Tải bản đầy đủ (.docx) (35 trang)

tiểu luận hoạt động thanh toán thẻ (nghiệp vụ ngân hàng)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (425.72 KB, 35 trang )

MỤC LỤC:
2
LỜI MỞ ĐẦU:
Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của WTO
vào ngày 7/11/2006 và đang đứng trước nhiều thách thức trong
bối cảnh hội nhập, một trong những vấn đề đó là phải hoàn thiện
hệ thống thanh toán. Ngày 29/12/2006, Thủ tướng Chính phủ đã
ký Quyết định số 291/2006/QĐ-TTg phê duyệt Đề án thanh toán
không dùng tiền mặt giai đoạn 2006-2010 và định hướng đến
năm 2020 tại Việt Nam. Đề án là cơ sở pháp lý quan trọng cho
hoạt động thanh toán đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế,
đặc biệt trong bối cảnh hội nhập khu vực và thế giới của Việt Nam
hiện nay. Đề án nêu rõ, đối với khu vực dân cư thực hiện khuyến
khích, tạo điều kiện cho các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán
tập trung vào đầu từ cơ sở hạ tầng, máy móc thiết bị phục vụ cho
các giao dịch thanh toán hiện đại, tập trung chủ yếu cho dịch vụ
thẻ. Bên cạnh đó, xây dựng trung tâm chuyển mạch thẻ thống
nhất, kết nối các hệ thống máy ATM và POS của các liên minh thẻ
hiện hành thành một hệ thống thống nhất, nhằm tăng tính thuận
tiện cho người sử dụng dịch vụ thẻ ngân hàng, đảm bảo thẻ do
một ngân hàng phát hành có thể sử dụng ở nhiều máy ATM và
POS của các ngân hàng khác. Như vậy, bên cạnh khu vực công và
khu vực doanh nghiệp thì khu vực dân cư là một bộ phận quan
trọng trong mục tiêu đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt
trong nền kinh tế.
Với mong muốn được nghiên cứu, tìm hiểu và góp phần hoàn
thiện hơn kiến thức lí luận cũng như thực tiễn về hoạt động thanh
toán thẻ qua ngân hang tại Việt Nam hiện nay. Nhóm chúng em
xin được thực hiện đề tài: “Quy trình thanh toán thẻ của ngân
hang thương mại”. Bài tiểu luận không tránh khỏi những thiếu sót


nhất định, kính mong cô nhận xét, góp ý kiến để chúng em hoàn
thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn cô.
3
NỘI DUNG:
1. Tổng quan về thẻ thanh toán:
1.1. Sự ra đời của thẻ thanh toán:
Vào một buổi tối năm 1949, sau khi ăn tối ở một nhà hàng,
ông Frank Mc Namara, một doanh nhân người Mỹ, bỗng phát hiện
mình không mang theo tiền mặt và ông buộc phải gọi điện về nhà
để người nhà mang tiền đến trả. Cũng vào thời gian này, ở Mỹ,
người ta đã sử dụng khá phổ biến các loại thẻ để mua hàng, mua
xăng nhưng tiền mặt vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong các giao dịch.
Từ những bất cập đó, Frank đã sáng tạo ra thẻ “Diners Club”, một
loại thẻ tín dụng đầu tiên trên thế giới. Với lệ phí hàng năm là
5USD, những người mang thẻ “Diners Club” có thể ghi nợ khi đi ăn
ở 27 nhà hàng nằm trong hoặc ven thành phố New York. Đến năm
1951, hơn 1 triệu USD được chi tiêu bằng thẻ này tại Mỹ. Cũng
trong năm 1951, Ngân hàng Franklin National Bank ở LongIsland,
New York phát hành thẻ tín dụng đầu tiên của mình. Tại đây,
khách hàng đệ trình đơn xin vay và được thẩm định khả năng
thanh toán . Các ngân hàng đủ tiêu chuẩn sẽ được duyệt cấp thẻ.
Thẻ này dùng thanh toán cho các thương vụ bán lẻ hàng hoá- dịch
vụ. Các chủ thẻ rất thích hình thức này vì được hưởng khoản tín
dụng không tính lãi do ngân hàng cấp, còn các ĐVCNT cũng bán
được nhiều hơn. Chính vì sự tiện lợi của Diners Club cũng như
sựưa thích của cả chủ thẻ lẫn ĐVCNT nên đến năm 1955, hàng
loạt các loại thẻ tương tự ra đời, như: Trip Charge, Goldenkey,
Gourment, Guest Club, Esquire Club, Năm 1958 Carte Blanche và
American Express ra đời và thống lĩnh thị trường. Trong giai đoạn

này, phần lớn thẻ dành cho giới doanh nhân giàu có, những người
có thu nhập cao. Sau đó, các ngân hàng đã cảm nhận rằng giới
bình dân mới làđối tượng sử dụng thẻ chủ yếu trong tương lai. Vì
vậy, các ngân hàng bắt đầu để ý đến phân đoạn thị trường rộng
lớn này. Khi tầng lớp bình dân bắt đầu sử dụng thẻ Bank
Americard do Bank of American phát hành (vào năm 1960) thì
việc kinh doanh của ngân hàng này trở nên phát đạt và dậy lên
làn sóng học hỏi của các ngân hàng thương mại khác. Chẳng bao
lâu, năm 1967 Bank Americard gặp phải sự cạnh tranh khốc liệt
của Mastercharge (do tổ chức Western States Bankcard
Association phát hành). Từđây, kinh doanh loại hình dịch vụ mới
này phát triển rầm rộ không chỉ trên đất Mỹ. Để phù hợp với sự
4
phát triển này, Bank Americard đã trở thành VISA USA (1977) và
sau đó là Tổ chức VISA Quốc tế còn Mastercharge trở thành Tổ
chức Mastercard Quốc tế (1979). Nhận ra rằng người tiêu dùng
không nề hà việc trả lãi 16%-20% trên bảng quyết toán thẻ tín
dụng của họ, các công ty viễn thông quốc tế, công ty xe hơi, bảo
hiểm, các hãng hàng không đã vào cuộc. Ngày nay, với doanh số
giao dịch hàng trăm tỷ USD mỗi năm Mastercard và VISA card chỉ
đứng sau tiền mặt và séc trong hệ thống thanh toán toàn cầu.
Cùng với nó, thẻ JCB, Diners Club và AMEX cũng chiếm lĩnh thị
trường rộng lớn. Hiện nay, trên thế giới, thẻ tín dụng quốc tế được
xem như một công cụ thanh toán hiện đại, văn minh, thuận tiện
đặc biệt làở các nước phát triển. Sự phát triển không ngừng của
khoa học công nghệ đã liên tục cải tiến và hoàn thiện hơn những
tính năng của thẻ tín dụng, giúp cho thẻ tín dụng trở thành
phương thức thanh toán nhanh gọn, chính xác, an toàn và tiện lợi.
1.2. Khái niệm và phân loại thẻ thanh toán:
1.2.1. Khái niệm về thẻ thanh toán:

