Tải bản đầy đủ (.pdf) (20 trang)

Tiểu luận: Giá dầu, chính sách chi tiêu chính phủ và tăng trưởng

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (390.53 KB, 20 trang )

1








Tiểu luận


GIÁ DẦU, CHÍNH SÁCH CHI TIÊU
CHÍNH PHỦ VÀ TĂNG TRƯỞNG

2


LỜI MỞ ĐẦU
Bài nghiên cứu này tranh cãi rằng chi tiêu chính phủ đến mối quan hệ sự dồi dào dầu tác động đến sự
tăng trưởng như thế nào. Sử dụng mộ hình kỹ thuật GMM và VMM vào mô hình của những nước xuất
khẩu dầu, chúng ta nhận thấy rằng sự tăng trưởng nghịch chiều đối với sự biến đổi của giá dầu là
thông qua chính sách tài khóa, nhìn chung doanh thu bất ngờ có thể ngăn trợ sự phát triển thông qua ít
nhất 3 kênh sau : (i)sự giảm của chính sách thuế nội địa, (ii)giảm của nguồn thu xã hội trên nguồn vốn
công mới,(iii)sự tăng chi tiêu chính phủ áp lực kết quả từ thặng dư. Chính sách chính cho những nước
xuất khẩu dầu là chính sách tài khóa thắt chặt, tách sự chi tiêu công từ vòng tròn dầu. đầu tư thặng dư
hoặc là những khoản nợ công nghi hưu đồng ý nguồn thu bất ngờ từ dầu sẽ làm giảm bớt sự cạnh tranh
trong áp lực tìm kiếm và làm nâng cao nguồn thu xã hộ từ revenue booms.
I. Giới thiệu
Kể từ những năm 1970 chu kì giá dầu là không doán trước được. chính sách tài khóa trong những nên
kinh tế xuất khẩu dầu đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý sự biến động và không chắc chắn của


giá dầu. A notable characteristic của tài chính công trong những dất nước đó thì strong pro-cy,clicality
cả chi tiêu chính phủ và non-oil operactional balance trong mối quan hệ của sự giao động giá dầu (
Villafuerte et al.,2010;E; Amsjasy & Bradley, 2011). Chi tiêu chính phủ thường xuyên đóng vai trò
truyền dẫn chính của những cú sốc giá dầu tới nên kinh tế vĩ mô ( Husain et al,2008;Pieschacon,2009).
Đồng thời, những tài liệu ghi chép rằng những nước xuất khẩu đã có kinh nghiệm, poor growth
performance trong vài thập ki trước đó, hiện tượng đó được xem như là the resource curse. Kể từ khi
buổi hội thảo của Sachs va Warner(1995), a growing body of literature đã xác định vài kênh thông qua
đó sự thiếu hụt có thể xảy ra. Chương này làm nảy sinh câu hỏi tiếp theo: the peculiar nature của chính
sách tài khóa trong các nước xuất khẩu dầu có đóng góp tới sự thiếu hụt của họ.
Nhìn chung chúng ta đẵ nghiên cứu sự phát triển ảnh hưởng đến những loại khác nhau của chi tiêu
chính phủ thông qua sự biến động giá trong khi chi tiêu chính phủ đang kiểm soát sự tác động của sự
biến động giá dầu trong mộ hình của những nước xuất khẩu dầu và nghiên cứu có 2 cơ sở rằng mà bài
nghiên cứu lờ đi trong nội dung của các nước xuất khẩu dầu. trước hết quyết định chính sách chi tiêu
công là không thể tách rời khỏi quyết định tài chính. Do đó sự nhấn mạnh sự tăng trưởng tác động lên
1 phía của ngân sách có thể misleading bởi vi ngân sách giảm tới các khoản cho sự thật rằng mỗi sư
gia tăng trong chi tiêu công sẽ được tính toán bằng cách gia tăng giá hoặc là tích lũy nhiều nợ và vice
versa(Bleaney et al,2001). Thứ hai sự họp thành của sự điều chỉnh chính sách tài khóa tác đông quan
trọng đến sự phát triển dài hạn (Alesina & Perotti 1996). The conventional practice của việc sử dụng
những đo lường trong tổng chi tiêu đã bỏ lỡ những tác động quan trọng của việc phân bổ nguồn thu
công trong số những mục đích sử dụng khác nhau. Điều này có thể nội dung lớn hơn, đặc biệt trong nội
dung của những nền kinh tế có nguồn tài nguyên dồi dào đang phát triển.
Trong bài nghiên cứu này sự tăng trưởng tác động đến tác động đến chính sách tài khóa không chỉ
thông qua kích cỡ chính phủ mà còn thông qua nhiêu hơn 2 kênh: (i) sự chi tiêu công, sự lựa chọn
3

chính sách tới những phần quan trong của những nguồn thuê trong việc sử dụng công cộng khác nhau,
(ii) phương pháp chi tiêu tài chính phản ánh sự mở rộng mà chính phủ mà phụ thuộc vào chính sách tài
khóa trên nguồn tài nguyên tự nhiên. Sự tranh cãi chính chúng ta đã đề cập trước đó rằng sư lưa chon
chính sách tài khóa có the làm cho giá dầu dịch chuyển vào chu kì ở 1 số nước và blessing ở những
nước khác. Bằng cách nói tương tự chính sách chi tiêu chính phủ có thể làm yếu đi nên kinh tế thừa

nhận những cú sốc dầu 1 chiều, do đó tăng trưởng được bảo toàn.
Trước tiên chúng ta đã sử dụng hệ thống môt hình tu động hóa GMM, tận dụng kích cỡ của dữ lieu và
sau đó chúng ta kiem tra kết qua từ mô hình kỹ thuật cointegration và giới hạn những lỗi trong việc áp
dụng mô hình PMG estimator that accounts for panel heterogencity and corrects for potential cross-
sectional dependence. Việc tìm ra những chính sách quan trọng quyết định, (i) làm tăng thuế những
ngành không thuôc về dầu để cải thiện sự tăng trưởng, (ii) sự tăng trưởng chi tiêu vón trong sự tăng
trưởng tích trữ dầu, (iii) áp dụng chính sách đầu tư nghiem ngặc trong suốt booms là cần thiết cho sự
gia tăng 1 cách hiệu quả của những nguon vốn mới, đặc biệt là trong đồng thuận manh me đến qui dinh
tài khóa là can thiết de dam bảo cho sư chi tieu cong tu chu kì giá dầu. chỉ dưới những cam kết thuộc
về chính sách của công ty sẽ đầu tư vào 1 phần trong việc nguồn thu bất ngờ của những quĩ dồi dào or
using the surplus to retire the febt enhace the social gains from revenue booms and alleviate
competitive rent seeking presisures.
Chương này được tổ chức như sau : phần 2 sẽ xác định các giai đoạn bằng cách xem lai sự khác nhau
của chính sách tài khóa của các nuoc xuat khau dau và vai tro của nó trong su phát triển. in section
tjree the e,pirical methodology and data are outlined. Kết quả và sự thảo luận chính sách được trình
bày trong chương IV.
2. Chính sách tài khóa và sự tăng trưởng của những nước xuất khẩu dầu:
Mô hình tăng trưởng nội sinh xuất phát từ mô hình cổ điển mà trong mo hình đó đồng ý những chính
sách công ảnh hưởng sự tăng trưởng lâu dài trong mô hình tăng trưởng cổ điển chuẩn nhung chính sach
tài khóa khác nhau chỉ giải thích những sự quan sát khác nhau trong cấp do thu nhập chứ không phải là
tăng trưởng. buổi hội thảo của Barro 1990 và Barro và Sala-i-martin 1992 phát triển môt hình tăng
trưởng nội sinh trong đó nguồn vốn công spillover những sự ảnh hưởng trên nguồn vốn tư nhân 1 cách
hiệu quả. Những yếu tố bên ngoài chấp nhận nguồn vốn công tác động đến sự phát triển lau dài; sự can
thiệp của những chính sách tài khóa khác nhau giải thích vài sự quan sát khác nhau trong sự tăng
trưởng dài hạn của những nước.
Những nước xuất khẩu dầu chính sách tài khóa phụ thuộc vào sự quản lý chính sách tài khóa cho của
những người cho thuê. Có ít nhất 3 dac điểm của chính sách tài khóa mà có tiềm năng làm chậm sự
tăng trưởng. trước hết sự gia tăng giá dầu có xu hướng làm giảm bớt sự cấp bách cho viec điều chỉnh
chính sách tài khóa và làm giảm khuyến khích cho sự thận trong chính sách từ khóa. Thêm nữa sự
thặng dư ngân sách trong suốt quá trình oil booms là chính sách không phổ biến, vì vay có áp lực cho

