Tải bản đầy đủ (.pdf) (125 trang)

Hoàn thiện công tác quản lý thuế giá trị gia tăng của chi cục thuế Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.34 MB, 125 trang )


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH




HOÀNG ĐẠI HẢI



HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ
GIÁ TRỊ GIA TĂNG CỦA CHI CỤC THUẾ
LÂM THAO - TỈNH PHÚ THỌ

Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60.34.04.10

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ



Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS Đỗ Đức Bình



THÁI NGUYÊN - 2013

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu



i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học,
độc lập của tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có
nguồn gốc rõ ràng./.

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2013
Tác giả luận văn



Hoàng Đại Hải





















Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

ii
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và thực hiện đề tài nghiên cứu, tôi đã nhận được rất
nhiều sự giúp đỡ nhiệt tình và đóng góp quý báu của nhiều tập thể và cá nhân.
Trước hết, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến PGS. TS Đỗ Đức Bình, người
thầy đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện nghiên
cứu đề tài và hoàn thành luận văn này.
Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến Khoa Sau đại học - Trường Đại học
kinh tế và Quản trị kinh doanh - Đại học thái nguyên, Quý thầy cô Khoa Quản lý
kinh tế đã giúp đỡ tôi hoàn thành quá trình học tập và thực hiện luận văn của mình.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo, các đồng nghiệp đang công tác tại
Chi cục thuế, Phòng tài chính - Kế hoạch, Chi cục Thống kê huyện Lâm thao, Chi cục
thuế thị xã Phú Thọ - Tỉnh Phú Thọ; Chi Cục thuế huyện Vĩnh tường - Tỉnh Vĩnh
Phúc, đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi và cung cấp thông tin cần thiết cho tôi
trong quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài.
Xin cảm ơn gia đình, bạn bè đồng nghiệp đã động viên và giúp đỡ tôi hoàn
thành chương trình học tập và thực hiện Luận văn này.
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2013
Tác giả luận văn



Hoàng Đại Hải








Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC BẢNG viii
DANH MỤC SƠ ĐỒ ix
DANH MỤC BIỂU ĐỒ x
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn 3
5. Bố cục của luận văn 4
Chƣơng 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ
CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG 5
1.1. Cơ sở lý luận về thuế giá trị gia tăng 5
1.1.1. Khái quát về sự hình thành thuế giá trị gia tăng 5
1.1.2. Khái niệm thuế giá trị gia tăng 6
1.1.3. Bản chất của thuế GTGT 6
1.1.4. Đặc trưng của thuế giá trị gia tăng 8
1.1.5. Phương pháp tính thuế giá trị gia tăng 9

1.1.6. Vai trò của thuế giá trị gia tăng 12
1.2. Nội dung công tác quản lý thuế giá trị gia tăng 14
1.2.1. Sự cần thiết và khái niệm của công tác quản lý thuế GTGT 14
1.2.2. Quy trình, nội dung công tác quản lý thuế giá trị gia tăng 16
1.2.3. Tổ chức bộ máy quản lý thuế GTGT 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

iv
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thuế giá trị gia tăng 30
1.4. Một số kinh nghiệm về quản lý thuế giá trị gia tăng ở một số chi cục thuế
và bài học rút ra 34
1.4.1. Kinh nghiệm quản lý thuế giá trị gia tăng ở một số địa phương 34
1.4.2. Một số bài học rút ra 36
Chƣơng 2. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 40
2.1. Câu hỏi nghiên cứu 40
2.2. Phương pháp nghiên cứu 40
2.2.1. Cơ sở phương pháp luận 40
41
2.2.3. Phương pháp thu thập số liệu 42
2.2.4. Phương pháp tổng hợp số liệu 43
2.2.5. Phương pháp phân tích thông tin 44
2.3. Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 46
2.3.1. Các chỉ tiêu phản ánh mức độ phát triển của các doanh nghiệp NQD và
số hộ kinh doanh 46
2.3.2. Kết quả kinh doanh bình quân của một doanh nghiệp NQD 47
nghiệp ngoài quốc doanh và hộ kinh doanh 47
Chƣơng 3. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ GTGT TẠI
CHI CỤC THUẾ LÂM THAO 48
3.1. Khái quát về Chi cục thuế Lâm Thao 48

3.1.1. Lịch sử ra đời và phát triển của Chi cục thuế Lâm Thao 48
3.1.2. Tốc độ tăng trưởng và pháp triển của loại hình doanh nghiệp và hộ kinh
doanh trên địa bàn huyện Lâm Thao 2010 - 2012 49
3.1.3. Dân số, lao động, việc làm và thu nhập 49
3.1.4. Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế - xã hội 50

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

v
3.1.5. Thuận lợi và khó khăn 51
3.2. Chức năng, nhiệm vụ của Chi cục thuế Lâm Thao 53
3.2.1. Cơ cấu tổ chức bộ máy hành chính Chi cục thuế Lâm Thao 55
3.2.2. Tình hình nhân sự của Chi cục thuế Lâm Thao 60
3.3. Thực trạng công tác quản lý thuế GTGT tại Chi cục thuế Lâm Thao 61
3.3.1. Công tác tổ chức, quản lý thuế GTGT 61
3.3.2. Kết quả thu thuế giá trị gia tăng 73
3.3.3. Thực trạng công tác quản lý thuế giá trị gia tăng 78
3.4. Phân tích và đánh giá thực trạng công tác quản lý thuế giá trị gia tăng tại
Chi cục thuế Lâm Thao 80
3.4.1. Những kết quả đạt được 80
3.4.2. Những hạn chế chủ yếu 85
3.4.3 . Nguyên nhân của những hạn chế 89
Chƣơng 4. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ
GIÁ TRỊ GIA TĂNG CỦA CHI CỤC THUẾ LÂM THAO 99
4.1. Phương hướng, nhiệm vụ của Chi cục thuế Lâm Thao trong thời gian tới 99
4.2. Quan điểm hoàn thiện công tác quản lý thuế giá trị gia tăng đối với Chi
cục Thuế Lâm Thao - tỉnh Phú Thọ 101
4.2.1. Quan điểm 1: Hoàn thiện công tác quản lý thuế giá trị gia tăng phải
tuân thủ nguyên tắc thu đúng, thu đủ, góp phần chống thất thu thuế GTGT
hiện nay 101

