Tải bản đầy đủ (.docx) (27 trang)

BT chương 2 LUẬT NGÂN HÀNG

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (196.94 KB, 27 trang )

CHƯƠNG 2: ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
I. CÂU HỎI TỰ LUẬN:
1) Anh (chị) hãy lý giải tại sao Việt Nam lại chọn mơ hình NHTƯ là cơ quan ngang bộ
của Chính phủ.(khơng thuộc Quốc hội hay Bộ Tài chính).
Trả lời:
Cơ quan ngang bộ của Chính Phủ là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý
nhà nước về các ngành, lĩnh vực được giao trong phạm vi cả nước ở đây là lĩnh vực về
điều chỉnh hoạt động của ngân hàng Trung Ương . Mơ hình NHTW trực thuộc chính phủ
là mơ hình trong đó NHTW nằm trong nội các chính phủ và chịu sự chi phối trực tiếp của
chính phủ về nhân sự, về tài chính và đặc biệt về các quyết định liên quan đến việc xây
dựng và thực hiện chính sách tiền tệ. Theo mơ hình này, Ngân hàng trung ương là một bộ
máy của Chính phủ, là một cơ quan chức năng của Chính phủ, chịu sự kiểm sốt tồn
diện của Chính phủ và thực hiện mọi chính sách thể chế của chính phủ. Sự đề xuất ngân
hàng trung ương trực thuộc chính phủ xuất phát từ quan điểm cho rằng tiền tệ là một bộ
phận của chính sách cai trị về tài chính, tiền tệ là phương tiện của chính quyền .
Lí do Việt Nam lựa chọn mơ hình NHTƯ cơ quan ngang bộ của Chính phủ mà khơng
thuộc Quốc hội hay Bộ Tài chính là do :
- Thứ nhất vai trị chính của cơ quan Chính Phủ đó là quản lý mọi hoạt động trên các mặt
của Nhà nước cũng như đời sống xã hội người dân thuộc tồn quốc gia trong đó có đề
xuất, xây dựng chính sách vĩ mơ, đề xuất định hướng phát triển kinh tế - xã hội trình
Quốc hội vì thế Chính Phủ sẽ quản lí tốt hơn vì hiểu được thời cục , tình hình đất nước
hơn bất kì chủ thể nào mà sẽ ra các chính sách vực dậy nền kinh tế thơng qua sự quản lí
NHTW của mình.
- Thứ 2 , Vì Chính Phủ là 1 bộ máy hành chính, 1 cơ quan nhà nước đầy quyền lực do đó
sẽ tạo được uy tín, độ tin cậy cao vào nhà nước của các cá nhân, tổ chức vào bộ máy nhà
nước .
- Thứ 3 , Khi ngân hàng trung ương là cơ quan ngang bộ của Chính Phủ thì giúp chính
phủ nắm trong tay nguồn lực tài chính ổn định, tập trung của nền kinh tế để thực hiện các
mục tiêu mà chính phủ đặt ra.
- Thứ 4 , Chính phủ có thể lợi dụng chính sách tiền tệ để bù đắp bội chi ngân sách nhà
nước.




- Thứ 5 , Ngân hàng trung ương là chủ ngân hàng, đại lý và cố vấn cho chính phủ. Chính
phủ nắm trong tay các cơng cụ kinh tế vĩ mô để sử dụng và phối hợp 1 cách đồng bộ và
hiệu quả các cơng cụ đó, đặc biệt là chính sách tiền tệ . Giúp chính phủ thống nhất, phối
hợp đồng bộ các chính sách vĩ mơ, trong đó có chính sách tiền tệ ngân hàng, nhằm đạt
được mục tiêu kinh tế, xã hội chung
2) Tại sao pháp luật ngân hàng Việt Nam lại quy định: “NHNNVN là một pháp
nhân”. Hãy chứng minh?
Trả lời:
CSPL: Khoản 2 Điều 2 Luật NHNNVN 2010, Điều 74 BLDS 2015.
Theo quy định tại Điều 74 BLDS 2015: “Một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi
có đủ các điều kiện sau đây:
a/ Được thành lập theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan;
b/ Có cơ cấu tổ chức theo quy định tại Điều 83 của Bộ luật này;
c/ Có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản
của mình;
d/ Nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập.”
Như vậy, NHNNVN là một pháp nhân vì:
- Thứ nhất, NHNNVN được thành lập một cách hợp pháp theo pháp luật.
- Thứ hai, NHNNVN có cơ cấu tổ chức chặt chẽ. Được tổ chức thành hệ thống tập trung
thống nhất gồm bộ máy điều hành và hoạt động nghiệp vụ tại trụ sở chính, các chi nhánh
ở các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, các văn phòng đại diện trong nước, ngoài
nước và các đơn vị trực thuộc.
- Thứ ba, NHNNVN có vốn pháp định thuộc sở hữu nhà nước. Vốn pháp định của
NHNNVN do Chính phủ quyết định và nguồn vốn có thể cấp bổ sung khi cần thiết. Vốn
pháp định được hình thành từ các nguồn vốn hiện có và nguồn vốn được bổ sung.
- Thứ tư, NHNNVN tự nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật.
3) Tại sao ngoài việc quản lý tổ chức và hoạt động của các TCTD, NHNNVN còn
quản lý việc vay và trả nợ nước ngoài của các doanh nghiệp khác?

Trả lời:


Ngân hàng Nhà nước và cơ quan quản lý hoạt động vay trả nợ nước ngoài đối với những
khoản nợ của doanh nghiệp Tổ chức tín dụng hoạt động ngoại khóa điều hịa cán cân
thanh tốn quốc tế. Ngân hàng Nhà nước xây dựng và áp dụng các biện pháp để đảm bảo
thực thi pháp quy định chính sách đối ngoại hối hoạt động xuất nhập khẩu vàng xác định
và bố trí tỷ giá ngoại hối tổ chức điều hịa thị trường hối đối theo dõi quan hệ tín dụng
với các tổ chức quốc tế.
4) Chứng minh NHNNVN là ngân hàng trung ương của nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam.
Trả lời:
Trong cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung, Ngân hàng nhà nước Việt Nam được tổ
chức theo mơ hình ngân hàng một cấp. Theo mơ hình này, Ngân hàng nhà nước Việt
Nam vừa có chức năng ngân hàng trung ương, thực hiện các hoạt động kinh doanh vừa là
cơ quan của Chính phủ. Kể từ sau cải cách hệ thống ngân hàng theo cơ chế kinh tế thị
trường, Ngân hàng nhà nước Việt Nam khơng cịn thực hiện kinh doanh đối với nền kinh
tế mà thực hiện hai chức năng cơ bản là quản lí nhà nước về ngân hàng và chức năng
ngân hàng trung ương của đất nước. Với chức năng của cơ quan quản lí nhà nước, Ngân
hàng nhà nước Việt Nam thực hiện quản lí nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng
như: cấp, thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động đối với tổ chức tín dụng, cấp, thu hồi
giấy phép hoạt động ngân hàng đối với các tổ chức khác; quản lí việc vay, trả nợ nước
ngồi của doanh nghiệp.... Với chức năng là ngân hàng trung ương. Ngân hàng nhà nước
thực hiện các hoạt động như phát hành tiền, điều hồ lưu thơng tiền tệ, cung ứng các dịch
vụ ngân hàng cho các tổ chức tín dụng...Mục tiêu hoạt động của Ngân hàng nhà nước
Việt Nam là ổn định giá trị đồng tiền, kiểm chế lạm phát và đảm bảo an toàn hoạt động
ngân hàng và hệ thống các tổ chức tín dụng, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội theo định
hướng xã hội chủ nghĩa.Ngân hàng nhà nước Việt Nam có tư cách pháp nhân, có vốn
pháp định, tổ chức thành hệ thống tập trung thống nhất gồm bộ máy điều hành và hoạt
động nghiệp vụ tại trụ sở chính, các chỉ nhánh Ở các tỉnh, thành phố trực thuộc trung

