Tải bản đầy đủ (.doc) (59 trang)

Xây dựng bộ câu trắc nghiệm khách quan về môn hoá học lớp 11

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (372.69 KB, 59 trang )


Lời cảm ơn
Với lòng biết ơn sâu sắc em xin chân thành cảm ơn GS.TSKH. LÂM
QUANG THIệp đã tận tình giúp đỡ và chỉ bảo em trong quá trình làm khoá
luận. Em xin đợc gửi lời cảm ơn đến trờng PTTH Hai Bà Trng Hà Nội, cô
giáo Vũ Thị Liên, tập thể lớp 11E
1
, 11G
1
, 11H
2
; công ty EDTECH, anh Lâm
Quang Minh cùng toàn thể các thầy cô giáo trong khoa và các bạn đã động
viên và giúp đỡ em để em hoàn thành khoá luận của mình.
Em xin gửi lời chúc sức khoẻ thành đạt hạnh phúc tới thầy cô và
các bạn cùng các em học sinh.
Sinh viên: Hoàng thị lý
1

KÝ hiÖu
TN : Tr¾c nghiÖm
TNKQ: Tr¾c nghiÖm kh¸ch quan
TL : Tù luËn
GD : Gi¸o dôc
TS : ThÝ sinh
HS : Häc sinh
GV : Gi¸o viªn
TL : Tr¶ lêi
CH : C©u hái
MCQ : C©u hái nhiÒu lùa chän
2



Mở ĐầU
1. Lí do chọn đề tài
1.1 . Từ thực tiễn
Trong các lĩnh vực của đời sống khi so sánh một số lĩnh vực nào đó với
nhau ngời ta thờng đa ra những con số những loại thang đo để thuyết phục ngời
khác. Giống nh khi so sánh sự phát triển của hai quốc gia, ngời ta đa ra những
con số về GDP, GNP, bình quân đầu ngời trên một năm . Hay khi ta muốn biết
hai thành phố cách nhau bao nhiêu thì ta biểu thị khoảng cách giữa hai thành phố
đó bằng kilomet . Vì vậy ai cũng hiểu đợc và có thể so sánh chúng với nhau và
với các đối tợng khác. Thế nhng trong lĩnh vực đo lờng tâm lí và giáo dục thì
chúng ta cha có một phép đo lờng và một loại thang đo nào đợc toàn thể mọi ngời
chấp nhận. Chúng ta chỉ biết đánh giá năng lực của học sinh và mức độ đạt đợc
mục tiêu của ngời dạy qua bài kiểm tra của học sinh và qua sự ớc lợng của chính
bản thân GV mà thôi. Nếu nh thế thì liệu có chính xác và tin cậy không?! Và đặc
biệt khi ngày nay KHKT càng ngày càng phát triển thế giới đang theo xu hớng
nhanh, mạnh, chính xác và hiệu quả. Ngành GD đóng vai trò chủ đạo đối với sự
phát triển của một nớc thì không có lí do gì lại không ứng dụng những thành tựu
của KHKT để tự hoàn thiện mình đảm bảo với sự đi lên của xã hội. Chính vì thế
khoa học về đánh giá và đo lờng đã và đang phát triển. Một trong những ứng
dụng rộng rãi của nó là đo lờng bằng phơng pháp TNKQ. Trên thế giới, các nớc
phát triển đã sử dụng hệ thống câu hỏi TNKQ để đo lờng và đánh giá kết quả học
tập của học sinh một cách chính xác và hiệu quả, từ đó hớng nghiệp cho học sinh
ngay từ khi các em học xong PTTH. Nhng khoa học về đánh giá và đo lờng của
nớc ta thì lại rất kém phát triển so với thế giới. Làm sao để chúng ta có thể đo l-
ờng đợc kết quả học tập một cách chính xác nhất và khoa học nhất?
1.2. Lí luận
Trong phạm trù giáo dục có một động từ quan trọng nhất, có lẽ mọi ngời
cũng dễ nhất trí, đó là học. Gắn với việc học và hỗ trợ cho việc học là hoạt động
3