4.2.2. Quan điểm 2: Hoàn thiện công tác quản lý thuế giá trị gia tăng phải
nhằm khắc phục triệt để những bất cập và tiêu cực phát sinh từ công tác thu
thuế và hoàn thuế GTGT 101
4.3. Các giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế giá trị gia
tăng tại Chi cục thuế Lâm Thao 101
4.3.1. Tăng cường cải cách quy trình quản lý thuế giá trị gia tăng 102

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

vi
4.3.2. Tăng cường công tác quản lý thu thuế giá trị gia tăng 103
4.3.3. Tăng cường công tác quản lý ấn chỉ, hoá đơn tự in, chứng từ 104
4.3.4. Tăng cường công tác kiểm tra 105
4.3.5. Tăng cường phối hợp với các ngành chức năng 106
4.3.6. Tăng cường việc áp dụng tin học vào công tác quản lý thuế GTGT 106
4.3.7. Tăng cường công tác đào tạo và nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng
giao tiếp cho đội ngũ cán bộ 107
4.3.8. Tăng cường công tác tuyên truyền, tư vấn thuế giá trị gia tăng 108
4.3.9. Góp phần hoàn thiện luật thuế GTGT 109
4.4. Kiến nghị 109
4.4.1. Kiến nghị đối với Nhà nước Trung Ương 109
4.4.2. Kiến nghị với Huyện Lâm thao và Tỉnh Phú thọ 110
4.4.3. Kiến nghị với cục thuế Tỉnh và cơ quan quản lý thuế cấp trên (Tổng cục
thuế và Bộ tài chính) 111
KẾT LUẬN 112
TÀI LIỆU THAM KHẢO 114


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu


vii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CCNT
: Cưỡng chế nợ thuế
CNTT
: Công nghệ thông tin
DNTN
: Doanh nghiệp tư nhân
ĐTNT
: Đối tượng nộp thuế
GTGT
: Giá trị gia tăng
HĐND
: Hội đồng nhân dân
HTX
: Hợp tác xã
KH
: Kế hoạch
KK-KKT- TH
: Khê khai - Kế toán thuế - Tin học
NQD
: Ngoài quốc doanh
NSNN
: Ngân sách nhà nước
NVT
: Nghiệp vụ thuế
QLN
: Quản lý nợ
QTR
: Quy trình

TH
: Thực hiện
TNHH
: Trách nhiệm hữu hạn
TT-HT
: Tuyên truyền - Hỗ trợ
UBND
: Uỷ ban nhân dân


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

viii
DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1. Tăng trưởng của loại hình DN và hộ kinh doanh 49
Bảng 3.2. Kết quả Kiểm tra thuế đối với Doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên
địa bàn huyện Lâm Thao năm 2010 - 2012 68
Bảng 3.3. Kết quả thu NSNN 2010 - 2012 74
Bảng 3.4: Kết quả thu thuế GTGT 2010 - 2012 75
Bảng 3.5: Sự thay đổi Nợ khó thu thuế GTGT qua các năm 2010 - 2012 76

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

ix
DANH MỤC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 1.1: Qui trình quản lý thuế theo cơ chế tự kê khai - tự tính - tự nộp thuế . 16
Sơ đồ 3.1: Tổ chức bộ máy Chi cục thuế Lâm Thao 59
Sơ đồ 3.2: Quy trình quản lý ĐTNT thuế GTGT 61


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

x
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Kết quả thu thuế GTGT 2010-2012 75
Biểu đồ 3.2: Thể hiện sự thay đổi Nợ khó thu qua các năm 77

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Như chúng ta đều biết rằng trong bất cứ một nền kinh tế nào, thuế không chỉ là
công cụ đảm bảo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước mà còn là một công cụ quan
trọng của Nhà nước để quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Đối với hầu hết các quốc
gia trên thế giới, thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước. Còn ở các
nước đang phát triển như Việt nam thi thu từ thuế chiếm 92% ngân sách. Thuế gián
thu chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu ngân sách Nhà nước, đặc biệt là thuế GTGT.
Thuế GTGT là một loại thuế tiến bộ, điều tiết rộng giã hầu hết mọi đối tượng trong
nhân dân, những người tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ chịu thuế. Do đó thuế GTGT có
vai trò rất to lớn trong mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội. Trong tiến trình hội nhập,
thuế lại càng có vị thế lớn trong chiến lược toàn cầu hóa. Vì vậy công tác quản lý thuế
mặc nhiên trở thành mối quan tâm hàng đầu của mỗi quốc gia. Những kiến thức về
thuế và quản lý thuế đang là nhu cầu thường trực không chỉ đối với các nhà quản lý,
các doanh nhân, mà cũng cần phổ cập đến tất cả mọi công dân, những ai đang chịu sự
điều chỉnh của các sắc thuế hiện hành. Trong tình hình kinh tế hiện nay, nguồn thu từ
viện trợ nước ngoài đã giảm nhiều, kinh tế đối ngoại chuyển thành quan hệ có vay, có
trả. Thuế là công cụ góp phần bội chi ngân sách, giảm lạm phát, từng bước góp phần
ổn định xã hội, chuẩn bị điều kiện và tiền đề cho việc phát triển bền vững và lâu dài.