ương, các văn phòng đại điện ở trong nước, ở ngoài nước và các đơn vị trực thuộc.
5) Trình bày cơ cấu tổ chức, lãnh đạo, điều hành NHNNVN. Hội đồng chính sách tiền
tệ quốc gia có phải là một bộ phận thuộc NHNN hay không? Chức năng của cơ quan
này?
Trả lời:
Cơ cấu tổ chức: tập trung thống nhất theo ngành dọc. NHNN được tổ chức thành hệ
thống tập trung thống nhất gồm bộ máy điều hành và hoạt động nghiệp vụ tại trụ sở


chính, các chi nhánh ở các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, các văn phịng đại diện
trong nước, ngồi nước và các đơn vị trực thuộc..
Cơ cấu lãnh đạo, điều hành NHNNVN: theo chế độ một thủ trưởng.
Hội đồng chính sách tiền tệ quốc gia khơng phải là một bộ phận thuộc NHNN.
Chức năng của cơ quan này: tư vấn cho Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ trong việc
hoạch định và quyết định những vấn đề quan trọng về chủ trương, chính sách tài chính,
tiền tệ thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ. (Điều 1 Quyết
định 1079/QĐ-TTg thành lập Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính tiền tệ quốc gia)
6) Có ý kiến cho rằng: Việc quy định thành lập chi nhánh NHNNVN ở mỗi tỉnh,
thành phố như hiện nay là không cần thiết, làm cho bộ máy quản lý hành chính cồng
kềnh, hoạt động kém hiệu quả. Anh (chị) có đồng ý với quan điểm trên hay khơng?
Giải thích?
Trả lời:
Việc thành lập chi nhánh ngân hàng nhà nước ở mỗi tỉnh thành là cần thiết vì: Thứ nhất,
vì là cơ quan nhà nước trực thuộc chính phủ do đó cần có chi nhánh ở các tỉnh thành để
thực hiện việc quản lý nhà nước đối với các hoạt động ngân hàng tại địa phương như
những cơ quan khác. Thứ hai, vì mỗi địa phương đều có những kế hoạch riêng trong q
trình phát triển kinh tế, xã hội. Do đó, chi nhánh NHNN ở địa phương cũng kịp thời thực
hiện được các chức năng tham mưu, hỗ trợ UBND các tỉnh thành trong việc quản lý và sử
dụng nguồn ngân sách nhà nước một cách phù hợp.
7) Anh (chị) có nhận xét gì về vị trí pháp lý và vai trị của NHNNVN hiện nay? Có ý

kiến cho rằng nên nâng cao hơn nữa vị thế và tính độc lập của NHNN trong bộ máy
nhà nước ta hiện nay để NHNN có thể phát huy tích cực hiệu quả hoạt động của
mình. Anh (chị) hãy bày tỏ suy nghĩ của mình?
Trả lời:
Khoản 1 Điều 2 Luật NHNNVN 2010 quy định: “Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (sau
đây gọi là Ngân hàng Nhà nước) là cơ quan ngang bộ của Chính phủ, là Ngân hàng trung
ương của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.”
Như vậy, theo quy định này NHNNVN vừa có vị trí là một bộ trong cơ cấu tổ chức của
Chính phủ, vừa có vị trí là ngân hàng trung ương.


- Với vị trí pháp lí là cơ quan ngang bộ của Chính phủ, ngân hàng nhà nước là cơ quan
ngang bộ có chức năng quản lí nhà nước về tiền tệ và ngân hàng.
- Với vị trí pháp lí của ngân hàng trung ương, NHNNVN là ngân hàng phát hành tiền,
ngân hàng của các tổ chức tín dụng và ngân hàng làm dịch vụ tiền tệ cho Chính phủ.
Theo nhóm em, về vị trí pháp lý và vai trị của NHNNVN hiện nay là phù hợp. Bởi thể
chế chính trị nước ta là tập trung quyền lực thống nhất và với giai đoạn hiện tại khi mà
Việt Nam ta vẫn là một nước đang phát triển thì cần thiết có sự tập quyền cao độ vào
Chính phủ để từ đó chủ động hơn trong việc thực hiện các quyết sách về kinh tế của Nhà
nước.
Việc nâng cao vị thế và tính độc lập của NHNNVN trong bộ máy nhà nước sẽ giúp Ngân
hàng thực hiện hoạt động của mình một cách linh hoạt và hiệu quả hơn. Tuy nhiên, việc
nâng cao tính độc lập của NHNNVN khơng phải là khơng có nhược điểm, đặc biệt là
trong giai đoạn hiện tại khi mà nền kinh tế nước ta vẫn còn đang phát triển việc hoạch
định chính sách tiền tệ cần phải gắn liền với đời sống xã hội. Do đó, theo nhóm hiện nay
NHNNVN đang là cơ quan ngang Bộ thuộc Chính phủ thì vẫn là một biện pháp an tồn
và phù hợp.
8) NHNNVN có được phép tiến hành hoạt động ngân hàng khơng? Tại sao? Lợi
nhuận có được xử lí như thế nào?
Trả lời:

NHNNVN khơng được phép tiến hành hoạt động ngân hàng. Bởi lẽ NHNNVN mang hai
chức năng chính là quản lý nhà nước về tiền và chức năng ngân hàng trung ương. Hoạt
động nghiệp vụ của NHNN nếu có mang lại nguồn thu cũng khơng vì mục đích kinh
doanh mà đứng trên lợi ích tồn cục của nền kinh tế.
Lợi nhuận có được được nộp vào ngân sách nhà nước.
9) Chính sách tiền tệ quốc gia là gì? Việc thực hiện chính sách tiền tệ này như thế
nào? Bằng hiểu biết của mình, anh (chị) hãy cho ví dụ thực tiễn.
Trả lời:
Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật ngân hàng nhà nước năm 2010 quy định:
“1. Chính sách tiền tệ quốc gia là các quyết định về tiền tệ ở tầm quốc gia của cơ quan
nhà nước có thẩm quyền, bao gồm quyết định mục tiêu ổn định giá trị đồng tiền biểu hiện


bằng chỉ tiêu lạm phát, quyết định sử dụng các công cụ và biện pháp để thực hiện mục
tiêu đề ra.”
Việc thực hiện chính sách tiền tệ đạt được nhiều thành tựu , song có rất nhiều thách thức .
Ví dụ thực tiễn :
Giai đoạn 2015-2020, nền kinh tế Việt Nam có thế và lực thuận lợi nhờ kế thừa thành tựu
30 năm đổi mới khi những nỗ lực cải cách cơ cấu kinh tế bắt đầu đơm hoa, kết trái.
Những dấu ấn kinh tế nổi bật đó có sự đóng góp hết sức tích cực, quan trọng của hệ thống
ngân hàng - mạch máu của nền kinh tế. Theo đó, hiệu lực, hiệu quả truyền dẫn của chính
sách tiền tệ ngày càng nâng cao. Ngân hàng Nhà nước đã điều hành đồng bộ, linh hoạt
các cơng cụ chính sách tiền tệ để ổn định thị trường tiền tệ, ngoại hối, góp phần kiểm sốt
lạm phát theo mục tiêu và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế bền vững; điều hành tín dụng an
tồn, hiệu quả, tập trung vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh, kiểm sốt tín dụng đối với các
lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế nhưng không chủ quan với lạm phát,
kiên định điều hành giảm lãi suất trên nền tảng kinh tế vĩ mô ổn định, hỗ trợ tăng trưởng
kinh tế, đảm bảo cân bằng lợi ích của người đi vay và người gửi tiền; ổn định tỷ giá, giữ
vững giá trị đồng Việt Nam; thị trường tiền tệ, ngoại hối và thị trường vàng ổn định,
thơng suốt.Bên cạnh đó, tái cơ cấu hệ thống tổ chức tín dụng và xử lý nợ xấu có bước đột

phá cơ bản trên cơ sở phát hiện và hoàn thiện những “nút thắt” trong khung pháp lý hiện
hành. Đến cuối năm 2020, sự ổn định, an tồn của hệ thống tổ chức tín dụng được giữ
vững, hầu hết tổ chức tín dụng đạt tỷ lệ an toàn vốn theo quy định của pháp luật (khoảng
11,65%); năng lực tài chính các tổ chức tín dụng được củng cố; chất lượng tín dụng được
cải thiện, tỷ lệ nợ xấu tiếp tục được duy trì dưới 3%; quy mơ hệ thống tổ chức tín dụng
tiếp tục tăng; năng lực quản trị, điều hành của tổ chức tín dụng từng bước được nâng cao,
tiệm cận với thông lệ quốc tế. Đồng thời, hệ thống thanh toán được kiểm soát và vận
hành an tồn, việc phát triển thanh tốn khơng dùng tiền mặt có nhiều tiến bộ vượt bậc.
Ngân hàng Nhà nước đã xây dựng và hoàn thiện hành lang pháp lý, đảm bảo an ninh, an
toàn trong hoạt động thanh tốn. Các tổ chức tín dụng đã nghiên cứu, ứng dụng nhiều
cơng nghệ mới, hiện đại như thanh tốn trên thiết bị di động, áp dụng xác thực vân tay,
sinh trắc, sử dụng mã phản hồi nhanh... Đồng thời, thanh toán ngân hàng được đẩy mạnh
đối với các dịch vụ cơng, góp phần khơng nhỏ trong việc hạn chế sử dụng tiền mặt trong
nền kinh tế.
Năm 2020 là một năm đi vào lịch sử thế giới với những thách thức chưa từng có. Dịch
bệnh COVID-19 đã và đang lan rộng trên thế giới là một cú sốc lớn đối với hoạt động xã
hội, kinh tế của toàn thế giới, gây ra nhiều khó khăn và hệ lụy cho các doanh nghiệp và
các quốc gia. Bám sát chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Ngân hàng Nhà


nước đã chủ động triển khai đồng bộ nhiều giải pháp về tín dụng nhằm hỗ trợ tháo gỡ khó
khăn cho khách hàng vay vốn bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19.Cụ thể, Ngân hàng Nhà
nước yêu cầu các tổ chức tín dụng rà sốt, đánh giá mức độ ảnh hưởng của dịch đối với
khách hàng vay vốn, xây dựng chương trình, kịch bản hành động của ngân hàng bám sát
với thực tế để tháo gỡ khó khăn cho khách hàng. Đặc biệt, đã ban hành Thơng tư
01/2020/TT-NHNN có hiệu lực từ ngày 13/3/2020, tạo cơ sở pháp lý để các tổ chức tín
dụng cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi, phí, giữ ngun nhóm nợ, giúp người dân
và doanh nghiệp giảm áp lực trả nợ để tập trung vốn cho sản xuất kinh doanh; ban hành
Chỉ thị 02/CT-Ngân hàng Nhà nước ngày 31/3/2020 chỉ đạo các tổ chức tín dụng tăng
cường triển khai các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho khách hàng bị ảnh hưởng bởi dịch.

Sự vào cuộc sớm, chủ động và quyết liệt của ngành ngân hàng đã đạt được những kết quả
tích cực; tăng trưởng tín dụng có dấu hiệu phục hồi khi cầu tín dụng bắt đầu tăng, đến
ngày 31/12/2020, dư nợ tín dụng nền kinh tế đạt gần 9,2 triệu tỷ đồng, tăng khoảng
12,13% so với cuối năm 2019 (cùng kỳ năm 2019 tăng 13,65%). Tín dụng tiếp tục tập
trung vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, các lĩnh vực ưu tiên, nhu cầu vốn cho các dự
án trọng điểm được đáp ứng kịp thời. Đặc biệt, tất cả các tổ chức tín dụng (kể cả cơng ty
tài chính, ngân hàng nước ngoài) đều vào cuộc mạnh mẽ, sử dụng nguồn nội lực tài chính
của mình thơng qua việc tiết giảm chi phí, cắt giảm lương, giảm lợi nhuận, khơng chia cổ
tức... để hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho khách hàng. Đến nay, toàn ngành đã cơ cấu lại thời
hạn trả nợ cho khoảng 270 nghìn khách hàng bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19 với dư nợ
gần 355 nghìn tỷ đồng; miễn, giảm, hạ lãi suất cho gần 590 nghìn khách hàng với dư nợ
trên 1 triệu tỷ đồng, đặc biệt các tổ chức tín dụng đã cho vay mới lãi suất ưu đãi (thấp
hơn phổ biến từ 0,5 - 2,5% so với trước dịch) với doanh số lũy kế từ 23/1 đến nay đạt gần
2,3 triệu tỷ đồng cho hơn 390 nghìn khách hàng.
Đối với cho vay người sử dụng lao động để trả lương ngừng việc cho người lao động,
Ngân hàng Chính sách xã hội đã thực hiện giải ngân với tổng dư nợ là 20,72 tỷ đồng cho
137 người sử dụng lao động, số lao động được hỗ trợ là 5.200 người. Các giải pháp
ngành ngân hàng triển khai trong thời gian qua, đặc biệt là giải pháp cơ cấu lại thời hạn
trả nợ, miễn, giảm lãi, giữ ngun nhóm nợ được thực hiện bằng chính nguồn lực của các
tổ chức tín dụng từ việc tiết kiệm triệt để chi phí hoạt động, giảm lợi nhuận kinh doanh,
trên tinh thần chia sẻ khó khăn và đồng hành cùng với khách hàng vay vốn, đã phát huy
tác dụng giúp giảm áp lực cho doanh nghiệp trong trả nợ vay ngân hàng và tạo điều kiện
để doanh nghiệp tiếp tục vay mới khôi phục và ổn định sản xuất, kinh doanh.
10) Tái cấp vốn là gì? Cách thức vận hành công cụ này thế nào ? Thực tế việc sử
dụng công cụ này hiện nay ?
Trả lời:


Tái cấp vốn là hình thức cấp tín dụng của Ngân hàng Nhà nước nhằm cung ứng vốn ngắn
hạn và phương tiện thanh tốn cho tổ chức tín dụng theo quy định tại khoản 1 Điều 11

Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam năm 2010.
Cách thức vận hành tái cấp vốn :
Tái cấp vốn theo hình thức cho vay có đảm bảo bằng giấy tờ có giá:
Theo điều 2 Thơng tư 17/2011/TT-NHNN quy định: Cho vay có bảo đảm bằng cầm cố
giấy tờ có giá là hình thức cho vay của NHNN Việt Nam đối với các tổ chức tín dụng
trên cơ sở cầm cố giấy tờ có giá thuộc sở hữu của tổ chức tín dụng để đảm bảo nghĩa vụ
trả nợ.
Tái cấp vốn theo hình thức chiết khấu giấy tờ có giá:
Theo điều 2 Thơng tư 01/2012/TT-NHNN: Chiết khấu giấy tờ có giá là nghiệp vụ Ngân
hàng Nhà nước mua ngắn hạn (mua với kỳ hạn dưới 1 năm) các giấy tờ có giá cịn thời
hạn thanh tốn của các TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài trước khi đến hạn thanh
tốn.
Các hình thức tái cấp vốn khác :
Thực tế việc sử dụng công cụ này hiện nay ?
Theo khoản 2 điều 11 luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam 2010 thì có 3 hình thức tái cấp
vốn :
a) Cho vay có bảo đảm bằng cầm cố giấy tờ có giá
b) Chiết khấu giấy tờ có giá
c) Các hình thức tái cấp vốn khác.
Tuy nhiên hiện nay , Ngân hàng nhà nước Việt Nam hầu như mới chỉ thực hiện được theo
hai hình thức đó là : Chiết khấu , tái chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá khác
và cho vay có đảm bảo bằng cầm cố thương phiếu và giấy tờ có giá .
12) Khái niệm lãi suất ? Hiện nay NHNN sử dụng công cụ lãi suất để điều tiết nền
kinh tế như thế nào ?
Trả lời:


Lãi suất là giá cả của quyền sử dụng một đơn vị vốn vay trong một đơn vị thời gian (1
tháng hoặc 1 năm). Đây là loại giá cả đặc biệt, được hình thành trên cơ sở giá trị sử dụng
chứ không phải trên cơ sở giá trị. Giá trị sử dụng của khoản vốn vay là khả năng mang lại

lợi nhuận cho người đi vay khi sử dụng vốn vay trong hoạt động kinh doanh hoặc mức độ
thoả mãn một hoặc một số nhu cầu nào đó của người đi vay. Khác với giá cả hàng hố,
lãi suất khơng được biểu diễn dưới dạng số tuyệt đối mà dưới dạng tỷ lệ phần trăm. Lãi
suất (interest rate) cũng được xem là tỷ lệ sinh lời (rate of return) mà người chủ sở hữu
thu được từ khoản vốn cho vay.
Hiện nay lãi suất được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sử dụng như công cụ để tác động
lên lượng tiền tệ trong lưu thơng, đó khơng phải là lãi suất kinh doanh. Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam có thể ấn định mức lãi suất trần, lãi suất sàn hoặc lãi suất cơ bản tương
ứng với từng loại hình tổ chức tín dụng, từng loại tiền gửi.
13) Lãi suất cơ bản là gì ? Ý nghĩa của lãi suất cơ bản ? Có ý kiến cho rằng nên bỏ
quy định về lãi suất cơ bản vì nó hạn chế quyền tự do kinh doanh của các TCTD. Anh
(chị) có suy nghĩ gì về vấn đề này ?
Trả lời:
- Lãi suất cơ bản là lãi suất do Thống đốc NHNN ban hành nhằm điều chỉnh một mức lãi
suất sàn phù hợp và thống nhất trên phạm vi cả nước, qua đó các ngân hàng căn cứ vào
lãi suất cơ bản để đưa ra mức lãi suất phù hợp cho hoạt động kinh doanh đối với loại hình
vay vốn ngân hàng.
- Ý nghĩa: Lãi suất cơ bản giúp các ngân hàng thương mại có thể đưa ra mức lãi suất phù
hợp với hoạt động kinh doanh của từng ngân hàng, bên cạnh đó nó cịn là cơ sở để tham
chiếu đối với các tranh chấp dân sự có liên quan đến hoạt động vay, mượn và thanh toán
trong thương mại.
- Theo ý kiến cá nhân thì việc NHNN ban hành lãi suất cơ bản là không nên bãi bỏ. Mặc
dù việc quy định lãi suất cơ bản sẽ làm giảm sự cạnh tranh giữa các tổ chức tín dụng qua
đó khơng thể “kích cầu” đối với hoạt động tái cấp vốn. Tuy nhiên có những ngun nhân
khiến cho việc duy trì lãi suất cơ bản là cần thiết như: Thứ nhất, vì lãi suất cơ bản được
áp dụng trên phạm vi cả nước do đó sẽ được coi như là thước đo đối với các hoạt động
vay hoặc có tranh chấp đến các hoạt động vay và thanh toán. Thứ hai, việc bãi bỏ quy
định về lãi suất cơ bản cũng kéo theo việc sửa đổi các luật, bộ luật khác vì đã có những
quy định căn cứ vào lãi suất cơ bản do nhà nước công bố. Thứ ba, lãi suất cơ bản cũng là