sự gia tang chi tieu cong (talvi & Vegh 2005). Chính phủ của những nước xuất khẩu dầu có xu hướng
nhấn manh nhu cầu đến sự hiện đại hóa của nền kinh tế để gặp tư tưởng của công dân của họ và chia sẽ
4

nguồn tài nguyên cho thuê với công cộng. những hậu quả truc tiếp trong viec cam kết của dự án công,
sự mở rông việc làm công cộng và kinh nghiệm của những chính sách tài khóa.
Tornell và Lane (1999) đưa ra một lời giải thích nền kinh tế chính trị: "hiệu ứng voracity". Khi tổ chức
được fractionalized, cơ quan tài chính facelarge áp lực cạnh tranh từ các nhóm mạnh mẽ để một phần
thích hợp của trời để cử tri của họ, tăng chi phí và sự bảo trợ của chính phủ trong thời gian bùng nổ.
Alesina et al. (2008) cung cấp một lý thuyết thay thế đó là có liên quan đến hầu hết các nước đang phát
triển với chính phủ tham nhũng nhưng trách nhiệm. Theo lý thuyết của họ, phiếu quan sát sự bùng nổ
nhưng không thể biết gắn kết của trời chiếm đoạt của các quan chức tham nhũng, Vì vậy, để "chết đói
Leviathan" họ yêu cầu hợp lý hàng hóa công cộng hơn (hoặc thuế thấp hơn), bao gồm cả chuyên
nghiệp chu kỳ tài chính chính sách. Lập luận khác, phù hợp hơn trong bối cảnh không có nền dân chủ,
ủng hộ một "lý thuyết thương mại", trong đó rentier quốc gia "chi tiêu" theo cách của họ để ổn định
chính trị và hòa bình sociatal. Trong mô hình như vậy, chính phủ ở các nước xuất khẩu dầu cung cấp
thêm hàng hóa công cộng và các loại thuế thấp hơn và bù lại, các demend công ít trách nhiệm và quyền
ít chính trị, Điều này sẽ có tác dụng làm tăng chi tiêu công cho sự bảo trợ của chính phủ đặc biệt là
trong thời gian bùng nổ (Robinson et al, 2006; Aslaksen & Torvik, 2006; Schawarz, 2008)Phân luồng
tăng trưởng tăng như vậy trong chi tiêu trong thời gian bùng nổ có thể được truyền qua "Hà Lan bệnh"
cơ chế trong đó trời cho dầu kết quả trong appreciatio tỷ giá thực tế. chi tiêu chính phủ cao hơn đối với
hàng hóa phi thương mại (e, g y tế, giáo dục, và các dịch vụ công cộng) đẩy lên giá của hàng hoá
không thể giao dịch liên quan đến thương mại hàng hoá, dịch chuyển các nguồn lực từ các phi dầu mỏ
có thể giao dịch sectorprovides tác động lan tỏa tích cực đến các lĩnh vực khác, sự gia tăng trong chi
tiêu gorvement trên hàng hóa phi thương mại sẽ có ảnh hưởng trầm cảm trên tăng trưởng dài hạn
(Sachs và Warner, 1995)
Thứ 2 , nhiều nghiên cứu cho rằng sự gia tăng lớn trong vốn công trong sự bùng nổ là không hiệu quả
và thường dẫn đến lợi nhuận rất thấp. Robinson và torvik mô hình các chính trị gia ưu đãi trong trời
phú nguồn tài nguyên nước đang phát triển có để xây dựng con voi trắng, tức là dự án đầu tư với lợi
nhuận xã hội tiêu cực. sau khi các cú sốc dầu mỏ đầu tiên và thứ hai của năm 1970, 85%, 50%, và 46%

of tăng vận may bất ngờ mà tích lũy cho chính phủ của Nigeria, Indonesia và Venezuela, tương ứng,
được chuyển về tăng cường đầu tư công cộng không có tiền chi trả tăng trưởng. Hình ảnh đã thay đổi
một chút trong những năm 2000. theo IMF Trung Đông và báo cáo Trung Á, trong hợp tác các nước
Hội đồng Guft một mình, đầu tư công theo kế hoạch vượt quá đáng kinh ngạc $ 800.000.000.000 trong
năm 2007 - 2008, đưa ra câu hỏi về khả năng hấp thụ hiệu quả đầu tư lớn.
Thứ 3, doanh thu hydrocarbon cắt giảm mục tiêu doanh thu quốc gia và lấn át nguồn doanh thu
không phải từ dầu, đặc biệt là thuế (Bornhost et al 2008). Bên cạnh đó, các nước xk dầu mỏ thường đối
mặt với việc hạn chế cho vay mạnh mẽ trong suốt thời gian giá dầu giảm xuống, làm giảm khả năng
của tài khóa trong việc duy trì mức chi tiêu trước đây và dẫn tới việc cắt giảm những nguồn chi tốn
kém. Những sự cắt giảm này thường có xu hướng làm tăng chi phí xã hội từ việc tái phân phối của cải
và chúng cũng làm giảm tính hiệu quả của nguồn vốn nhà nước.
5

3. Phương pháp thực nghiệm và dữ liệu
Bảng dữ liệu GMM tiếp cận cách sử dụng độ trễ thích hợp của các biến công cụ để tạo ra các
công cụ nội tại. Điều này cho phép sử dụng một cấu trúc độ trễ thích hợp để khai thác các đặc điểm đa
dạng của nguồn dữ liệu. Mặc dù có những thuận lợi như trên, cách tiếp cận này có những điểm thiếu
sót quan trọng. Thứ nhất, nó chỉ cho phép phân chia – không phải độ dốc – sự khác nhau giữa các
nhóm. Theo lập luận của Pesaran, Shin and Smith (1997, 98), giả đinh vê các thông số của độ dốc
không thích hợp khi kích thước thời gian quan sát không phải là khoảng thời gian ngắn. Thứ 2, sự phụ
thuộc vào mặt cắt ngang không được giải quyết. Do đó, học thuyết cho phép một phương pháp ước
lượng thứ hai.
Pesaran, Shin and Smith (97,99) Pooled Mean Group estimator (PMG), bằng việc sử dụng cả
hai nhóm cá nhân và kích thước bảng dữ liệu, có lợi thế là cho phép tính không đồng nhất trong ngắn
hạn nhưng giả định đồng nhất trong dài hạn. Các nhà ước lượng cho phép chúng ta: (i) ước lượng độ
co giãn dài hạn của dữ liệu bảng, (ii) ước lượng tốc độ điều chỉnh về trạng thái cân bằng ở từng quốc
gia, (iii) kiểm tra sự chắc chắn của kết quả dữ liệu GMM, xem xét sự không đồng nhất dữ liệu bảng và
mặt cắt ngang phụ thuộc lẫn nhau.
3.1 Mô hình dữ liệu bảng
Xem xét mô hình dưới đây