Theo quyết định số 20/2007/QĐ – NHNN ngày 15/7/2007 của
Thống đốc NHNN Việt Nam:” thẻ ngân hàng là phương tiện do tổ
chức phát hành thẻ phát hành để thực hiện giao dịch thẻ theo
điều kiện và điều khoản được các bên thỏa thuận”.
Ngoài ra còn có một số khái niệm khác về thanh toán:
Thẻ thanh toán là một loại thẻ giao dịch tài chính được phát
hành bởi các ngân hàng, tổ chức tài chính hay các công ty.
Thr ngân hàng là phương tiện thanh toán không dùng tiền
mặt, ra đời từ phương thức mua bán chịu hàng hóa lẻ và phát
triển gắn liền với sự ứng dụng công nghệ tin học trong lĩnh vực
ngân hàng.
Thẻ ngân hàng là công cụ thanh toán do ngân hàng phát hành
the cấp cho khách hàng sự dụng thanh toán hàng hóa dịch vụ
hoặc rút tiền mặt trong phạm vi số dư tiền gửi của minh hoặc hạn
mức tín dụng được cấp.
Thẻ thanh toán là một phương thức ghi sổ những số tiền cần
thanh toán thông qua máy đọc thẻ phối hợp với hệ thống máy tính
kết nỗi giữa các ngân hàng, tổ chức tài chính với các điểm thanh
toán. Nó cho phép thực hiên thanh toán nhanh chóng, thuận lợi và
an toàn đối với các thành phần tham gia thanh toán
5
Tóm lại, thẻ là một phương thức thanh toán hiện đại do ngân
hàng hoặc các tổ chức được phép phát hành và cung cấp, và
người sử dụng thẻ có thể dùng để thanh toán tiền mua hàng, dịch
vụ hay rút tiền mặt tự động thông qua máy đọc thẻ hay các máy
rút tiền tự động.
1.2.2. Phân loại thẻ thanh toán:
Có nhiều cách để phân loại thẻ thanh toán: phân loại theo
công nghệ sản xuất, theo chủ thể phát hành, theo tính chất thanh
toán của thẻ, theo phạm vi lãnh thổ…

Phân loại thẻ theo công nghệ sản xuất gồm 3 loại
Thẻ khắc chữ nổi (EmbossingCard): Dựa trên công nghệ khắc
chữ nổi, thấm thẻ đầu tiên được sản xuất theo công nghệ này.
Hiện nay người ta không còn sử dụng loại thẻ này nữa vì kỹ thuật
thô sơ dễ giả mạo
Thẻ băng từ (Magnetic Stripe): Dựa trên kỹ thuật thư tín với
hai băng từ chưa thông tin sau mặt thẻ. Là loại thẻ mà các thông
tin của chủ thẻ vừa được dập nồi ở mặt trước của thẻ vừa được mã
hóa trong băng từ ở mặt sau của thẻ. Các thông tin này phải đảm
bảo chính xác và khớp với nhau.
Thẻ thông minh (SmartCard): Đây là thế hệ mới nhất của thẻ,
có đặc tính bảo mật và an toàn rất cao, dựa trên kỹ thuật vi xử lý
tin học, gắn vào thẻ một chíp điện từ có cấu tạo như một máy tính
hoàn hảo
Phân loại theo tính chất thanh toán của thẻ:
Thẻ tín dụng (Credit Card): Là thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện
giao dịch thẻ trong phạm vi hạn mức tín dụng đã được cấp theo
thỏa thuận với tổ chức phát hành thẻ. Gọi là thẻ tín dụng vì chủ
thẻ được ứng trước một hạn mức tiêu dùng mà không phải trả tiền
ngay, chỉ thanh toán sau một kỳ hạn nhất định. Cũng từ đặc điểm
trên mà người ta còn gọi thẻ tín dụng là thẻ ghi nợ hoãn hiệu
(Delayed Debitcard) hay chậm trả.
Thẻ ghi nợ (DebitCard): Là thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện
giao dịch thẻ trong phạm vi số tiền tài khoản tiền gửi thanh toán
của chủ thẻ mở tại một tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán được
phép nhận tiền gửi không kỳ hạn.
6
Thẻ rút tiền mặt (Cashcard): Là loại thẻ rút tiền mặt các máy
rút tiền tự động hoặc ở ngân hàng. Với chứ năng chuyên biệt chỉ
dùng để rút tiền, yêu cầu đối với loại thẻ này là chủ thẻ phải ký

quỹ tiền gửi vào tài khoản ngân hàng hoặc chủ thẻ được cấp tín
dụng thấu chi mới sử dụng được.
Phân loại theo phạm vi lãnh thổ
Thẻ trong nước (thẻ nội địa): Là thẻ được tổ chức phát hành
tại Việt Nam phát hành để giao dịch trong lãnh thổ nước CHXHCN
Việt Nam.
Thẻ quốc tế: Là thẻ được tổ chức phát hành thẻ tại Việt Nam
phát hành để giao dịch trong và ngoài lãnh thổ nước CHXHCN Việt
Nam, hoặc là thẻ được tổ chức nước ngoài phát hành và giao dịch
trong lãnh thổ nước CHXHCNVN
Phân loại theo chủ thể phát hành
Thẻ do ngân hàng phát hành: Là loại thẻ do ngân hàng phát
hành giúp cho khách hàng sử dụng một số tiền do ngân hàng cấp
tín dụng.
Thẻ do tổ chức phi ngân hàng phát hành: Là các loại thẻ du
lịch và giải trí của các tập đoàn kinh doanh lớn, các công ty xăng
dầu lớn phát hành như Diner’s club.
1.3. Cấu tạo thẻ:
1.3.1. Cấu tạo thẻ từ (Magnetic Card):
Mô tả
Thẻ từ là một thẻ nhựa có gắn một dải băng từ ở mặt sau của
thẻ. Dải băng từ này có từ tính và các thiết bị đọc ghi thẻ có thể
thay đổi nội dung dữ liệu trên thẻ. Dải băng từ này dùng để lưu trữ
thông tin của chủ thẻ. Thẻ từ hiện nay chiếm phần lớn trong tổng
số lượng thẻ đang sử dụng trên thị trường hiện nay.
Thẻ từ được sản xuất dựa trên kỹ thuật thư tín với hai băng từ
chứa thông tin sau mặt thẻ. Là loại thẻ mà các thông tin của chủ
thẻ vừa được dập nổi ở mặt trước của thẻ vừa được mã hóa trong
băng từ ở mặt sau của thẻ. Các thông tin này phải đảm bảo chính
xác và khớp với nhau.

Ứng dụng
7
_Loại thẻ này được sử dụng và ứng dụng nhiều nhất trong lĩnh
vực ngân hàng, hầu như tất cả các loại thẻ ATM thông dụng nhất
đều làm bằng thẻ này
_Thẻ Visa, Master card, thẻ VIP, thẻ hội viên, thẻ khách hàng…
_Thẻ chấm công, thẻ kiểm soát vào/ra…
Cấu trúc thẻ từ:
- Dải băng từ ở mặt sau của thẻ có kích thước là 8.5 x 1.2
cm.
- Dữ liệu được mã hóa và ghi lại trên 3 rãnh (track) của băng
từ ở mặt sau của thẻ( Dữ liệu này được tuân thủ theo chuẩn
ISO 7811-2)
- Dải băng từ có ba rãnh (track) chứa thông tin.
- Mỗi rãnh có độ rộng 1/10 inch.
Tùy theo các thiết bị đọc thẻ mà người ta mã hóa thẻ từ theo
các chuẩn khác nhau nhưng thông dụng nhất là chuẩn ABA (chuẩn
mà ISO lấy làm tiêu chuẩn cho thẻ từ). Thẻ từ chuẩn ISO có ba
rãnh từ (track), rãnh thứ nhất ghi được các kí tự và số, hai rãnh
còn lại chỉ ghi được các con số. Tổng cộng ba rãnh chỉ ghi được
210 gồm kí tự và số. Hiện tại, các máy in thẻ với mô-đun má hoá
thẻ từ có khả năng mã hoá thẻ từ hico & loco với các định dạng
ISO (chuẩn ngân hàng) hoặc NTT (chuẩn Nhật Bản).
1.3.2. Cấu tạo thẻ thông minh (Smart Card):
Mô tả
Là một thẻ nhựa được gắn một bộ mạch tích hợp (thẻ chip)
cho phép đáp ứng các nhu cầu về lưu trữ dữ liệu, bảo vệ dữ liệu,
cũng như các nhu cầu về tính toán phức tạp như mã hóa và xác
thực dữ liệu, đảm bảo tính bảo mật và tính toàn vẹn dữ liệu trên
đường truyền. Dung lượng bộ nhớ khá lớn, thông thường là từ 64K

