Tải bản đầy đủ (.pdf) (19 trang)

ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ Ô NHIỄM NICOTIN TRONG MÔI TRƯỜNG KHÍ NƠI SẢN XUẤT THUỐC LÁ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐẾN SỨC KHỎE NGƯỜI LAO ĐỘNG

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (772.98 KB, 19 trang )


ĐA
̣
I HO
̣
C QUÔ
́
C GIA HA
̀

̣
I
TRƯƠ
̀
NG ĐA
̣
I HO
̣
C KHOA HO
̣
C TƯ
̣
NHIÊN



Bùi Thị Kiều Trang



ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ Ô NHIỄM NICOTIN TRONG


MÔI TRƯỜNG KHÍ NƠI SẢN XUẤT THUỐC LÁ
VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐẾN SỨC KHỎE NGƯỜI LAO ĐỘNG




LUÂ
̣
N VĂN THC S KHOA HC




H Ni – 2011
́
ĐA
̣
I HO
̣
C QUÔC GIA HA
̀

̣
I
TRƯƠ
̀
NG ĐA
̣
I HO
̣

C KHOA HO
̣
C TƯ
̣
NHIÊN

Bùi Thị Kiều Trang
̃
ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ Ô NHIỄM NICOTIN TRONG
MÔI TRƯỜNG KHÍ NƠI SẢN XUẤT THUỐC LÁ
VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐẾN SỨC KHỎE NGƯỜI LAO ĐỘNG

Chuyên nga
̀
nh: Khoa học Môi trường

LUÂ
̣
N VĂN THA
̣
C SI
̃
KHOA HO
̣
C
NGƯƠ
̀
I HƯƠ
́
NG DÂN KHOA HO

̣
C :
PGS.TS. ĐỖ QUANG HUY
H Ni – 2011

Luận văn Thạc sĩ Bùi Thị Kiều Trang
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Khoa Môi trường
82
MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1
CHƢƠNG 1. 3
TỔNG QUAN 3
1.1. Tìm hiểu về nicotin 3
1.1.1. Nguồn gốc 3
1.1.2. Cấu tạo và tính chất hóa lý của nicotin 3
1.1.3. Tính chất dƣợc học và độc tính của nicotin 4
1.1.4. Cơ chế xâm nhập của nicotin vào cơ thể 8
1.1.5. Những biến đổi hóa học của nicotin trong cơ thể sống 9
1.2. Tìm hiểu về thuốc lá, hiện trạng sản xuất và sử dụng trên thế giới và
ở Việt Nam 12
1.2.2. Hiện trạng sản xuất và sử dụng thuốc lá trên thế giới 15
1.2.3. Hiện trạng sản xuất và sử dụng thuốc lá ở Việt Nam 16
1.2.4. Khói thuốc lá 24
1.2.5. Tác hại của khói thuốc lá 26
1.2.6. Tác hại của hút thuốc lá thụ động 29
1.3. Các phƣơng pháp phân tích nicotin 30
1.3.1. Phƣơng pháp quang phổ 30
1.3.2. Phƣơng pháp sắc ký lỏng cao áp 31
1.3.3. Phương pháp sắc ký khí 31

CHƢƠNG 2. 34
ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34
2.1. Đối tƣợng và đặc trƣng vùng lấy mẫu nghiên cứu 34
2.1.1. Đối tƣợng nghiên cứu 34
2.1.2. Đặc trƣng vùng nghiên cứu 35

Luận văn Thạc sĩ Bùi Thị Kiều Trang
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Khoa Môi trường
83
2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu 36
2.2.1. Phƣơng pháp sắc ký khí khối phổ (GC-MS) 36
2.2.2. Phƣơng pháp sắc ký khí detectơ cộng kết điện tử (GC/ECD) 37
2.2.3. Phương pháp chiết lỏng - lỏng 38
2.3. Các phƣơng pháp lấy mẫu 38
2.3.1. Phƣơng pháp lấy mẫu khí 38
2.3.2. Phƣơng pháp lấy mẫu máu 39
2.4. Hóa chất, dụng cụ và các thiết bị phân tích 39
2.4.1. Hóa chất 39
2.4.2. Dụng cụ thí nghiệm và thiết bị 40
2.5. Thực nghiệm 40
2.5.1. Điều kiện vận hành máy sắc ký khí với detectơ cộng kết điện tử
(GC/ECD) để xác định hàm lượng nicotin trong mẫu khí 40
2.5.2. Điều kiện vận hành máy sắc ký khí với detectơ khối phổ (GC/MS) để
phân tích hàm lượng nicotin trong mẫu máu 41
2.5.3. Điều kiện lấy mẫu khí 42
2.5.4. Chuẩn bị mẫu và xử lý mẫu 43
2.6. Xây dựng đường chuẩn 45
2.7. Định tính và định lƣợng nicotin 46
CHƢƠNG 3. 47
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 47

3.1. Xây dựng đường ngoại chuẩn của nicotin 47
3.1.1. Đường ngoại chuẩn xác định nicotin trong mẫu khí 47
3.1.2. Đƣờng ngoại chuẩn xác định nicotin trong mẫu máu 49
3.2. Phân tích nicotin trong không khí 50
3.2.1. Kết quả phân tích nicotin trong các mẫu khí lấy tại khu vực Trường Đại
học Khoa học Tự nhiên 50