Y: tốc độ tăng trưởng GDP thực đầu người
V: vector gồm các biến có lien quan đến giá dầu
F: vector các biến chính sách tài khóa.
H: vector các biến điều khiển phi tài khóa
n1: thời gian quan sát cố định, tác động đến một quốc gia cụ thể
eit: sai số quan sát
Công thức trên cho thấy hiệu ứng ko đổi với một quốc gia cụ thể tương quan với biến phụ
thuộc “lagged” và biến giải thích có thể là biến nội sinh. Điều đó làm tăng OLS (OLS: pp bình phương
6

nhỏ nhất) không thống nhất và và dự toán mối lien quan xu hướng. The Generalized-Mothods of
Moments (GMM) system estimator, phát triển bởi Arellano and Bover (1995), và Blundell and Bond
(1998) đã khắc phục những vấn đề này. No sử dụng sự khác nhau của biến ngoại sinh đúng. (như pp
IV)
Để nắm bắt được ảnh hưởng trực tiếp của giá dầu lên sự tăng trưởng chúng ta xem xét hai biến
giải thích, tốc độ tăng trưởng hàng năm của giá dầu và sự biến động của giá dầu. Yeéu tố thứ hai trên
được đo bằng phương sai có điều kiện của sự thay đổi giá dầu thu được bằng cách sử dụng mô hình
GARCH (1,1). Chúng ta có thể tìm hiểu các đặc điểm kỹ thuật của Lee, Ni and Ratti (1995), sử dụng
dữ liệu hàng tháng về giá dầu từ 01/1957 đến 12/2008.
chính sách tài khóa được biểu hiện bởi vector F. Mục tiêu chính của chúng tôi là nghiên cứu
ảnh hưởng của việc giảm doanh thu được truyền đến nền kinh tế thông qua những thay đổi của chi tiêu
chính phủ hoặc thay đổi trong thặng dư ngân sách nhà nước. Khi các quyết định tài chính của chính
phủ phụ trở nên phụ thuộc lẫn nhau, chúng tôi đưa vào các hạn chế của ngân sách nhà nước được quy
định đầy đủ trong mô hình tăng trưởng.
Các nguồn tài chính phụ thuộc lẫn nhau phát sinh từ những tác động tuyến tính của GBC được
yêu cầu bỏ qua biến tài khóa cho các mục đích dự toán. Bằng sự giải thích, ceteris paribus,
biến này đại diện cho phương thức tài chính khi có một sự thay đổi trong một trong các biến tài tài
khóa
khi nguồn thu của Chính phủ được bỏ qua trong khi tổng chi phí và cân đối ngân sách được

bao gồm trong hồi quy, hệ số của tổng số chi phí này được hiểu là tổng ảnh hưởng của sự gia tăng tổng
chi trừ ảnh hưởng của một sự gia tăng tương ứng trong thu nhập, để nguồn cân đối ngân sách không
thay đổi. Khi đó, hàm ngân sách F được biểu thị

fk là nguồn tài chính, và beta là vector 1xk-1 của hệ số beta *
7

Cuối cùng, vector phi tài khóa H chi phối đầu tư cá nhân, độ mở, giáo dục, lạm phát, chính trị
và chế độ.
3.2 Bảng dữ liệu thử nghiệm gốc đơn vị, hội nhập và dự toán PMG
Chúng tôi kiểm tra nguồn gốc của đơn vị trong bảng sử dụng hai phương pháp kiểm ra được
xem như bảng dữ liệu không đồng nhất. Trước tiên, Maddala and Wu (1990) Fisher kiểm tra dựa trên
kiểm định p-value của thử nghiệm gốc đơn vị riêng biệt, giả định sự phụ thuộc cắt ngang giữa các
nhóm. Thứ hai, thử nghiệm Pesaran’s (2007) CIPS là bản cắt ngang tăng thêm của Im, Pesara and
Shin’s (2003) kiểm tra đưa vào sự độc lập của các bản cắt ngang.
Kế đên chúng tôi tiến hành để xác định sự hội tụ giữa các biến. Chúng tôi sử dụng bốn đợt
kiểm tra bảng dữ liệu hội tụ được phát triển bởi Westerlund (2007). Những thử nghiệm chính xác cho
sự phụ thuộc mặt cắt ngang trong các phần tử bảng dữ liệu và cho phép cho tính không đồng nhất ở
mức độ lớn. Hai trong số những kiểm định này là kiểm tra trung bình nhóm trong đó tất cả các hệ số
sai lệch khác nhau giữa các nhóm. Hai kiểm định còn lại được gộp với kiểm định bảng dữ liệu. Các giả
định rằng hệ số kỳ hạn sai lệch không thay đổi giữa các nhóm.
PMG được sử dụng để ước tính mô hình điều chỉnh sai lệch dưới đây:

Y: GDP thực đầu người, y: tốc độ tăng trưởng Y
Si,t-1: độ lệch cân bằng dài hạn tại bất kỳ thời điểm nào của i
Phi: hệ số điều chỉnh sai lệch.
Vecto 0 ghi nhận hệ số dài hạn của lãi suất – không có sự sai khác giữa các nhóm. Những hệ
số này tượng trưng cho độ co giãn dài hạn của thu nhập đầu người với mối liện hệ với mỗi biến trong
Xi,t-1 – là vecto của các biến kỳ vọng ảnh hưởng đến sự tăng trưởng cả trong ngắn hạn và dài hạn. Kỳ
ngắn hạn phản ứng với biến X được phản ánh bởi veco là vecto của các biến điều khiển kỳ

vọng sẽ tác động sự tăng trưởng chỉ trong ngắn hạn và y’ là hệ số của nó trong ngắn hạn, những tác
động riêng biệt theo nhóm và eit là kỳ sai lệch. Các biến trong X và Z tương tự như trên. Tuy nhiên,
8

phân vùng của các biển trong tác động dài hạn và trong trong ngắn hạn sẽ điều hướng bởi kết quả từ
ước lượng GMM.
3.3 Dữ liệu
Bảng mô tả đầy đủ tất cả các biến và dữ liệu nguồn được mô tả trong bảng A1. Bảng dữ liệu
không cân đối của các quan sát hàng năm bao tất cả hoặc khoảng thời gian từ 1970 -2007. Mẫu bao
gồm 15 nước xuất khẩu dầu lửa: Bahrain, Cameroon, Colombia, Ai Cập, Indonesia, Kuwait, Malaysia,
Mexico, Nigeria, Na Uy, Oman, Syria, UAE and Venezuela. Dữ liệu tài khóa được thu thập từ GFS
của IMF. Trong một số trường hợp, như của Nigeria và Indonesia, dữ liệu được chúng tôi lấy từ các
báo cáo của chính phu nước đó. Đáng chú ý là phương pháo của GFS thay đổi dữ liệu từ 1991 trở về
sau . Do đó vì những mục đích nhất quán, chúng tôi giới hạn dữ liệu liên quan đến tiền mặt và luên
quan đến cấp trung ương. Thêm nữa, những định nghĩa về các biến được liên kết rất cẩn thận. Ví dụ,
định nghĩa chi tiêu hiện tại đối với dữ liệu cũ thì giống nhau đối với các định nghĩa chi phí tiền mặt cho
các dự liệu sau 1990.
Bảng 1a tóm tắt tỷ lệ trung bình của các các loại chi tiêu chính phủ và doanh thu trong GDP
của 15 nước XK. Nó môt tả sự phát triển của tài chính chính phủ (% của GDP) đối với giai đoạn bùng
nổ - suy thoái – bùng nổ của giai đoạn 1970 -2007. Chi tiêu vốn khu vực công và cơ sở hạ tầng bị ảnh
hưởng tiêu cực một cách mãnh mẽ trong những năm 1980 và 1990, nhưng tiếp tục rơi xuống trong suốt
giai đoạn bùng nổ năm 2000

THI HAO
bảng (1a) tóm tắt các cổ phiếu trung bình của các loại khác nhau của chi tiêu chính phủ và các khoản
thu trong GDP cho nhóm của chúng tôi từ 15 nhà nhà xuất khẩu. Nó miêu tả sự phát triển của tài chính
chính phủ (% GDP) để đáp ứng với các chu kỳ bùng nổ phá sản giai đoạn 1970-2007. Chi phí đầu tư
công cộng và cơ sở hạ tầng là những người ảnh hưởng nhiều nhất bất lợi bởi những cú sốc tiêu cực của
năm 1980 và 1990, nhưng tiếp tục giảm tỷ lệ phần trăm của GDP trong sự bùng nổ của những năm
2000. Chi tiêu vốn đã được cắt giảm mạnh từ 9,2% đến 5,6% trong những năm 80 và 90, và giảm hơn

nữa để đạt được chỉ có 4,7% GDP từ năm 2002 đến năm 2007. Theo báo cáo (năm 2007) của IMF
Trung Đông và Trung Á, những nhà xuất khẩu dầu phản ứng thận trọng hơn đến việc tăng giá dầu và
các khoản thu trong sự bùng nổ gần đây, đặc biệt là trong việc xử lý chi phí đầu tư, so với năm 1970.
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng những con số trong bảng (1a) không thể hiện đầy đủ bùng nổ chu kỳ đạt
đỉnh vào năm 2008. Sự sụt giảm tỷ trọng đầu tư công trong sự bùng nổ mới nhất, do đó, có thể phản
ánh, chi đầu tư lag.
14
9