– 128K. Thẻ thông minh có hai loại:
- Thẻ nhớ (memory card) thường chỉ gồm một bộ nhớ chỉ đọc
(EEPROM) có thể lập trình, xóa được bằng tín hiệu điện.
- Thẻ vi xử lý: là thẻ có gắn một bộ vi xử lý, bộ vi xử lý này có
kích thước rất nhỏ nhưng có cấu tạo gồm bộ nhớ EEPROM, bộ nhớ
chỉ đọc (ROM), bộ nhớ truy cập ngẫu nhiên (RAM), CPU. Các các
8
chi tiết của nó có vai trò giống như vai trò của các bộ phận tương
tự trong một máy tính.
*Phân loại thẻ theo công nghệ đọc:
- Thẻ tiếp xúc (contact card): thân thẻ chỉ chứa chip. Để
đọc/ghi thông tin thì bề mặt chip phải tiếp xúc trực tiếp với đầu
đọc thẻ. Loại thẻ này được các tổ chức tài chính và các cơ quan
truyền thông lựa chọn vì các ưu điểm về giá cả, về các chuẩn và
độ bảo mật cao.
- Thẻ không tiếp xúc (contactless card): thân thẻ chứa chip và
đường dây ăngten được dấu ngầm. Ăngten thường là đi vòng
quanh thẻ, nó có nhiệm vụ làm trung gian nhận/phát sóng radio
giữa đầu đọc thẻ và con chip trên thẻ. Trong sóng radio này sẽ
gồm cả dữ liệu và nguồn cho chip hoạt động. Thẻ có thể được đặt
cách đầu đọc thẻ khoảng 10 cm. Tốc độ xử lý của thẻ không tiếp
xúc là nhanh hơn so với thẻ tiếp xúc. Vì vậy thẻ không tiếp xúc
thường được ứng dụng tại những nơi cần phải xử lý nhanh như các
phương tiện công cộng như xe bus, thẻ ra vào…Thẻ không tiếp
xúc đắt hơn thẻ tiếp xúc nhưng lại không an toàn bằng thẻ tiếp
xúc.
- Thẻ lưỡng tính: là thẻ kết hợp các đặc điểm của thẻ tiếp xúc
và thẻ không tiếp xúc. Dữ liệu được truyền hoặc bằng tiếp xúc
hoặc không tiếp xúc. Thẻ lưỡng tính đắt hơn rất nhiều so với 2 loại
thẻ trên.

2. Khái quát về hoạt động thanh toán thẻ:
2.1. Chủ thể tham gia thanh toán:
- Tổ chức thẻ quốc tế
Là đơn vị đứng đầu quản lý mọi hoạt động và thanh toán thẻ
trong mạng lưới của mình, đồng thời đưa ra những quy định cơ
bản về hoạt động phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ. Đây là
hiệp hội các tổ chức tài chính, tín dụng lớn có mạng lưới hoạt động
rộng khắp và đạt được sự nổi tiếng với thương hiệu và sản phẩm
đa dạng như: tổ chức thẻ Visa, tổ chức thẻ MasterCard, công ty
thẻ American Express, công ty thẻ JCB, công ty thẻ Diner’s Club….
- Ngân hàng phát hành
9
Là ngân hàng tự mình phát hành thẻ mang thương hiệu riêng
hoặc được tổ chức thẻ quốc tế, công ty thẻ trao quyền phát hành
thẻ mang thương hiệu của những tổ chức và công ty này. Ngân
hàng phát hành là ngân hàng có tên in trên thẻ do ngân hàng đó
phát hành, thể hiện đó là sản phẩm của mình.
Ngân hàng phát hành quy định các điều khoản, điều kiện sử
dụng thẻ đối với khách hàng. Ngân hàng có quyền ký kết hợp
đồng đại lý với bên thứ ba là một ngân hàng hoặc một tổ chức tài
chính tín dụng khác trong việc thanh toán và phát hành thẻ tín
dụng. Trong trường hợp này, ngân hàng phát hành tận dụng được
ưu thế của bên thứ ba về kinh nghiệm, khả năng thâm nhập thị
trường và những ưu thế về vị trí địa lý.
Tuy nhiên cũng phải chịu chấp nhận rủi ro về tài chính bởi
ngân hàng đứng ra bảo lãnh cho bên thứ ba làm ngân hàng đại lý
của mình trong việc phát hành thẻ. Bên thứ ba khi ký kết hợp
đồng đại lý với ngân hàng phát hành được gọi là ngân hàng đại lý
phát hành.
- Ngân hàng thanh toán (ngân hàng đại lý)

Ngân hàng thanh toán là ngân hàng chấp nhận các loại thẻ
như một phương tiện thanh toán thông qua việc ký kết hợp đồng
chấp nhận thẻ với các điểm cung ứng hàng hoá dịch vụ trên địa
bàn. Ngân hàng thanh toán sẽ cung cấp cho các ĐVCNT thiết bị
phục vụ cho việc thanh toán thẻ, hướng dẫn đơn vị cách thức vận
hành, chấp nhận thanh toán thẻ cũng như quản lý và xử lý những
giao dịch thẻ tại các đơn vị này. Thông thường ngân hàng thanh
toán sẽ thu từ các ĐVCNT một mức phí chiết khấu cho việc chấp
nhận thanh toán thẻ của đơn vị, nó có thể tính phần trăm trên giá
trị mỗi giao dịch hoặc tính theo tổng giá trị giao dịch thẻ. Mức
chiết khấu cao hay thấp phụ thuộc vào từng ngân hàng và vào
mối quan hệ chiến lược của ngân hàng với ĐVCNT.
Trên thực tế có rất nhiều ngân hàng vừa là ngân hàng phát
hành vừa là ngân hàng thanh toán thẻ. Với tư cách là ngân hàng
phát hành, khách hàng của họ là chủ thẻ còn với tư cách là ngân
hàng thanh toán, khách hàng là các đơn vị cung ứng hàng hoá
dịch vụ có ký kết hợp đồng chấp nhận thẻ.
10
- Chủ thẻ
Chủ thẻ là những cá nhân hoặc người được ủy quyền (nếu là
thẻ do công ty ủy quyền sử dụng) được ngân hàng phát hành thẻ,
có tên in nổi trên thẻ và sử dụng thẻ theo những điều khoản, điều
kiện ngân hàng quy định. Theo thông lệ, mỗi chủ thẻ chính có thể
phát hành thêm thẻ phụ, cả thẻ chính và thẻ phụ cùng chi tiêu
chung một tài khoản. Chủ thẻ phụ cũng có trách nhiệm thanh
toán các khoản phát sinh trong kỳ nhưng chủ thẻ chính là người có
trách nhiệm thanh toán cuối cùng đối với ngân hàng.
Chủ thẻ sử dụng thẻ của mình để thanh toán hàng hoá, dịch
vụ tại các đơn vị cung ứng hàng hoá, dịch vụ có chấp nhận thẻ
(ĐVCNT), các điểm ứng tiền mặt thuộc hệ thống ngân hàng hoặc