Luận văn Thạc sĩ Bùi Thị Kiều Trang
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Khoa Môi trường
84
3.2.2. Kết quả phân tích tại khu vực sản xuất thuốc lá 52
3.3. Hàm lƣợng nicotin trong máu ngƣời lao động 54
3.3.1. Đặc điểm đối tƣợng nghiên cứu 54
3.2.3. Kết quả xác định nồng độ nicotin trong các mẫu máu của ngƣời lao
động tại nhà máy thuốc lá Thăng Long 58
3.2.4. Kết quả phân tích hàm lƣợng nicotin trong máu của 29 ngƣời điều trị
bệnh tại Viện Y học Cổ truyền Quân đội 61
3.3. Đánh giá mối tƣơng quan giữa nồng độ nicotin trong máu và bệnh
tật của ngƣời lao động 63
3.4. Một số ảnh hƣởng của nicotin đến sức khỏe ngƣời lao động 65
3.5. Bàn luận về giải pháp làm giảm thiểu ảnh hƣởng xấu của nicotin
trong môi trƣờng khí đến ngƣời lao động 67
KẾT LUẬN 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
PHỤ LỤC 76












2

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Mở đầu
Thuốc lá là một trong những sản phẩm có số người sử dụng nhiều trên thế
giới. Việc sản xuất thuốc lá tuy không được khuyến khích nhưng ngày càng phát
triển và mở rộng cùng với sự gia tăng mạnh về thị trường tiêu thụ. Ngành công
nghiệp thuốc lá đã mang lại lợi ích không nhỏ về kinh tế cũng như xã hội cho nhiều
quốc gia. Tuy nhiên, xét về mặt tác hại thì thuốc lá là một ngành sản xuất có nhiều
yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe người lao động. Vào năm 1998, R.A. Ehsay đã đề
cập đến ảnh hưởng sinh học ở công nhân tiếp xúc nghề với bụi thuốc trong quá trình
sản xuất. Trong khói và bụi thuốc lá chứa trên 40 chất có khả năng gây ung thư như
nicotin, cacbon monoxit, các hợp chất vòng thơm… trong đó nicotin là thành phần
chính gây hại đến sức khỏe con người, nó là chất gây độc thần kinh rất mạnh, gây
ảnh hưởng đến da, phổi, tim mạch.
Trong quá trình sản xuất thuốc lá đã thải ra một lượng khói và bụi thuốc lá
đáng kể gây ảnh hưởng đến sức khỏe người lao động tại nơi sản xuất. Với mong
muốn tìm hiểu được mức độ ô nhiễm và mối tương quan giữa nicotin trong môi
trường khí nơi sản xuất thuốc lá với sức khỏe người lao động, luận văn đã lựa chọn
đề tài “Đánh giá mức độ ô nhiễm nicotin trong môi trường khí nơi sản xuất thuốc lá
và tác động của nó đến sức khỏe người lao động” để có thể đưa ra lời cảnh báo về
mức độ ảnh hưởng của nicotin trong không khí khu vực sản xuất thuốc lá đến sức
khỏe người lao động. Nghiên cứu của đề tài tập trung vào các nội dung sau:

 Xác định hàm lượng nicotin trong môi trường không khí của nhà máy sản
xuất thuốc lá.
 Xác định hàm lượng nicotin trong máu của người lao động làm việc tại các
bộ phận trong nhà máy sản xuất thuốc lá.




Tìm hiểu mối liên quan giữa hàm lượng nicotin trong không khí và hàm
lượng nicotin trong máu với tình trạng bệnh lý của người lao động.



3



Chương 1. Tổng quan
1.1. Tìm hiểu về nicotin
Nicotin là một loại ankanoid bay hơi mạnh tìm thấy trong các cây họ Cà
(Solanaceae), chủ yếu trong cây thuốc lá, và với số lượng nhỏ trong cà chua, khoai
tây, cà tím và ớt Bell. Nicotin là tên gọi được đặt theo tên của một nhà ngoại giao
người Pháp Nicot (1530 - 1600), ông đã gửi thuốc lá và hạt của nó từ Bồ Đào Nha
tới Paris vào năm 1550 và cổ vũ cho các ứng dụng y tế của nó. Nicotin được các
nhà hoá học người Đức, Posselt & Reimann chiết xuất ra khỏi cây thuốc lá vào năm
1828. Công thức hoá học của nicotin được Melsen miêu tả vào năm 1843, được
A.Pictet và Crepieux tổng hợp lần đầu tiên vào năm 1893.
Cơ quan Kiểm soát Dược và Thực phẩm Hoa Kỳ (FDA) xếp nicotin vào
nhóm các chất có tính chất dược lý gây nghiện chủ yếu, tương tự như các heroin và
cocain. Nicotin rất độc, trước hết nó là một chất độc thần kinh, ảnh hưởng lên các

hệ thần kinh thực vật và hệ thần kinh trung ương với sự có mặt của các thụ thể
nicotin trên các cấu trúc não gây kích thích và làm tê liệt hệ thần kinh.
Ngoài ra, nicotin còn ảnh hưởng đến hệ tuần hoàn như: thay đổi huyết áp,
tăng thể tích tim, gây tổn thương hệ tim mạch, tác động trực tiếp lên cơ tim, thành
mạch. Ảnh hưởng tới quá trình cấu tạo tế bào máu. Gây đột biến gen, biến đổi
chromosomal, mạng lưới chromatit và các axit nucleic trong tế bào lympho của máu
ngoại vi.
Nicotin có thể gây nhiễm độc hoặc gây tử vong (do hấp thụ bằng đường
tiêu hóa). Một điếu thuốc có từ 1 - 3mg nicotin, một giọt nicotin có thể gây chết
một con thỏ hay một con chó, 7 giọt nicotin làm chết một con ngựa, một giọt tiêm
vào tĩnh mạch gây chết người. Người lớn chết khi cơ thể hấp thụ 15 - 20 gam
nicotin, trẻ em chỉ cần vài gam cũng có thể gây chết vì nó tăng bệnh tim mạch,
ung thư…. Nicotin làm cản trở đáp ứng thở của trẻ bình thường, làm giảm các
cảm thụ thể (ảnh hưởng đến việc báo động cho cơ thể tình trạng thiếu oxi khi ngủ)
4