B
ảng 1a. T
ài chính c
ủa chính phủ (%GDP) v
à tăng trư
ờng (1970
-
2007)





Các nhân tố
Kh
ủng hoảng
1970 - 1981
Sau kh
ủng hoảng
1982-2001

Kh
ủng hoảng
2002-2007
T
ổng chi ti
êu chính ph


31.4

28

27.9

Chi phí v
ốn

9.2

5.6

4.7

Chi thư
ờng xuy
ên

20.1

21


23.3

Ti
ền

lương

6.7

7

6.7

Mua hàng hóa d
ịch vụ

7.6

5.8

3.6

Chi chuy
ển nh
ư
ợng th
ư
ờng
xuyên 6 6.5 10

Chi cho chính ph


15.7

16

14.4

Chi tiêu xã h
ội

6.5

9

9.9

chi tiêu cơ s
ở hạ tầng

7.9

5.1

2.8

D
ịch vụ công cộng


3.4

3

7.4

T
ổng thu ngân sách

30.1

25.3

35.4

Thu
thu
ế

15.2

13.4

14.6

Thu ngoài thu
ế

14.9


11.9

20.8

Ph
ần thuế trong tổng doanh thu

51%

53%

41%

Tăng trư
ởng thực tế GDP b
ình
quân đầu người -0.06% -2.65% -0.20%
Ngu
ồn: Tính toán của tác giả dựa tr
ên d
ữ liệu GFS. Dữ liệu trung b
ình cho các m
ẫu của
15 nước xuất khẩu dầu
Ngược lại, chi chuyển nhượng và các chi tiêu xã hội (giáo dục, phúc lợi xã hội, y tế và nhà ở công
cộng) đã tăng đáng kể trong những năm 1980 và những năm 1990 và tiếp tục tăng trong hiện tại với
giá cao. Điều này phản ánh một phần sự thay đổi trong ưu tiên của vốn đến nguồn nhân lực, chi tiêu
Chính phủ chiếm một tỷ lệ phần trăm của GDP có xu hướng giảm liên tục kể từ khi làn sóng lớn của
những năm 1970. Tóm lại, mặc dù bảng (1a) cho thấy một số chi tiêu học tập đường cong từ những
năm 1970, nó cho thấy dấu hiệu của một cơ cấu doanh thu suy yếu. Sự gia tăng mạnh trong doanh thu

từ năm 2002 và 2007 dẫn đến một sự suy giảm đáng kể tỷ lệ thuế trong tổng số thu ngân sách từ 53%
trong những năm 80 và 90 đến 41% trong những năm 2000.
Bảng (1a) cũng cho thấy hiệu suất tăng trưởng yếu của bảng mẫu-quốc gia trung bình về thu nhập bình
quân đầu người thực tế trong tất cả ba trường hợp. Tuy nhiên, nó miêu tả một số dấu hiệu của một
phản ứng bất đối xứng thu nhập bình quân đầu người đến dầu chu kỳ. Trong khi chúng ta hy vọng thu
nhập bình quân đầu người tăng lên trong chu kỳ bùng nổ, chúng ta thấy rằng, trung bình, nó giảm nhẹ
trong thời gian đầu tiên và chu kỳ thứ ba. Không có gì ngạc nhiên, tuy nhiên, hiệu suất tăng trưởng tồi
tệ nhất đã sụt giảm trong giá dầu trong những năm 1980 và 1990, thu nhập bình quân đầu người theo
giá thực tế đã giảm với tốc độ trung bình hàng năm 2,65% trong thời gian đó.
Bảng (1b) trình bày sự tăng trưởng trung bình hàng năm ở mỗi quốc gia cho cả giai đoạn và độ lệch
chuẩn của nó. Trong gần bốn thập kỷ, tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm là âm (-1,74%). Tuy
nhiên, một số nước đã làm tương đối tốt hơn so với những người khác. Venezuela, Nigeria, Mexico, và
10

Iran đã có hiệu suất tăng trưởng tồi tệ nhất mà rõ ràng có liên quan đến biến động thu nhập cao. Đó sẽ
là bước điều tra của chúng tôi về vai trò của chính sách tài khóa.
b
ảng 1b. ý nghĩa v
à đ
ộ lệch chuẩn Tốc độ tăng
trưởng bình quân đầu người của GDP thực tế (1970-
2007)


ý ngh
ĩa

Đ
ộ lệch chuẩn


Bahrain

0.83

1.64

Iran

-
4.49

8.06

Kuwait

-
0.68

5.61

Nigeria

-
5.82

10.18

Oman

2.09


3.65

UAE

-
0.25

3.81

Venezuela

-
6.14

8.72

Indonesia

-
0.67

5.11

Mexico

5.51

9.62


Egypt

-
2.44

6.50

Malaysia

0.85

4.67

Norway

0.81

3.83

Syria

-
3.63

8.35

Colombia

0.61


4.55

Cameroom

-
3.06

7.62

All countries

-
1.74

6.87

Ngu
ồn: theo tính toán của tác
giả

4.Những kết luận và thảo luận chính sách
Sử dụng thông thường F-test, chúng ta ước lượng mô hình tăng trưởng trong phương trình (2) để xác
định số lượng thích hợp của độ trễ. Nhìn chằm chằm từ tám độ trễ trên các biến chính sách tài chính,
mô hình ước lượng được giảm đến năm lags.
15
Bảng (2) trình bày kết quả ước lượng mô hình tăng trưởng cơ bản, tăng cường với sự thay đổi giá dầu
biến động. Trong cột 3, hai chính sách thường được sử dụng là chi tiêu chính phủ và các khoản thu
thuế - được thêm vào trong một cách đặc biệt quảng cáo và xuất hiện không đáng kể. Trong cột 4, mô
hình được ước tính lại giới thiệu GBC trong phương thức tổng hợp nhất của nó
16

. Hồi quy 4b (và tất cả
các hồi quy tiếp theo ký hiệu bằng chữ b) hạn chế mẫu để các giai đoạn 1984-2002 để loại trừ các thời
kỳ được hưởng lợi của những năm 1970 và đầu những năm 2000.
Trước tiên chúng ta làm nổi bật một số kết quả ban đầu từ bảng (2). Đầu tiên, trong khi giá dầu tăng
cao có tác động tích cực đến sự phát triển, làm chậm tăng trưởng biến động cao hơn. Tuy nhiên, khi
chúng tôi kiểm soát chính sách tài chính, hệ số thay đổi trong giá dầu giảm đáng kể (từ 0,21 đến 0,008)
nhưng vẫn tích cực và có ý nghĩa và tác động tiêu cực của biến động có xu hướng biến mất
17
. Kết quả
này giữ trong mọi dự đoán tiếp theo. Vì vậy, biến động giá dầu, ngoài các kênh tài chính, dường như
để giải thích chút về sự thay đổi tốc độ tăng trưởng. Ví dụ, giá dầu đã giảm với tốc độ trung bình hàng
năm là 7% giữa năm 1984 và năm 2002. Theo kết quả trong bảng (2), sự sụt giảm này chỉ giải thích
11

một 0,14 điểm phần trăm (trong số khoảng 2,7%) giảm tốc độ tăng trưởng bình quân năm
18
. Thứ hai,
tích lũy thặng dư ngân sách vào những thời điểm trời cho có một tác động tiêu cực và có ý nghĩa lớn
đối với tăng trưởng. Điều này có vẻ mạnh mẽ trong tất cả các hồi quy tiếp theo. Thứ ba, chi tiêu chính
phủ tài trợ bởi một sự đột biến trong doanh thu - có tác động tích cực đáng kể đến tăng trưởng. Thứ tư,
sự biến kiểm soát khác có những dấu hiệu chính xác. Đáng chú ý là chỉ số dân chủ dường như mất đi ý
nghĩa một khi biến tài chính và quản trị được bao gồm. Sau khi điều chỉnh chính sách tài chính, quản
trị dường như có tác động tích cực rất quan trọng đối với tăng trưởng. Phần còn lại của phần này đối
tượng những kết quả này để xem xét kỹ hơn.