sử dụng thẻ để thực hiện các giao dịch tại máy rút tiền tự động.
Đối với thẻ tín dụng, sau một khoảng thời gian nhất định tuỳ theo
quy định của từng ngân hàng phát hành, chủ thẻ sẽ nhận được
sao kê (statement).
- Đơn vị chấp nhận thẻ
Các đơn vị cung ứng hàng hoá dịch vụ ký kết hợp đồng chấp
nhận thẻ với ngân hàng như một phương tiện thanh toán được gọi
là đơn vị chấp nhận thẻ. Các ngành kinh doanh của các đơn vị
chấp nhận thẻ trải rộng từ những cửa hiệu bán lẻ đến các nhà
hàng ăn uống, khách sạn, sân bay Tại nhiều nước trên thế giới
khi thẻ ngân hàng đã trở thành một phương thức thanh toán
thông dụng, chúng ta có thể nhìn thấy những biểu trưng của thẻ
xuất hiện rộng rãi tại các cửa hàng.
Ở Việt Nam, các đơn vị chấp nhận thẻ tập trung chủ yếu tại
các ngành hàng, dịch vụ phục vụ cho người nước ngoài như hàng
thủ công mỹ nghệ, nhà hàng, khách sạn, du lịch, các đại lý bán vé
máy bay. Mặc dù phải trả cho ngân hàng thanh toán một tỷ lệ phí
chiết khấu nhất định nhưng bù lại các đơn vị chấp nhận thẻ thông
qua đó thu hút được một khối lượng khách hàng lớn, bán được
nhiều hàng hơn qua đó góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh
doanh cũng như lợi nhuận của đơn vị.
Để trở thành đơn vị chấp nhận thẻ của một ngân hàng nhất
thiết đơn vị đó phải có tình hình tài chính tốt và có năng lực kinh
11
doanh. Cũng như các ngân hàng phát hành thẩm định khách hàng
trước khi phát hành thẻ, ngân hàng thanh toán cũng tiến hành
đánh giá lựa chọn đơn vị chấp nhận thẻ. Chỉ có những đơn vị có
hiệu quả kinh doanh cao, có khả năng thu hút được nhiều giao
dịch thanh toán thẻ thì ngân hàng mới có thể thu hồi được vốn
đầu tư cho các đơn vị đó và có lãi.

2.2. Thủ tục phát hành và thanh toán thẻ
Theo quyết định số 1092/2002/QĐ-NHNN ngày 8/10/2002 của
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc ban hành quy định thủ tục
thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán:
Điều 7: thanh toán bằng thẻ ngân hàng.
2.2.1. Thủ tục phát hành, sử dụng thẻ ngân hàng
a. Đối với khách hàng.
Để được sử dụng thẻ ngân hàng khách hàng phải thực hiện
các thủ tục đăng ký sử dụng thẻ và đáp ứng đủ cácđiều kiện theo
quy định của ngân hàng phát hành thẻ. Sau khi được ngân hàng
phát hành thẻ chấp nhận khách hàng phải ký hợp đồng sử dụng
thẻ với ngân hàng phát hành thẻ.
Nếu phải lưu ký tiền theo yêu cầu của ngân hàng phát hành
thẻ, khách hàng lập lệnh chi trích tài khoản tiền gửi của mình
hoặc nộp tiền mặt để lưu ký tiền vào tài khoản tiền ký gửi để đảm
bảo thanh toán thẻ tại ngân hàng phát hành thẻ.
b. Đối với ngân hàng phát hành thẻ.
Khi nhận được giấy yêu cầu sử dụng thẻ và các giấy tờ liên
quan của khách hàng, ngân hàng phát hành thẻ kiểm tra, xem xét
thẩm định nếu đủ điều kiện sử dụng thẻ thì làm các thủ tục cấp
thẻ cho khách hàng (chủ thẻ): lập hồ sơ theo dõi thẻ đã phát
hành, giao thẻ cho chủ thẻ và yêu cầu chủ thẻ ký nhận.
2.2.2. Thủ tục thanh toán thẻ
Thanh toán tiền hàng hóa dịch vụ cho các đơn vị chấp nhận
thẻ. Việc tiếp nhận thanh toán bằng thẻ phải có hợp đồng thỏa
thuận giữa ngân hàng phát hành thẻ hoặc ngân hàng thanh toán
thẻ với đơn vị chấp nhận thẻ.
12
- Ngân hàng phát hành thẻ, ngân hàng thanh toán thẻ (tổ
chức cung ứng dịch vụ thanh toán thẻ) có trách nhiệm hướng dẫn

đầy đủ quy trình thanh toán thẻ cho các đơn vị chấp nhận thẻ.
- Tại các đơn vị chấp nhận thẻ: Khi chủ thẻ xuất trình thẻ mua
bán hàng hóa, dịch vụ, đơn vị chấp nhận thẻ phải sử dụng máy
chuyên dùng kết hợp với việc kiểm tra bằng mắt để kiểm tra:
+ Tính hợp lệ, thời hạn hiệu lực của thẻ.
+ Đối chiếu số thẻ của khách hàng với thông báo về danh
sách thẻ bị tứ chối thanh toán của ngân hàng phát hành thẻ.
+ Đối chiếu số tiền thanh toán với hạn mức thanh toán (do
ngân hàng thanh toán
quy định).
+ Kiểm tra giấy chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu của
người cầm thẻ xem người cầm thẻ có phải là chủ thẻ không (trong
trường hợp có nghi ngờ đối với người cầm thẻ).
- Sau khi kiểm tra nếu thẻ đầy đủ điều kiện thanh toán, đơn vị
chấp nhận thẻ lập hóa đơn thanh toán hàng hóa, dịch vụ, yêu cầu
chủ thẻ ký trên hóa đơn thanh toán, đối chiếu chữ ký trên hóa đơn
với chữ ký của chủ thẻ trên thẻ (nếu có). Hóa đơn thanh toán hàng
hóa, dịch vụ được lập 3 liên sử dụng như sau:
+ 1 liên gửi cho chủ thẻ cùng với thẻ
+ 1 liên lưu tại đơn vị chấp nhận thẻ
+ 1 liên kèm theo các hóa đơn thanh toán (đơn vị chấp nhận
thẻ lập cuối ngày hoặc theo định kỳ thỏa thuận thanh toán với
ngân hàng phát hành thẻ hoặc ngân hàng thanh toán thẻ) gửi cho
ngân hàng thanh toán thẻ để thanh toán.
- Tại ngân hàng thanh toán thẻ: Nhận được bảng kê kèm các
hóa đơn thanh toán của đơn vị chấp nhận thẻ gửi đến, sau khi đã
kiểm tra đủ điều kiện thanh toán, ngân hàng thanh toán thẻ có
trách nhiệm thanh toán ngay cho đơn vị chấp nhận thẻ.
- Việc thanh toán giữa ngân hàng phát hành thẻ và ngân hàng
thanh toán thẻ về số tiền thanh toán cho đơn vị chấp nhận thẻ

13
được thực hiện theo thỏa thuận giữa hai bên qua các phương thức
thanh toán giữa các ngân hàng.”
2.2.3. Thiết bị máy POS thanh toán thẻ trong siêu thị:
Thiết bị thanh toán thẻ phổ biến trong các siêu thị hiện nay là
các máy cà thẻ POS, sau đây là một số thông tin về thiết bị thanh
toán này.
- Khái niệm: POS là thuật ngữ viết tắt của “Point of sale” (hay
point of service).
Là một thiết bị phục vụ cho việc thanh toán, bán hàng trực
tiếp, thường được đặt tại quầy thanh toán trong các siêu thị, nhà
hàng, khách sạn, sân bay cho đến các cửa hàng bán lẻ Một
chiếc máy POS có thiết kế khá nhỏ gọn, chiếm một diện tích nhỏ,
dễ dàng lắp đặt, do đó nó phù hợp với mọi quầy thanh toán. Bên
cạnh đó, một chiếc máy POS chỉ có giá từ 500 -700 USD. Và đối
tượng của các máy POS khá phổ biến là các loại thẻ tín dụng và
thẻ ghi nợ.
- Phân loại:
Các ngân hàng hiện nay đầu tư nhiều loại máy POS khác
nhau, nhưng phổ biến nhất là hai loại máy có thể sử dụng tiếng
Việt:
14
+ Loại thứ nhất: Máy POS đơn, nhỏ gọn, khách hàng nhập mã
số PIN vào trực tiếp trên máy. Để bảo mật thông tin cho khách
hàng, nhân viên tại các điểm chấp nhận thẻ thường đưa máy cho
khách hàng nhập mã PIN sau đó đặt trở lại vị trí cũ để kết nối với
hệ thống và thực hiện các giao dịch.
+ Loại thứ hai: Máy có PIN PAX kèm theo để giúp khách hàng
nhập mã PIN khi giao dịch. Điều này giúp việc bảo mật thông tin
của khách hàng được tốt hơn.

