Tải bản đầy đủ (.doc) (56 trang)

Một số vấn đề về kế toán cho vay tại Ngân hàng đầu tư và phát triển (BIDV) tỉnh Phú Thọ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (264.86 KB, 56 trang )


Lời mở đầu
Đất nuớc ta đang trong giai đoạn đầu của công cuộc công nghiệp hoá, hiện
đại hoá nên vấn đề vốn đáp ứng nhu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá là một vấn
đề cực kỳ quan trọng và cấp bách trong hiện tại và nhiều năm tới . Tạo vốn và sử
dụng vốn có hiệu quả là những vấn đề đang đợc chính phủ và ngành ngân hàng
đặc biệt quan tâm. Trong những năm qua hoà nhập với công cuộc xây dựng và
phát triển kinh tế đất nớc, ngành Ngân Hàng đã có những bớc tiến nổi bật, chuyển
biến cả về chất và lợng trong mọi mặt hoạt động. Ngân hàng Việt nam có khả
năng tranh thủ mọi cơ hội và bằng nỗ lực chủ quan luôn vơn tới để đủ sức đơng
đầu với những thử thách mới trong sự nghiệp phát triển đất nớc ngày nay, bản thân
Ngân hàng đang từng ngày từng giờ thực sự tạo ra những chuyển biến mới góp
phần không nhỏ vào công cuộc đổi mới đất nớc. Thành công nổi bật nhất của
Ngân hàng trong thời gian qua là đã cùng các ngành, các cấp kiềm chế đợc lạm
phát ở mức cho phép, từng bớc ổn định tiền tệ và góp phần thúc đẩy tăng trởng
kinh tế. Một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến thành công trên là do
ngành ngân hàng đã từng bớc hiện đại hoá công nghệ ngân hàng, đa dạng hoá các
loại hình tín dụng mà mũi nhọn là đáp ứng nhanh chóng, đầy đủ, kịp thời nhu cầu
về vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh đầu t phát triển cho toàn bộ nền kinh tế.
Trong những năm gần đây tín dụng ngân hàng đã gặt hái đợc nhiều kết quả đáng
khích lệ đã đầu t đúng hớng, đúng nơi, đúng chỗ không những đảm bảo an toàn
đồng vốn, có lợi nhuận mà còn tạo điều kiện cho tất cả các thành phần kinh tế
cùng phát triển. Các hình thức tín dụng ngày càng đa dạng, phong phú từng bớc
đáp ứng đợc yêu cầu ngày càng cao của khách hàng.
Nh chúng ta đã biết nguồn vốn chủ yếu cho nền kinh tế là do ngành ngân
hàng đảm nhận. Bằng một loạt các hình thức huy động vốn ngân hàng đã tập trung
về tay mình một lợng vốn lớn và từ đó phục vụ lại nền kinh tế thông qua các hoạt
động cho vay. Ta có thể hình dung, vốn là một dòng chảy, dòng chảy lu thông
không bị ách tắc ở cuối dòng, ở đầu ra (khâu sử dụng vốn) thì mọi nguồn vốn
chảy vào thuận lợi (Huy động vốn) và ngợc lại một khi đầu ra bị ách tắc (sử dụng
không hết hoặc không có hiệu quả) thì dòng chảy bị ngừng trệ, ứ đọng và cuối


cùng sẽ đổi chiều. Qua đó ta thấy rằng hoạt động cho vay của các ngân hàng th-
Trang 1

ơng mại có tầm quan trọng nh thế nào trong việc tạo vốn và sử dụng vốn có hiệu
quả. Thực tế hiện nay hoạt động tín dụng chiếm tới 80% hoạt động kinh doanh của
ngân hàng thơng mại và cũng chính vì vậy mà công việc của kế toán cho vay rất
nặng nề và phức tạp, nó chiếm một phần lớn công việc trong phòng kế toán. Tuy
nhiên bên cạnh những thành quả đã đạt đợc thì hiện nay tín dụng ngân hàng nói
chung và nghiệp kế toán cho vay vẫn còn một số tồn tại cần đợc nghiên cứu và tìm
ra biện pháp khắc phục.
Trong thời gian làm việc tại Ngân hàng Đầu t và Phát triển tỉnh Phú Thọ và
những năm học kết hợp giữa học và hành tôi đã lựa chọn đề tài Một số vấn đề về
kế toán cho vay tại Ngân hàng Đầu t và Phát triển tỉnh Phú Thọ Với thời gian
làm việc và học tập tại trờng do nhận thức và trình độ còn hạn chế khoá luận của
tôi không tránh khỏi những khiếm khuyết, rất mong đợc sự giúp đỡ của Thầy cô
giáo để những nhận thức và khoá luận của tôi đợc hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy (cô) giáo đã dìu dắt hớng dẫn tôi trong
suốt thời gian học tập và viết khoá luận. Tôi xin cảm ơn ban lãnh đạo Ngân hàng
đầu t và phát triển tỉnh Phú Thọ nơi tôi công tác và thực tập đã giúp tôi hoàn thành
khoá luận.
Trang 2

ChƯơng I
Tín dụng ngân hàng
trong việc phục vụ phát triển kinh tế
Vai trò nhiệm vụ của kế toán cho vay
I. Vai trò của tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế quốc dân.
1. Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với sự nghiệp phát triển kinh tế:
Tín dụng là một phạm trù kinh tế nẩy sinh trong điều kiện nền sản suất
hàng hoá. Sự ra đời và phát triển của tín dụng không chỉ nhằm thoả mãn nhu cầu

điều hoà vốn trong xã hội mà còn là động lực thúc đẩy sự tăng trởng của một nớc.
Theo nội dung kinh tế, tín dụng thực chất là một quan hệ phân phối hình
thức giá trị, tín dụng biểu hiện một hình thái vận động đặc biệt của nguồn tài
chính, sự vận động này đợc thực hiện theo một chu kỳ khép kín mang tính quy
luật. Nói một cách khác Tín dụng là quan hệ kinh tế về sử dụng vốn tạm thời
giữa ngời cho vay và ngời đi vay theo nguyên tắc có hoàn trả dựa trên sự tín
nhiệm nhờ có tín dụng mà nguồn tài chính đã luân chuyển sang nền kinh tế quốc
dân từ chủ thể này sang chủ thể khác nhằm thoả mãn nhu cầu phát triển kinh tế xã
hội.
Vai trò của tín dụng đối với sản xuất và sự tăng trởng kinh tế ở mọi quốc
gia trên thế giới là không thể phủ nhận đợc. Đặc biệt tính chất cạnh tranh vốn của
nền kinh tế thị trờng luôn tạo ra xu hớng đa dạng hoá các loại hình tín dụng . Với
mục đích sử dụng tín dụng nh là một công cụ khai thác và động viên có hiệu quả
nhất những lợng tiền tệ tạm thời nhàn rỗi, phù hợp với quá trình vận động của vốn
tiền tệ trong xã hội thì tín dụng ngân hàng là tiến bộ nhất, có vai trò quan trong
nhất.
Tín dụng ngân hàng đợc hình thành từ rất sớm ngay từ khi hình thành các
ngân hàng thơng mại. Trong thời kỳ này các ngân hàng thơng mại đã luôn tìm
kiếm các cơ hội để tiến hành cho vay coi đó nh là một nhu cầu chủ yếu trong việc
duy trì và mở rộng hoạt đông của mình. Trên góc độ kinh tế học Tín dụng đợc
Trang 3

hiểu là quan hệ kinh tế về sử dụng vốn tạm thời giữa ngân hàng (với t cách là ng-
ời đi vay) theo nguyên tắc hoàn trả dựa trên cơ sở sự tín nhiệm nhằm thoả mãn
nhu cầu về vốn các doanh nghiệp và các cá nhân trong kinh doanh Vai trò của
tín dụng ngân hàng trong việc phục vụ phát triển kinh tế nh sau:
1.1. Tín dụng ngân hàng là chiếc cầu nối giữa cung và cầu về vốn từ đó
góp phần đầu t phát triển kinh tế .
Trong xã hội luôn hình thành các nguồn tiền nhàn rỗi tại các chủ thể khác
nhau, những ngời sở hữu các nguồn tiền này luôn mong muốn nó vận động để sinh