ở trẻ, nhất là dưới 6 tháng tuổi, dẫn đến nguy cơ đột tử ở trẻ.
Nicotin là chất chủ yếu tác động lên não bộ, thay đổi tâm thế con người, gây
cảm giác thèm ăn, và sự tỉnh táo theo những cách mà con người tìm thấy sự thoải
mái và có lợi.
Nicotin có khả năng gây nghiện cao, khi bị nghiện sẽ phải gắn bó với nó một
cách thường xuyên và càng ngày càng nhiều. Mỗi năm có khoảng 35 triệu người nỗ
lực từ bỏ thuốc lá. Tuy nhiên chưa đến 7% trong số này thành công trong việc cai
nghiện với khoảng thời gian nhiều hơn một năm, và hầu hết đều bắt đầu hút thuốc
trở lại trong vòng vài ngày.
Đối với người mới hút thuốc, hệ phó thần kinh giao cảm bị kích thích, toát
mồ hôi, lạnh, buồn nôn, hạ huyết áp, tim đập nhanh, ngất lịm. Đối với người nghiện
thuốc lá hay người thu hoạch, phơi sấy thuốc lá, thuốc lào thường hay bị cháy bỏng
thực quản, dạ dày, chóng mặt, vã mồ hôi, run tay, đau bụng, rối loạn thị giác, tim
đập nhanh, kích thích hệ giao cảm, tăng huyết áp, suy nhược cơ thể, rối loạn cục bộ.

Nicotin gây độc cấp tính do nhai thuốc lá vì hấp thụ nước chất từ thuốc.
Nicotin trong cơ thể tích lũy lâu ngày gây nên co thắt phế quản, tăng nồng độ
axit béo trong máu gây nên xơ mỡ động mạch, tăng tiểu cầu, làm máu chóng đông,
giảm lượng estrogen trong máu làm mãn kinh sớm, gây nên tai biến như cơn đau,
viêm động mạch, nhồi máu cơ tim.
- Tăng tác dụng của tuyến thượng thận trong thời gian đầu.
- Giảm sự sản xuất histamine.
- Thay đổi sự tổng hợp proteine và dự trữ serotonine.
- Gia tăng sự tập hợp tiểu cầu, gây hư hại tế bào biểu mô, gây biến đổi ở
chuyển hóa prostacyclin và thromboxane.
- Gây co mạch và gây thuyên tắc trên hệ thống mạch máu ngoại vi.
- Ức chế phản ứng viêm thông qua tác động của hệ thống thần kinh trung ương
và ngoại vi và thông qua tác động trực tiếp trên các tế bào miễn dịch.
- Nicotin kích thích dòng chảy canxi và gia tăng sự biệt hóa tế bào. Tương tự
như hệ thống thần kinh, dòng chảy canxi vào tế bào sừng của thượng bì thông qua
5

các cấu trúc tiếp nhận các truyền đạt thần kinh hướng điện giải sẽ là yếu tố quyết
định trong thăng bằng nội mô của da.
- Nicotin làm chậm lành vết thương: do làm giảm lượng máu đến da, gây
thiếu máu mô và làm chậm sự lành các mô bị chấn thương.
Thông thường công nhân tiếp xúc nghề nghiệp với nicotin trong các nhà máy
sản xuất thuốc lá, trong quá trình công nghệ: chế biến, sấy khô, lên men, cuốn điếu,
đóng bao….
Nicotin xâm nhập vào cơ thể thông qua các con đường như: đường tiêu hóa,
đường hô hấp, qua. Khi nicotin được đưa vào cơ thể, nó được vận chuyển nhanh
thông qua đường máu và có thể vượt qua rào cản giữa máu và não. Kể từ khi hít vào
nicotin mất trung bình 7 giây để chạy tới não. Thời gian bán phân rã của nicotin
trong cơ thể vào khoảng 2 giờ.
Nicotin nuốt vào dạ dày bị dịch vị axit ngăn cản sự hấp thụ, xuống ruột vào

hệ thống gan, nicotin bị phân rã trong gan bằng enzym cytochrome P450 (chủ yếu
là CYP2A6, và cũng có CYP2B6). Tại đây, 70% nó bị phá hủy ngay từ lần đầu đi
qua. Cơ thể người có thể đào thải nicotin ra nước tiểu dưới dạng cotinin với thời
gian bán hủy kéo dài (20 giờ).
1.2. Tìm hiểu về thuốc lá, hiện trạng sản xuất và sử dụng trên thế giới và ở Việt
Nam
Tổ chức sức khỏe thế giới (năm 1990) đã đưa ra định nghĩa về cây thuốc lá
như sau: “thuốc lá là một loài cây độc, nhất là những lá già, có hàm lượng nicotin
cao đóng vai trò là hoạt chất chính của thuốc lá hay thuốc lào”.
Cây thuốc lá có nguồn gốc Nam Mỹ và có lịch sử trồng trọt cách đây khoảng
4000 năm, từ Nam Mỹ cây thuốc lá được đem đi trồng khắp nơi trên thế giới thuộc
châu Á, châu Mỹ, châu Âu, châu Phi.
Thuốc lá là tên gọi của một loại sản phẩm được làm chủ yếu từ nguyên liệu
lá cây thuốc lá đã thái sợi, được cuốn hay nhồi định hình bằng giấy, có dạng hình
trụ (thường có độ dài dưới 120mm, đường kính khoảng 10mm). Thuốc lá điếu
thường được đốt cháy ở một đầu, để cháy âm ỉ nhằm mục đích tạo khói và khói này
6