Ngoài ra còn có một số loại máy POS không dây hiện đại, sử
dụng công nghệ GSM và màn hình cảm ứng khác, không khác gì
một chiếc điện thoại di động. Đối với các loại máy này, bên cạnh
các tính năng như máy POS thông thường, chiếc máy này có thể
mang đi khắp nơi như trên xe buýt, tàu lửa, tàu thủy… và sử dụng
vào nhiều mục đích khác như đăng ký mở thẻ và nhiều ứng dụng
khác nữa nhờ vào công nghệ nhận dạng được chữ ký và sự bảo
mật tuyệt đối.
- Chức năng của máy POS: Phục vụ cho việc thanh toán hàng
hoá tại các siêu thị, trung tâm thương mại, cửa hàng…. Thanh
toán phí dịch vụ như điện, nước, điện thoại…. Thực hiện các giao
dịch như kiểm tra số dư, chuyển khoản. Riêng đối với ngân hàng
Đông Á, chủ thẻ còn có thể rút tiền tại các cửa hàng của Công ty
cổ phần Vàng - Bạc - Đá quý Phú Nhuận (PNJ) thông qua hệ thống
máy POS.
- Các bước thanh toán thẻ trên máy cà thẻ POS trong siêu thị:
Các bước giao dịch:
+ Bước 1: Đưa thẻ cho nhân viên bán hàng để họ cà thẻ qua
máy POS.
+ Bước 2: Nhân viên bán hàng
sẽ nhập số tiền cần thanh toán vào
máy rồi nhấn Enter.
+ Bước 3: Quý khách tự nhập
số PIN của mình để đảm bảo bí
mật số PIN.
15
+ Bước 4: Máy POS in ra 03 hóa đơn, quý khách được yêu cầu
phải ký tên trên cả 3 hóa đơn (Chữ ký của chủ thẻ trên hóa đơn
phải giống với chữ ký trên dải băng từ ở mặt sau của thẻ). Trong
việc thanh toán thẻ, ngoài máy POS ra, còn có cả hệ thống các

thiết bị thanh toán khác được kết nối với nhau nhằm phục vụ tốt
hơn việc thanh toán trong siêu thị nói chung và thanh toán thẻ nói
riêng. Đối với một siêu thị hiện đại ngày nay đó là các thiết bị
không thể nào thiếu được: máy đọc mã vạch hàng hoá, máy tính,
máy hiển thị thông tin thanh toán, máy in hoá đơn và két đựng
tiền….
3. Vai trò của thẻ thanh toán:
Cùng với sự ra đời của thẻ đó giúp cho nền kinh tế vận động
nhanh hơn, tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy việc buôn bán giúp
các doanh nghiệp tiếp xúc với khách hàng nhanh nhất. Thẻ ngày
càng thể hiện vai trò to lớn trong phát triển kinh tế xã hội.
3.1. Đối với nền kinh tế:
3.1.1. Thẻ giúp giảm lượng tiền lưu thông:
Thẻ là một phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt,
nhưng vẫn thanh toán cho hàng hoá dịch vụ của khách hàng,
thanh toán cho các dịch vụ… cho nên nó thay thế cho số lượng lớn
tiền lưu thông. Trên thế giới các nước phát triển thì thanh toán
bằng thẻ là rất lớn. Nhờ vậy và khối lượng và áp lực tiền mặt trong
lưu thông giảm đáng kể. Khi mà đi mua hàng hoá, dịch vụ không
cần mang theo tiền. Nó tiết kiệm thời gian cho khách hàng, không
phải đến ngân hàng rút tiền như khi chưa có thẻ. Khi chưa có thẻ
người ta không thể đem nhiều tiền để mua nhiều hàng hoá, dịch
vụ. Mà người ta phải mua nhiều lần, nhưng đối với thẻ thì rất gọn
nhẹ nhưng nó có thể tương ứng với một lượng tiền lớn có thể mua
được nhiều hàng hoá, dịch vụ. Điều đó đồng nghĩa với việc nú đó
làm giảm khối lượng tiền lưu thông .
3.1.2. Tăng nhanh khả năng thanh toán của nền kinh
tế:
Các giao dịch bằng thẻ đều được thanh toán trực tuyến
(OnLine) nên tốc độ chu chuyển thanh toán nhanh hơn nhiều so

với những giao dịch bằng các phương tiện khác như: Séc, uỷ
nhiệm thu , uỷ nhiệm chi…thay vì thực hiện các giao dịch trên
16
giấy tờ với giao dịch chủ thẻ mọi thông tin đều được sử lý qua máy
móc điện tử thuận tiện nhanh chóng.
3.1.3. Thẻ tạo ra môi trường thanh toán hiện đại:
Thanh toán qua thẻ là hình thức hiện đại và nhanh hơn các
phương pháp thủ công, thẻ là phương thức thanh toán dựa trên
máy móc hiện đại an toàn tiện lợi, do mạng lưới các máy ATM có
nhiều nơi nên khả năng phục vu thanh toán 24/24
3.1.4. Tạo sự thuận lợi trong quản lý kinh tế của chính
phủ:
Thẻ nằm trong sự quản lý của ngân hàng. Nhờ thông qua
hệ thống ngân hàng mà chính phủ có thể điều tiết nền kinh tế
thông qua lượng tiền cung ứng của các ngân hàng, nhờ thế mà
nhà nước có thể kiểm soát toàn bé lượng tiền nhàn rỗi trong dân,
nhà nước quản lý các chính sách về thẻ.
3.2. Sự tiện ích với người sử dụng thẻ:
3.2.1. Tiện ích trong thanh toán.
Ngay từ khi khi ra đời thẻ đã chứng minh rằng nó sẽ là phương
tiện thanh toán hữu ích cho con người mà nhiều phương tiện khác
không có được. Tiện ích nổi bật mà người sử dụng thẻ có được đó
là sự tiện lợi và tính linh hoạt hơn hẳn các phương tiện thanh toán
khác. Chủ thẻ có thể thực sự cảm nhận được điều này khi đi công
tác hay du lịch ở nước ngoài. Thẻ thanh toán như VISA hay
MASTERCARD và trong phạm vi nhỏ hơn là thẻ AMEX, JCB và
DINER'S CLUB được chấp nhận trên toàn thế giới. Điều này có
nghĩa là khi dù định ra nước ngoài thay vì phải chuẩn bị trước một
lượng ngoại tệ hay Séc du lịch chủ thẻ có thể mang theo thẻ
thanh toán để thanh toán cho mọi nhu cầu chi tiêu của mình.