Luật thuế GTGT đã thi hành được 16 năm. Bên cạnh những thành tựu đạt
được, còn tồn tại nhiều vấn đề bất cập. Các vụ gian lận thuế GTGT ngày càng
nhiều, các hình thức ngày càng tinh vi hơn cho thấy vấn đề gian lận thuế GTGT đã
trở nên ngày càng nguy hiểm và đáng báo động bỏi nó đã tạo ra sự bất công bằng
cho các đối tượng nộp thuế. Do nhiều người chưa hiểu rõ về thuế GTGT, ý thức
chấp hành nghĩa vụ nộp thuế cũng như ý thức trong việc góp phần tham gia chống
thất thu thuế chưa cao. Đồng thời, trong thời gian áp dụng có nhiều thay đổi chưa
hoàn thiện nên luật thuế GTGT còn một số bất hợp lý chưa được thay đổi phù hợp
với điều kiện của Việt Nam hiện nay, do đó công tác quản lý thuế GTGT còn gặp
một số khó khăn, hạn chế. Một trong những vấn đề quan trọng góp phần khắc phục
những hạn chế trên là phải tăng cường hiệu quả công tác quản lý thuế GTGT cho
các cơ quan thuế từ trung ương đến địa phương.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

2
Chi cục Thuế huyện Lâm Thao trong những năm qua đã cố gắng phấn đấu
hoàn thành tốt nhiệm vụ thu ngân sách của mình. Cùng với sự cố gắng, nổ lực phấn
đấu trong công tác quản lý thuế nên kết quả thu ngân sách đã đạt kết quả khá cao,
hầu hết đều đạt và vượt mức dự toán giao, số thu năm sau cao hơn năm trước. Tuy
nhiên kết quả đã vẫn chưa tương xứng với tiềm năng của Huyện công tác quản lý
thuế vẫn còn lúng túng, chưa đồng bộ chưa pháp huy được hết khả năng, hiệu quả
của mình. Đặc biệt là các khoản thu về thuế GTGT, vẫn còn nợ đọng, vẫn còn thất
thu cả về đối tượng nộp thuế (ĐTNT) lẫn doanh thu và mức thuế.
Để góp phần đảm bảo công bằng giữa các chủ thể có nghĩa vụ nộp thuế thi
việc nghiên cứu cơ chế thi hành quản lý thuế GTGT có ý nghĩa quan trọng trong.
Chí vì lý do trên nên tôi đề tài: “Hoàn thiện công tác quản lý thuế Giá trị gia
tăng của Chi cục thuế Lâm Thao - Tỉnh Phú Thọ”. Làm đề tài nghiên cứu của
minh góp phần thiết thực trong việc quản lý thuế và triển khai chiến lược cải
cách hệ thống thuế giai đoạn 2011-2020. Xây dựng và gìn giữ các trị. Minh Bạch

- Chuyên Nghiệp - Liêm Chính - Đổi Mới.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu tổng quát
Đề xuất các giải pháp nhằm iện công quản lý thuế giá trị gia tăng
của huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa và làm rõ thêm một số vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý
thuế giá trị gia tăng đối với Chi cục thuế Lâm Thao.
- Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý thuế giá trị gia tăng đối với địa bàn
huyện Lâm Thao trong thời gian từ năm 2010 - 2012.
- Đưa ra được các giải pháp hợp lý nhằm iện cô quản lý thuế
giá trị gia tăng của Chi cục thuế Lâm Thao trong thời gian tới.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Cô giá trị gia tăng của Chi cục thuế Lâm Thao.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

3
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Thời gian: Việc nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý thu thuế gắn với giai
đoạn phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, việc phân tích thực
trạng quản lý thu thuế giá trị gia tăng của chi cục thuế Lâm thao chủ yếu từ năm
2010 - 2012.
- Về không gian: Đề tài được thực hiện trên địa bàn huyện Lâm Thao,
tỉnh Phú Thọ.
- Về nội dung: Hoàn thiện công tác quản lý thuế giá trị gia tăng của chi cục
thuế Lâm Thao - Tỉnh Phú Thọ. Hệ thống hoá và làm rõ cơ sở lý luận về quản lý
thu thuế giá trị gia tăng ở địa phương. Phân tích thực trạng quản lý thu thuế giá trị
gia tăng trên địa bàn, làm rõ những kết quả, hạn chế và những nguyên nhân chủ yếu.

Đề xuất các biện pháp đổi mới nhằm tăng cường quản lý thu thuế giá trị gia tăng
trên địa bàn huyện Lâm Thao tỉnh Phú Thọ phù hợp với điều kiện mới.
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Luận văn là Công trình khoa học có ý nghĩa lý luận và thực tiễn, hệ thống
hóa và có bổ sung, phát triển những vấn đề cơ bản về thuế giá trị gia tăng và cô
quản lý thuế giá trị gia tăng của Chi cục Thuế huyện Lâm thao.
Phân tích và đánh giá đúng thực trạng quản lý thu thế giá trị gia tăng của chi
cục thuế Lâm Thao.
Luận văn đề xuất các giải pháp sát thực, khách quan và khả thi nhằm
thiện công quản lý thuế giá trị gia tăng của chi cục thuế Lâm Thao, đáp ứng yêu
cầu thu đúng, thu đủ và kịp thời cho ngân sách nhà nước. Có ý nghĩa thiết thực cho
quá trình phát triển Kinh tế - Xã hội huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ và đối với các
địa phương có điều kiện tương tự.
Các kết quả nghiên cứu đã giải quyết được một số vấn đề lý luận và thực tiễn
về thuế, quản lý thu thuế. Cụ thể như sau:
Một là, làm rõ cơ sở lý luận của thuế trên các mặt: khái niệm, bản chất, vai
trò và tác dụng của thuế, phân loại thuế.
Hai là, đi sâu nghiên cứu từng sắc thuế cụ thể như: thuế giá trị gia tăng
(GTGT).