b
ảng 2. chính sách t
ài chính, giá d
ầu v
à tăng trư

ởng: một hạn chế t
ài chính h
ợp nhất

H
ệ thống GMM kết quả
-

m
ẫu (1
-
4a): 1970
-
2007; 4b: 1984
-
2002


ph
ụ thuộc v
ào bi
ến: đăng nhập đầu ti
ên
-
sai phân c
ủa GDP thực tế b
ình quân
đ
ầu ng
ư

ời


1

2

3

4a

4b

Tăng trư
ởng của giá dầu thực

0.21***

0.18**

0.02**

0.008**

0.02***


(3.94)

(2.48)


(2.86)

(2.67)

(4.67)

Bi
ến động của giá dầu

0.02*

0.01*

-
0.02

-
0.01



(1.95)

(1.91)

(1.41)

(1.26)


Chi tiêu c
ủa
chính ph



0.02






(1.01)



Thu thu
ế



-
0.06







(0.95)



Th
ặng d
ư ngân sách




0.19***

0.21***





(6.87)

(3.17)

T
ổng chi ti
êu chính ph





0.02***

0.05**





(3.49)

(2.89)

T
ự do th
ương m
ại (không tính dầu)

0.01

0.01*

0.02*

0.03*

0.03**


(1.53)


(1.89)

(1.99)

(1.90)

(2.30)

l
ạm phát

0.03**

0.04**

0.05**

0.04*

0.03**


(2.52)

(2.67)

(1.99)

(1.95)


(2.65)

Bình quân d
ầu ng
ư
ời

0.03**

0.02*

0.03

0.02

0.03*


(2.31)

(1.80)

(1.55)

(1.45)

(1.80)

Đ
ầu t

ư tư nhân

0.08

0.03

0.04

0.02

0.05*


(1.44)

(1.59)

(1.54)

(1.39)

(1.98)

Th
ể chế dân chủ

0.08*

0.08*


0.06

0.05

0.05


(2.07)

(1.96)

(1.75)

(1.55)

(0.35)

Qu
ản lý (1984)




0.07***

0.09***






(3.43)

(3.85)

No.Obs

477

477

417

417

195

AR(2) test

-
1.58

-
0.67

-
0.61

-
0.61


-
1.12


[0.12]

[0.42]

[0.45]

[0.45]

[0.20]

Sargan test

91.00

90.96

93.4

91.4

79


[0.34]


[0.35]

[0.31]

[0.33]

[0.24]

No. Observations

385

385

385

385

262

lưu
ý: t
ất cả các hồi quy bao gồm ban đầu (1970) thu nhập b
ình quân, t
ăng trư
ởng tụt,
khu vực và núm vú cao su thời gian. biến chính sách tài khóa emtered với năm trễ, tất cả
12

các tin t

ức khác với một độ trễ. các hệ số báo cáo đ
ư
ợc tính bằng tổng của đ
ương
th
ời v
à
tụt lại chia cho một trừ đi hệ số của biến phụ thuộc trễ. F-thống kê được báo cáo
inparenthesis theo hệ số. P-giá trị trong dấu ngoặc vuông. Các ký hiệu ***, ** và * biểu
hiện ý hệ số có ý nghĩa ở mức 1%, 5% và 10%, tương ứng. Các nguồn tài chính trong
cột 41 và 4b là tổng doanh thu của chính phủ
Trong bảng (3), tổng chi tiêu của chính phủ đang được chia thành các thành phần vốn và chi tiêu
thường xuyên. Chi thường xuyên được tiếp tục chia thành tiền lương, chính phủ mua hàng hóa dịch vụ,
chuyển giao vãng lai, và tất cả các chi phí khác trong bảng (4). Sự phân chia bởi chức năng chi tiêu
được trình bày trong bảng (5). Tổng chi tiêu được chia thành chi tiêu chính phủ cốt lõi xã hội, dịch vụ
công cộng, cơ sở hạ tầng, và các chi tiêu trên tất cả các chức năng khác.
Lưu ý rằng trong mọi dự đoán chúng tôi duy trì các giả định tài chính tương tự. Chúng tôi đầu tiên xem
xét tổng doanh thu, bao gồm cả thuế và các khoản thu khác, và sau đó chúng ta thấy được ý nghĩa của
tài chính thuế. Tiếp theo, chúng tôi thảo luận nhóm của chúng tôi và hàm ý chính sách thành hai nhóm,
phát hiện nào về mặt doanh thu của ngân sách và những người liên quan đến vấn đề chi tiêu.
14. Khảo sát của IMF (2007) cho Trung Đông và Trung Á báo cáo rằng các nhà xuất khẩu region'oil
tích lũy đáng kinh ngạc 1900000000000 $ từ năm 2004 đến cuối năm 2007. Trong đó các quốc gia sáu
GCC mình đã có một kế hoạch năm năm để spen 800 tỷ (khoảng 42% doanh thu accued) về đầu tư vật
chất.
15. Blealy và cộng sự (2001) tìm tám trễ để thích hợp với các nước OECD. Tương tự như vậy
Kocherlakota và Yi (1997) được tìm thấy cùng một độ trễ dài fo Anh và dữ liệu của Mỹ. Trong ước
tính của chúng tôi tuy nhiên, các biến fsiscal quan tâm không có bất kỳ tác động đáng kể (riêng và
chung) vượt quá năm trễ
16. Tổng thu ngân sách được bỏ qua để thay đổi trong thặng dư hoặc trong chi tiêu phải được cung cấp
bởi những thay đổi trong doanh thu.

17. Theo ghi nhận của một trọng tài, đây không phải là một kết quả đáng ngạc nhiên kể từ cú sốc giá
dầu đạt các nước dầu ở các mức độ khác nhau, và các thiết lập duy nhất của các biến thể hiện thực tế
này là biến tài chính.
18. Từ 4b hồi quy, chúng tôi thấy rằng 1% sụt giảm giá dầu trong giai đoạn này kết quả trong chỉ 0,02
phần trăm điểm giảm tỷ lệ mau lớn. Vì vậy, giảm 7% trong giá dầu sẽ chỉ giải thích một giảm 0,14%
trong tốc độ tăng trưởng, khiến hơn 2,5% của sự suy giảm trong tốc độ tăng trưởng (xem bảng 1b)
được giải thích bởi các yếu tố khác.