lời do vậy họ nẩy sinh ý định cho vay làm hình thành nên khả năng cung ứng về
vốn tín dụng. Mặt khác trong xã hội luôn có những ngời có nhu cầu sử dụng tiền
vợt quá khả năng vốn hiện có của họ làm nảy sinh ý định đi vay hình thành nên
cầu về vốn tín dụng.
Hoạt động tín dụng của các ngân hàng thơng mại đã thoả mãn đợc những lo
lắng của ngời có vốn và đáp ứng đợc nhu cầu của ngời cần vốn có nghĩa là các
ngân hàng thơng mại đứng ra làm trung gian nhận tiền gửi từ tất cả các thành phần
kinh tế và cho vay lại các đơn vị cá nhân trong nền kinh tế hay nói cách khác: Tín
dụng ngân hàng là cầu nối để những ngời có vốn và những ngời cần vốn gặp nhau.
Qua hoạt động này tín dụng ngân hàng đã góp phần cung ứng và điều hoà
vốn trong từng doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế, tạo cho quá trình sản xuất đợc
tiến hành một cách trôi chảy, đã đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn cố định, vốn lu
động, bổ xung tăng cờng củng cố tài sản cố định làm cho quá trình sản xuất đợc
tuần hoàn, thúc đẩy sản xuất lu thông, tăng tốc độ chu chuyển vốn tiền tệ trong xã
hội, góp phần thúc đẩy quá trình tái sản xuất mở rộng.
1.2. Tín dụng góp phần thúc đẩy quá trình tập trung vốn và phục vụ sản
xuất kinh doanh:
Bằng các hình thức huy động vốn ngày càng đa dạng và phong phú cùng với
việc thoả mãn thích đáng nhu cầu lợi ích, nhu cầu cần tiền đột xuất của ngời gửi
tiền mà các ngân hàng thơng mại đã thu hút đợc tất cả các nguồn tiền nhàn rỗi dù
là nhỏ nhất từ trong dân chúng tập trung về tay mình và từ đó đáp ứng đựợc nhu
cầu về vốn ngày càng tăng của nền kinh tế hay nói cách khác hoạt động của tín
Trang 4

dụng đã làm nhiệm vụ thông dòng để vốn chảy từ nơi thừa đến nơi thiếu thông qua
việc thực hiện hoạt động đi vay và cho vay
Thông qua công tác tín dụng các ngân hàng thơng mại đã và đang thực hiện
chức năng xã hội của mình, làm cho sản phẩm xã hội đợc tăng lên, vốn đầu t đợc
mở rộng, và từ đó góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế
Việc đáp ứng phần lớn nhu cầu vốn vay của nền kinh tế, tín dụng ngân hàng

là kênh quan trọng nhất chuyên cung ứng vốn và giúp các doanh nghiệp khai thác
có hiệu quả kinh tế, kỹ thuật lao động của mình. Quá trình đầu t tín dụng không
phải rải đều cho mọi chủ thể có nhu cầu đầu t đợc tập trung cho doanh nghiệp lớn
kinh doanh có hiệu quả. Đầu t tập trung là tất yếu trên cơ sở đảm bảo các điều
kiện tín dụng sẽ tránh đợc rủi ro và thúc đẩy tăng trởng kinh tế
1.3. Tín dụng Ngân hàng tạo điều kiện để phát triển quan hệ kinh tế với
các n ớc:
Trong quan hệ kinh tế đối ngoại, tín dụng ngân hàng góp phần trong sự phát
triển quan hệ nớc ta với các nớc bạn. Một mặt tín dụng ngân hàng trực tiếp tham
gia trong các quan hệ thanh toán quốc tế , mặt khác tín dụng ngân hàng đã tham
gia trực tiếp trong hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá
Ngân hàng nhận các nguồn vốn tài trợ từ các nớc cấp tín dụng cũng nh các
tổ chức tín dụng Quốc tế đem cho vay tài trợ các hoạt động sản xuất, xuất nhập
khẩu, đầu t chiều sâu, đổi mới cộng nghệ và ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản
xuất trong nớc thúc đẩy sản xuất trong nớc nhằm phục vụ tốt cho hoạt động xuất
nhập khẩu, góp phần tăng trởng kinh tế
Nh vậy thông qua các hoạt động của mình, tín dụng ngân hàng đã góp một
phần không nhỏ trong công cuộc đổi mới và chuyển biến nền kinh tế đất nớc .
2. Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với các đơn vị sản xuất kinh
doanh:
Doanh nghiệp ngân hàng cũng nh mọi doanh nghiệp khác hoạt động trên thị
trờng đều cần có khách hàng, nó đóng vai trò quan trọng trong sự tồn tại và phát
triển hoạt động của mọi doanh nghiệp trên thị trờng. Đối với ngân hàng, khách
hàng gữi vai trò quyết định sự tồn tại và phát triển của ngân hàng, khi khách hàng
Trang 5

của ngân hàng hoạt động có hiệu quả phát triển tốt thì ngân hàng sẽ có điều kiện
để mở rộng quy mô và chất lợng kinh doanh của mình và ngợc lại. Do đó hoạt
động ngân hàng luôn luôn phải gắn chặt vào hoạt động của các doanh nghiệp
nhằm thoả mãn cao nhất các mong muốn của khách hàng, hơn nữa khách hàng

còn là ngời cung cấp vốn để ngân hàng kinh doanh, vì vậy ngân hàng vừa phải thu
hút khách hàng để củng cố đầu vào, vừa phải thu hút khách hàng để củng cố đầu
ra
Trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trờng ở nớc ta, các doanh
nghiệp có một vị trí, vai trò hết sức quan trọng, nó là điều kiện đảm bảo những cân
đối chủ yếu cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Tuy nhiên một vấn đề khó khăn lớn
nhất hiện nay đối với các doanh nghiệp là thiếu vốn kinh doanh. Họ giải quyết
bằng con đờng nào là tối u nhất? Vốn tín dụng có vai trò nh thế nào đối với sự
phát triển của doanh nghiệp?
2.1. Tín dụng ngân hàng đảm bảo cho hoạt động của các doanh nghiệp đ -
ợc liên tục:
Trong một nền kinh tế nhu cầu về tín dụng thờng xuyên phát sinh do các
doanh nghiệp luôn tìm cách phát triển, mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ, đổi
mới các phơng tiện vận chuyển, tin học kỹ thuật...đặc biệt đối với nền kinh tế Việt
nam hiện nay, nhu cầu về vốn rất lớn trong lúc các nhà kinh doanh cha tích luỹ đ-
ợc nhiều, cha có thời gian để tích luỹ vốn, tâm lý đầu t trực tiếp của công chúng
vào các doanh nghiệp còn rất hạn chế. Do vậy đầu t trực tiếp vào các doanh nghiệp
mới chủ yếu dựa vào vốn tự có của các nhà kinh doanh và bộ phận chủ yếu còn lại
phải nhờ vào vốn của hệ thống ngân hàng. Vốn tín dụng tạo điều kiện cho các
doanh nghiệp đầu t xây dựng cơ bản, mua sắm máy móc thiết bị, cải tiến kỹ thuật,
mở rộng sản xuất, bù đắp các khoản chi phí sản xuất kinh doanh... có vốn các
doanh nghiệp sẽ mua đợc nguyên nhiên vật liệu để xây dựng nhà máy, thuê đợc
lao động, mua đợc bản quyền phát minh sáng chế, bí quyết công nghệ... từ đó góp
phần thúc đẩy và tạo điều kiện cho quá trình sản xuất đợc liên tục phát triển.
2.2. Tín dụng ngân hàng nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh
nghiệp:
Trang 6