3.2.2. Tiện lợi với người tiêu dùng.
Với những người tiêu dùng thì thẻ là phương tiện thanh
toán lí tưởng phù hợp cho cuộc sống. Thẻ thanh toán cũng giúp
cho người sử dụng có thể rút tiền mặt một cách nhanh chóng ỏ
bất cứ nơi nào và bất cứ lúc nào ở ngân hầng hoặc qua các máy
rút tiền tự động (ATM) và sử dụng một số dịch vụ khác do máy
ATM cung cấp như: Trả nợ vay chuyển khoản xem số dư tài khoản.
Một số ngân hàng phát hành có chế độ bảo hiểm kèm theo có
hàng hoá thay thế hàng hoá bị mất cắp hư háng hay thất lạc trả
17
tiền bảo hiểm tai nạn hoặc tử vong đối với hàng hoá dịch vụ thanh
toán bằng thẻ thanh toán.
3.2.3. Cung cấp khoản tín dụng tức thời.
Thẻ sẽ được thanh toán cho khách khi mua hàng ở bất cứ nơi
nào. Nguồn tín dụng tự giúp cho các chủ thẻ khỏi phải đến ngân
hàng xin vay, người có tâm lý ngại đến ngân hàng để xin vay sẽ
đánh giá cao việc sử dụng thẻ. Hơn thế chủ thẻ chỉ phải thanh
toán một phần nhỏ (hiện nay theo quy định là 20%) khi đến hạn
thanh toán (thường là một tháng) số còn lại chủ thẻ có thể trả sau.
3.2.4. Tiết kiệm thời gian và khối lượng thanh toán
cao hơn.
Thẻ thanh toán có nhiều tiện ích hơn tiền mặt hay séc du lịch
cả trước trong và sau chuyến đi khi khách hàng có nhu cầu đi ra
nước ngoài hoặc là đi du lịch. Khi người sử dụng séc du lịch sẽ phải
chuẩn bị trước một số tiền nhưng có một bất tiện là họ không biết
mình sẽ chi tiêu hết bao nhiêu, để mang theo cho phù hợp. Còn
đối với sử dụng thẻ, chủ thẻ không cần lên kế hoạch chi tiêu trước
càng không phải trả tiền trước cho ngân hang. Sử dụng thẻ chủ
thẻ được phép chi tiêu trước trả tiền sau .Tài khoản của thẻ chỉ bị
ghi nợ khi nào chủ thẻ thực sự chi tiêu và thanh toán bằng thẻ.

Thêm nữa tỷ giá bạn thanh toán thẻ cũng thường có lợi hơn khi sử
dụng tiền mặt hoặc séc du lịch. Như vậy không những giúp người
sử dụng thẻ tiết kệm tiền thời gian mua hàng mà còn thời gian
chờ làm thủ tục với séc du lịch hay tiền mặt .
3.3. Đối với cơ sở chấp nhận thẻ (CSCNT)
Trong nền kinh tế các cơ sở chấp nhận thẻ luôn mong muốn
bán được nhiều hàng hoá, dịch vụ bên cạnh đó là tối ưu quá trình
thanh toán. Thẻ ra đời đã đáp ứng được mong muốn đó của các
CSCNT, lợi ích mà thẻ đem lại thể hiện ở các mặt sau:
3.3.1. Đảm bảo chi trả:
Sau khi CSCNT cung cấp hàng hoá, dịch vụ cho khách hàng và
thông báo cho ngân hàng thanh toán thì CSCNT có thể yên tâm là
đã được ghi có vào tài khoản của mình ngay khi thông tin
được truyền qua máy móc điện tử đến ngân hàng thanh
toán .Trường hợp phải xin cấp phép từ ngân hàng phát hành cũng
rất nhanh chóng và đảm bảo qua các máy cấp phép tự động.
18
3.3.2. Tăng doanh số bán hàng hoá dịch vụ và mở rộn
g hoạt động kinh doanh thu hút thờm khách
hàng
Với những tiện ích của mình thẻ đã đem lại khả năng cạnh
tranh, thu hút khách hang, chấp nhận thẻ thanh toán là cung
cấp cho khách hàng một phương tiện nhanh chóng tiện lợi và
do vậy khả năng thu hút khách hàng sẽ tăng lên doanh sẽ cung
ứng hàng hoá dịch vụ của CSCNT cũng tăng lên. Thẻ thanh toán
tạo cho CSCNT một khả năng cạnh tranh lớn hơn các đối thủ khác.
Môi trường văn minh hiện đại trong giao dịch khi thanh toán thẻ là
yếu tố quan trọng để thu hút khách hàng đặc biệt là khách du lịch
nước ngoài và các nhà đầu tư.
3.3.3. Nhanh chóng thu hồi vốn và đảm bảo an toàn

Với phương thức thanh toán này thì các giao dịch trở nên
thuận tiện dễ dàng, nhanh chóng hơn so với nhiều phương
tiện thanh toán khác. Khi dữ kiệu giao dịch thẻ được truyền đến
ngân hàng hoặc CSCNT nộp hoá đơn thanh toán thẻ cho ngân
hàng thì tài khoản của CSCNT được ghi có ngay, do đó số vốn này
họ có thể sử dụng ngay vào mục đích quay vòng vốn hoặc các
mục đích khác. Do được thực hiện trên một dây chuyền máy móc
hiện đại, được kết nối trực tuyến (Online) ít có sự tham gia
của con người, và tính toán của máy móc cũng rất chính xác.
Các giao dịch được trả tiền ngay vào tài khoản của CSCNT
nhưng dù chưa được thanh toán ngay thì thanh toán thẻ cũng
có ít nguy cơ bị mất cắp hơn là séc hay tiền mặt .
3.3.4. Nhanh chóng giao dịch với khách hàng giảm chi
phí bán hàng giảm chi phí bán hàng.
Khác với các giao dịch bằng tiền mặt việc đếm tiền ghi chép
lại sổ sách là rất phức tạp còn giao dịch thẻ với các thiết bị chuyển
tiền hiện đại. Các quan hệ giữa người bán và người mua nhờ đó
mà diễn ra nhanh chóng tiết kiệm thời gian cho cả hai bên đẩy
nhanh quá trình xử lý khi bán hàng giúp cho CSCNT cung cấp cho
nhà phát hành thẻ những thông tin về việc bán hàng mà khách
phải xử lý thủ công trên giấy tờ. Đồng thời thẻ giúp CSCNT
giảm đáng kể các chi phí không cần thiết cho các CSCNT như: việc
quản lý tiền, quản lý tài chính, khả năng bị cướp tiền giảm… nhờ
vậy cũng giảm được chi phí bán hàng.
19
Điểm bất đồng giữa CSCNT và ngân hàng đó là về khoản phí
mà CSCNT phải trả cho ngân hàng. Dù máy móc thiết bị thanh
toán được ngân hang cung cấp và bảo quản miễn phí
nhưng tuỳ theo ngân hàng phát hành CSCNT vẫn phải chấp
nhận chịu một khoản thanh toán giá trị giao dịch: khoảng 16%

của mỗi giao dịch đối với thẻ phát hành ở UK3-4% đối với thẻ
AMEX (bất cứ nơi nào). Điều này có hợp lý hay không khi mà các
CSCNT còn mang lại không ít lợi nhuận cho ngân hàng, nhưng có
một yếu tố hợp lý đó là cho dù chịu phí nhưng các CSCNT thông
qua việc chấp nhận thẻ sẽ thu hút được nhiều khách hàng ( Kết
hợp với nhiều chính sách hợp của mình như khuyến mại , quảng
cáo , mẫu mó…). Do đó CSCNT sẽ bán được nhiều hàng hoá và
dịch vụ điều đó xét đến cùng vẫn mang lại nhiều lợi nhuận cho
CSCNT.
3.4. Đối với ngân hàng.
Qua lịch sử hình thành của thẻ ta thấy rằng thẻ lần đầu tiên
không phải là ra đời từ trong ngành ngân hàng. Nhưng quá trình
phát triển của thẻ đạt được như ngày hôm nay phần lớn là nhờ các
hoạt động của các ngân hàng. Các ngân hàng là tổ chức tham gia
nhiều trong tất cả các tổ chức khác từ phát hành đến thanh toán.
Chính từ những hoạt động về thẻ của các ngân hàng mà thẻ đó
không những đem lại nhiều lợi nhuận cho ngân hàng mà còn có
nhiều tiện ích quan trọng khác đem lại cho ngân hàng trên nhiều
lĩnh vực .
3.4.1. Thẻ đem lại lại lợi nhuận cho ngân hàng
Chúng ta biết rằng khi tham gia vào nền kinh tế thị trường thì
bất cứ tổ chức kinh doanh nào cũng muốn thu về thật nhiều
lợi nhuận như vậy mới đứng vững và tồn tại trong một môi
trường rất nhiều đối thủ cạnh tranh. Lợi ích lớn nhất mà thẻ đem
lại cho ngân hàng phát hành và thanh toán thẻ đó chính là lợi
nhuận. Thu nhập mà ngân hàng có được là: Phí CSCNT phí sử
dụng thẻ (phí thường niên ), và lãi suất cho khoản tín dụng mà
chủ thẻ chậm thanh toán. Đó là chưa kể các khoản thu từ các dịch
vụ ngân hàng và đầu tư kèm theo. Một yếu nữa có thể mang
lại lợi nhuận cho ngân hàng từ thẻ đó là lòng trung thành