theo dòng khí vào miệng người hút từ đầu đối diện (thường có gắn đầu lọc). Một
điếu thuốc lá có chứa từ 1mg đến 3mg nicotin.
Từ thế kỷ XIX, việc sử dụng thuốc lá đã trở nên phổ biến trên phạm vi toàn
cầu, với quy mô lớn. Ngày nay, có khoảng 1,1 tỷ người trên thế giới hút thuốc lá.
Trong số này, có 80% người hút thuốc sống tại các nước có thu nhập trung bình và
thấp, với số lượng 933 triệu người và chỉ có 20% người hút thuốc sống tại các nước
có thu nhập cao với khoảng 209 triệu người.
Tỷ lệ hút thuốc theo vùng cũng rất khác nhau ở cả hai nhóm nam và nữ. Tuy
nhiên, tỷ lệ hút thuốc trong nữ giới có sự khác biệt rõ ràng giữa các vùng. Tại Đông
Âu và Trung Á, trong năm 2001 có 59% nam giới và 26% nữ giới hút thuốc, cao
hơn tất cả các khu vực khác. Tại Đông Á và Thái Bình Dương, tỷ lệ hút thuốc trong
nam giới khá cao ở mức 59% trong khi tỷ lệ hút thuốc của nữ chỉ có 4%. Đi đôi với

nó là tổng số điếu thuốc lá tiêu thụ bình quân của một người trưởng thành cũng gia
tăng. Theo số liệu thống kê, thế giới sản xuất ra 5,5 nghìn tỷ điếu thuốc lá mỗi năm.
Theo thống kê của WHO, nếu không có biện pháp can thiệp kịp thời thì sẽ có
khoảng 10% dân số hiện nay nghĩa là vào khoảng 7,5 triệu người Việt Nam sẽ chết
sớm vì các bệnh liên quan đến thuốc lá, trong đó có 3,7 triệu người chết ở độ tuổi
trung niên.
Số liệu ước tính mới đây (năm 2006) cho thấy tỷ lệ hút thuốc ở nam giới ở
Việt Nam là hơn 49%. Trong số những người trẻ (từ 25 đến 45 tuổi) tỷ lệ hút thuốc
thậm chí còn cao hơn, khoảng 65%. Tuy tỷ lệ hút thuốc là thấp ở nữ giới dưới 2%
nhưng nữ giới lại phải chịu những tác hại của hút thuốc thụ động.
Thuế thuốc lá ở Việt Nam hiện chiếm 45% giá bán lẻ thuốc lá đã bao gồm
thuế, thấp hơn rất nhiều so với tỷ lệ 65 - 80% do Ngân hàng Thế Giới ghi nhận ở
các nước có chính sách kiểm soát thuốc lá hiệu quả. Các chính sách kiểm soát thuốc
lá như tăng thuế dường như không có ảnh hưởng tiêu cực đáng kể lên việc làm
trong các ngành trồng và sản xuất thuốc lá.
Ở Việt Nam, tỷ lệ hút thuốc lá năm 2006 là khoảng trên 49,2% ở nam giới,
nhưng dưới 2% ở nữ giới. Tỷ lệ này thấp hơn so với một thập kỷ trước đây khi có
7

tới hơn 60% nam giới và 4% nữ giới hút các sản phẩm thuốc lá, mặc dù mức giảm
này chủ yếu xuất hiện trong khoảng thời gian từ 1993 đến 1998.
Cuộc điều tra y tế thế giới tiến hành năm 2003 cho thấy tỷ lệ hút thuốc là
51,2% ở nam giới và 2,8% ở nữ giới. Tỷ lệ hút thuốc được phân bổ đều giữa đô thị
và nông thôn, mặc dù người sử dụng thuốc lá ở các khu vực khác nhau có khuynh
hướng sử dụng các loại sản phẩm thuốc lá khác nhau. Trong số những người hút
thuốc là nam giới trong năm 2001 - 2002, 69,1% chỉ hút thuốc lá, 23,2% chỉ hút
thuốc lào, và 7,7% sử dụng cả hai loại. Ở thành phố, trong tổng số nam giới thì tỷ lệ
nam giới chỉ hút riêng thuốc lá chiếm 48,6%, chỉ hút thuốc lào chiếm 3,8%. Trong
khi đó ở nam giới nông thôn, 35,6% chỉ hút thuốc lá và 16% chỉ hút thuốc lào.
Tỷ lệ hút thuốc thấp ở phụ nữ ở Việt Nam không hẳn đã bảo vệ được họ khỏi