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

4
Ba là, luận giải các vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản về quản lý thuế nói
chung, bao gồm từ khái niệm, chức năng, vai trò, nội dung quản lý thuế đến các quy
trình, thủ tục, mô hình quản lý thuế.
Bốn là, làm rõ được cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý thu đối với một số
loại thuế cụ thuế như quản lý thu thuế giá trị gia tăng (VAT).
Năm là, làm rõ được một số vấn đề cơ bản về quản lý thu thuế đối với một số
đối tượng .

5. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo luận văn được kết cấu
thành 4 chương:
Chƣơng 1: Lý luận chung về thuế giá trị gia tăng và công tác quản lý
thuế giá trị gia tăng
Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu
Chƣơng 3: Thực trạng công tác quản lý thuế GTGT tại chi cục thuế
Lâm Thao
Chƣơng 4: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế giá trị gia tăng
của chi cục thuế Lâm Thao





Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

5
Chƣơng 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG
VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG
1.1. Cơ sở lý luận về thuế giá trị gia tăng
1.1.1. Khái quát về sự hình thành thuế giá trị gia tăng
Thuế GTGT (hay còn gọi là VAT- Value Added Tax) được phát kiến ra bởi
một người Đức. Nhưng những lý luận của ông đã không đủ sức thuyết phục Chính
phủ Đức áp dụng loại thuế này. Đến năm 1954, loại thuế này mới được áp dụng đầu
tiên tại Pháp với tên gọi là TVA (Taxe Sur la Valeur Ajoutee). Lúc đầu, thuế GTGT
chỉ được áp dụng cho lĩnh vực sản xuất trong một số ngành nghề cá biệt với mức
thuế suất là: 16,8%. Mãi đến 1968, thuế GTGT mới được áp dụng cho mọi lĩnh vực,
ngành nghề với 4 mức thuế suất là: 6,4- 13,6- 20 và 25%. Sau một thời gian sửa đổi,

đến năm 1986 thì 4 mức thuế suất đó được thay đổi thành: 5,5- 7- 18,6 và 33,3%
Từ đó thuế GTGT đã nhanh chóng được áp dụng rộng rãi trên thế giới, trở thành
nguồn thu quan trọng của Chính phủ nhiều nước. Hiện nay trên thế giới đã có hơn
130 quốc gia đưa thuế GTGT vào hệ thống thuế khoá của mình. Còn Đức tuy là
nước được biết về thuế GTGT sớm hơn cả nhưng mãi đến năm 1969 mới bắt đầu áp
dụng thuế GTGT với mức thuế suất là 10% và đến năm 1995 tăng lên là 15% Lịch
sử áp dụng thuế GTGT ở các nước trên thế giới là bài học kinh nghiệm rất quý giá
cho Việt Nam học hỏi trong thời gian đầu áp dụng thuế GTGT.
Ở Việt Nam, Luật thuế GTGT chính thức được Quốc Hội thông qua ngày
10-05-1997 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01-01-1999. Luật thuế GTGT ra đời đã
khắc phục được những nhược điểm của thuế doanh thu như: Tránh tình trạng tính
thuế trùng lắp, việc thực hiện tổ chức quản lý dễ dàng và đơn giản hơn, mang tính
trung lập và dân chủ cao. Đồng thời, thuế GTGT cũng đã thể hiện được vai trò rất
quan trọng trên mọi lĩnh vực như: Khuyến khích sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu,
thu hút được các nguồn đầu tư từ nước ngoài, thúc đẩy công tác hạch toán, kế toán
trong sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp, góp phần tạo điều kiện chống thất
thu thuế, tạo nguồn thu lớn và ổn định cho ngân sách Nhà nước, góp phần tăng
cường quản lý các hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

6
Sau khi thuế GTGT ra đời thay thế cho thuế doanh thu thì hệ thống thuế của
Việt Nam đã có nhiều ưu điểm nổi bật hơn, mang lại nhiều thành công hơn góp
phần quan trọng đưa đất nước phát triển về KT-XH, hội nhập với khu vực và thế
giới. Hiện nay, hệ thống thuế của Việt Nam bao gồm các sắc thuế:
- Thuế giá trị gia tăng;
- Thuế tiêu thụ đặc biệt;
- Thuế thu nhập doanh nghiệp;
- Thuế thu nhập cá nhân;

- Thuế xuất, nhập khẩu;
- Thuế tài nguyên;
- Thuế nhà đất (nay là thuế sử dụng đất phi nông nghiệp).
- Thuế môn bài;
1.1.2. Khái niệm thuế giá trị gia tăng
Thuế giá trị gia tăng là thuế tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hoá,
dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng.
Việc chuyển sang áp dụng thuế GTGT thay thế cho thuế doanh thu ở Việt
Nam, vừa nhằm mục đích từng bước hoà nhập với chính sách thuế của các nước
trong khu vực và trên thế giới, đồng thời vươn tới việc cải cách hệ thống thuế thích
hợp hơn cho việc chuyển từ nền kinh tế kế hoạch tập trung sang nền kinh tế thị
trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
1.1.3. Bản chất của thuế GTGT
Theo quan niệm của C.Mác, giá trị của hàng hoá, dịch vụ là c+(v+m), trong
đó c là lao động quá khứ được chuyển vào sản phẩm, (v+m) là phần giá trị mới sáng
tạo ra và đó chính là phần giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ. Nếu sản phẩm
này lại là tài sản cố định hay nguyên, vật liệu cho chu kỳ sản xuất, kinh doanh tiếp
theo thì nó lại đóng vai trò là phần c của sản phẩm mới. Cứ như vậy đến người tiêu
dùng cuối cùng, toàn bộ số c+(v+m) là tổng giá trị của hàng hóa, dịch vụ, đồng thời
cũng là tổng các phần giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ qua các giai đoạn sản
xuất, kinh doanh khác nhau. Mỗi một sản phẩm, hàng hoá nếu không đi vào tiêu
dùng sẽ đi vào quá trình sản xuất, kinh doanh tiếp theo và lại làm tăng thêm giá trị

