĩnh vực nghiên cứu nào khác, lĩnh
vực phát triển con người là mục tiêu cao cả nhất của toàn dân, đưa loài người tới một
kỷ nguyên mới, mở ra nhiều khả năng để tìm ra những con đường tối ưu đi tới tương
lai con đường khả quan nhất cho sự nghiệp phát triển con người trong sự nghiệp công
nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước. Trong đời sống xã hội thực tiễn cơ sở vận dụng
khoa học và sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin về con người tại hội nghị lần thứ tư của
ban chấp hành trung ương Đảng khoá VII đề ra nghị quyết và thông qua nghị quyết về
việc phát triển con người Việt Nam toàn diện với tư cách là "Động lực của sự nghiệp
xây dựng xã hội mới, đồng thời là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội" Đó là "con người
phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất phong phú về tinh thần, trong sáng về
đạo đức". Bởi lẽ, người lao động nước ta ngày càng đóng vai trò quan trọng trong mọi
lĩnh vực của đời sống xã hội và trong sự phát triển của nền kinh tế đất nước theo cớ
chế thị trường, dưới sự quản lý của nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa thì
chất lượng của người lao động là nhân tố quyết định nghị quyết đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ VIII của Đảng đã khẳng định "Nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy
2
nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi cuả công
cuộc đổi mới đất nước". Thực tiễn đã chứng tỏ xã hội ta hiện nay tình trạng mất hài
hoà về mặt bản thể của mỗi cá nhân là chủ yếu, là tất cả bản thể cá nhân phát triển
toàn diện và hài hoà về đạo đức, trí tuệ, thể lực là mục tiêu xây dựng con người trong
chủ nghĩa xã hội nhưng mục tiêu cơ bản và quan trọng hơn cả là vấn đề con người
phải trở thành nhân tố quyết định lịch sử xã hộivà lịch sử của chính mình.
Các nhà tư tưởng tư sản xuyên tạc chủ nghĩa Mác cho rằng đó là "chủ nghĩa
không có con người" thực tế thì, chủ nghĩa Mác là một chỉnh thể thống nhất của ba bộ

phận triết học nghiên cứu các quy luật của thế giới, giúp ta hiểu bản chất, mới quan hệ
tự nhiên - xã hội - con người, chính trị kinh tế vạch ra quy luật đi lên của xã hội, chủ
nghĩa xã hội khoa học chỉ ra con đường và phương pháp nghiên cứu con người. Chủ
nghĩa Mác là một chỉ nghĩ vì con người, chủ nghĩa nhân đạo. Học thuyết đó không chỉ
chứng minh bản chất của con người ("tổng hoà của các quan hệ xã hội") và bản tính
con người ("luôn vươn tới sự hoàn thiện") mà còn vạch hướng đưă con người đi đúng
bản chất và bản tính của mình, giải phóng, xoá bỏ sự tha hoá, tạo điều kiện phát huy
mọi sức mạnh bản chất người, phát triển toàn diện, hài hoà cho từng cá nhân. Sự phù
hợp giữa tư tưởng Mác Xít với bản chất và bản tính người đã thu phục và làm say mê
những con người hằng mong vươn lên xây dựng xã hội mới, mở ra mọi khả năng cho
sự phát triển con người.
Chỉ có chủ nghĩa Mác - Lênin mới có thể vạch rõ được hướng đi đúng cho con
đường đi lên xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, thực tế cho thấy cùng với tư tưởng Hồ Chí
Minh, chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam đã làm nên thắng lợi cách mạng giải
phòng dân tộc (1945), thống nhất đất nước (1975) thực hiện ý chí độc lập tự do con
người việt Nam điều mà bao nhiêu học thuyết trước Mác không thể áp dụng được, và
chính chủ nghĩa Mác - Lênin đã làm thay đổi, trở thành hệ tư tưởng chính thống của
toàn xã hội, thay đổi nhanh chóng đời sống tinh thần đại đa số nhân dân Việt Nam.
Thực tiễn hoạt động cách mạng xã hội chủ nghĩa vừa nhanh chóng nâng cao trình độ
nhận thức toàn diện. Bằng hệ thống giáo dục với các hình thức đào tạo đa dạng, với
các hình thức khoa học thấm nhuần tinh thần cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin đã
hình thành kế tiếp nhau những lớp người lao động mới ngày càng có tư tưởng, trình
độ chung, chuyên môn cao ngày nay chúng ta đã có một đội ngũ cán bộ văn hoá khoa

×