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, các thành phần kinh tế, các loại hình
danh nghiệp ngày càng phát triển đa dạng, chính điều này đã đòi hỏi sức vơn lên

của từng doanh nghiệp bởi khi đã có rất nhiều các doanh nghiệp cùng tham gia
vào một thị trờng thì cạnh tranh là qui luật tất yếu của kinh tế thị trờng sẽ xẩy ra.
Đối với các doanh nghiệp lớn có nhiều u thế trong hoạt động sản xuất kinh doanh
thờng đợc u tiên cấp tín dụng, thậm chí có những u đãi hơn hẳn các doanh nghiệp
nhỏ kém u thế. Do đó với nguồn vốn tín dụng rồi rào tạo điều kiện thuận cho các
doanh nghiệp lớn mở rộng qui mô sản xuất kinh doanh tăng cờng áp dụng khoa
học kỹ thuật hiện đại nên càng đứng vững trong cạnh tranh với các doanh nghiệp
khác. Các doanh nghiệp vì phải cạnh tranh nhau nên sẽ tạo ra những sản phẩm
hàng hoá có chất lợng cao hợp thị hiếu mọi ngời và cuối cùng là tạo cho ngời tiêu
dùng tâm lý yên tâm, tin tởng vào chất lợng hàng hoá tạo ra sự công bằng giữa ng-
ời tiêu dùng và ngời sản xuất.
2.3. Tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy củng cố chế độ hạch toán
kinh tế:
Đặc trng cơ bản của tín dụng là sự vận động trên cơ sở hoàn trả và có lợi tức
(gốc + lãi) hoạt động của doanh nghiệp tuần hoàn vốn theo chu kỳ sản suất. Khi đi
vào sản xuất hoặc mua hàng hoá dự trữ thì cần nhiều vốn. Khi tiêu thụ lại d vốn
trên tài khoản tiền gửi tại ngân hàng thơng mại. Ngân hàng thơng mại sử dụng vốn
của doanh nghiệp khi họ có vốn nhàn rỗi và cho vay khi họ cần vốn sản xuất kinh
doanh. Nhờ vậy mà hoạt động của tín dụng ngân hàng đã kích thích các doanh
nghiệp sử dụng vốn có hiệu qủa.
Khi sử dụng vốn vay của ngân hàng doanh nghiệp phải tôn trọng mọi điều
kiện ghi trên hợp động tín dụng trả nợ vay đúng hạn cả gốc và lãi. Bằng các hoạt
động nh vậy đã kích thích doanh nghiệp quan tâm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ,
giảm chi phí sản xuất, tăng vòng quay vốn tạo điều kiện nâng cao doanh lợi cho
doanh nghiệp. Ngoài đặc điểm cơ bản nêu trên thông qua cho vay vốn tín dụng đ-
ợc cung cấp kịp thời tạo điều kiện thuận lợi chi sản xuất kinh doanh và ngời cho
vay còn kiểm soát hoạt động kinh tế đối với các doanh nghiệp vay vốn làm cho
ngời vay vốn có ý thức ngày một hoàn thiện hơn việc quản lý hợp đồng vốn thông
qua quá trình hạch toán kinh tế, góp phần củng cố chế độ hạch toán kinh tế thêm
vững chắc.

Trang 7

II. Nhiệm vụ của kế toán trong việc cấp tín dụng.
Kế toán là công việc tính toán, ghi chép bằng con số biểu hiện bằng giá trị
tiền tệ tất cả các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong các cơ quan, xí nghiệp.
Hạch toán kế toán là khoa học quản lý, nghiên cứu quá trình tái sản xuất xã
hội. Để quản lý tốt nền kinh tế đa đất nớc phát triển đúng mục tiêu của Đảng nhà
nớc đề ra sao cho phù hợp với qui luật kinh tế trong bất kỳ hoàn cảnh nào chúng ta
đều phải thực hiện tốt. Về góc độ kinh tế mọi hoạt động phải dựa trên cơ sở thực
hiện chế độ hạch toán kinh tế . Một doanh nghiệp phát triển tốt sản xuất kinh
doanh đơn vị phải duy trì hình thức tiền tệ để hạch toán các hoạt động kinh doanh
của mình. Có nh vậy doanh nghiệp đạt hiệu quả cao, đứng vững trong cơ chế thị tr-
ờng.
Điều này đợc khẳng định thông qua Điều lệ tổ chức kế toán nhà nớc ban
hành kèm theo Nghị định số 25/HĐBT ngày 18-03-1989 của Hội đồng Bộ trởng
đã nêu rõ: ...Kế toán là công cụ quan trong để tính toán xây dựng kiểm tra việc
chấp hành ngân sách nhà nớc để điều hành và quản lý nền kinh tế quốc dân.
Đối với các tổ chức xí nghiệp kế toán là công cụ quan trọng để điều hành quản
lý các hoạt động tính toán kinh tế và kiểm tra bảo vệ sử dụng tài sản , vật t tiền
vốn nhằm đảm bảo quyền chủ động trong sản xuất kinh doanh và tự chủ tài
chính của doanh nghiệp .
Nghiên cứu các hoạt động của ngân hàng, đặc biệt là hoạt động tín dụng
chúng ta thấy rõ tầm quan trọng của kế toán ngân hàng nói chung và kế toán cho
vay nói riêng trong các mặt hoạt động đó.
1. Nhiệm vụ của kế toán ngân hàng :
Kế toán ngân hàng ghi nhận, phản ánh chính xác, đầy đủ kịp thời các
nghiệp vụ kinh tế phát sinh theo đúng pháp lệnh kế toán thống kê của nhà nớc và
các thể lệ chế độ kế toán ngân hàng. Trên cơ sở đó để bảo vệ an toàn tài sản của
bản thân ngân hàng cũng nh tài sản của toàn xã hội bảo quản tại ngân hàng.
Phân loại nghiệp vụ tổng hợp số liệu theo đúng phơng pháp kế toán và theo

những chỉ tiêu nhất định nhằm cung cấp thông tin một cách đầy đủ , chính sách
Trang 8

kịp thời phục vụ quá trình lãnh đạo , thực thi chính sách quản lý và chỉ đạo hoạt
động kinh doanh của ngân hàng .
Giám sát quá trình sử dụng tài sản (vốn) nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng
các loại tài sản thông qua kiểm soát trớc (tiền kiểm) các nghiệp vụ bên nợ và bên
có ở từng đơn vị ngân hàng cũng nh toàn bộ hệ thống góp phần tăng cờng kỷ luật
tài chính, củng cố chế độ hạch toán kinh tế trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Tổ chức giao dịch phục vụ khách hàng một cách khoa học văn minh, giúp
đỡ khách hàng nắm đợc những nội dung cơ bản của kỹ thuật nghiệp vụ ngân hàng
nói chung và kỹ thuật nghiệp vụ kế toán nói riêng góp phần thực hiện chiến lợc
khách hàng của ngân hàng.
2. Nhiệm vụ của kế toán cho vay trong việc cấp tín dụng:
Kế toán cho vay là công việc tính toán ghi chép bằng con số tất cả các
khoản vay, thu nợ thuộc nghiệp vụ tín dụng ngân hàng. Cùng với nghiệp vụ kế
toán ngân hàng kế toán cho vay tham gia trực tiếp vào quá trình hoạt động nguồn
vốn và sử dụng vốn nhằm giúp các hoạt động đó thực hiện chính xác kịp thời, đầy
đủ . Nội dung đó đặt ra cho kế toán cho vay có những nhiệm vụ cơ bản sau:
Kế toán cho vay thực hiện việc ghi chép đầy đủ, kịp thời các nghiệp vụ phát
sinh trong quá trình cho vay thu nợ của ngân hàng. Bảo vệ an toàn vốn ngân hàng
đầu t vào các ngành kinh tế
Tính và thu lãi cho vay đầu t, chính xác để đảm bảo thu nhập
Quản lý toàn bộ hồ sơ cho vay, hợp đồng tín dụng quản lý các khoản vay
đem lại hiệu quả cao của mỗi món vay. Từ đó tạo hình ảnh đẹp cho ngân hàng nói
riêng, toàn bộ nền kinh tế nói chung.Kế toán cho vay đã tạo cho ngân hàng những
nguồn thu nhập lớn trên cở đó ngân hàng thực hiện đợc chức năng kinh doanh và
cung ứng vốn cho nền kinh tế.
Với vai trò quan trọng, hệ thống ngân hàng phải hoàn thiện hơn nũa để đáp
ứng đòi hỏi ngày càng cao của nền kinh tế.