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

7
của hàng hóa. Những giá trị đó tất nhiên sẽ bị Nhà nước tính thuế, nhưng việc tính
thuế trên toàn bộ giá trị hay chỉ tính thuế đối với phần giá trị tăng thêm, điều đó phụ
thuộc vào từng sắc thuế.
Quá trình sản xuất ra hàng hoá bao gồm một số bước, giá trị cuối cùng của

sản phẩm là tổng các giá trị tăng thêm ở các giai đoạn đó. Thuế đánh vào tổng giá
trị sản phẩm ở mỗi giai đoạn gọi là thuế doanh thu, còn thuế đánh vào phần giá trị
tăng thêm ở từng giai đoạn gọi là thuế GTGT.
Thuế GTGT là thuế gián thu, được tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng
hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình luân chuyển từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng.
Do thuế GTGT được tính trên phần giá trị tăng thêm, nên dù hàng hoá được
mua đi bán lại kiểu gì, dù bán cho người tiêu dùng trực tiếp hay vòng vo qua nhiều
thang, nhiều nấc thì kết quả cuối cùng Nhà nước vẫn thu được một khoản thuế cố định,
đó chính là số thuế của toàn bộ giá trị hàng hoá mà người tiêu dùng cuối cùng phải trả.
Tức là thuế GTGT đánh trên hành vi tiêu dùng, còn các cơ sở sản xuất, kinh doanh với
tư cách là những nhà trung gian nên không phải là người chịu thuế. Vì vậy, có thể nói
bản chất của thuế GTGT là thuế tiêu dùng và đánh vào người tiêu dùng cuối cùng.
Cũng do thuế GTGT tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ,
nên ĐTNT phải là các cơ sở sản xuất, kinh doanh đã bỏ thêm chi phí vào làm cho
giá cả của hàng hoá, dịch vụ tăng lên. Tuy nhiên, phần thuế mà họ nộp vào ngân
sách, về thực chất lại là do người mua hàng hoá, dịch vụ đã thanh toán trong giá cả,
tức là người tiêu dùng mới là người chịu thuế. Lúc này các cơ sở sản xuất, kinh
doanh đóng vai trò là người thu hộ thuế cho Nhà nước và là người nộp hộ thuế cho
người tiêu dùng, là một mắt xích trong hệ thống thu thuế. Vì vậy, thuế GTGT là một
loại thuế gián thu, điều tiết vào thu nhập của người tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ một
cách gián tiếp, thông qua giá cả.
Thuế GTGT có tính xã hội hoá cao, đòi hỏi người tiêu dùng phải có ý thức
trong việc chấp hành nghĩa vụ nộp thuế và góp phần kiểm soát chống thất thu cho
ngân sách Nhà Nước. Đặc biệt là đối với đối tượng người nộp thuế trong việc tự kê
khai, tính thuế và nộp thuế GTGT như ở nước ta hiện nay đòi hỏi nhân dân phải có
tinh thần tự giác cao và ý thức chấp hành nghĩa vụ nộp thuế tốt

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

8

1.1.4. Đặc trưng của thuế giá trị gia tăng
Thuế GTGT xuất phát từ nhu cầu chi tiêu của Nhà nước, nhằm đáp ứng nhu
cầu huy động ngân sách ngày càng lớn của Nhà nước. Thuế GTGT là nguồn động
viên quan trọng, kịp thời và chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu ngân sách Nhà nước.
Thuế GTGT được tính và thu vào từng khâu, từng giai đoạn của quá trình sản xuất,
kinh doanh nên làm tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà nước.
Thuế GTGT có phạm vi điều chỉnh rất rộng, áp dụng cho hầu hết các hàng
hoá, dịch vụ sử dụng trong sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng trong tất cả các ngành
nghề, ở tất cả các giai đoạn.
Thuế GTGT là một loại thuế gián thu, nó là một yếu tố cấu thành trong giá
cả hàng hoá, dịch vụ nhằm động viên một phần thu nhập thông qua sự đóng góp của
người tiêu dùng khi họ sử dụng hàng hoá, dịch vụ đó. Thuế GTGT được tính trong
giá bán, nên người chịu thuế ít có cảm giác mình bị Nhà nước đánh thuế, do đó thuế
GTGT ít gây ra những phản ứng từ phía người chịu thuế.
Ở Việt Nam, thuế GTGT được ban hành nhằm thay thế cho thuế doanh thu
trước đây. Nó đã khắc phục được các nhược điểm của thuế doanh thu, Thuế GTGT
chỉ có 4 mức thuế suất giúp cho việc áp dụng trở nên đơn giản hơn so với thuế
doanh thu trước đây (với 11 mức thuế suất). Việc thu thuế từ số ít người sản xuất,
kinh doanh thuận tiện và dễ dàng hơn là thu trực tiếp từ số đông người tiêu dùng.
Nghiệp vụ tính và thu thuế do đó cũng đơn giản hơn, thuận tiện hơn.
Ngày nay, khi phân công lao động xã hội và chuyên môn hoá sản xuất phát
triển, thì mỗi công đoạn trong quy trình sản xuất sẽ do những người khác nhau đảm
trách, thậm chí giữa những người sản xuất này còn có thể có ít nhất một nhà buôn
làm trung gian. Vì thế, việc thuế doanh thu được tính trên toàn bộ doanh thu của
mỗi người, cũng có nghĩa là thuế doanh thu của khâu này được tính chồng lên thuế
doanh thu của những khâu sản xuất trước đó. Còn thuế GTGT chỉ thu trên phần giá
trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ ở từng khâu của quá trình sản xuất, kinh doanh,
phần giá trị tăng thêm ở khâu nào chỉ phải nộp thuế ở khâu đó, sang khâu sau, thuế
GTGT không tính trên phần giá trị đó nữa. Do đó, thuế GTGT khắc phục được
nhược điểm thu trùng lắp qua các công đoạn sản xuất và phân phối hàng hoá, dịch