các tác hại của khói thuốc. Trong năm 2001 - 2002, 63% hộ gia đình có ít nhất một
người hút thuốc. Tương tự như vậy, năm 2003, gần 60% học sinh tuổi thiếu niên nói
rằng thường hay hít phải khói thuốc thụ động ở nhà, trong khi 71% trẻ em dưới 5
tuổi sống trong các hộ gia đình có ít nhất một người hút thuốc.
Ở Việt Nam, theo Báo cáo của Bộ Y tế (tháng 4 năm 2003), tỷ lệ người hút
thuốc lá ở nam chiếm 50% và ở nữ chiếm 3,4%, thanh thiếu niên có độ tuổi từ 15 -
24 chiếm 26% cao nhất châu Á. Trên 40% nam cán bộ y tế và 1,3% nữ cán bộ y tế
hút thuốc lá. Thuốc lá giết chết một nửa số người sử dụng nó, một nửa số này chết ở
lứa tuổi trung niên.
1.3. Các phương pháp phân tích nicotin
Phương pháp quang phổ
Phương pháp sắc ký lỏng cao áp
Phương pháp sắc ký khí
Chương 2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng được chọn là Nicotin trong không khí nơi sản xuất thuốc lá và khu
vực xung quanh; trong máu người làm trong môi trường sản xuất thuốc lá và người
hút thuốc lá.
8

2.2. Phương pháp nghiên cứu
Với đối tượng nghiên cứu là nicotin trong môi trường không khí và nicotin
trong máu, lựa chọn phương pháp sắc ký khí với detectơ cộng kết điện tử
(GC/ECD) và phương pháp sắc ký khí khối phổ (GC-MS), phương pháp chiết lỏng -
lỏng là các phương pháp chính sử dụng trong nghiên cứu. Các phương pháp lựa
chọn này cho hiệu suất và độ thu hồi cao, ngưỡng phát hiện thấp, quy trình đơn
giản; thiết bị sử dụng trong nghiên cứu thông dụng ở các phòng thí nghiệm tại Việt
Nam hiện nay.
Ngoài ra luận văn còn sử dụng một số phương pháp như: Phương pháp chiết
lỏng - lỏng, các phương pháp lấy mẫu khí, mẫu máu

Thực nghiệm
Quá trình tiến hành thực nghiệm được thực hiện tại phòng nghiên cứu độc
chất thuộc Trung tâm Giáo dục và Phát triển sắc ký - Đại học Bách Khoa Hà Nội.
Chương 3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
3.1. Xây dựng đường ngoại chuẩn của nicotin
3.1.1. Đường ngoại chuẩn xác định nicotin trong mẫu khí
Phương trình định lượng nhận được từ đường ngoại chuẩn để xác định
nicotin trong không khí có dạng:
y = 7886x + 37475, R
2
= 0,996
Trong đó: x là nồng độ của chất chuẩn nicotin (x10
-3
mg/mL)
y là số đếm diện tích píc trên sắc đồ
R là hệ số tương quan
3.1.2. Đường ngoại chuẩn xác định nicotin trong mẫu máu
Phương trình đường chuẩn có dạng:
y = 4E+07x - 154025, R
2
= 0,997
Trong đó: x là nồng độ nicotin (ng/mL)
y là số đếm diện tích píc của nicotin
R là hệ số tương quan
9

3.2. Phân tích nicotin trong không khí
3.2.1. Kết quả phân tích nicotin trong các mẫu khí lấy tại khu vực Trường
Đại học Khoa học Tự nhiên
Kết quả phân tích nicotin trong mẫu khí lấy tại Trường Đại học Khoa học Tự

nhiên cho thấy, mẫu M1 và M2 không phát hiện ra nicotin, có thể là do thời tiết xấu,
trời vừa tạnh mưa, không có nắng, độ ẩm không khí cao, chưa có sự phân tán
nicotin trong không khí nên mẫu thu được không phát hiện ra nicotin trong kết quả
đo.
Mẫu M4, M7, M5 cho thấy nồng độ nicotin tương đối lớn, trong đó mẫu M4
là lớn nhất. Các mẫu này được lấy vào thời điểm từ 10 - 14 giờ và trời đang nắng và
là lúc mùi thuốc lá nồng nặc nhất. Thời điểm này là thời điểm nhà máy sản xuất và
khi trời nắng, độ ẩm không khí thấp nên trong không khí có nồng độ nicotin cao.
Mẫu M4 xác định thấy nồng độ nicotin cao nhất, vì vị trí lấy mẫu gần nhà máy
thuốc lá Thăng Long hơn so với các vị trí lấy mẫu khác.
Trong các mẫu khí lấy tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên xác định thấy
nồng độ nicotin dao động từ 0,0187 (M6) cho đến 0,1086 (M4).
Từ kết quả xác định nicotin trong các mẫu thực tế cho thấy, nồng độ nicotin
trong không khí nhỏ hơn so với Tiêu chuẩn cho phép của Việt Nam (TCCP
3733/2002/QĐ-BYT cho phép nồng độ nicotin trong không khí là 1,0 mg/m
3
) vì
vậy mức độ mùi ứng với nồng độ nicotin đã nêu vẫn có thể chấp nhận được. Tuy
nhiên, về lâu dài với nồng độ nicotin như vậy cũng sẽ ảnh hưởng tới người lao động
và người dân sống quanh nhà máy.
3.2.2. Kết quả phân tích tại khu vực sản xuất thuốc lá
Trong các mẫu nghiên cứu lấy tại cơ sở sản xuất, hàm lượng nicotin dao
động rộng từ 0,015 mg/m
3
không khí (M22) đến 1,2 mg/m
3
không khí (M24). Như
vậy, trong thực tế đã có sự phát tán rộng nicotin trong môi trường không khí nơi có
người lao động làm việc.
Mẫu M24 xác định thấy nồng độ nicotin cao nhất (1,2 mg/m