III. Các phơng thức và tài khoản kế toán cho vay:
1. Phơng thức cho vay:
Trang 9

Hiện nay các tổ chức tín dụng áp dụng các phơng thức cho vay theo quyết
định số 284/QĐ-NHNN ngày 25/8/2000 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nớc Việt
Nam.
Trên cơ sở nhu cầu sử dụng của từng khoản vốn vay của khách hàng và khả
năng kiểm tra, giám sát việc khách hàng sử dụng vốn của tổ chức tín dụng, tổ chức
tín dụng thoả thuận với khách hàng về việc lựa chọn phơng án cho vay theo một
trong các phơng thức cho vay sau:
1.1. Cho vay từng lần: Mỗi lần vay khách hàng và tổ chức tín dụng làm thủ tục
vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng.
1.2. Cho vay theo hạn mức tín dụng: Tổ chức tín dụng và khách hàng xác định
và thoả thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một thời hạn nhất định hoặc theo
chu kỳ sản xuất kinh doanh.
1.3. Cho vay theo dự án đầu t: Tổ chức tín dụng cho khách hàng vay vốn để
thực hiện các dự án đầu t phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án đầu
t phục vụ đời sống.
1.4. Cho vay hợp vốn: Một nhóm tổ chức tín dụng cùng cho vay đối với một dự
án vay vốn hoặc phơng án vay vốn của khách hàng ; trong đó, có một tổ chức tín
dụng làm đầu mối dần xếp, phối hợp với các tổ chức tín dụng khác.
1.5. Cho vay trả góp: Khi vay vốn, tổ chức tín dụng và khách hàng xác định và
thoả thuận số tiền lãi vay phải trả cộng với số nợ gốc đợc chia ra để trả nợ theo kỳ
hạn nợ trong thời hạn cho vay
1.6. Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng : Tổ chức tín dụng cam kết đảm
bảo sẵn sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng nhất định.
Tổ chức tín dụng và khách hàng thoả thuận thời hạn hiệu lực của hạn mức tín dụng
dự phòng, mức phí trả cho hạn mức tín dụng dự phòng.
1.7. Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng: Tổ chức

tín dụng chấp thuận cho khách hàng đợc sử dụng số vốn vay trong phạm vi hạn
mức tín dụng để thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ và rút tiền mặt tại máy rút
tiền tự động hoặc điểm ứng tiền mặt là đại lý của tổ chức tín dụng. Khi cho vay
phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, tổ chức tín dụng và khách hàng phải tuân theo
Trang 10

các quy định của chính phủ và Ngân hàng nhà nớc về phát hành và sử dụng thẻ tín
dụng.
Quan hệ tín dụng giữa ngân hàng với các tổ chức kinh tế, t nhân cá thể bao
gồm tín dụng ngắn hạn, tín dụng trung hạn, tín dụng dài hạn.
Tín dụng ngắn hạn nhằm bổ xung vốn lu động cho các đợn vị, cá nhân có
đủ vốn để thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh. Tín dụng trung hạn, dài hạn
nhằm cung cấp vốn đầu t cơ bản hoặc cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng lực sản xuất
của các tổ chức kinh doanh. Mỗi loại tín dụng có một nội dung kinh tế và yêu cầu
nghiệp vụ kỹ thuật riêng, theo đó việc tổ chức hạch toán kế toán cho vay cũng đòi
hỏi phải có kỹ thuật nghiệp vụ thích hợp.
Trong đề tài này chỉ nghiên cứu về kế toán cho vay ngắn hạn (cho vay bổ
xung vốn lu động) đối với các tổ chức kinh tế và cá thể có nhiều phơng thức cho
vay nhng hiện nay các ngân hàng thơng mại chủ yếu áp dụng hai phơng thức cho
vay. Phơng thức cho vay từng lần (cho vay theo món) và phơng thức cho vay theo
hạn mức tín dụng.
Phơng thức cho vay là một nội dung quan trọng thuộc kỹ thuật cung ứng
vốn tín dụng đối với các tổ chức kinh tế, khi xác định đợc phơng thức cho vay
thích hợp với một tổ chức kinh tế sẽ tạo điều kiện tốt nhất để thực hiện các nghiệp
vụ tín dụng, gắn sự vận động của tín dụng với sự vận động của đối tợng vay vốn.
Tuỳ mỗi phơng thức cho vay mà ngời ta có cách áp dụng từng loại tài khoản phản
ánh nghiệp vụ cho vay riêng để theo dõi các món vay. Tài khoản này thuộc tài sản
có của ngân hàng, nó dùng để ghi chép, phản ánh toàn bộ số tiền mà ngân hàng đã
cho vay đối với ngời đi vay đồng thời cũng ghi chép, phản ánh số tiền mà ngời đi
vay đã trả nợ ngân hàng theo những kỳ hạn nhất định.

Việc bố trí các tài khoản cho vay trong hệ thống tài khoản kế toán ngân
hàng nh thế nào là tuỳ thuộc vào yêu cầu của việc chỉ đạo hoạt động tín dụng của
ngân hàng phục vụ nền kinh tế từng thời kỳ và yêu cầu bảo vệ an toàn tài sản của
ngân hàng.
Khi các đơn vị, tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp cá nhân có đủ điều kiện
vay vốn ngân hàng và đợc ngân hàng cho vay thì kế toán ngân hàng sẽ mở cho
Trang 11

mỗi ngời vay một tài khoản vay thích hợp ứng với hai phơng thức cho vay, sử dụng
hai loại tài khoản cho vay.
a) Phơng thức cho vay từng lần (cho vay theo món):
Phơng thức cho vay từng lần là phơng thức cho vay để bổ xung nhu cầu vốn
lu động thiếu hụt trong sản xuất đợc áp dụng đối với những khách hàng sản xuất
kinh doanh không ổn định, nhu cầu vay trả không thờng xuyên (sản xuất kinh
doanh mang tính thời vụ) có nhu cầu đề nghị vay vốn từng lần, không có tín nhiệm
cao với Ngân hàng trong quan hệ tín dụng để từ đó Ngân hàng căn cứ vào từng đề
án, từng kế hoạch, từng hoạt động king doanh cụ thể của ngời vay mà cho vay.
Tuỳ theo đặc điểm sản xuất kinh doanh, đặc điểm luân chuyển vốn của từng khách
hàng mà Ngân hàng có thể cho vay theo kế hoạch hoặc không theo kế hoạch.
Đối với những khách hàng đợc Ngân hàng cho vay theo kế hoạch là những
khách hàng có nhu cầu vay vốn tơng đối thờng xuyên, có tín nhiệm tơng đối với
Ngân hàng và đặc biệt có thể lập đợc kế hoạch sản xuất kinh doanh và kế hoạch
vay vốn .
Quy trình xét duyệt cho vay
Thông thờng trớc duyệt kế hoạch (quý, mùa, vụ,năm ) khoảng 15 ngày
khách hàng phải lập kế hoạch vay vốn gửi tới ngân hàng, đồng thời phải gửi cho
Ngân hàng các tài liệu:
Đối với khách hàng là doanh nghiệp: Những tài liệu liên quan đến việc
thuyết minh về tình hình tài chính của doanh nghiệp (bảng tổng kết tài sản, báo
cáo chi tiết về lãi, về lỗ, công nợ...) những tài liệu liên quan đến việc thuyết minh