DạY. Giữa dạy và học có nhiều mối tơng tác, nhng chắc rằng mối tơng tác quan
trọng nhất là đánh giá (5, tr1).
Bất kỳ một quá trình giáo dục nào mà một con ngời tham gia cũng nhằm tạo
ra những biến đổi nhất định trong con ngời đó. Muốn biết những biến đổi đó xảy
ra ở mức độ nào phải đánh giá hành vi của ngời đó trong một tình huống nhất
định. Sự đánh gía cho phép chúng ta xác định, một là mục tiêu giáo dục đợc đặt
ra có phù hợp hay không và có đạt đợc hay không, hai là việc giảng dạy có thành
công hay không, ngời học có tiến bộ hay không. Đánh giá có thể thực hiện đầu
quá trình giảng dạy để giúp tìm hiểu và chẩn đoán về đối tợng giảng dạy, có thể
triển khai trong tiến trình dạy và học để tạo thông tin phản hồi giúp điều chỉnh
quá trình dạy và học, cũng có thể thực hiện lúc kết thúc để tổng kết. Nh vậy, sự
đánh giá phải đợc xem là một bộ phận quan trọng và hợp thành một thể thống
nhất của quá trình GD - ĐT. Không có đánh giá thì không thể biết việc học và
việc dạy xảy ra nh thế nào, thậm chí có thực sự xảy ra hay không, dù rằng bề
ngoài có thể vẫn có các hình thức tổ chức dờng nh là để dạy và học.
Phơng thức TNKQ là một phơng pháp đo lờng và đánh giá có nhiều u điểm
đang đợc ứng dụng rộng rãi. Phơng pháp này đã và đang đáp ứng đợc yêu cầu của
khoa học đánh giá và đo lờng trong giáo dục. Đó là một phơng pháp tơng đối
khách quan, không phụ thuộc vào ngời chấm bài, nó bao phủ đợc hầu hết nội
dung môn học, hạn chế đợc may rủi quay cóp bài, thích hợp với kì thi đại trà, ứng
dụng đợc KHKT ph ơng pháp này cũng khắc phục đợc nhiều nhợc điểm của ph-
ơng pháp tự luận.
Xuất phát từ các lí do trên nên em đã chọn đề tài này để tìm hiểu sâu về
môn khoa học này và ứng dụng vào sự nghiệp giảng dạy của mình sau này.
2. Mục đích
Xây dựng bộ câu trắc nghiệm khách quan về môn hoá học lớp 11.
3. Đối tợng và khách thể
3.1. Đối tợng
Xây dựng bộ câu trắc nghiệm khách quan về môn hoá học lớp 11.

3.2. Khách thể
4

Học sinh lớp 11 ( Gián tiếp: đối tợng khảo sát).
Chơng trình môn hoá lớp 11. ( trực tiếp).
4. Giả thuyết khoa học
Từ sự nghiên cứu đề tài này sẽ cho ta bộ câu trắc nghiệm khách quan chất l-
ợng và chiếm u thế cao hơn so với câu hỏi tự luận trong việc đánh giá năng lực về
môn Hoá của học sinh lớp 11.
5. Nhiệm vụ:
5.1. Nghiên cứu lý luận
- Lý luận về TNKQ.
- Nghiên cứu chơng trình hoá lớp 11.
Xây dựng bộ câu trắc nghiệm khách quan về môn hoá học lớp 11.
5.2. Nghiên cứu thực tiễn khảo sát và đánh giá
Bộ câu hỏi xây dựng sẽ đa ra để khảo sát học sinh lớp 11 phân tích kết
quả Đánh giá chất lợng câu hỏi Sửa đổi Khảo sát Sửa đổi Bộ câu
hỏi tốt nhất có thể.
6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đối tợng: câu hỏi trắc nghiệm khách quan về môn hoá học lớp 11-phần
hữu cơ.
- Địa bàn nghiên cứu: Một số trờng trên địa bàn Hà Nội.
- Khách thể nghiên cứu: Một số học sinh lớp 11.
7. Phơng pháp nghiên cứu
- Phơng pháp lí luận.
- Phơng pháp trắc nghiệm.
- Phơng pháp thống kê.
- Phơng pháp phỏng vấn.
8. Kết quả dự kiến đề tài
Một bộ câu hỏi trắc nghiệm khách quan về môn hoá học lớp 11.

5

9. Cấu trúc chơng trình
Mở đầu: 4 trang.
Chơng 1: 43 trang.
Chơng 2: 7 trang.
Chơng 3: 5 trang.
10. Kế hoạch nghiên cứu
02/02ữ14/03: Nghiên cứu lí luận và Xây dựng bộ câu trắc nghiệm khách quan.
15/03 ữ15/05: Khảo sát trên học sinh (Trắc nghiệm thử).
16/05 ữ 24/05: Phân tích kết quả Sửa.
6