của khách hàng. Một khách hàng khi đã có tài khoản hoặc thẻ tại
ngân hàng thì hiếm khi họ lại chuyển xang một tổ chức thẻ khác.
20
Lợi dụng tâm lý này của khách hàng ngân hàng có thể tăng
lãi suất tương đối cho khoản tín dụng thanh toán thẻ để tăng
thêm lợi nhuận cho ngân hàng mà không sợ mất khách hàng
hàng loạt.
3.4.2. Tăng nguồn vốn huy động
Việc sử dụng thẻ thanh toán tạo điều kiện cho các
Ngân hàng có thể mở rộng thị trường và khách hàng mà không
cần phải mở thêm nhiều chi nhánh. Ngoài ra, một cách gián tiếp,
lượng tiền gửi của khách hàng xét trên cả hai hai đối tượng: Chủ
thẻ (người mua) và người bán hàng sẽ tăng lên vì cả hai đối tượng
này đều được có được những ích lợi nhất định khi chấp nhận sử
dụng thẻ thanh tóan. Thanh toán bằng thẻ giúp các ngân hàng
thu hút được một số lượng lớn tiền gửi của khách hàng cho nên
khả năng quay vòng vốn diễn ra nhanh hơn đem lại lợi nhuận lớn
cho ngân hàng. Là một phương tiện thanh toán hiện đại thuận tiện
lợi ích về nhiều mặt đối với nhiều lĩnh vực nhiều đối tượng trong
nền kinh tế đặc biệt trong xu hướng toàn cầu hoá hiện nay. Thanh
toán thẻ trên thế giới đã trở thành xu thế tất yếu. Các nước phát
triển trên 80% lưu chuyển hàng hoá dịch vụ bán lẻ được thực hiện
bằng thẻ. Với phạm vi thanh toán rộng như vậy của thẻ
chắc chắn thẻ sẽ ngày càng được khẳng định và mở rộng.
3.4.3. Bắt kịp với quá trình toàn cầu hoá
Với xu hướng toàn cầu hóa các quốc gia quan hệ trên các mặt
như: kinh tế-văn hoá, đã không còn khó khăn như trước đây. Do đó
việc trở thành một thành viên của tổ chức thẻ quốc tế như VISA
hay MASTERCARD hay AMEX một ngân hàng dù là nhỏ nhất trên
thế giới cũng có thể cung ứng cho khách hàng một phương tiện

thanh toán có chất lượng tốt như bất cứ một đối thủ cạnh tranh
lớn nào. Nhờ các mối quan hệ với các tổ chức thẻ quốc tế ngân
hàng này chỉ phải thực hiện duy nhất một ngiệp vụ giao dịch
thông thường qua tổ chức thẻ quốc tế VISA để trả tiền cho tất cả
các khoản này việc phân bổ các ngân hàng khác nhau có liên
quan sẽ do VISA quyết định thực hiện. Sau lợi nhuận khả năng
cung cấp dịch vô toàn cầu là lợi ích lớn nhất cho ngân hàng tạo
điều kiện cho ngân hàng tham gia vào quá trình toàn cầu hoá hội
nhập với cộng đồng quốc tế. Với thẻ thì không gian và thời gian
không còn tồn tại trong hoạt động thanh toán của ngân
21
hàng điều đó nói lên rằnghiệu quả trong thanh toán đã được
nâng cao rõ rệt và ngân hàng luôn sẵn sàng đáp ứng mọi nhu cầu
của khách hàng.
3.5. Rủi ro khi thực hiện thanh toán thẻ
3.5.1. Rủi ro thẻ giả mạo
Thẻ giả luôn là vấn đề đau đầu nhất đối với các ngân hàng
kinh doanh thẻ hiện nay. Tình hình sử dụng thẻ giả mạo rất phổ
biến trên toàn thế giới. Các thẻ này tuy là các thẻ giả xong lại
mang các thông tin và số PIN của thẻ thật, vì vậy hoàn toàn tương
thích khi thực hiện các giao dịch
3.5.2. Rủi ro thông tin bị đánh cắp
Việc lấy cắp dữ liệu trên thẻ để làm thẻ giả rất đa dạng dưới
nhiều hình thức. Tội phạm thẻ có thể sử dụng kiến thức tin học,
tấn công vào một số trang web, hệ thống bán hàng trên mạng để
trộm cắp thông tin thẻ tín dụng, hoặc mua lại thông tin thẻ tín
dụng của các “tin tặc” khác.
3.5.3. Rủi ro thẻ mất cắp, thất lạc
Truờng hợp chủ thẻ làm mất thẻ, để lộ mã số PIN hoặc bị “thất
lạc thẻ tạm thời” thường xuyên xảy ra, các chủ thẻ thường khiếu

nại ngân hàng về thiệt hại mất tiền trong tài khoản. Các vụ tranh
chấp về mất tiền trong tài khoản giữa khách hàng và ngân hàng
ngày càng gia tang. Chủ thẻ chịu thiệt hại về thời gian, tiền bạc.
Về phía ngân hàng, ngoài khả năng thiệt hại về vật chất còn
những thiệt hại vô hình khác như uy tín, lòng tin của khách hàng
vào ngân hàng.
3.5.4. Rủi ro tác nghiệp
Rủi ro này phát sinh trong việc xử lý giao dịch, thực hiện quy
trình nghiệp vụ hàng ngày của nhân viên ngân hang, hiện nay
đang xảy ra khá phổ biến. Những sự cố về nghiệp vụ phát sinh
phát sinh trên tất cả các khâu của dịch vụ thẻ như tiếp nhận, xử lý
thông tin khách hàng, cài đặt chương trình, hạch toán, thu nợ sao
kê, tiếp quỹ, tra soát, bồi hoàn,…. nhìn chung đa sồ đều gây tổn
thất, ảnh hưởng rất lớn đến uy tín và niềm tin của khách hàng đối
với ngân hàng.
3.5.5. Rủi ro đạo đức nghề nghiệp của nhân viên ngân
hàng
22
Điều mà các ngân hàng lo ngại không chỉ những rủi ro bên
ngoài như thẻ giả mạo, trộm thông tin tài khoản thẻ,… mà còn
những rũi ro đến từ bên trong hệ thống ngân hàng. Rủi ro từ đạo
đức của một số nhân viên ngân hàng vô cùng nguy hiểm. Tại một
số nước trên thế giới, việc tội phạm bên ngoài cấu kết với nhân
viên ngân để gắn trộm máy ghi hình và máy đọc để lấy dữ liệu
trên dải băng từ của thẻ, sau đó làm giả thẻ và dùng mật mã có
được từ ghi hình trộm để rút tiền đã từng xảy ra.
3.5.6. Rủi ro kỹ thuật công nghệ
Ở Việt Nam, máy ATM đứng máy không sử dụng được do
nghẽn mạch, hỏng hóc kỹ thuật cũng diễn ra thường xuyên. Đặc
biệt, việc mất điện cũng khiến giao dịch gặp trục trặc, khách hàng