4.1 Những nguồn thu bất thường của chính phủ và tăng trưởng
Bảng (3), (4) và (5) cho thấy rằng có tăng trưởng âm trong thặng dư tài chính khi có một sự đột biến
trong doanh thu dường như đứng bên cạnh sự phân tách với chi phí. Kết quả này cần khảo sát một cách
kỹ càng. Chú ý rằng tác động âm phản ánh 2 yếu tố: tác động biên của cán cân ngân sách và tác động
của tổng thu chính phủ. Có sự khác nhau, hệ số này đo lường ảnh hưởng tăng trưởng thặng dư tích lũy
13

ròng của chính phủ trong sự bùng nổ tổng thu. Vì vậy, tác động tiêu cực của nguồn thu bất thường
trong nền kinh tế có thể là trung gian mối quan hệ tăng trưởng thặng dư âm.
Kinh nghiệm của nhiều quốc gia giàu tài nguyên, ví dụ như, Mexico, Nigeria, Venezuela, và những
nước khác, cho thấy nguồn thu bất thường gây bất lợi cho tăng trưởng bởi vì chúng sẽ gây ra tràn lan
các vụ trục lợi kinh tế từ dầu mỏ ở các nước trên tất cả các cấp chính quyền. Ngược lại, trong một cuộc
suy thoái chính phủ thường có thặng dư nhỏ hơn hoặc thâm hụt nhưng làm giảm bớt áp lực trục lợi
kinh tế và cải thiện hiệu quả của chi tiêu.
Tuy nhiên, điều này không gợi ý rằng các quốc gia dầu mỏ không nên tiết kiệm nguồn thu dư thừa của
họ. Nó cảnh báo tầm quan trọng của việc thực hiện các quy định tài chính chặt chẽ phản chu kỳ, và xây
dựng các biện pháp chính sách khuyến khích thích hợp. Đây là cơ sở để đầu tư thành công thặng dư
trong quỹ tài nguyên quốc gia (Humphreys &SANDBU, 2007). Ngoài ra, nó cũng rất quan trọng để
dứt bỏ các khoản nợ trong xuống quá trình có khoản thu bất thường.
Để nghiên cứu tốt hơn hiệu ứng thặng dư âm, nguồn thu được phân tách ra thành thuế và các thành
phần phi thuế quan. Trong phạm vi mà nguồn thu phi thuế quan bao gồm hầu hết các hóa đơn dầu
chuyển vào ngân sách, biến thể của nó sẽ phản ánh sự bùng nổ và đổ vỡ nguồn thu từ dầu. Điều này

đặc biệt đúng ở nền kinh tế kém phát triển có dầu mỏ dồi dào .Trong cột 6, 8 và10, các khoản thuế
được cho là nguồn gốc của tài chính và do đó nguồn thu phi thuế quan được đưa vào như một hồi quy.
Vì vậy,về mặt cấu trúc, những thay đổi trong nguồn thu thuế được điều chỉnh bằng những thay đổi về
thuế, chi tiêu và thặng dư không bị ảnh hưởng.


Một khi nguồn thu phi thuế được bao gồm, hệ số thặng dư ngân sách mất ý nghĩa, nhưng vẫn còn âm,
trong khi ảnh hưởng của nguồn thu không thuế xuất hiện mang ý nghĩa âm. Kết quả này phù hợp với
lập luận trên là hiệu ứng tăng trưởng âm của thặng dư ngân sách bắt nguồn từ những tác động bất lợi
14

của winfalls dầu (thuế chậm trong trường hợp này) chứ không phải là thặng dư ngân sách.


4.2 Thành phần chi tiêu công và tăng trưởng
Trong bảng (3), chi tiêu được phân thành vốn và các thành phần hiện tại. Chúng tôi xem xét khả năng
chi tiêu của chính phủ có thể có tác dụng đến tăng trưởng khác nhau tùy thuộc vào độ lớn của sự thay
đổi giá dầu. Có tương tác của những thay đổi trong giá dầu với chi phí đầu tư và chi tiêu hiện tại vì vậy
chúng được đưa vào.
Không phụ thuộc vào phương án tài chính, chi tiêu hiện hành giữ ý nghĩa không đáng kể trong sự
tương tác của nó với những thay đổi giá dầu. Ngược lại, chi tiêu vốn tài trợ thông qua sự gia tăng
nguồn thu có ý nghĩa xã hội tích cực trong dài hạn. Hiệu ứng này trở nên rất có ý nghĩa và đặc biệt là
thời kỳ giá dầu thấp. Tuy nhiên, sự gia tăng của chi tiêu vốn và biến động của giá dầu lại nghịch
biến.Vì vậy, hiệu quả tăng trưởng biên của sự thay đổi một chi tiêu vốn được xác định:
∂growth=β
cap

0
*∆real.oil.prices; trong đó β
cap

và β
0
là hệ số chi tiêu vốn và sự tương tác lẫn nhau của
nó với giá dầu thay đổi.

Vì β
0
là mang dấu âm, cú sốc tăng giá dầu mỏ sẽ giảm tỷ lệ khoản thu xã hội trên tăng chi tiêu vốn. Cú
sốc tăng giá dầu mỏ càng lớn thì ảnh hưởng đến vốn công càng lớn.Ví dụ, khi chi phí đầu tư được tài
trợ thông qua tổng thu tăng 45% trong giá dầu thực tế làm xói mòn hiệu quả tích cực của sự gia tăng tỷ
15

trọng đầu tư công trong GDP (0,41-0,91 * 45%). Nếu cú sốc giá dầu vượt quá 45%, chi phí đầu tư
mang lại lợi nhuận âm. Trong thời điểm giá dầu thấp, chúng ta thấy ngưỡng này nhiều hơn gấp đôi (từ
90%). Một cú sốc tăng giá dầu mỏ lớn trong đầu tư công có tác động tiêu cực đến tăng trưởng.

Phát hiện này là phù hợp với thực tiễn. Trong những nguồn thu bất thường của chính phủ đáp ứng các
ưu tiên chính trị để chi tiêu cho các dự án lớn, có uy tín, và hiệu quả. Ngoài ra, các kết quả trong cột 6a
và 6b cho thấy đầu tư công,tài trợ thông qua thuế cao hơn trong thời gian bùng nổ (thay đổi giá dầu
theo hướng gia tăng), sẽ có sự trở lại âm. Lưu ý rằng β
cap
trở thành không đáng kể trong khi β
0
là vẫn
có ý nghĩa phủ định. Những kết quả này nhanh chóng có hai tác động chính sách quan trọng: thứ nhất,
mở rộng chi tiêu vốn trong thời gian bùng nổ tăng trưởnglàlàm chậm tăng trưởng, thứ hai, phản ứng
với sự sụt giảm của giá dầu bằng cách tăng chi tiêu vốn kích thích tăng trưởng, không phụ thuộc vào
phương án tài chính. Ngược lại, cắt giảm chi tiêu vốn trong sự trỗi dậy của những cú sốc giá dầu giảm
mạnh làm tăng thêm hiệu ứng tăng trưởng bất lợi của những cú sốc. Mức độ thiệt hại tăng trưởng lớn
sẽ lớn hơn cú sốc giảm giá và rõ nét hơn trongviệc cắt giảm chi phí vốn.

Cẩm TRANG



Chúng ta cũng có thể thấy tác động tăng trưởng biên của 1 sự thay đổi trong giá dầu tại một mức đầu tư của xã hội;
điều này có thể tính toán bắng công thức sau:
Ϭ
growth
= β
oilp
+ β
0
* Capital. Expenditure.%GDP
Trong đó:
β
oilp
: Hệ số tăng trưởng trong giá dầu
β
0 :
Hệ số tương tác
Tác động tăng trưởng của sự thay đổi giá dầu phụ thuộc vào mức độ đầu tư của xã hội trong nền kinh tế. Vì là β
oilp
số
dương, β
0
là số âm nên một sự gia tăng mức độ đầu tư của xã hội đóng góp vào GDP sẽ làm thấp hơn mức độ tăng
trưởng của giá dầu ( Câu này có nghĩa là: đầu tư xã hội tăng sẽ hạn chế sự gia tăng giá dầu). Tức là, một sự gia tăng giá
dầu có thể ngăn cản sự chi tiêu lớn hơn trong xã hội; bởi vì nó mang lại một tỷ suất sinh lợi thấp hơn trên cơ hội đầu tư
mới.
Ví dụ: Venezula và Oman có chi tiêu vốn trung bình tương ứng là 1,6% và 7,4% trên GDP. Khi nguồn vốn xã hội được tài

trợ từ sự gia tăng doanh thu bất thường, sự tăng trưởng giá dầu sẽ kiềm hãm sự tăng trưởng 0,23% ở Venezuela và
0,78% ở Oman. Ngược lại, một chi tiêu ban đàu lớn hơn sẽ giảm đi sự bất lợi gia tăng giá dầu. Ví thế, ở những quốc gia
có sự chi tiêu nguồn vốn và cơ sở vật chất lớn hơn sẽ bảo vệ nền sản xuất tố hơn với cú sốc của giá dầu.
Trong bảng 4, chúng ta thăm dò kỹ càng hơn tác động của những chi tiêu hiện tại. Kết quả ở cột 7 và 8 chỉ ra rằng sự gia
tăng lương ở lĩnh vực công và sự chi tiêu hàng hóa và dịch vụ của chính phủ trong suốt sự bùng nổ giá dầu có ý nghĩa bất
lợi đối với sự tăng trưởng. Tuy nhiên, trong khi sự gia tăng lương ở lĩnh vực công được tài trợ từ sự gia tăng thuế có tác
động nhỏ đến sự tăng trưởng. Thêm vào đó, sự chuyển giao hiện tại và những chi tiêu hiện tại khác không có ý nghĩa bất
chấp ngân quỹ, họ hầu như sẽ không sản xuất.
Bảng 5 phân loại theo chức năng. Chi tiêu trên cơ sở hạ tầng và dịch vụ công được thực hiện với hiệu quả cao nhất,
tương ứng vói phương pháp tài chính. Sự tác động này thể hiện mối quan hệ lớn trong trường hợp dịch vụ công, dẫn
16