cơng cụ để NHNN có thể điều chỉnh và kiểm sốt được các khoản tiền tái cấp vốn từ đó
ổn định được nền kinh tế vĩ mô.
14) Dự trữ bắt buộc là gì ? Tại sao NHNN lại quy định các TCTD phải dự trữ bắt
buộc ? Việc quy định dự trữ bắt buộc như thế nào ? Cách thức vận hành công cụ
này ? Thực tế việc sử dụng công cụ này ?
Trả lời:
Dự trữ bắt buộc, hay tỷ lệ dự trữ bắt buộc là một quy định của ngân hàng trung ương về
tỷ lệ giữa tiền mặt và tiền gửi mà các ngân hàng thương mại bắt buộc phải tuân thủ để
đảm bảo tính thanh khoản. Các ngân hàng có thể giữ tiền mặt cao hơn hoặc bằng tỷ lệ dữ
trữ bắt buộc nhưng không được phép giữ tiền mặt ít hơn tỷ lệ này. Nếu thiếu hụt tiền mặt
các ngân hàng thương mại phải vay thêm tiền mặt, thường là từ ngân hàng trung ương để
đảm bảo tỷ lệ dự trữ bắt buộc. Đây là một trong những công cụ của ngân hàng trung ương
nhằm thực hiện chính sách tiền tệ bằng cách làm thay đổi số nhân tiền tệ.
NHNN lại quy định các TCTD phải dự trữ bắt buộc
Là đảm bảo khả năng thanh tốn tồn bộ các khoản nợ phát sinh, toàn bộ các khoản chi
trả, chi tiêu và cho vay thường xuyên của ngân hàng. Từ đó tránh tình trạng dự trữ q ít
hoặc q nhiều.
Có thể thấy, duy trì tiền dự trữ bắt buộc là điều cần thiết nhằm bảo vệ quyền lợi cho
người gửi tiền vào ngân hàng đồng thời bảo đảm cho NHNN có thể điều chỉnh được khả
năng tạo tiền của các NHTM nhằm thực thi chính sách tiền tệ của mình.
Việc quy định dự trữ bắt buộc :
- Theo đó, quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tổ chức tín dụng như sau:
- Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quyết định tỷ lệ dự trữ bắt buộc áp dụng đối với
từng loại hình TCTD và từng loại tiền gửi phù hợp với mục tiêu chính sách tiền tệ
quốc gia trong từng thời kỳ.
(Trừ tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi bằng đồng Việt Nam đối với tổ chức tín
dụng quy định với trường hợp dưới đây).
- Đối với TCTD cho vay phát triển nông nghiệp, nông thôn được hỗ trợ qua công cụ
dự trữ bắt buộc, tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi bằng đồng Việt Nam áp dụng

theo quy định riêng của Ngân hàng Nhà nước.


Tuy nhiên, sẽ có 03 trường hợp TCTD khơng cần dự trữ bắt buộc sau đây
- TCTD được kiểm soát đặc biệt: thời gian không thực hiện dự trữ là từ tháng tiếp
theo tháng TCTD đó bị Ngân hàng Nhà nước quyết định đặt vào tình trạng kiểm
sốt đặc biệt, đến hết tháng được chấm dứt kiểm soát đặc biệt;
- TCTD chưa khai trương hoạt động không thực hiện dự trữ bắt buộc cho đến hết
tháng TCTD khai trương hoạt động
- TCTD được chấp thuận giải thể hoặc có quyết định mở thủ tục phá sản hoặc có
quyết định thu hồi Giấy phép của cơ quan có thẩm quyền:
Thời gian không thực hiện dự trữ là từ tháng tiếp theo tháng TCTD được chấp thuận giải
thể hoặc quyết định mở thủ tục phá sản, thu hồi Giấy phép có hiệu lực.
Cách thức vận hành cơng cụ này
Theo đó, Điều 5 Thơng tư 30/2019/TT-NHNN quy định cơng thức tính dự trữ bắt buộc
như sau:
DTBB =

(Tỷ lệ DTBBi x HĐi)

Trong đó:



DTBB: Số tiền phải dự trữ bắt buộc trong kỳ duy trì dự trữ bắt buộc đối với tổ
chức tín dụng;



Tỷ lệ DTBBi: Tỷ lệ dự trữ bắt buộc quy định đối với tổ chức tín dụng tương ứng

với tiền gửi phải tính dự trữ bắt buộc loại i áp dụng trong kỳ duy trì dự trữ bắt
buộc;



HĐi: Số dư bình quân tiền gửi phải tính dự trữ bắt buộc loại i tại tổ chức tín dụng
trong kỳ xác định dự trữ bắt buộc.

Số dư bình qn tiền gửi phải tính dự trữ bắt buộc tại tổ chức tín dụng trong kỳ xác định
dự trữ bắt buộc được tính bằng cách cộng các số dư tiền gửi phải tính dự trữ bắt buộc
cuối mỗi ngày tại toàn hệ thống của tổ chức tín dụng (bao gồm trụ sở chính, chi nhánh ở
trong nước và các đơn vị trực thuộc hạch toán phụ thuộc ở trong nước của tổ chức tín
dụng hoặc trụ sở của chi nhánh ngân hàng nước ngoài) trong kỳ chia cho tổng số ngày
trong kỳ xác định dự trữ bắt buộc.
Thực tế việc sử dụng công cụ này


Trong thời gian đầu, tuy pháp lệnh ngân hàng đã quy định như trên nhưng thực tế trong
một thời gian dài, tỷ lệ 10% được ổn định một cách cố định, mặc dù chính sách tín dụng
từ năm 1989 đến nay đã trải qua nhiều thời kỳ khác nhau theo chủ trương lúc thì thắt
chặt, lúc thì nới lỏng (nhằm kiểm soát lạm phát). Nghĩa là việc thực hiện đưa tiền vào lưu
thông điều khiển khối lượng tiền lưu thông luôn được thực hiện theo những dự kiến nhất
định, bằng những công cụ khác nhau. Nhưng công cụ dự trữ bắt buộc vẫn được thực hiện
với một tỷ lệ cố định.
Đầu năm 1994, Ngân hàng trung ương đã có quy định bổ sung : tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối
với loại tiền gửi không kỳ hạn là 13%, đối với loại tiền gửi là 7% nhưng cũng là để thi
hành cho một thời gian dài. Sự ổn định như vậy đã nói lên rằng, ở nước ta vào thời kỳ
này mới bước đầu sử dụng công cụ này , nên chưa có khả năng điều khiển nó một cách
linh hoạt theo tình hình tiền tệ ln biến động trong lưu thơng, nên chưa thực hiện đầy đủ
vai trị điều khiển khối lượng tiền lưu thông hạn chế bội số tín dụng của các NHTM như