vụ của thuế doanh thu.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

9
Thuế GTGT tăng cường tính dân chủ. Việc thuế doanh thu không được thể
hiện rõ bên cạnh giá bán hàng hoá như bấy lâu nay là không phù hợp với phương
châm này, nó chưa thể hiện được tính dân chủ. Trái lại, thuế GTGT được thể hiện rõ
bên cạnh giá bán làm cho người tiêu dùng biết rõ sự đóng góp của mình vào ngân
sách Nhà nước thông qua việc tiêu dùng, đó là một biểu hiện của dân chủ và công
khai. Khi chịu thuế GTGT, người tiêu dùng có thể cảm nhận được, thậm chí họ cảm
thấy hãnh diện hoặc phiền lòng nếu tiêu dùng những hàng hoá có thuế cao, hoặc họ
cảm thấy hài lòng khi chọn được những mặt hàng tiêu dùng có thuế thấp. Đây là
một ưu điểm về tính dân chủ của thuế GTGT.
Thuế GTGT mang tính trung lập cao. Một loại thuế được gọi là trung lập khi
nó không gây ra bất cứ ảnh hưởng nào đến hoạt động của doanh nghiệp nếu Chính
phủ không muốn thế. Trong thuế doanh thu các doanh nghiệp có khuynh hướng tối
thiểu hóa số tiền thuế phải nộp bằng cách hội nhập lại theo chiều dọc, mặc dù Chính
phủ không muốn thế, (ví dụ: xí nghiệp sợi có thể kết hợp với xí nghiệp dệt và may
để không phải đóng thuế khi chuyển sản phẩm từ khâu trước sang khâu sau). Còn
thuế GTGT không hề khuyến khích các doanh nghiệp hội nhập như trên bởi vì tổng
số thuế phải nộp trong cả 2 trường hợp là như nhau. Tuy thuế GTGT áp dụng các
mức thuế suất khác nhau đối với các loại hàng hoá khác nhau phần nào có tác động
đến quan hệ sản xuất trong xã hội, nhưng xét về cơ bản, thuế GTGT không can
thiệp sâu vào mục tiêu khuyến khích hay hạn chế sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng
theo ngành nghề cụ thể.
1.1.5. Phương pháp tính thuế giá trị gia tăng
- Phương pháp tính Thuế GTGT
Đặc trưng của thuế GTGT là chỉ đánh vào phần giá trị tăng thêm của các sản
phẩm, hàng hoá, dịch vụ ở mỗi công đoạn từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng. Để

thực hiện được việc tính thuế trên, đảm bảo cho phần giá trị tăng thêm không chồng
chéo, trùng lắp, trên thế giới hiện nay có 4 phương pháp tính thuế GTGT như sau:
(1) Phương pháp cộng trực tiếp:
Thuế GTGT phải nộp = (lợi nhuận + tiền công) x thuế suất


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

10
(2) Phương pháp cộng gián tiếp:
Thuế GTGT phải nộp = (lợi nhuận x thuế suất) + (tiền công x thuế suất)
Về cơ bản phương pháp này cũng giống phương pháp trên, nhưng được sử
dụng với trường hợp có 2 mức thuế suất khác nhau đối với lợi nhuận và tiền công.
(3) Phương pháp trừ trực tiếp:
Hay:
Thuế GTGT phải nộp =
GTGT x
Thuế suất thuế GTGT
(4) Phương pháp trừ gián tiếp:
Thuế
GTGT
phải nộp
=
Doanh số
bán ra
x
Thuế suất
thuế GTGT
-
Doanh số

mua vào
x
Thuế suất
thuế
GTGT
Hay:
Thuế Thuế Thuế
GTGT = GTGT - GTGT
phải nộp thu hộ trả hộ
Phương pháp này rất thuận lợi cho việc tính thuế trong trường hợp thuế suất
đầu ra và thuế suất đầu vào khác nhau.
Trong 4 phương pháp trên, thì 2 phương pháp đầu có nhiều hạn chế và khó
chính xác. Hiện nay, hầu hết các quốc gia đều sử dụng cách tính thuế GTGT theo
phương pháp trừ gián tiếp.
Ở Việt Nam hiện nay đang áp dụng 2 phương pháp tính thuế GTGT là:
(1) Phương pháp khấu trừ:
Số thuế Thuế Thuế
GTGT = GTGT - GTGT
Thuế Doanh Doanh Thuế suất thuế
G TG T = số bán - số mua x GTGT của hàng
Phải nộp ra vào hoá, dịch vụ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