đến một sự gia tăng trên tỷ suất sinh lợi. Mặt khác, một mức chi tiêu cao hơn được tài trợ bởi một doanh thu tăng
trưởng cao thì cản trở sự tăng trưởng.
Bảng 5: Chính sách tài chính, giá dầu, tăng trưởng: phân loại chi tiêu theo chức năng.

4.3.Kiễm tra tính chất mạnh mẽ.
Kết quả của những ước tính trên sẽ được giới hạn trong khoản thời gian từ 1984-2002 chỉ ra rằng các kết quả không có
sự khác biệt quan trọng trong khoản thời kỳ đó. Kết quả cũng nhấn mạnh kết luận của tác động tiêu cực của cú shock
dầu và sự phụ thuộc cao vào dầu của con người. Chúng ta cũng có thể kiễm tra các kết quả bằng cách quan sát các nhân
tố ảnh hưởng, loại bỏ 3 sự quan sát có tốc động tăng trưởng âm ở mức cao và thặng dư cao ở mức khác thường.
Chúng ta cũng có thể sử dụng mô hình Sachs and Warner thay vì tỷ số tổng (không có dầu) xuất khẩu và nhập khẩu trên
GDP, tỷ số tự do chính trị thay vì chỉ số chính trị, kiểm soát chỉ số giá trị tham nhũng 1996 từ WB thay vì ICRG 1984 bao
gồm chỉ số quản trị, cộng với sự tăng trưởng dân số. Tìm kiếm tất cả những chính sách tài chính quan trọng phải trong ở
mức cao độ.
Cuối cùng, ta có thể tranh luận rằng những nền kinh tế phụ thuộc cao vào dầu nhiều khả năng trãi qua một sự thặng dư,
cùng lúc đó, tốc độ tang trưởng trung bình sẽ thấp hơn. Vì thế, tác động tiêu cực của việc thặng dư ngân sách trên sự
tăng trưởng thể hiện sự trung gian trên mối quan hệ âm giữa sự phụ thuộc dầu và tốc độ tăng trưởng. Để kiểm tra điều
này có thể xảy ra, chúng tôi thêm dầu xuất khẩu như tỷ lệ phần tram của những hàng hóa xuất khẩu. Nếu như tác động
âm của sự thặng dư này không xuất hiện, sự phụ thuộc trên giá dầu sẽ bị biến đổi, với mối quan hệ không trực tiếp giữa

thặng dư và tăng trưởng. Chúng tôi tin rằng tác động tiêu cực quan trọng của thặng dự sẽ được giữ vững.
4.4. SỰ KHÔNG ĐỒNG NHẤT, HỘI NHẬP, KẾT QUẢ PMG.
Đầu tiên chúng tôi thực hiện bảng điều khiển kiểm tra đơn vị gốc. Kết quả từ Madala và Wu’s Fisher kiểm tra, đó là mức
độ nhạy cảm đến sự tồn tại phụ thuộc vào mặt cắt ngang, chỉ ra rằng tất cả biến đổi- ngoại trừ những khoản đầu tư
riêng biệt, lạm phát, sức mua của chính phủ, và sự chi tiêu hiện tại thì không ngững ở những mức độ khác nhau. Tuy
nhiên, sau khi điều chỉnh mặt mặt cắt ngang phụ thuộc lẫn nhau, kiễm tra CIPS chỉ ra rằng tất cả sự biến đổi là sức mua
của chính phủ về hàng hóa và dịch vụ.
Một điểm yếu của kỹ thuật PMG là chỉ cho phép một mối quan hệ hội nhập. Thêm nữa, mục tiêu chính là kiểm tra mối
quan hệ dài hạn giữa chính sách tài chính, giá dầu, thu nhập. Vì lý do này, sự chỉ dản bởi kế quả GMM, chúng tôi sẽ giới
hạn việc điều tra của chún tôi đến sự biến đổi tài chính đặc biệt mà nó đã xuất hiện trong sự phân tích trước đó.
Bảng 6 thể hiện bảng kết quả kiểm tra sự hội nhập của Westerlund. Khi mà 3 trong 4 sự kiểm tra bác bỏ không giá trị của
sự khong hội nhập, một COVA được xem xét cùng hội nhập với thực tế trên mỗi GDP. Ba sự biến đổi tài chính không
vượt qua sự kiểm tra hội nhập: (1) sức mua chính phủ của hàng hóa và dịch vụ , (2) tiền lương, (3) dịch vụ công. Vì vậy,
nhứng sự thay đổi này không được tính toán vào trong mối quan hệ hội nhập.
Mặt khác, bài kiễm tra này đã hỗ trợ cho một mối quan hệ hội nhập trong dài hạn giữa thu nhập và mỗi: giá dầu, thặng
dư ngân sách, tổng chi tiêu chính phủ., chi tiêu vốn, và chi tiêu xã hội trên cơ sở hạn tầng. Dựa trên kết quả này, chúng
tôi đã kiểm tra ba khu vực hội nhập đa biến của thu nhập trên vốn, giá dầu, , thặng dư ngân sách, và mỗi khái niệm của
chi tiêu. Tất cả bốn sự kiễm tra này chỉ ra sự tồn tại của sự hội nhập trong 3 khu vực.

17




Bảng 6: Westerlund Panel Cointegration tests
Bi
ế
n s



P@

Pt

G@

Gt


9.40***

10.93***

8.6***

2.50***

Giá d

u th

c

(4.658)

(6.071)

(1.072)

(3.199)



8.76***

10.06***

-
8.98

3.69**

T

ng chi tiêu
CP/GDP
(2.191)

(4.133)

(1.196)

(1.571)


7.67***

9.23***

8.49***


2.39**

Th

ng dư
NS/GDP
(3.925)

(4.887)

(2.072)

(2.783)


8.96*

9.85**

9.64**

2.34**

Chi tiêu
vốn/GDP
(1.215)

(2.255)

(2.747)


(1.965)


-
8.75

-
8.62

-
9.20

2.70*

Mua hang hóa
và dịch vụ của
CP/GDP

(0.118).452

(
-
0.196)

(1.657)

(1.648)



-
9.87

-
9.69

-
9.73

2.77*

Lương/GDP

(
-
0.609)

(
-
1.302)

(1.345)

(1.987)


5.96*

7.35**


8.14**

2.19**

Cơ s


h


tầng/GDP
(1.452)

(2.189)

(2.926)

(1.651)


7.36*

-
9.55

-
9.04

-
2.39


D

ch v


công
ích/GDP
(1.315)

(
-
1.255)

(1.747)

(0.115)


12.98***

13.04***

8.54***

3.93***

Giá d

u th


c,
thặng dư, tổng
chi
(3.032
(4.900)

(2.905)

(3.910)


8.66*

10.33**

7.24***

2.91**

Giá dâu th

c,
thặng dư, chi
tiêu vốn
(1.452)

(2.20)

(1.98)


(2,580)


10.68**

12.14***

8.54***

3.50***

Giá d

u th

c,
thặng dư, cơ
sở hạ tầng
(1.932)

(3.203)

(2.115)

(3.320)