chức năng vốn có của công cụ này. Đặc biệt ở năm 1991-1992 các ngân hàng quốc doanh
ngoài số vốn dự trữ tối thiểu theo luật định cịn có một lượng vốn tiền gửi khá lớn taị
NHTW. Điều này trong một chừng mực nhất định đã vơ hiệu hố cơng cụ dự trữ bắt buộc
vì như vậy khi nâng cao hay hạ thấp tỷ lệ dự trữ bắt buộc thì hầu như cũng chẳng ảnh
hưởng gì đến khả năng thanh tốn và khối lượng tín dụng cung ứng. Mặt khác một số vấn
đề tồn tại về mặt nghiệp vụ và tổ chức thực hiện dự trữ bắt buộc đã giảm tính chất nhaỵ
cảm của cơng cụ.
Tuy nhiên, thời gian qua NHNN cũng đã sử dụng cơng cụ dự trữ bắt buộc nhằm mục tiêu
góp phần điều hành chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ và đã đạt được một số kết quả
nhất định trong việc kiểm soát lạm phát ở mức thấp. Đến nay để chuẩn bị cho luật NHNN
có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/10/1998, vấn đề cần đặt ra là phải nghiên cứu nội dung
của luật NHNN nhằm đưa ra quy chế dự trữ bắt buộc phù hợp với mục tiêu điều hành
chính sách tiền tệ giai đoạn mới trong đó mục tiêu ổn định và phát triển kinh tế cũng như
kiểm soát lạm phát là quan trọng nhất. Tuy nhiên, thời gian qua NHNN cũng đã sử dụng
công cụ dự trữ bắt buộc nhằm mục tiêu góp phần điều hành chính sách tiền tệ trong từng
thời kỳ và đã đạt được một số kết quả nhất định trong việc kiểm soát lạm phát ở mức
thấp. Đến nay để chuẩn bị cho luật NHNN có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/10/1998, vấn
đề cần đặt ra là phải nghiên cứu nội dung của luật NHNN nhằm đưa ra quy chế dự trữ bắt
buộc phù hợp với mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ giai đoạn mới trong đó mục tiêu
ổn định và phát triển kinh tế cũng như kiểm soát lạm phát là quan trọng nhất.
15) Hiểu thế nào là tỷ giá hối đoái ? Tỷ giá được hình thành như thế nào ? NHNN sử
dụng cơng cụ tỷ giá như thế nào, nhằm mục đích gì ?


Trả lời:
 Hiểu thế nào là tỷ giá hối đoái ?
Tỉ giá hối đoái là giá cả đồng tiền của một quốc gia này được biểu thị thông qua đồng tiền
của một quốc gia khác. Hay nói cách khác, tỉ giá hối đoái là lượng đồng tiền của nước
khác mà một đơn vị tiền tệ của nước này có thể mua ở một thời điểm nhất định.
 Tỷ giá được hình thành như thế nào ?

Cơ chế hình thành của tỷ giá hối đoái:
- Chế độ bản vị vàng: Từ 1880 đến 1914 vàng là nền tảng cơ sở của tiền tệ. Một quốc gia
cho rằng một đơn vị tiền tệ của mình bằng hàm lượng vàng chứa bên trong một đơn vị ấy.
Vì thế các nước xuất khẩu vàng tự do để lấy tiền giấy và đổi tiền giấy tự do để lấy vàng
 NHNN sử dụng công cụ tỷ giá như thế nào, nhằm mục đích gì ?
Theo Luật NHNN năm 2010, Thống đốc NHNN quyết định việc sử dụng công cụ thực
hiện CSTT quốc gia, bao gồm tái cấp vốn, lãi suất, tỷ giá hối đoái, dự trữ bắt buộc,
nghiệp vụ thị trường mở và các công cụ, biện pháp khác theo quy định của Chính phủ.
Mục đích NHNN đã sử dụng tỷ giá như một cơng cụ hữu hiệu để kiềm chế lạm phát
16) Theo anh(chị), tỷ giá hiện nay ở nước ta đã phản ánh đúng thực tế giá trị đồng
tiền Việt Nam hay chưa ? Nếu chưa thì tại sao ?
Trả lời:
- Theo ý kiến nhóm tơi, tỷ giá đồng tiền của nước ta chưa phản ánh đúng thực tế đồng
tiền Việt Nam. Bởi vì, nền kinh tế nước ta đang ngày càng phát triển, xu thế hội nhập
tăng cao, ngày càng mở ra nhiều cơ hội hội nhập, với giá trị đồng tiền tăng lên sẽ có lợi
cho việc xuất khẩu tuy nhiên lại là thách thức trong vấn đề nhập khẩu và tiêu dùng trong
nước.
17) Khái niệm nghiệp vụ thị trường mở (theo luật NHNNVN đã sửa đổi, bổ sung)? So
sánh với khái niệm cũ(luật chưa sửa đổi). Rút ra nhận xét và lý giải tại sao quy định
này lại được sửa đổi.
Trả lời:


- Căn cứ Điều 15 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 2010; khoản 1 Điều 3 Thông tư số
42/2015/TT-NHNN thì nghiệp vụ thị trường mở là việc Ngân hàng nhà nước thực hiện
mua, bán giấy tờ có giá với các thành viên là các tổ chức tín dụng.
- So với quy định cũ thì quy định mới có sự khác biệt ở kỳ hạn. Cụ thể là việc bãi bỏ quy
định về việc chỉ mua bán giấy tờ có giá ngắn hạn.
18) Cách thức vận hành công cụ nghiệp vụ thị trường mở như thế nào ? Ưu và nhược
điểm của cơng cụ này, từ đó rút ra nhận xét về công cụ này so với các công cụ thực

hiện CSTT khác.
Trả lời:
Nghiệp vụ thị trường mở được NHNN thực hiện thông qua việc mua, bán các giấy tờ có
giá đối với tổ chức tín dụng như tín phiếu kho bạc, chứng chỉ tiền gởi, tín phiếu NHNN
và các loại giấy tờ có giá khác.
Ưu điểm:
- Sử dụng cơng cụ này sẽ đảm bảo độ linh hoạt và chính xác cao. Trong thị trường mở,
tác động vào cung ứng tiền có thể sử dụng ở bất kỳ mức độ nào để thay đổi dự trữ hoặc
cơ số tiền lớn hay nhỏ. Ngân hàng trung ương có thể thực hiện bằng cách mua, bán khối
lượng lớn hay nhỏ chứng khoán. Ngân hàng trung ương dễ dàng đảo ngược tình thế khi
có một quyết định sai lầm về việc sử dụng công cụ này bằng cách lập tức đảo ngược lại
việc sử dụng cơng cụ đó.
Ví dụ: Nếu Ngân hàng trung ương thấy rằng cung ứng tiền tệ tăng quá nhanh do mua quá
nhiều giấy tờ có giá trên thị trường mở thì nó có thể sửa chữa ngay bằng cách tiến hành
nghiệp vụ bán trên thị trường mở.
- NHTW luôn có thể chủ động số lượng tiền “bơm” vào hay “hút” ra khỏi lưu thông
bằng cách khống chế lượng mua và bán.Mặt khác tính linh hoạt cịn thể hiện ở chỗ
NHTW vừa thực hiện mua ngay sau đó lại bán ngược lại.
- Khi sử dụng công cụ này, NHTW vẫn đảm bảo được tính cạnh tranh của NHTM đặc
biệt là trong đấu thầu lãi suất. Các ngân hàng tham gia nghiệp vụ thị trường mở một cách
tự nguyện theo các ngun tắc của thị trường, khơng mang tính chất bắt buộc và không
phải chịu một “khoản thuế” như công cụ dự trữ bắt buộc.
Nhược điểm:


- Thị trường mở là một bộ phận của thị trường tài chính. Do vậy, cơng cụ này sẽ chỉ phát
huy tối đa hiệu quả khi có một thị trường tài chính phát triển. Hàng hố của thị trường
phải phong phú, có khả năng đáp ứng các nhu cầu khác nhau của khách hàng. Về bản
thân mình, NHTW phải có khả năng dự báo tốt vốn khả dụng của toàn bộ hệ thống ngân
hàng.