về kế hoach vay vốn, hợp đồng mua sắm tài sản. Những tài liệu liên quan đến tài
sản tín dụng
Đối với khách hàng là cá nhân thì phải có đầy đủ năng lực pháp lý và năng
lực hành vi.
Khái quát quy trình cho vay:
Trong kỳ mỗi khi phát sinh nhu cầu vay vốn để thanh toán tiền mua vật t
hàng hoá và trang trải những nhu cầu tài chính khách hàng phải làm giấy đề nghi
Trang 12

vay vốn gửi tới Ngân hàng cùng các chứng từ thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ.
Cán bộ tín dụng phải tiến hành thẩm định lại và đối chiếu với các quy định trong
cho vay. Ngân hàng sẽ giải quyết cho vay nếu nhu cầu vay vốn đó hợp lệ và còn
mức cho vay.
Mỗi món vay Ngân hàng phải xác định thời hạn cho vay, thời hạn đó phải
đợc ghi trong hợp đồng tín dụng.
Về thu nợ:
Đến hạn trả ngời vay thực hiện bằng 2 cách:
Khách hàng cố thể chủ động trả nợ bằng cách nộp tiền mặt hoặc ngân
phiếu thanh toán vào Ngân hàng.
Khách hàng có thể chủ động đề nghị khách hàng trích tài khoản để
thu nợ.
Nếu đến hạn khách hàng không chủ động trả nợ, Ngân hàng có quyền chủ
động trích tài khoản tiền gửi của họ để thu nợ đối với khách hàng có tài khoản tiền
gửi tại Ngân hàng và phải có số d. Nếu tài khoản tiền gửi thanh toán không có tiền
thì Ngân hàng xử lý theo 2 phơng pháp là cho gia hạn nợ nếu khách hàng làm đơn
xin gia hạn nợ, giải trình lý do đợc Ngân hàng chấp nhận và thẩm định đúng thì
Ngân hàng cho ra hạn nợ, nếu không thì Ngân hàng sẽ chuyển món nợ đó sang tài
khoản nợ quá hạn
b) Phơng thức cho vay theo hạn mức tín dụng:
Là phơng thức cho vay mà việc cho vay và thu nợ gắn liền với việ luân

chuyển vốn của Ngân hàng. Ngân hàng cho vay khi khách hàng phát sinh nhu cầu
vay vốn và thu nợ khi khách hàng có thu nhập
Để quản lý chỉ đạo cho vay theo kế hoạch Ngân hàng thờng xác định cho
khách hàng một hạn mức tín dụng đó chính là mức d nợ tối đa trên tài khoản vay
Ngân hàng thờng áp dụng phơng thức cho vay này đối với những khách
hàng thoả mãn điều kiện: Sản xuất kinh doanh ổn định, nhu cầu vay trả thờng
xuyên, vòng quay vốn lu động và vòng quay vốn tín dụng thông thờng lớn hơn
Trang 13

hoặc bằng 3 vòng/quý, có tín nhiệm cao trong quan hệ tín dụng với Ngân hàng đợc
biểu hiện trong quan hệ vay trả sòng phẳng
Lập xét duyệt kế hoạch cho vay:
Thông thờng trớc kỳ kế hoạch 15 ngày khách hàng phải làm đơn xin vay lập
kế hoạch vay vốn cho kỳ kế hoạch gửi tới Ngân hàng cùng các tài liệu theo yêu
cầu Ngân hàng nh kế hoạch phơng án sản xuất
Do tính chất, đặc điểm và yêu cầu của loại vay này, nên hiện nay các Ngân
hàng thơng mại chủ yếu áp dụng hình thức cho vay từng lần mà không áp dụng
nhiều hình thức cho vay theo hạn mức tín dụng. Nhất là trong điều kiện kinh tế n-
ớc ta vừa bớc sang nền kinh tế thị trờng còn gặp nhiều khó khăn kể cả t liệu sản
xuất kinh doanh, trình độ quản lý và nguồn tài nguyên nên các doanh nghiệp sản
xuất kinh doanh cha ổn định do đó không đủ khả năng để thoả mãn các điều kiện
mà phơng thức cho vay theo hạn mức tín dụng đa ra.
2. Chứng từ và tài khoản phản ánh nghiệp vụ cho vay:
2.1. Chứng từ kế toán cho vay:
Chứng từ dùng trong kế toán cho vay là những loại giấy tờ đảm bảo về mặt
pháp lý các khoản cho vay của ngân hàng. Mọi sự tranh chấp về các khoản cho
vay hay trả nợ đều đợc giải quyết trên cơ sở các chứng từ kế toán cho vay. Chứng
từ kế toán cho vay đợc chia làm nhiều loại:
Chứng từ gốc gồm có: Giấy đề nghị vay vốn, hợp đồng tín dụng, giấy
nhận nợ.

Chứng từ ghi sổ là những chứng từ dùng làm căn cứ và phản ánh các
khoản cho vay vào các tài khoản cho vay nh: Giấy lĩnh tiền mặt
(Trong hợp đồng vay bằng tiền mặt),các chứng từ thanh toán không
dùng tiền mặt nh Uỷ nhiệm chi, Uỷ nhiệm thu, Séc thanh toán (trong
trờng hợp vay bằng chuyển khoản).
Đối với phơng thức cho vay theo hạn mức tín dụng khi cho vay phải ký kết
hợp đồng tín dụng tính pháp lý của các khoản vay đợc thể hiện ngay trên các
chứng từ phát tiền vay nh Uỷnhiệm chi, Uỷ nhiệm thu, Séc thanh toán...
Trang 14

Các giấy tờ trong quan hệ tín dụng đòi hỏi phải có đầy đủ tính pháp lý đợc
thể hiện trong chứng từ kế toán cho vay đó chính là các yếu tố xác định quyền chủ
thể cho vay của Ngân hàng, chỉ rõ ngời chịu trách nhiệm nhận nợ và ngời cam kết
trả nợ gốc và lãi theo đúng hạn mà hợp đồng tín dụng đã đợc Ngân hàng và ngời
vay ký. Việc lu giữ các giấy tờ trong sản xuất kinh doanh, hợp đồng mua bán hàng
hoá, bảng tổng kết tài sản, báo cáo tài chính...
Sau khi nhận đợc hồ sơ vay vốn của khách hàng thì Ngân hàng phải tiến
hành thẩm định về tính khả thi của dự án, t cách pháp nhân của ngời vay vốn, tình
hình sản xuất kinh doanh... Trên cơ sở thẩm định đó Ngân hàng cùng khách hàng
tính toán nhu cầu vay vốn của kỳ kế hoạch.
Công thức xác định nhu cầu vay vốn:
Nhu cầu vay vốn
lu động kỳ kế
hoạch
=
Nhu cầu vốn lu động bình
quân cho sản xuất kinh
doanh kỳ kế hoạch
-
Vốn lu

động tự

-
Vốn
khác
Trớc khi quyết định hạn mức tín dụng Ngân hàng phải tiến hành cân đối
nguồn vốn của mình để trên cơ sở đó thoả thuận với khách hàng hạn mức tín dụng
của kỳ kế hoạch.
Sau khi xác định đợc các chỉ tiêu kế hoạch thì Ngân hàng cùng với khách
hàng ký hơp đồng tín dụng để xác định trách nhiệm giữa hai bên trong quan hệ tín
dụng của kỳ kế hoạch. Cụ thể trách nhiệm của khách hàng là phải đảm bảo vòng
quay vốn tín dụng và phải có trách nhiệm trả nợ Ngân hàng theo đúng hợp đồng
đã ký và phải tạo điều kiện cho Ngân hàng kiểm tra, kiểm soát việc sử dụng vốn
vay của mình.
Trong kỳ kế hoạch mỗi khi phát sinh nhu cầu vay vốn để thanh toán tiền
mua vật t hàng hoá và trang trải các nhu cầu tài chính khác, khách hàng phải gửi
đến Ngân hàng các chứng từ thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ. Mỗi lần vay khách
hàng phải lập giấy nhận nợ với Ngân hàng kèm theo
Bảng kê sử dụng tiền vay, cán bộ tín dụng và lãnh đạo phòng tín dụng kiểm
tra các tài liệu đó, nếu đảm bảo phù hợp với nội dung sử dụng vốn vay theo các
điều khoản đã ghi trong hợp đồng tín dụng thì ký vào giấy nhận nợ của khách
hàng.
Trang 15