Chơng 1: CƠ Sở Lí LUậN
1.1 lịch sử những phép đo lờng và trắc nghiệm
1.1.1 Trên thế giới
Các phơng pháp khoa học đầu tiên bắt nguồn từ khoa vật lí vào thế kỉ 17&18
rồi lan dần vào các ngành động vật học. Năm 1879, phòng thí nghiệm tâm lí đầu
tiên đợc Wichelm Weent thiết lập tại Leipzig. Trớc tiên, các nhà tâm lí học chú
trọng đến các phép đo liên quan đến thị giác, thính giác, tốc độ học tập Cũng
trong thời kì ấy, các thí nghiệm sinh học của Darwin và Francis Galton đợc đề cập
và áp dụng thì Calpearson và độ đệ ở Anh đã tìm ra những kĩ thuật thống kê, giúp
cho việc khảo sát và phân tích các điểm cá biệt giữa những ngời khác nhau đợc dễ
dàng hơn. Trong khi đó ở Pháp Alfred Binet và các bạn đồng sự đã phát minh ra
bài trắc nghiệm để khảo sát tâm linh, sau này trở thành bài trắc nghiệm trí thông
minh. Bài trắc nghiệm này đã giúp các nhà giáo dục phân biệt đợc trẻ trì độn với
trẻ lời biếng một cách hữu hiệu hơn bất kì phơng pháp nào khác.
Vào lúc thế chiến thứ hai, các bài trắc nghiệm kĩ năng kĩ xảo cá biệt đợc đặt
ra để tuyển chọn, phân loại binh sĩ cũng nh phỏng đoán khả năng chữa bệnh tâm
lí, làm cho nhu cầu TN ngày càng cao. Sau các loại TN thông minh, kĩ xảo, các

TN về khả năng, sở thích, nhân cách đã không ngừng đ ợc phát triển và áp dụng
một cách rộng rãi trong những năm qua.
Cùng với sự phát triển của khoa học đo lờng và TN, ngành giáo dục đã
nhanh chóng ứng dụng thành quả của khoa học này. Nhng một khoa học đo lờng
trong giáo dục thật sự có thể xem nh bắt đầu cách đây chỉ khoảng một thế kỉ
(Thorndike 1904). ở châu Âu và đặc biệt là Mĩ lĩnh vực khoa học này phát triển
mạnh vào thời kì từ trớc và sau thế chiến thứ hai, với những đầu mốc quan trọng
nh: TN trí tuệ Stanford-Binet xuất bản năm 1916, bộ TN thành quả học tập đầu
tiên Standford Achievement Test ra đời vào năm 1923. Với việc đa vào chấm trắc
nghiệm bằng máy của IBM năm 1935 , việc thành lập National Council on
Measuament in Education (NCME) vào thập niên 1950 và ra đời Education
Testing Services (ETS) năm 1947. Một ngành công nghiệp đã hình thành ở Mĩ. Tại
7

Hoa Kì khoa học về đo lờng và đánh giá trong giáo dục đã phát triển mạnh mẽ từ
giáo dục phổ thông-đại học và sau đại học. Tính đến nay khoa học về đo lờng
trong tâm lí và giáo dục đã phát triển liên tục, những phê bình chỉ trích đối với
khoa học này cũng xuất hiện thờng xuyên nhng cũng không đánh đổ đợc nó mà
chỉ làm cho nó tự điều chỉnh và phát triển mạnh mẽ hơn. Ước tính ở Mĩ hiện nay
số lợt TN tiêu chuẩn hoá ở 1/4 tỉ và TN do giáo viên soạn lên đến 5 tỉ trên 1 năm.
Khi ngành công nghệ TN phát triển đồ sộ thì ngành CNTT cũng phát triển rầm rộ
tạo điều kiện để phát triển nhanh hơn nữa lí thuyết đo lờng, nâng cao độ chính xác
của câu trắc nghiệm, tự động hoá các công việc soạn thảo đề thi và chấm bài ,
phân tích kết quả.
Sự phát triển của KH đo lờng và đánh giá không chỉ dừng lại ở Hoa Kì, châu
Âu mà ở các nớc châu á cũng rất phát triển. Nhật Bản, Thái Lan, Trung Quốc
cũng đã có một cơ sở vững chắc về lĩnh vực này. Tại Nhật Bản kì thi Trắc
nghiệm trung tâm Quốc Gia tuyển sinh Đại Học ( National Center Test for
University Admission) duy trì từ năm 1990 đến nay, với hình thức đề thi đợc soạn
thảo hoàn toàn theo phơng thức TNKQ. Các tổ chức JHEE (Join High Education

Entrance Examination) và NEEA (National Education Examination Authority).
Tại Thái Lan và Trung Quốc đã tổ chức các kì thi tuyển Đại Học chủ yếu bằng
TNKQ.
Nh vậy ta thấy rõ, Khoa học về Đo lờng và TNKQ mới ra đời nhng nó đã
nhanh chóng khẳng định u thế và xác định vị trí của mình trong lĩnh vực giáo dục
và dần đợc ứng dụng rộng rãi cho mọi lĩnh vực của xã hội.
1.1.2. ở nớc ta
Khác với các nớc phát triển, khi khoa học về đo lờng và TN ra đời đã nhanh
chóng ứng dụng trên mọi lĩnh vực của cuộc sống - đặc biệt là lĩnh vực giáo dục,
thì ở nớc ta gần nh thờ ơ với sự xuất hiện của lĩnh vực khoa học này. Cách đây
khoảng 10 năm khi các nớc phát triển đã sử dụng TNKQ cho các kì thi tuyển thì ở
Việt Nam chỉ có GS.Dơng Thiệu Tống là ngời có bằng Ed.D của Mĩ về lĩnh vực
này, còn lại các cơ sở GD & SP không có ngời nào chuyên sâu về đo lờng trong
GD. Chính vì vậy các tài liệu về lĩnh vực này gần nh không có.
8