đã nhiều phàn nàn với ngân hàng khi đang thực hiện giao dịch
trên máy ATM thì bị mất điện. Gần đây, các ngân hàng gặp khá
nhiều sự cố về đường truyền gây ra tình trạng chưa rút được tiền
đã bị khấu trừ trong tài khoản, hay đã rút rồi lại được cộng thêm
tiền, Do vậy, rủi ro do các sự cố về đường truyền, thiết bị viễn
thông có khả năng gây ra thiệt hại vô cùng nghiêm trọng.
3.5.7. Rủi ro tín dụng
Khi chủ thẻ sử dụng thẻ, chủ yếu là tín dụng tín chấp, và
không thanh toán hoặc mất khả năng thanh toán nên ngân hàng
không thể đòi được nợ dẫn đến rủi ro tín dụng. Rủi ro này thường
xảy ra khi chủ thẻ đã sử dụng và gặp phải tai nạn bất ngờ, hoặc
chủ thẻ bị phá sản, mất việc làm, không có thu nhập để hoàn trả
nợ cho ngân hang.
3.5.8. Rủi ro về ĐVCNT ( đơn vị chấp nhận thẻ)
Tại Việt Nam, trong những năm vừa qua, đã xuất hiện một số
hiện tượng các đối tượng tội phạm lập các ĐVCNT để sử dụng thẻ
giả nhằm rút tiền chia nhau. Bên cạnh đó đã có trường hợp nhân
viên thu tiền của ĐVCNT thông đồng với tội phạm cài thêm thiết bị
lấy cắp dữ liệu thẻ vào máy chấp nhận thẻ của ngân hàng để sao
chép lại dữ liệu thẻ của khách hàng trả tiền.
Các ĐVCNT thuộc loại hình có tỷ lệ rủi ro cao bao gồm:
- Điểm ứng tiền mặt
- Các hàng hoá dịch vụ đặc biệt như tiền mặt (sòng bạc, xổ
số…)
23
- Kinh doanh vàng bạc, đá quý, đồ trang sức, đồng hồ cao
cấp, phòng tranh…
- Kinh doanh điện thoại di động, thiết bị viễn thông
- Kinh doanh máy tính, thiết bị điện tử, tin học
Kinh doanh hàng hoá, dịch vụ qua mạng, điện thoại, thư tín .

Thực trạng sử dụng thẻ tại việt nam:
Thực trạng dịch vụ thẻ thanh toán
4. Thực trạng sử dụng thẻ thanh toán tại Việt Nam:
4.1. Thành tựu đạt được trong việc thanh toán thẻ:
Trong giai đoạn 1996-2001, thị trường thẻ Việt Nam còn sơ
khai, nhận thức của người dân về thanh toán thẻ còn hạn chế nên
các sản phẩm thẻ chủ yếu chỉ đáp ứng nhu cầu của tầng lớp dân
cư có thu nhập cao và phần lớn chỉ là thẻ quốc tế được sử dụng
khi mua sắm hàng hoá dịch vụ ở nước ngoài. Bắt đầu từ năm
2002, trên nền tảng hệ thống ngân hàng “lõi” (core banking) mới
hiện đại được các ngân hàng đầu tư nâng cấp, các sản phẩm thẻ
ghi nợ nội địa lần đầu tiên được phát hành tại Việt Nam. Nhờ đó,
người dân đã bắt đầu biết đến và làm quen với một phương tiện
thanh toán tiện lợi, nhanh gọn, dễ đăng ký, dễ sử dụng hoạt động
dựa trên cơ sở tài khoản cá nhân.
Tuy nhiên, dịch vụ thẻ thanh toán thực sự sôi động, bắt đầu có
chiều sâu vào những năm 2006-2007 khi Chính phủ ban hành
Quyết định số 291/2006/ TTg về triển khai Đề án thanh toán
không dùng tiền mặt giai đoạn 2006-2011 và đặc biệt sự ra đời
của quyết định số 20/2007/NHNN của Thống đốc Ngân hàng nhà
nước (NHNN) Việt Nam điều chỉnh các quy định về phát hành,
thanh toán, sử dụng và cung cấp dịch vụ hỗ trợ hoạt động thẻ
ngân.
Điều này đã góp phần tạo một hành lang pháp lý rất quan trọng
giúp thị trường có sự phát triển vượt bậc về hoạt động thanh toán
và phát hành thẻ, số lượng các ngân hàng tham gia cung ứng dịch
vụ thẻ ngày càng gia tăng với việc cho ra đời hàng loạt các sản
phẩm thẻ tương đối hiện đại, nhiều tính năng, tiện ích đáp ứng
yêu cầu của khách hàng.
24

Các số liệu thống kê cho thấy, số thẻ đã có sự tăng trưởng khá
nhanh. Nếu như năm 2007, toàn thị trường mới có khoảng gần
9,34 triệu thẻ thì đến hết năm 2012, con số đó đã lên tới hơn 54,9
triệu thẻ tăng gần 5,6 lần. Số thương hiệu thẻ cũng tăng từ 95
thương hiệu lên khoảng 350 thương hiệu thẻ các loại. Trong tổng
số 54,9 triệu thẻ (tính đến cuối năm 2012) hơn 90% là thẻ ghi nợ
nội địa (49,4 triệu thẻ), 1,88 triệu thẻ ghi nợ quốc tế chiếm 3,6%,
1,52 triệu thẻ tín dụng quốc tế chiếm 28%…
Song song với hoạt động phát hành thẻ, hoạt động phát triển
mạng lưới chấp nhận và thanh toán thẻ cũng có sự phát triển khá
ấn tượng. Hệ thống ATM và Đơn vị chấp nhận thanh toán thẻ - POS
đã có sự tăng trưởng đáng kể, nhất là giai đoạn 2007 - 2012.
Nếu năm 2007, cả thị trường mới có hơn 11.000 POS thì đến
2012 đã lên tới hơn 104.427 POS, tăng gần 11 lần. Bên cạnh đó là
14.442 thiết bị ATM phục vụ hoạt động rút tiền thanh toán của chủ
thẻ.
Việc chia sẻ mạng lưới và đẩy mạnh kết nối liên thông hệ
thống ATM, POS cũng được tích cực thực hiện đã không chỉ góp
phần gia tăng thuận tiện cho chủ thẻ mà còn góp phần nâng cao
hiệu quả cho hoạt động thẻ của các ngân hàng thương mại
(NHTM), tiết kiệm chi phí đầu tư cho mỗi ngân hàng và cho toàn
xã hội.
4.2. Hạn chế trong hoạt động thanh toán thẻ hiện
nay:
Tuy đạt được nhiều thành tựu như trên nhưng dịch vụ thẻ tại
Việt Nam còn nhiều biểu hiện phát triển chưa bền vững:
Thứ nhất, việc phát triển những năm vừa qua chủ yếu thiên về
số lượng chưa đi kèm với sự thay đổi căn bản về chất lượng cũng
như tăng cường giao dịch của chủ thẻ sau khi đã phát hành thẻ.
Hiện tại cả Hội thẻ và NHNN đều chưa có con số chính xác về tỷ lệ

thẻ hoạt động, tuy nhiên qua thăm dò ý kiến từ một số quản lý
lãnh đạo Trung tâm Thẻ của một số Ngân hàng điển hình thì tỷ lệ
thẻ hoạt động (lấy theo quan điểm chuyên môn là tối thiểu có một
giao dịch thanh toán/rút tiền/chuyển khoản mỗi năm) chung của
các ngân hàng rơi vào khoảng từ 60 - 71%, tùy từng ngân hàng và
từng loại thẻ, trong đó thẻ tín dụng thường có tỷ lệ hoạt động cao
25

×