Hồ sơ vay vốn của khách hàng do cán bộ kế toán cho vay lu giữ là một
trong những vấn đề quan trọng của kế toán cho vay phải thực hiện tốt.
2.2 Tài khoản phản ánh nghiệp vụ cho vay:
Tài khoản phản ánh nghiệp vụ cho vay thuộc tài sản có của Ngân hàng
(Nghiệp vụ bên có) nó dùng để ghi chép, phản ánh toàn bộ số tiền cho vay của
Ngân hàng đối với khách hàng vay. Đồng thời cũng ghi chép, phản ánh số tiền mà

khách hàng vay để trả nợ Ngân hàng theo những kỳ hạn nhất định.
Khi các đơn vị, tổ chức kinh tế quốc doanh, các doanh nghiệp t nhân, công
ty TNHH, t nhân... có đủ điều kiện vay vốn và đợc ngân hàng cho vay thì kế toán
trởng mở cho ngời vay một tài khoản thích hợp (Tài khoản cho vay).
Tài khoản cho vay có kết cấu nh sau:
Bên Nợ: Phản ánh số tiền cho vay của Ngân hàng đối với các đơn vị vay
Bên Có: Phản ánh số tiền đơn vị hoàn trả nợ Ngân hàng
Phản ánh số tiền chuyển sang Nợ quá hạn
D Nợ: Phản ánh số tiền đơn vị vay còn nợ Ngân hàng
Khi đến hạn trả nợ khách hàng phải chủ động trả nợ Ngân hàng cả gốc và
lãi theo đúng qui định, nếu khách hàng không chủ động trả nợ thì Ngân hàng có
quyền trích trên TK Tiền gửi của đơn vị để thanh toán cả gốc và lãi. Trờng hợp
trên TK Tiền gửi thanh toán của khách hàng không đủ tiền để thanh toán cho
khoản vay đó mà không đợc Ngân hàng cho gia hạn nợ thì kế toán cho vay sẽ làm
thủ tục chuyển số nợ đó sang tài khoản Nợ quá hạn và đơn vị vay phải chịu mức
lãi suất nợ quá hạn kể từ ngày chuyển sang nợ quá hạn.
Trong quan hệ tín dụng giữa ngời đi vay và ngời cho vay cụ thể là Ngân
hàng cho khách hàng vay không phải bao giờ ngời vay cũng trả nợ Ngân hàng
đúng kỳ hạn. Trờng hợp đến hạn trả nợ mà ngời vay không đủ khả năng trả nợ và
cũng không đợc Ngân hàng cho gia hạn nợ cho khoản vay đó thì số nợ đó phải
chuyển sang TK Nợ quá hạn để kế toán cho vay theo dõi và tính mức lãi suất cao
hơn mức lãi suất bình thờng.
Kết cấu tài khoản Nợ quá hạn:
Trang 16

Bên Nợ: Phản ánh số tiền cho vay đã quá hạn từ TK cho vay trong hạn
chuyển sang
Bên Có: Phản ánh số tiền thu nợ quá hạn hoặc số tiền đợc điều chỉnh
lại sang TK cho vay trong hạn.
D nợ: Phản ánh số nợ quá hạn mà đơn vị cha trả Ngân hàng

Các TK cho vay, Nợ quá hạn đều đợc mở cho từng loại vay (ngắn hạn, trung
hạn, dài hạn) và theo từng đơn vị vay để theo dõi.
IV. Quy trình kế toán cho vay và thu nợ:
1. Qui trình kế toán cho vay, thu nợ đối với hình thức tài khoản cho vay
từng lần:
1.1. Kế toán giai đoạn cho vay:
Mỗi lần vay tiền ngời vay phải làm giấy đề nghị vay vốn gửi tới Ngân hàng
để Ngân hàng xem xét quyết định việc cho vay. Nếu đợc Ngân hàng duyệt cho
vay thì ngời vay sẽ tiến hành lập Hợp đồng Tín dụng và giấy nhận nợ để chính
thức nhận tiền vay.
Sau khi ngời vay hoàn thành các thủ tục giấy tờ xin vay theo đúng qui định
sẽ tiến hành lập các chứng từ kế toán để nhận tiền vay. Căn cứ vào chứng từ kế
toán hạch toán:
Nợ: TK cho vay của ngời vay
Có: TK tiền mặt (nếu cho vay bằng tiền mặt)
TK ngân phiếu (nếu cho vay bằng Ngân phiếu)
TK tiền gửi của ngời thụ hởng (nếu cho vay bằng chuyển khoản)
TK thanh toán qua lại giữa các Ngân hàng (nếu ngời thụ hởng có
TK ở Ngân hàng khác)
Riêng các món vay có giá trị Tài sản thế chấp, cầm cố, bảo lãnh trong từng
lần thực hiện kế toán ghi nhập ngoại bảng Tài sản thế chấp cầm cố.
Trang 17

Sổ chi tiết TK cho vay của từng đơn vị do kế toán viên giữ và theo dõi. Hợp
đồng tín dụng cùng các loại giấy tờ khác sẽ đợc lu trong hồ sơ vay vốn của ngời
vay để tiện theo dõi và thu hồi nợ. Hợp đồng tín dụng trong hồ sơ vay vốn phải đ-
ợc sắp xếp một cách khoa học nhằm theo dõi chặt chẽ kỳ hạn trả nợ, để thu nợ kịp
thời khi khoản vay đã đến hạn.
1.2. Kế toán giai đoạn thu nợ, thu lãi:
Một trong những đặc điểm của phơng thức tín dụng thông thờng ( cho vay

theo món) là mỗi lần cho vay hay phát tiền vay đều phải định thời hạn trả nợ cho
khoản vay đó, đến thời hạn trả nợ ngời vay phải có trách nhiệm trả nợ ngân hàng.
Nếu đến kỳ hạn trả nợ mà ngời vay không chủ động trả nợ ngân hàng thì kế toán
ngân hàng chủ động trích tài khoản tiền gửi của ngời vay để thu hồi nợ. Các bút
toán phản ánh khi thu nợ thu lãi.
- Thu nợ cả gốc và lãi của một món vay cùng một lúc:
Nợ: TK tiền mặt (nếu thu bằng tiền mặt): gốc + lãi
TK ngân phiếu (nếu thu bằng ngân phiếu): gốc + lãi
TK tiền gửi của ngời thụ hởng (nếu thu bằng chuyển khoản):
gốc + lãi.
TK thanh toán qua lại giữa các ngân hàng (nếu ngời thụ hởng có
tài khoản ở khác ngân hàng): gốc + lãi.
Có: TK cho vay của ngời vay: gốc
Có: TK thu nhập của ngân hàng: Lãi
- Thu nợ gốc và lãi của vay không cùng một lúc:
Nhân viên kế toán sẽ thu lãi hàng tháng theo số d nợ tài khoản cho vay theo
phơng pháp tích số, do vậy việc thu nợ và thu lãi sẽ đợc hạch toán ở các thời điểm
riêng.
+ Hạch toán giai đoạn thu lãi:
Nợ: TK tiền mặt (nếu thu bằng tiền mặt)
Trang 18