Ho: no cointegration. Tất cả ECMs bao gồm một lag và một lead. Giá trị Z trong ngoặc tương
ứng với các chỉ số 1% , 5% và 10% , dựa trên các giá trị p


18

Do đó chúng tôi tiến hành lập dự toán PMG của ba thông số kỹ thuật, sự khác nhau về các biến trong
mối quan hệ lâu dài (24). Các kết quả được trình bày trong bảng (7). Tất cả ba điều kiện sai sối là tiêu
cực, xác nhận rằng có tồn tại một mối quan hệ cùng hội nhập lâu dài trong ít nhất là một trong những
bảng điều khiển. Các hệ số dài hạn cũng quan trọng và có những dấu hiệu dự kiến. Về lâu dài, giá dầu
tăng cao, và chi tiêu chính phủ cao hơn (vốn công cộng và cơ sở hạ tầng) được kết hợp với thu nhập
bình quân đầu người cao hơn. Ngược lại, thặng dư ngân sách lớn hơn có liên quan với thu nhập bình
quân đầu người thấp hơn.
Các hệ số ngắn hạn PMG là trung bình đơn giản của các hệ số thu được từ mô hình phù hợp với từng
quốc gia trong bảng điều khiển, và do đó nên được thực hiện một cách thận trọng. Nhưng một ý nghĩa
quan trọng được xác nhận. Một điều may mắn sẽ làm giảm tăng trưởng trong ngắn hạn do ảnh hưởng
tiêu cực của việc tăng chi tiêu vốn. Nhưng kể từ khi chính phủ chi tiêu vốn, giá dầu, và sản lượng được
gắn với nhau bằng một mối quan hệ lâu dài, các kết quả mất cân bằng ngắn hạn sẽ dần dần dẫn đến
một cơ chế điều chỉnh trong những năm sau đó trở lại trạng thái cân bằng dài hạn.
(24) kể từ khi kỹ thuật PMG dựa trên chạy mô hình cho từng nhóm riêng lẻ, nó sẽ đặt các hạn chế về
chiều dài của cá nhân chuỗi thời gian nhóm. Vì vậy, chúng tôi hạn chế mẫu của chúng tôi đến 10 quốc
gia mà chúng tôi có ít nhất 32 quan sát hàng năm.
Bảng 7: Mô hình sai số tuyệt đối (PMG estimations 1970-2007)
H
ệ số d
ài h
ạn

Biến số (1) (2) (3)
Giá dầu thực
0.07***

0.04***


0.05***

(6.78)

(8.84)

(8.84)

Thặng dư NS
-
0.67*** -0.57*** -0.66***
(
-
8.50)

(
-
10.10)

(
-
9.10)

T
ổng chi ti
êu CP

0.35***








(2.35)





Chi tiêu vốn


0.18*





(1.77)



Cơ sở hạ tầng




0.38***






(4.67)

Short run dynamics (mean countries)

Sai số tuyệt đối
-
0.26***

-0.29*** -0.38***
(
-
4.43)

(
-
6.56)

(
-
9.75)

Giá dầu thực
0.14***

0.14***


0.03***

(2.92)

(3.01)

(3.87)

Thặng dư NS
0.05

0.04

0.05

(0.89)

(1.23)

(1.11)

Tổng chi tiêu CP
0.54





(1.50)






Chi tiêu v
ốn



0.03



19



(1.52)



CSHT




0.09*








Giá d
ầu, X chi ti
êu
vốn


-
0.68***

(1.68)



(
-
3.34)



Chi tiêu hiện tại


0.08






(0.12)



Chi tiêu xã hội




0.33*





(1.78)

Dịch vụ công ích




0.08






(0.89)

Tất cả chi tiêu




0.07





(1.04)

(non oil) Trade
Openneas
0.06**

0.11**



(1.99)

(1.94)

0.11*






(1.91)

Lạm phát
-
0.11**

-
0.17**

-
0.16**

(2.21)

(2.24)

(2.30)

Nguồn nhân lực
0.041

0.041

0.042

(1.56)


(1.55)

(1.56)

Democratuic
institutions
0.02

0.02

0.03

(0.69)

(0.65)

(0.80)

GDP thực trên sự tăng
trưởng vốn
-
0.01

-
0.002

-
0.002


(
-
0.13)

(
-
0.03)

(
-
0.21)

Year Dummies

No

No

No

No, Observations

337

337

314

LogLikelihood


432.84

556.12

675.4


KET LUAN
Bài viết này đặt ra câu hỏi liệu bản chất đặc biệt của chính sách tài khóa trong các nước xuất khẩu dầu
góp phần vào tăng trưởng thâm hụt được của họ. Chúng tôi thấy rằng cách chính phủ phân bổ được
hưởng lợi doanh thu tài nguyên của nó trong sử dụng khác nhau và cách điều chỉnh chi tiêu trong bối
cảnh cú sốc dầu mỏ tiêu cực giải thích một số biến thể trong dài hạn tăng trưởng hiệu suất dầu xuất
khẩu. Đặc biệt, các kênh tài chính thông qua đó doanh thu từ dầu có thể cản trở tăng trưởng là: (i) các
loại thuế nội địa thấp hơn, (ii) giảm trở lại xã hội trên vốn công mới và (iii) áp lực thặng dư cao hơn.
Vốn công cộng kém hiệu quả trong sự bùng nổ, nhưng các quốc gia có cơ sở hạ tầng quy mô lớn và
vốn cổ phần công cộng đang ở trong một vị trí tốt hơn để chịu được những cú sốc dầu tiêu cực và bảo
vệ sự mất năng suất.

Các khuyến nghị chính sách chính để tác động lên sự tăng trưởng như sau: (i) để giảm sự phụ thuộc tài
chính vào dầu mỏ và cũng cố dựa trên cơ sở không đánh thuế dầu (ii) để điều chỉnh một cú sốc tiêu cực
bằng cách tăng chi tiêu vốn, (iii) áp dụng tiêu chí đầu tư chặt chẽ và phân bổ thêm nguồn lực để chi
tiêu hiệu quả hơn như cơ sở hạ tầng trong thời gian bùng nổ dầu, và (iv) để giảm bớt áp lực tìm kiếm
tiền thuê cạnh tranh bằng cách đầu tư thặng dư trong quỹ tài sản có chủ quyền hoặc nghỉ hưu nợ công
20

trong trời cho. Xác định sự trở lại xã hội ròng trên hai lựa chọn chính sách công vẫn còn là một khu
vực tốt cho các nghiên cứu trong tương lai.

Mặc dù hướng dẫn chung, các đề xuất của chúng tôi đối với chính sách nên được thực hiện một cách
thận trọng. Như Barma et al. (2012) nhấn mạnh: các chi tiết cụ kinh tế chính trị của mỗi quốc gia và

thực tế kinh tế khác nhau nên ra lệnh thiết kế của cải cách chính sách phù hợp để tăng cường các lợi
ích xã hội từ sự giàu có về tài nguyên. Ngoài ra, nghiên cứu này không tính đến tác động có thể có của
chất lượng ngân sách và thể chế dân chủ về quản lý của doanh thu từ dầu, hoặc xác định kích thước
hoặc thành phần của chi tiêu

Kinh nghiệm của các quỹ tài nguyên thiên nhiên ở nhiều quốc gia dầu phụ thuộc vào, ví dụ, cho thấy
sự tồn tại đơn thuần của một quỹ không đảm bảo quản lý tốt các nguồn tài nguyên giàu. Một ý chí
chính trị yếu và các tổ chức fractionalized cung cấp môi trường cho các quy tắc tài chính nghiêm ngặt
được vi phạm. Vì vậy, cho một quỹ để giúp làm giảm bớt áp lực chi tiêu, biện pháp khuyến khích diễn
viên chính trị cần phải được thay đổi để đảm bảo cam kết của họ thận trọng tài chính (Humphreys &
SANDBU, 2007). Vì vậy, một điểm quan trọng đáng để điều tra thêm là sự tương tác tiềm năng giữa
chất lượng quản lý và hiệu suất tài chính trong nền kinh tế tài nguyên phong phú, và làm thế nào kênh
này có thể ảnh hưởng đến sự ăng trưởng



×