11
phải nộp đầu ra đầu vào
Trong đó:
Thuế Giá tính thuế Khối lượng Thuế suất thuế
GTGT = của hàng hoá x hàng hoá, dịch x GTGT của hàng
đầu ra dịch vụ vụ bán ra hoá, dịch vụ đó

Còn thuế GTGT đầu vào là số thuế được ghi trên hoá đơn GTGT khi mua
hàng của hàng hoá, dịch vụ mà cơ sở đó mua vào hoặc trên chứng từ nộp thuế
GTGT của hàng hoá nhập khẩu hoặc theo tỷ lệ % quy định.
Nếu thuế GTGT đầu vào lớn hơn thuế GTGT đầu ra thì doanh nghiệp sẽ
được Nhà nước khấu trừ số chênh lệnh đó vào số thuế GTGT phải nộp của kỳ sau.
Nếu số chênh lệch đó lớn hơn 200 triệu đồng hoặc 3 tháng liên tiếp có số thuế đầu
vào lớn hơn thuế đầu ra thì doanh nghiệp sẽ được Nhà nước hoàn lại phần thuế
chênh lệch đó.
(2) Phương pháp tính trực tiếp trên GTGT:
Số thuế GTGT của Thuế suất thuế
GTGT = hàng hoá, dịch x GTGT của hàng
phải nộp vụ chịu thuế hoá, dịch vụ đó
Trong đó, GTGT hàng hóa, dịch vụ bán ra được xác định theo hai cách
như sau:
+ Đối với những cơ sở kinh doanh thực hiện đầy đủ việc mua bán hàng hóa,
dịch vụ có hóa đơn chứng từ, ghi chép sổ sách kế toán, áp dụng cách thứ nhất với
công thức tính sau:
GTGT của hàng
hóa, dịch vụ
bán ra
=
Doanh số của
hàng hóa ,
dịch vụ
chịu thuế
-
Giá vốn hàng
hóa , dịch vụ
bán ra
+ Đối với cơ sở kinh doanh đã thực hiện hóa đơn chứng từ bán hàng hóa,

dịch vụ nhưng không đủ hóa đơn mua vào, thì áp dụng theo công thức sau:
GTGT của
hàng hóa
=
Doanh Thu
*
Tỷ lệ(%)
GTGT tính

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

12
Dịch vụ
trên doanh thu
1.1.6. Vai trò của thuế giá trị gia tăng
Trong nền kinh tế quốc dân, thuế không chỉ là công cụ thu ngân sách mà còn
là công cụ quan trọng của Nhà nước để quản lý, kiểm soát, điều tiết vĩ mô nền kinh
tế, nó ảnh hưởng trực tiếp đến các hoạt động của hệ thống bộ máy quản lý Nhà
nước. Nhà nước sử dụng thuế nhằm hướng dẫn, điều tiết các lĩnh vực sản xuất, kinh
doanh, tiêu dùng, thực hiện chính sách phân phối và phân phối lại, điều tiết thu
nhập, giải quyết công bằng xã hội Trong đó, thuế GTGT là một khoản thu chiếm
tỷ trọng lớn trong tổng số thu ngân sách của Nhà Nước, do đó thuế GTGT có vai trò
rất to lớn, tác động đến mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội. Có thể khái quát các
vai trò đó thành ba vai trò cơ bản như sau:
* Thứ nhất, thuế GTGT là nguồn thu quan trọng của Ngân sách Nhà nước
Thuế GTGT là công cụ tập trung, huy động đầy đủ, kịp thời nguồn thu
cho ngân sách Nhà nước. Thuế GTGT tập trung thu ngay từ khâu đầu (sản xuất
hoặc nhập khẩu) nên đảm bảo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước, hạn chế thất
thu. Thuế GTGT được tính và thu vào từng khâu, từng giai đoạn của quá trình
sản xuất, kinh doanh nên làm tăng nguồn thu và đảm bảo huy động kịp thời cho

ngân sách Nhà nước. Việc khấu trừ thuế GTGT được thực hiện căn cứ trên hoá
đơn mua hàng đã thúc đẩy người mua phải đòi hỏi người bán xuất hoá đơn, ghi
đúng doanh thu với giá trị thực của hoạt động mua bán, góp phần khắc phục
được tình trạng thông đồng giữa người mua và người bán để trốn lậu thuế, giảm
thất thu cho ngân sách Nhà nước.
* Thứ hai, thuế GTGT là công cụ điều tiết vĩ mô và vi mô nền kinh tế
Thuế GTGT điều tiết sản xuất và tiêu dùng. Luật thuế GTGT quy định đánh
thuế hoặc không đánh thuế, đánh thuế với thuế suất cao hay thấp vào các mặt hàng
cụ thể, thông qua đó mà tác động và làm thay đổi mối quan hệ giữa cung và cầu trên
thị trường, tác động tới việc lựa chọn những hàng hoá, dịch vụ để sản xuất, kinh
doanh và tiêu dùng, nhằm góp phần thực hiện điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
Thuế GTGT khuyến khích hoạt động đầu tư mở rộng sản xuất. Trong hoạt động
đầu tư tài sản cố định, toàn bộ số thuế GTGT mà doanh nghiệp phải trả khi mua sắm tài