TK ngân phiếu (nếu thu bằng ngân phiếu):
TK tiền gửi của ngời thụ hởng (nếu thu từ tài khoản TGTT ):
TK thanh toán qua lại giữa các ngân hàng (nếu ngời vay có tk
ở khác ngân hàng)
Có: TK thu nhập của ngân hàng
+ Hạch toán giai đoạn thu nợ gốc
Nợ: TK tiền mặt (nếu thu bằng tiền mặt)
TK ngân phiếu (nếu thu bằng ngân phiếu)

TK tiền gửi của ngời thụ hởng (nếu thu từ TKTG TT ):
TK thanh toán qua lại giữa các ngân hàng (nếu ngời vay có tk
ở khác ngân hàng)
Có: TK cho vay của ngời vay
Khi thu hồi nợ, kế toán phải xoá nợ trên hợp đồng tín dụng, những hợp
đồng tín dụng thu hết nợ sau khi đã xoá nợ song sẽ đóng vào tập chứng từ, những
hợp đồng tín dụng chỉ thu có một phần thì sau khi thu nợ sẽ lu trở lại hồ sơ vay
vốn của ngời vay vốn để tiếp tục theo dõi thu nợ .
Trờng hợp ngời vay có tài sản thế chấp, cầm cố, bảo lãnh khi vay thì khi trả
hết nợ kế toán phải ghi xuất tài khoản ngoại bảngTài sản thế chấpđể tất toán tài
khoản này.
- Chuyển nợ quá hạn.
Đến hạn trả nợ, nếu tài khoản tiền gửi của ngời vay đã hết số d, ngời vay
không đủ khả năng trả nợ vay cũng nh khoản vay đó không đợc ra hạn nợ thì kế
toán sẽ làm thủ tục chuyển sang nợ quá hạn.Khi chuyển sang nợ quá hạn kế toán
ghi
Nợ: Tài khoản nợ quá hạn
Có: Tài khoản cho vay của ngời vay
Trang 19

- Xử lý lãi khi chuyển nợ quá hạn.
Đây chính là khoản lãi cha thu khi chuyển gốc sang quá hạn theo chế độ
quy định thì khoản lãi này vẫn theo dõi ngoại bảng và đợc hạch toán trên tài khoản
ngoại bảng Lãi cha thu.
2. Quy trình kế toán cho vay theo phơng thức cho vay theo hạn mức tín
dụng:
Phơng thức cho vay theo hạn mức tín dụng áp dụng với khách hàng có nhu
cầu vay vốn thờng xuyên, đều đặn, sản xuất kinh doanh ổn định, có uy tín trong
quan hệ tín dụng với Ngân hàng. Hình thức này thờng áp dụng đối với các doanh
nghiệp nh doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ, các công ty kinh doanh thơng mại,

xuất nhập khẩu... Vì đối với các loại hình doanh nghiệp này sự biến động của vốn
thờng rất lớn, mức tăng giảm nhu cầu vốn có thể kế hoạch hoá đợc.
2.1 Kế toán giai đoạn cho vay:
Căn cứ vào kế hoạch phát tiền vay của tài khoản cho vay theo hạn mức tín
dụng hay tài khoản tín dụng vốn lu động là hạn mức đã đợc thoả thuận giữa Ngân
hàng và đơn vị vay vốn ghi trong hợp đồng tín dụng trong kỳ. Nh vậy trách nhiệm
của kế toán phải theo dõi chặt chẽ d nợ tài khoản cho vay để d nợ của tài khoản
cho vay không vợt quá hạn mức tín dụng đã ký kết trong hợp đồng cho vay
Khi hợp đồng tín dụng đã đợc ký kết giữa khách hàng và Ngân hàng thì mỗi
lần nhận tiền vay đơn vị vay vốn chỉ cần gửi đến Ngân hàng các chứng từ kế toán
thích hợp nh: Giấy lĩnh tiền mặt, Uỷ nhiệm chi... để nhận tiền vay. Kế toán cho
vay sau khi đã kiểm tra, kiểm soát tính hợp lệ, hợp pháp của chứng từ và đối chiếu
với hạn mức tín dụng. Nếu khách hàng có đủ điều kiện thì mới căn cứ vào chứng
từ để phát tiền vay
- Hạch toán quá trình phát tiền vay nh sau:
Nếu cho vay bằng tiền mặt
Nợ: Tài khoản cho vay (Tài khoản ngời vay )
Có: Tài khoản tiền mặt tại quỹ
Trang 20

Nếu cho vay bằng chuyển khoản
Nợ: Tài khoản cho vay (Tài khoản ngời vay )
Có: Tài khoản ngời thụ hởng (Nếu thanh toán cùng Ngân hàng )
Tài khoản thanh toán qua lại giữa các Ngân hàng (Nếu thanh toán
khác Ngân hàng).
2.2. Kế toán giai đoạn thu nợ thu lãi:
Theo nguyên tắc chung thì bên vay vốn đã đợc Ngân hàng chấp thuận cho
vay để họ tiến hành sản xuất kinh doanh theo phơng án đã đợc ghi trong hợp đồng
tín dụng, lúc họ có hàng bán thì Ngân hàng sẽ tiến hành việc thu nợ. Có 2 cách
thu nợ

Cách 1: Thu nợ trực tiếp tức là toàn bộ số tiền thu bán hàng của ngời vay
vốn đợc nộp vào bên có của tài khoản cho vay. Khi hết nợ (Hết số
d tài khỏan cho vay) thì không thu tiếp nữa.
Cách 2: Thu nợ gián tiếp thu qua tiền gửi thah toán của khách hàng. Khi
khách hàng có thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh hay tiền
bán hàng nộp vào Ngân hàng thì ké toán cho vay sẽ ghi vào bên
có tài khoản tiền gửi của khách hàng sau đố kế toán mới trích từ
tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng để thu nợ. Việc kế
toán trích bao nhiêu % của số tiền mà khách hàng gửi vào tài
khoản tiền gửi thanh toán đợc chia làm hai trờng hợp : Trích theo
tỷ lệ % của số thu từ sản xuất kinh doanh hoặc trích theo tỷ lệ %
của số d có trên tài khoản tiền gửi thanh toán.
Đến kỳ trả nợ kế toán cho vay hạch toán thu nợ của khách hàng theo số tiền
mà khách hàng vay nộp vào Ngân hàng.
Khi bán hàng nộp tiền bán hàng vào tài khoản tiền gửi:
Nợ: Tài khoản tiền mặt
Có: Tài khoản tiền gửi
Khi thu nợ hạch toán:
Trang 21

Nợ: Tài khoản tiền gửi ngời vay
Có : Tài khoản cho vay của ngời vay
Việc thu lãi đợc tiến hành hàng tháng theo phơng pháp tích số trích từ tài
khoản tiền gửi thanh toán hay khách hàng nộp tiền mặt. Nếu đến ngày Ngân hàng
thu lãi mà khách hàng không trả lãi thì kế toán cho vay ghi số lãi đó vào tài khoản
ngoại bảng Lãi cha thu.
Hết tháng đơn vị vay vốn không hoàn thành kế hoạch trả nợ Ngân hàng thì
kế toán cũng không chuyển sang thu nợ tiếp ở tháng sau mà kế toán cho vay làm
thủ tục chuyển số nợ đó sang tài khoản nợ quá hạn để áp dụng lãi suất nợ quá hạn
đối với khoản mà khách hàng còn nợ Ngân hàng.