3
không khí),
vượt quá tiêu chuẩn cho phép (TCCP 3733/2002/QĐ-BYT cho phép nồng độ
10

nicotin trong không khí là 0,5 mg/m
3
), vì đây là mẫu lấy tại nơi có dây chuyền sản
xuất thuốc lá thuộc công đoạn hấp sợi. Do vậy sẽ làm phát thải ra nhiều chất khí độc
hại trong đó có chứa nicotin, vì vậy kết quả xác định nồng độ nicotin cao nhất.
Mẫu M22 xác định thấy nồng độ nicotin thấp nhất (0,015 mg/m
3
không khí),
mẫu này được lấy ở sân phía trước nhà hành chính, cách xa nơi sản xuất thuốc lá.
Vị trí lấy mẫu ở sân trước nhà hành chính thuộc phía cuối của hướng gió nên ít bị
ảnh hưởng bởi khói thuốc lá thải ra trong qúa trình sản xuất, vì nồng độ nicotin
thấp. Nồng độ nicotin trong các mẫu khí lấy trong khu vực nhà máy thuốc lá Thăng
Long dao động rộng (từ 0,015 mg/m
3
không khí đến 1,2 mg/m
3
không khí).
3.3. Hàm lượng nicotin trong máu người lao động
3.3.1. Đặc điểm đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu được lựa chọn là 42 người, trong đó tỷ lệ nam và nữ
chênh lệch cao, tỷ lệ nữ chiếm 71,4%. Phần lớn nam công nhân đều hút thuốc trong
giờ nghỉ giải lao và sau ngày làm việc, vì vậy, phải loại bỏ họ khỏi nhóm đối tượng
chọn để nghiên cứu.
Số đối tượng nghiên cứu có tuổi đời trong khoảng từ 42 đến 54 tuổi; nhóm
có độ tuổi từ 46 đến 50 chiếm tỷ lệ cao nhất 57,2%.

Tuổi nghề của các đối tượng được lựa chọn để nghiên cứu là khá cao, nằm
trong khoảng từ 24 đến 34 năm; trong đó có đến 83,3% đối tượng có tuổi nghề
trong khoảng từ 26 đến 30 năm.
Cơ cấu tổ chức của nhà máy thuốc lá Thăng Long được xác lập gồm các
phòng chức năng và có 6 phân xưởng sản xuất, trong đó có 3 phân xưởng chính là
phân xưởng Bao cứng, phân xưởng Bao mềm và phân xưởng Sợi.
Số mẫu máu được lấy để phân tích xác định nicotin được lấy ở những người
làm việc tại Phân xưởng Bao mềm chiếm tỷ lệ cao nhất là 66,7%. Có sự chênh lệch
về số lượng đối tượng nghiên cứu là do: Phân xưởng Bao mềm là phân xưởng có
quy mô lớn nhất trong nhà máy. Phòng nguyên liệu có số người được lấy mẫu máu
nhiều thứ 2, nhưng ở đây số người được lấy mẫu chủ yếu là nữ giới.
3.3.2. Kết quả xác định nồng độ nicotin trong các mẫu máu của người lao động
11

tại nhà máy thuốc lá Thăng Long
Kết quả phân tích cho thấy nồng độ nicotin trong máu của 12 lao động nam
làm việc tại Nhà máy thuốc lá Thăng Long có nồng độ nicotin trong khoảng từ 0,06
đến 0,2 ng/mL.
Nồng độ nicotin trong máu của người lao động cao chủ yếu đối với những
người làm việc tại Phân xưởng Bao mềm. Mẫu M5 có nồng độ nicotin cao nhất là
0,2 ng/mL, đây là mẫu máu của người làm việc tại phân xưởng bao mềm, có số năm
công tác tại nhà máy là 28 năm và có tuổi đời là 46 tuổi.
Nồng độ nicotin trong máu của các lao động nữ cũng đã được xác định, kết
quả phân tích nêu ở Bảng 3.10; nồng độ nicotin trong các mẫu máu nằm trong
khoảng giá trị từ 0,06 đến 0,38 ng/mL.
Đối với lao động nữ số mẫu máu có nồng độ nicotin ≥ 0,2 ng/mL là 10 mẫu,
phần lớn thuộc nhóm người làm việc tại Phân xưởng Bao mềm, trong đó có ba mẫu
máu thuộc nhóm người lao động làm việc tại Phòng nguyên liệu. Mẫu số 4 có nồng
độ nicotin cao nhất (0,38 ng/mL) là mẫu máu của người lao động nữ làm việc tại
Phân xưởng Bao mềm, có tuổi đời là 51, thâm niên công tác là 28 năm.