- Ảnh hưởng của nghiệp vụ thị trường mở tới cơ số tiền tệ có thể bị triệt tiêu bởi các tác
động ngược chiều nên dự trữ của ngân hàng không tăng – giảm tương ứng sau các hoạt
động mua – bán chứng khoán của NHTW. Các tác động ngược chiều này gồm có dịng
chảy ngược chiều của vốn do mất cân đối trong cán cân thanh toán hoặc do số dư tiền gửi
của ngân sách tại NHTW tăng lên làm cho các hoạt động mua hoặc bán chứng khoán của
NHTW bị triệt tiêu một phần hoặc toàn bộ.
- Khi lãi suất thị trường giảm như là một kết quả do tiền trung ương MB tăng lên, khơng
phải lúc nào khối lượng tín dụng của nền kinh tế cũng tăng lên tương ứng. Điều này còn
phụ thuộc vào khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế, mức độ rủi ro và ổn định của môi
trường đầu tư.
Như vậy, mặc dù đây là một công cụ rất chủ động và có tính minh bạch của NHTW song
khả năng phát huy hiệu quả để đạt được các mục tiêu cuối cùng của CSTT không chỉ đơn
thuần phụ thuộc vào NHTW mà còn bị chi phối bởi các yếu tố môi trường vĩ mô, hành vi
của công chúng và quyết định của NHTM nữa. Nhưng theo quan điểm của nhóm đây vẫn
là cơng cụ hữu hiệu thực hiện CSTT quốc gia, bởi lẻ nó mang lại khả năng thu hút hoặc
bơm tiền vào lưu thơng tức thì tương ứng với lượng giá trị giấy tờ có giá được mua vào
hoặc bán ra.
19) Trình bày hoạt động phát hành tiền của NHNNVN. Khi nào NHNN phát hành
tiền ? Nguyên tắc phát hành tiền ?
Trả lời:
- Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thực hiện nghiệp vụ phát hành tiền vào lưu thông và thu
tiền từ lưu thông về thông qua hoạt động thu, chi tiền mặt và các hoạt động nghiệp vụ
khác với các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và Kho bạc Nhà nước
trên cơ sở số dư tài khoản tiền gửi tại NHNN.
- Ngân hàng nhà nước căn cứ kế hoạch cung ứng tiền tăng thêm hàng năm được Chính
phủ phê duyệt; nhu cầu thanh toán bằng tiền mặt của nền kinh tế; nhu cầu thay thế tiền
khơng đủ tiêu chuẩn lưu thơng, tiền đình chỉ lưu hành để xác định số lượng, cơ cấu tiền
mặt phát hành vào lưu thông thông qua các TCTD, Kho bạc Nhà nước.



- Nguyên tắc phát hành tiền: Việc phát hành tiền phải đảm bảo tính cân đối giữa tỉ trọng
các loại mệnh giá và tổng giá trị của từng loại mệnh giá, tính cân đối khơng chỉ trong
phạm vi tồn quốc mà còn ở từng địa phương, từng khu vực và theo từng thời kỳ.
20) NHNNVN phát hành tiền qua những phương thức nào ? Ưu và nhược điểm từng
phương thức phát hành ?
Trả lời:
NHNNVN phát hành tiền qua những phương thức:
- Phát hành tiền qua các ngân hàng trung gian (tái cấp vốn)
- Phát hành qua kênh cho vay đối với Chính phủ (tạm ứng cho ngân sách nhà nước): cung
ứng một khối lượng tiền cho ngân sách chi tiêu khi ngân sách có thể bị thiếu vốn ngắn
hạn.
- Phát hành qua kênh nghiệp vụ thị trường mở: đưa một lượng tiền vào lưu thơng, hàng
hố mà Ngân hàng trung ương mua là các tín phiếu, trái phiếu và các chứng từ có giá
ngắn hạn. Khi Ngân hàng trung ương mua các chứng từ có giá trên thị trường thì tiền từ
Ngân hàng trung ương ra lưu thông, kết quả là tiền cung ứng sẽ tăng lên bằng đúng giá trị
của chứng từ có giá đó. Các chứng từ có giá được Ngân hàng trung ương nắm giữ trở
thành tài sản có của Ngân hàng trung ương.
- Phát hành qua kênh thị trường ngoại hối: khi ngân hàng trung ương mua ngoại tệ làm
dự trữ ngoại tệ của ngân hàng trung ương tăng, đồng thời một lượng tiền cũng được đưa
vào lưu thơng qua việc thanh tốn tiền cho các tổ chức cá nhân bán ngoại tệ cho ngân
hàng trung ương . Ngược lại khi ngân hàng trung ương bán ngoại tệ, dự trữ ngoại tệ của
ngân hàng trung ương giảm, tiền trung ương cũng giảm.
21) Hoạt động tín dụng của NHNN khác gì với hoạt động tín dụng của các TCTD ? Lý
do dẫn đến sự khác biệt đó ?
Trả lời:
Hoạt động tín dụng của NHNN bao gồm:


- NHNN sử dụng các nguồn vốn để thỏa thuận cho các TCTD, Chính phủ sử dụng một
khoản tiền với ngun tắc có hồn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, bảo lãnh ngân hàng,

tạm ứng cho ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật.
Hoạt động tín dụng của các TCTD bao gồm:
- Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản: cung ứng phương tiện thanh toán; thực hiện
dịch vụ thanh toán séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thẻ ngân hàng, thư
tín dụng và các dịch vụ thanh toán khác cho khách hàng thông qua tài khoản của khách
hàng.
- Nhận tiền gửi: nhận tiền của tổ chức dưới hình thức tiền gửi khơng kỳ hạn, tiền gửi có
kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình
thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hồn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi
tiền theo thỏa thuận.
- Cấp tín dụng: cho vay, chiết khấu, cho th tài chính, bao thanh tốn, bảo lãnh ngân
hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.
Sự khác biệt: NHNN không cho các tổ chức không phải là TCTD và cá nhân vay vốn
cũng như không bảo lãnh cho bất kỳ tổ chức, cá nhân nào vay vốn. Cịn hoạt động tín
dụng của TCTD thì cho cá nhân và các tổ chức khác vay vốn.
Vì hoạt động tín dụng của NHNN được tạo ra để đảm bảo nguồn vốn cho ngân sách nhà
nước, đảm bảo tập trung hoạt động cho quản lý nhà nước về tiền tệ và thực hiện chức
năng ngân hàng trung ương của mình. Nên khi phân bổ nguồn vốn cho nhiều tổ chức cá
nhân khác nhau khi cần thì khơng tập trung được chức năng của mình. Vì thế đẫn đến sự
khác biệt này.
22) Trình bày các phương thức hoạt động tín dụng của NHNN ? So sánh phương
thức tái cấp vốn với phương thức cho vay cứu cánh ( cho vay nhằm phục hồi khả
năng thanh toán).
Trả lời:
a) Các phương thức hoạt động tín dụng của NHNN:
- Cho vay:


+ Cho vay ngắn hạn dưới hình thức tái cấp vốn: trong đó bao gồm cho vay theo hồ sơ
tín dụng; chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá; cho vay có cầm cố

bảo lãnh thương phiếu và các giấy tờ có giá.
+ Cho vay đặc biệt: đây là hình thức cho vay nhằm phục hồi khả năng thanh toán của
các TCTD khi TCTD lâm vào tình trạng mất khả năng thanh tốn, tránh trường hợp phá
sản, ảnh hưởng đến hệ thống tài chính, tiền tệ quốc gia.
- Bảo lãnh: chỉ áp dụng trong các trường hợp các TCTD vay vốn nước ngoài theo chỉ
định của Thủ tướng Chính phủ
- Tạm ứng: Là hình thức NHNN cho ngân sách nhà nước vay những khoản vay ngắn hạn
để khắc phục tình trạng thiếu hụt ngân quỹ theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
b) So sánh phương thức tái cấp vốn với phương thức cho vay cứu cánh ( cho vay nhằm
phục hồi khả năng thanh tốn).
Tiêu chí
Cơ sở pháp lý

Cho vay tái cấp vốn

Cho vay cứu cánh (cho
vay đặc biệt)
Luật Ngân hàng nhà nước - Luật các tổ chức tín dụng
Việt Nam 2010.
2010 sửa đổi, bổ sung
2017.
- Luật NHNNVN 2010.
- Thông tư 01/2018/TTNHNN.

Khái niệm

Tái cấp vốn là hình thức
cấp tín dụng của Ngân
hàng Nhà nước nhằm
cung ứng vốn ngắn hạn và

phương tiện thanh toán
cho tổ chức tín dụng
(khoản 1 Điều 11)

Trường hợp cho vay

Là phương thức ngân
hàng thực hiện chính sách
tiền tệ quốc gia, bơm tiền
vào lưu thơng:
+ Trường hợp tổ chức tín
dụng cần tiền để cấp tín
dụng;
+ Tổ chức tín dụng thiếu
phương tiện thanh tốn.

Cho vay cứu cánh hay cịn
gọi là cho vay phục hồi
khả năng thanh tốn là
hình thức cho vay khi tổ
chức tín dụng rơi vào các
trường hợp quy định tại
khoản 2 Điều 24 (Mất khả
năng thanh tốn).
Khi tổ chức tín dụng rơi
vào trường hợp:
+ Mất khả năng chi trả, đe
dọa sự ổn định của hệ
thống tổ chức tín dụng;
+ Có nguy cơ mất khả

năng chi trả do sự cố
nghiêm trọng khác;
(khoản 2 Điều 24 Luật


NHNNVN 2010).
Chủ thể cho vay

Ngân hàng nhà nước.

Ngân hàng nhà nước, ngân
hàng hợp tác xã, bảo hiểm
tiền gửi Việt Nam, Tổ
chức tín dụng khác (khoản
4 điều 3 Thơng tư
01/2018/TT-NHNN).
- Tùy vào quyết định cho
vay của Ngân hàng nhà
nước nhưng tối đa là 2
năm.
- Trong một số trường hợp
được quy định sẽ theo
thỏa thuận của bên cho
vay và bên vay (Điều 10
Thông tư 01/2018/TTNHNN).

Thời hạn cho vay

Ngắn hạn.


Thủ tục cho vay

Đơn giản hơn (vì là hình Phức tạp, vì tổ chức tín
thức cấp tín dụng của dụng phải bị rơi vào
ngân hàng nhà nước, điều trường hợp bị kiểm soát
phối tiền tệ).
đặc biệt, có quyết định
kiểm sốt đặc biệt, quyết
định cho vay đặc biệt.
(Mục 1 Chương VIII Luật
các tổ chức tín dụng
2010, sửa đổi bổ sung
2017).

Hình thức

- Cho vay có đảm bảo Cho vay với lãi suất ưu
bằng cầm cố giấy tờ có đãi đến 0% (Thơng tư
giá.
01/2018/TT-NHNN).
- Chiếc khấu giấy tờ có
giá.
- Các hình thức tái cấp
vốn khác.
(khoản 2 Điều 11).

Ưu tiên hoàn trả

Theo thứ tự hoàn trả luật Khoản vay đặc biệt được
định.

ưu tiên hoàn trả trước tất
cả các khoản nợ khác, kể
cả các khoản nợ có tài sản


Mục đích

bảo đảm của tổ chức tín
dụng hoặc được chuyển
đổi thành phần vốn góp,
vốn cổ phần tại tổ chức tín
dụng liên quan khoản 2
điều 151 (xem thêm Điều
13 Thông tư 01/2018/TTNHNN).
Phục hồi khả năng chi trả, - Phục hồi khả năng thanh
hỗ trợ phát triển kinh tế.
toán của các TCTD khi
các TCTD này lâm và tình
trạng mất khả năng thanh
tốn để tránh trường hợp
các TCTD này đi đến phá
sản.
- Không nhằm mục tiêu
lợi nhuận mà nghiêng về
mục đích thực hiện chức
năng quản lý nhà nước về
tiền tệ.

24) Tại sao NHNN lại không bảo lãnh cho các tổ chức, cá nhân thông thường vay vốn
trừ trường hợp bảo lãnh cho tổ chức tín dụng vay vốn nước ngồi theo quyết định của

Thủ tướng Chính Phủ ?
Trả lời:
1. Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài chỉ được bảo lãnh cho khách hàng
là người không cư trú là pháp nhân (gọi tắt là pháp nhân nước ngoài). Việc bảo lãnh cho
khách hàng là pháp nhân nước ngoài (trừ trường hợp khách hàng là tổ chức tín dụng ở
nước ngồi) phải đáp ứng một trong những điều kiện dưới đây:
a) Khách hàng là doanh nghiệp thành lập và hoạt động tại nước ngồi có vốn góp
của doanh nghiệp Việt Nam dưới hình thức đầu tư quy định tại điểm a, c khoản 1
Điều 52 Luật Đầu tư hoặc dưới hình thức đầu tư trực tiếp khác tại nước ngoài theo
pháp luật của nước tiếp nhận đầu tư;
b) Khách hàng ký quỹ đủ 100% giá trị bảo lãnh;
c) Bên nhận bảo lãnh là người cư trú ;



×