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

13
sản cố định sẽ được Nhà nước cho khấu trừ hoặc hoàn lại. Còn khi nhập khẩu máy móc
thiết bị, phương tiện vận tải chuyên dùng nằm trong dây chuyền công nghệ và vật tư
xây dựng thuộc loại trong nước chưa sản xuất được cần nhập khẩu để tạo tài sản cố
định cho doanh nghiệp thì doanh nghiệp cũng không phải nộp thuế GTGT. Đồng thời
việc thuế GTGT không đánh vào vốn đầu tư đã làm cho giá thành các công trình đầu tư
trong nước giảm rất nhiều. Do đó, thuế GTGT đã góp phần khuyến khích đầu tư đổi
mới công nghệ, thúc đẩy phát triển sản xuất, kinh doanh và lưu thông hàng hoá.
Thuế GTGT khuyến khích xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu, góp phần bảo hộ
sản xuất trong nước. Hàng hoá xuất khẩu được áp dụng thuế suất thuế GTGT là
0%, số thuế GTGT đầu vào mà doanh nghiệp đã nộp thì sẽ được nhà nước cho khấu
trừ hoặc hoàn lại, vì vậy nó là động lực khuyến khích sản xuất các mặt hàng xuất
khẩu, tăng cường sự hợp tác thương mại giữa Việt Nam với các nước trên thế giới.
Thuế GTGT tạo điều kiện cho hàng hoá xuất khẩu có thể cạnh tranh dễ dàng hơn

trên thị trường quốc tế, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, giải quyết nhu cầu lao
động trong xã hội.
Thuế GTGT góp phần điều tiết thu nhập, thực hiện công bằng xã hội trong
phân phối. Thuế GTGT áp dụng mức thuế suất cao đối với các loại hàng hoá, dịch
vụ cao cấp mà chỉ những người có thu nhập cao mới sử dụng hoặc sử dụng nhiều
hơn, còn đối với các hàng hoá thông thường hoặc có tính chất thiết yếu thì thuế
GTGT quy định mức thuế suất thấp hơn, qua đó điều tiết một phần thu của họ.
Thuế GTGT khuyến khích tăng hiệu quả sản xuất. Trong nền kinh tế thị
trường, giá cả hàng hoá được bán ra phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố cung cầu, nó
phải được người tiêu dùng chấp nhận, người sản xuất khó có thể thay đổi giá cả
theo ý mình. Do đó việc Nhà nước đánh thuế sẽ làm giảm doanh thu thuần của
doanh nghiệp nếu doanh nghiệp không cố gắng nâng cao hiệu quả sản xuất để giảm
bớt chi phí. Điều đó đã thúc đẩy các doanh nghiệp phải luôn luôn cải tiến kỹ thuật,
nâng cao năng suất, thúc đẩy nền sản xuất phát triển.
Thuế GTGT thúc đẩy các doanh nghiệp thực hiện chế độ hạch toán, kế toán,
phát triển quan hệ thanh toán. Việc doanh nghiệp được phép khấu trừ thuế GTGT
của hàng hoá, dịch vụ mua vào cùng với việc thực hiện hoàn thuế GTGT của Nhà

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

14
nước đã khuyến khích các doanh nghiệp tự giác ghi chép, quản lý, sử dụng hoá đơn,
chứng từ, thúc đẩy việc hoàn thiện công tác hạch toán, kế toán tại đơn vị. Ngoài ra,
thuế GTGT góp phần phát triển hệ thống thanh toán. Việc thuế GTGT đòi hỏi
những doanh nghiệp có hàng hoá xuất khẩu phải thanh toán qua ngân hàng thì mới
được hoàn thuế đã thúc đẩy các doanh nghiệp thực hiện thanh toán qua hệ thống
ngân hàng, góp phần phát triển hệ thống thanh toán.
* Thứ ba, thuế GTGT là công cụ kiểm soát các hoạt động sản xuất, kinh doanh
Vai trò này hình thành ngay trong quá trình tổ chức thực hiện luật thuế
GTGT. Để thu được thuế và đảm bảo thực hiện đúng luật thuế, cơ quan thuế và các

cơ quan hữu quan phải bằng mọi biện pháp nắm vững số lượng, quy mô và tình
hình hoạt động của các cơ sở sản xuất, kinh doanh. Từ đó cơ quan thuế sẽ phát hiện
ra những việc làm sai trái, vi phạm pháp luật của các cá nhân, tổ chức sản xuất, kinh
doanh, cũng như phát hiện ra những khó khăn mà các cơ sở gặp phải để giúp đỡ họ
tìm biện pháp tháo gỡ. Thuế GTGT còn thúc đẩy việc mua bán hàng hoá sử dụng
đầy đủ hoá đơn, chứng từ hợp lệ, tạo điều kiện thuận lợi cho việc kiểm tra, kiểm
soát các hoạt động sản xuất, kinh doanh. Như vậy, qua công tác quản lý thuế có thể
kiểm tra, kiểm soát toàn diện các mặt hoạt động của các cơ sở kinh tế, đảm bảo thực
hiện tốt công tác quản lý Nhà nước.
1.2. Nội dung công tác quản lý thuế giá trị gia tăng
1.2.1. Sự cần thiết và khái niệm của công tác quản lý thuế GTGT
Sự cần thiết của quản lý
Quản lý là một phạm trù để chỉ những mối quan hệ và sự tác động qua lại
giữa các chủ thể quản lý và đối tượng bị quản lý nhằm đạt được những mục tiêu đề
án trong điều kiện có sự biến đổi của môi trường. Tuỳ theo yêu cầu, mục tiêu và
phạm vi nghiên cứu mà ta có thể hiểu chủ thể quản lý và đối tượng bị quản lý ở
những chừng mực nhất định.
Xét trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế quốc dân, thì chủ thể quản lý đó là bộ máy
quản lý Nhà Nước, thống nhất từ trung ương đến địa phương, thực hiện quản lý trên
mọi mặt của đời sống, kinh tế, văn hoá, xã hội…Đối tượng bị quản lý (đối tượng quản
lý) là con người và cộng đồng người đang và sẽ tham gia vào các quan hệ xã hội, mà

×