Do việc lấy mẫu máu phức tạp và gặp nhiều khó khăn nên chủ yếu tập trung
lấy mẫu máu của đối tượng nghiên cứu làm việc tại Phân xưởng Bao mềm, với
khoảng độ tuổi giới hạn trong khoảng từ 42 - 54 tuổi, thâm niên công tác nằm trong
khoảng từ 24 - 34 năm.
3.3.4. Kết quả phân tích hàm lượng nicotin trong máu của 29 người điều trị
bệnh tại Viện Y học Cổ truyền Quân đội
Để có cơ sở so sánh nồng độ nicotin trong mẫu máu giữa người làm việc trực
tiếp trong nhà máy, tiến hành lấy mẫu máu của 29 người điều trị bệnh tại Viện Y
học Cổ truyền Quân đội. Đây là những người làm việc trong nhà máy thuốc lá và đã
có các biểu hiện bệnh lý về tim mạch, hô hấp, sạm da…,
Từ kết quả phân tích cho thấy nồng độ nicotin trong mẫu máu của những
người đến điều trị bệnh tại Viện Y học Cổ truyền Quân đội nằm trong khoảng từ
0,05 đến 0,75 ng/mL. Trong đó, mẫu số 1 và mẫu số 77 có nồng độ nicotin cao 0,31
12

và 0,75 ng/mL thuộc người lao động là nam giới, có tiền sử hút thuốc lá hàng ngày
và không làm việc trong nhà máy sản xuất thuốc lá. Có 3 mẫu có nồng độ nicotin
lớn hơn 0,2 ng/mL, còn lại 26 mẫu có nồng độ từ thấp hơn 0,2 ng/mL.
Mẫu máu của những người còn lại, mặc dù đã được Viện cho uống thuốc loại
bỏ nicotin ra khỏi cơ thể, nhưng vẫn khá cao so với những người không được uống
thuốc đang làm việc trực tiếp tại nhà máy sản xuất thuốc lá Thăng Long.
3.4. Đánh giá mối tương quan giữa nồng độ nicotin trong máu và bệnh tật của
người lao động
Nicotin xâm nhập vào cơ thể qua nhiều con đường: qua đường hô hấp, qua
đường tiêu hóa, qua da. Cho dù đi vào cơ thể bằng con đường nào thì nicotin cũng
đều gây ảnh hưởng đến sức khỏe của người bị nhiễm nó với các mức độ khác nhau
tùy thuộc vào nồng độ nicotin có trong cơ thể.
Công nhân sản xuất thuốc lá làm việc trong nhà máy thuốc lá Thăng Long
phần lớn đều mắc bệnh về răng: sâu răng, viêm lợi.
Với người lao động có hàm lượng nicotin trong máu <0,2 ng/mL chưa thấy

có triệu chứng về tuần hoàn, các biểu hiện về thần kinh chiếm 6,67%, hô hấp chiếm
26,67%.
Số người lao động có hàm lượng nicotin ≥0,2 ng/mL có triệu chứng mắc các
bệnh về hô hấp là 58,33%, thần kinh là 41,67%, tiêu hóa là 16,67%, xuất hiện các
triệu chứng về tuần hoàn là 8,33%, sạm da 25%.
3.5. Một số ảnh hưởng của nicotin đến sức khỏe người lao động
Nhiễm độc mãn tính: là biểu hiện nhiễm độc nicotin nghề nghiệp ở các công
nhân làm việc trong nhà máy sản xuất thuốc lá, thường phải tiếp xúc với môi trường
có nồng độ bụi nicotin cao trong điều kiện vệ sinh chung và vệ sinh cá nhân kém.
Các biểu hiện của nhiễm độc mãn tính:
+ Niêm mạc mắt, mũi, họng bị kích thích (chảy nước mắt, nhức mắt, giảm
thị lực).
+ Có thể bị dị ứng ngoài da, móng tay mỏng, dễ gẫy, sạm da.
+ Rối loạn về tim mạch: rối loạn nhịp tim, huyết áp cao
13

+ Về thần kinh: run, đau đầu, mất ngủ, kém ăn, hay xúc động, trí nhớ giảm
sút, dễ quên, thính lực và thị lực giảm.
+ Về tiêu hóa: buồn nôn, ăn không ngon, khó tiêu, ợ chua, đau thượng vị.
+ Về hô hấp: viêm phế quản mãn tính, giảm thông khí phổi.
+ Xét nghiệm cận lâm sàng: Nicotin niệu cao. Đối với người không hút
thuốc lá: trên 0,3 mg/L. Đối với người hút thuốc lá: trên 1,2 mg/L.
3.6. Bàn luận về giải pháp làm giảm thiểu ảnh hưởng xấu của nicotin trong môi
trường khí đến người lao động
Trên thế giới đã xây dựng “Công ước Khung về kiểm soát thuốc lá”, các
quốc gia ký Công ước cần có hành động thiết thực để giảm thiểu tác hại của thuốc
lá đối với sức khỏe con người và môi trường sống. Hiện nay, ở Việt Nam đã xây
dựng “Chính sách quốc gia phòng chống tác hại của thuốc lá”, với nội dung như:
Giáo dục sức khoẻ, điều chỉnh quy định về thuế và giá thuốc lá, giảm nhu cầu sử
dụng, tiến tới kiểm soát và giảm mức cung cấp các sản phẩm thuốc lá, nhằm giảm

tỷ lệ mắc và chết do các bệnh liên quan đến thuốc lá. Năm 2011, hưởng ứng phát
động của Tổ chức Y tế Thế giới, tại Việt Nam Thủ tướng Chính phủ đã quyết định
phát động “Tuần lễ Quốc gia không thuốc lá”, từ ngày 25/5/2011 đến ngày
31/5/2011.
Tuy nhiên, những nội dung trên chủ yếu nhằm vào các đối tượng sử dụng
thuốc lá và những người chịu ảnh hưởng từ khói thuốc của những người hút thuốc
lá, còn sức khỏe của người lao động tại nơi sản xuất thuốc lá thì hầu như chưa được
đề cập và chưa có biện pháp giảm thiểu nào được đưa ra.
Để giảm thiểu tác động của các chất phát tán vào không khí do sản xuất
thuốc lá gây ra và ảnh hưởng của nicotin có trong môi trường không khí nói riêng
đến sức khỏe người lao động nơi sản xuất thuốc lá cần phải có chiến lược và biện
pháp cụ thể.
Đối với nhiễm độc nicotin mãn tính không có thuốc điều trị giải độc đặc hiệu
do vậy chủ yếu là điều trị triệu chứng kết hợp với điều dưỡng nâng cao thể trạng.
14