Trang 22

Chơng II
Thực trạng nghiệp vụ kế toán cho vay
tại ngân hàng đầu tƯ và phát triển phú thọ
I. Khái quát tình hình hoạt động của Ngân hàng Đầu t và Phát triển
Phú Thọ:
1. Một số nét về tình hình kinh tế xã hội tại địa bàn tỉnh Phú Thọ:
Phú Thọ là một tỉnh miền núi đất rộng, ngời đông, dân c phân bố không
đều, trình độ dân trí còn hạn chế,cơ sở hạ tầng còn thấp kém, kinh tế chủ yếu là
nông nghiệp, phát triển cha đồng đều giữa các vùng. Bên cạnh những khu công
nghiệp lớn dân c đông đúc, kinh tế văn hoá phát triển. Còn nhiều huyện miền núi
dân c tha thớt, sống chủ yếu bằng nông nghiệp, ngời dân còn nhiều lạc hậu.Song
tỉnh Phú thị đã biết phát huy những mặt mạnh, hạn chế những mặt yếu đa kinh tế
Phú thọ ngày một phát triển. Ta có thể thấy sự phát triển của tỉnh Phú thọ qua các
chỉ tiêu sau (so với năm 1998):
- Giá trị tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của tỉnh tăng 10% .
- Giá trị sản xuất công nghiệp tăng 16%.
- Giá trị của sản xuất nông nghiệp tăng 5%.
- Giá trị ngành sản xuất dịch vụ tăng 14%.
- Giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 460 triệu USD.
Kết quả trên là do sự đóng góp chung của các ngành, các cấp trên địa bàn
tỉnh Phú Thọ.
Về hoạt động Ngân hàng, mạng lới ngân hàng thơng mại và các tổ chức tín
dụng ở Phú thọ phát triển mạnh, phục vụ tăng trởng kinh tế của tỉnh. Các tổ chức
tín dụng không ngừng mở rộng kinh doanh đa năng tổng hợp và phát triển dịch vụ
ngân hàng nhng mỗi tổ chức tín dụng đều có u thế riêng. Ngân hàng Đầu t và Phát
triển hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực đầu t phát triển phục vụ đắc lực cho sự
nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nớc. Trong năm 1999 trên toàn tỉnh
Phú thọ ngành ngân hàng đã tích cực huy động các nguồn vốn để cho vay phát

Trang 23

triến sản xuất kinh doanh, tổng nguồn vốn huy động đạt 605 tỷ tăng 18,2%, d nợ
cho vay tăng 1.025 tỷ tăng 21,6% so với năm 1998. Cơ cấu cho vay: doanh nghiệp
nhà nớc 55%, doanh nghiệp ngoài quốc doanh 45%, vay ngắn hạn 63%, vay trung
và dài hạn 37%, xu thế vay trung và dài hạn ngày càng tăng.
Thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát và kiểm soát lạm phát ngay từ đầu
năm 1999 ngành Ngân hàng tỉnh Phú thọ đã đề ra nhiều giải pháp trong việc thực
hiện chính sách tiền tệ, góp phần đáng kể vào việc ổn định giá trị đồng tiền.
Ngành Ngân hàng Phú thọ đã tổ chức việc điều hoà tiền mặt, đáp ứng đủ mọi nhu
cầu của sản xuất kinh doanh và đời sống, lu thông tiền mặt ổn định , năm 1999
tổng thu tiền mặt 1.900 tỷ tăng 5,9%, tổng chi tiền mặt 2.160 tỷ giảm 1%, bội chi
tiền mặt 260tỷ giảm 32% so với năm 1997. Vai trò tiền tệ tín dụng Ngân hàng tiếp
tục đợc phát huy trong quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế của tỉnh theo đúng định
hớng về công nghiệp hoá và hiện đại hoá nền kinh tế.
Tỉnh Phú Thọ có những khu công nghiệp lớn: thành phố Việt trì , huyện
Phong châu với nhiều nhà máy lớn nh : Nhà máy giấy Bãi bằng, nhà máy supe
phốt phát Lâm thao... nhu cầu lớn về vốn để đầu t và sản xuất kinh doanh là thờng
xuyên. Dựa vào thế mạnh trên Ngân hàng đầu t và phát triển Phú thọ đã tìm mọi
biện pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển của ngân hàng mình. Tại các trung tâm
công nghiệp của tỉnh Ngân hàng đầu t và phát triển Phú thọ đều có các chi nhánh
trực thuộc Ngân hàng tỉnh đặt tại đó để cung ứng vốn tín dụng cả ngắn, trung, dài
hạn góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế tỉnh Phú thọ.
Kết quả đó là do sự chỉ đạo sáng suốt của ban lãnh đạo Ngân hàng đầu t và
phát triển tỉnh Phú thọ theo đúng các chủ trơng định hớng của Đảng, Nhà nớc và
hệ thống ngân hàng đầu t và phát triển Việt nam, trong đó có sự đóng góp nhiệt
tình và có kết quả của tất cả các phòng ban và cán bộ nhân viên Ngân hàng đầu t
và phát triển Phú thọ.
2. Khái quát lịch sử phát triển và mô hình tổ chức Ngân hàng Đầu t và
Phát triến Phú Thọ:

Nghị định 53/HĐBT tiếp đó là các pháp lệnh Ngân hàng và hiện nay luật
Ngân hàng Đã ra đời. Ngân hàng nhà nớc đã ban hành nhiều loạt văn bản về cơ
chế nghiệp vụ cũng nh cơ chế tổ chức. Theo đó trên địa bàn tỉnh Phú thọ đã hình
Trang 24

thành ra hai hệ thống ngân hàng với chức năng nhiệm vụ khác nhau. Ngân hàng
nhà nớc với chức năng quản lý nhà nớc đối với mọi hoạt động kinh doanh tiền tệ,
tín dụng cung ứng và điều hoà lu thông tiền tệ. Các Ngân hàng thơng mại với chức
năng kinh doanh tiền tệ tín dụng hoạt động theo nguyên tắc tự chủ tài chính.
Ngân hàng đầu t và phát triển Phú thọ thành lập tháng 5 năm 1957 là một
trong bảy chi nhánh đợc thành lập sớm nhất trên miền bắc hoàn toàn giải phóng.
Đến nay Ngân hàng đầu t và phát triển Phú thọ đã trải qua hơn 43 năm với 3 lần
đổi tên . Chức năng nhiệm vụ có những thay đổi bổ xung , song bản chất vẫn là
một ngân hàng quốc doanh , hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực đầu t phát triển.
Ngay từ ngày thành lập ngân hàng đầu t và phát triển có nhiệm vụ là cấp phát và
thanh toán vốn đầu t xây dựng cơ bản thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nuớc . Từ
khi có pháp lệnh Ngân hàng (tháng 5-1990) chức năng quản lý nhà nớc và chức
năng kinh doanh trong Ngân hàng đợc phân định rõ hơn . Ngân hàng đầu t và phát
triển thành một ngân hàng chuyên doanh vừa phục vụ đầu t phát triển và mở rộng
kinh doanh đa năng tổng hợp mở rộng hoạt động trong nớc và vơn ra nớc ngoài
.Sau khi có quyết định 654/QĐ-TTg tháng11-1994 của Thủ tớng Chính phủ và
Quyết định số 293 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nớc Việt Nam.Từ đầu năm
1995 đến nay Ngân hàng đầu t phát triển chấm dứt việc cấp phát vốn đầu t xây
dựng cơ bản bằng vốn ngân sách , chuyển ngân hàng đầu t phát triển sang kinh
doanh tiền tệ tín dụng ngân hàng với chức năng chủ yếu là đầu t phát triển đồng
thời kinh doanh đa năng tổng hợp.
Để phục vụ cho quá trình hoạt động Ngân hàng đầu t và phát triển Phú thọ
với đội ngũ cán bộ 93 ngời , có hai chi nhánh trực thuộc và hội sở chính tại Đại lộ
Hùng vơng thành phố Việt trì tỉnh Phú thọ.
- Ban lãnh đạo điều hành gồm có Giám đốc và hai Phó Giám đốc.

- Các phòng nghiệp vụ gồm có:
Phòng Tín dụng I chuyên sâu về tín dụng trung và dài hạn.
Phòng Tín dụng II chuyên sâu về tín dụng ngắn hạn.
Phòng Kế toán tài vụ chuyên sâu về nghiệp vụ kế toán thanh toán.
Trang 25

×