Về dự phòng, cần lắp đặt các hệ thống thông hút gió có gắn với bộ phận hấp
phụ khí độc ở những nơi phát sinh hơi, bụi thuốc lá và đây chính là biện pháp hữu
hiệu và quan trọng nhất. Định kỳ tổ chức khám để phát hiện sớm tình trạng nhiễm
độc nicotin nghề nghiệp ở công nhân trực tiếp sản xuất, thường xuyên tiếp xúc với
thuốc lá.
Trong nhà máy cần có những nơi để công nhân thực hiện vệ sinh cá nhân tốt
nhất sau mỗi ca làm việc trước khi về nhà, áp dụng chế độ ăn giữa giờ, uống sữa
theo quy định về bảo hộ lao động cá nhân. Định kỳ theo dõi, giám sát nồng độ
nicotin trong không khí để có giải pháp khắc phục kịp thời làm giảm nồng độ
nicotin trong không khí ở dưới mức tiêu chuẩn vệ sinh cho phép (dưới 0,5 mg/m
3

không khí).
Kết luận

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu thu được có thể rút ra một số kết luận sau:
1. Đã sử dụng phương pháp sắc ký khí với detector cộng kết điện tử (GC-
ECD) và detector khối phổ (GC/MS) để định lượng nicotin trong mẫu không khí và
trong mẫu máu; các phương pháp này cho kết quả xác định nicotin đáng tin cậy.
2. Đã tiến hành xác định nồng độ nicotin trong mẫu không khí lấy tại các
phân xưởng sản xuất của nhà máy thuốc lá Thăng Long và khu vực xung quanh.
Nồng độ nicotin trong không khí thuộc khu vực sản xuất thuốc lá nằm trong khoảng
từ 0,015 đến 1,2 mg/m
3
, phần lớn không vượt quá giới hạn cho phép (TCCP
3733/2002/QĐ-BYT là 0,5 mg/m
3
); nồng độ nicotin trong môi trường không khí
xung quanh nhà máy sản xuất thuốc lá Thăng Long là từ 0,0187 đến 0,1086 mg/m
3
,
không vượt quá giới hạn cho phép

(TCCP 3733/2002/QĐ-BYT là 1,0 mg/m
3
).
3. Đã xác định nồng độ nicotin trong máu của 42 người lao động (12 nam, 30
nữ) làm việc tại các phân xưởng khác nhau trong nhà máy thuốc lá Thăng Long, ở
độ tuổi từ 42 đến 54, có thâm niên công tác từ 24 đến 34 năm. Nồng độ nicotin
trong máu người lao động nằm trong khoảng từ 0,06 - 0,38 ng/mL, nồng độ nicotin
trong máu của lao động nữ cao hơn lao động nam.
4. Xác định hàm lượng nicotin trong máu của 29 người điều trị bệnh tại Viện
15

Y học Cổ truyền Quân đội có uống thuốc loại bỏ nicotin ra khỏi cơ thể. Nồng độ

nicotin trong máu nằm trong khoảng 0,05 - 0,75 ng/mL. Chủ yếu các mẫu có nồng
độ nicotin thấp hơn 0,2 ng/mL, các nồng độ này thấp hơn không đáng kể so với
những người làm việc trong môi trường sản xuất thuốc lá.
5. Bước đầu đánh giá mối liên quan giữa nồng độ nicotin trong máu với bệnh
tật xuất hiện ở người làm việc trực tiếp trong môi trường sản xuất thuốc lá, chủ yếu
là các bệnh liên quan đến: tim mạch, phổi, da, răng, hàm, mặt
Khuyến nghị
Để giảm thiểu tác hại của nicotin trong môi trường sản xuất thuốc lá đến sức
khỏe người lao động cần phải có chiến lược và biện pháp cụ thể.
Đối với nhiễm độc nicotin mãn tính không có thuốc điều trị giải độc đặc hiệu
do vậy chủ yếu là điều trị triệu chứng kết hợp với điều dưỡng nâng cao thể trạng.
Về dự phòng, cần lắp đặt các hệ thống thông hút gió có gắn với bộ phận hấp
phụ khí độc ở những nơi phát sinh hơi, bụi thuốc lá và đây chính là biện pháp hữu
hiệu và quan trọng nhất.
Định kỳ tổ chức khám để phát hiện sớm tình trạng nhiễm độc nicotin nghề
nghiệp ở công nhân trực tiếp sản xuất, thường xuyên tiếp xúc với thuốc lá.
Định kỳ theo dõi, giám sát nồng độ nicotin trong không khí để có giải pháp
khắc phục kịp thời làm giảm nồng độ nicotin trong không khí ở dưới mức tiêu
chuẩn vệ sinh cho phép (dưới 0,5 mg/m
3
không khí).
Trong nhà máy cần có những nơi để công nhân thực hiện vệ sinh cá nhân tốt
nhất, áp dụng chế độ ăn giữa giờ, uống sữa theo quy định về bảo hộ lao động cá
nhân.

×