Trớc tình hình đó Bộ Giáo Dục đã dần đa ngành GD tiếp xúc với khoa học
này: mời chuyên gia từ nớc ngoài sang tổ chức hội thảo, dịch sách, cử một số giáo
chức đại học đi học ở nớc ngoài. Và cho đến nay các trờng Đại Học nớc ta có
khoảng hơn 10 ngời có bằng Ph.D hoặc Master về lĩnh vực liên quan. Đến tháng
7/ 1996 kì thi tuyển Đại Học thí điểm tại trờng ĐH Đà Lạt bằng phơng pháp
TNKQ đã có những thành công nhất định.
Từ năm 1997 đến nay hoạt động đổi mới phơng pháp đo lờng & đánh giá
trong giáo dục ở các trờng ĐH lắng xuống. Cho đến mùa tuyển sinh ĐH năm
2002 lại rộ lên. Hiện nay, BGD & ĐT đã thành lập Cục khảo thí & Kiểm định
chất lợng để cải tiến việc thi cử và đánh giá chất lợng các trờng ĐH, quyết định
sẽ dùng phơng pháp TNKQ để làm đề thi tuyển ĐH vào mùa thi 2005. Trong khi
nớc ta vẫn còn nhiều ý kiến trong việc áp dụng kiểu ra đề nào cho các kì thi tuyển
ĐH? Thì tại Hoa Kì dựa vào kết quả của kì thi tuyển ĐH hoàn toàn bằng TNKQ
đã giúp cho thí sinh định hớng ngay nghề nghiệp cho mình. Đó là vấn đề rất quan

trọng đối với sự phát triển của đất nớc. Nhng trong bớc đờng phát triển của bất kì
một ngành KH nào cũng đều gặp những chông gai nhất định, khi vợt đợc qua trở
ngại đó thì nó càng toả sáng hơn.
1.2. Các khái niệm
1.2.1. Trắc nghiệm là gì?
1.2.1.1. Khái niệm
Giáo dục là một quá trình tác động lên con ngời nhằm tạo ra những biến đổi
nhất đinh trong đối tợng đó. Muốn biết những biến đổi đó xảy ra ở mức độ nào ta
phải đo lờng và đánh giá hành vi của đối tợng trong một tình huống nhất định.
Qua sự đánh giá cho chúng ta xác định những vấn đề sau: Mục tiêu giáo dục đợc
đặt ra có phù hợp không và có đạt đợc không? Việc giảng dạy có thành công hay
không, ngời học có tiến bộ không? Nh vậy chúng ta hiểu đo lờng và đánh giá là
gì?
Đo lờng là một cách lợng giá, là việc gán những con số hoặc thứ bậc theo
một hệ thống quy tắc nào đó (5, tr 2).
9

Lợng giá bao gồm các việc phán xét TS theo các hệ thống quy tắc hoặc tiêu
chuẩn xác định. Nếu thực hiện đầu quá trình giảng dạy sẽ giúp tìm hiểu và chẩn
đoán về đối tợng giảng dạy. Nếu thực hiện trong quá trình giảng dạy để tạo những
thông tin phản hồi giúp điều chỉnh quá trình dạy và học. Cũng có thể thực hiện
cuối quá trình để tổng kết.
Đánh giá là việc nhận định sự xứng đáng của một đối tợng nào đó (trích
theo 3, tr 16). Lợng gía năng lực hoặc thành quả học tập của ngời học thờng là các
thành tố lợng giá trong giáo dục. Đánh giá có thể là định lợng dựa vào các con số
hoặc định tính dựa vào các ý kiến và giá trị.
Trắc nghiệm theo nghĩa rộng là một phép lợng giá cụ thể mức độ khả năng
thể hiện hành vi trong lĩnh vực nào đó của một ngời cụ thể. Trong giáo dục, trắc
nghiệm là một loại dụng cụ đo lờng khả năng của ngời học. Dựa vào trắc nghiệm
cho biết đợc thành tích của cá nhân nh thế nào? So sánh với những ngời khác hay

so với một lĩnh vực các nhiệm vụ học tập đợc dự kiến.Thờng có hai dạng thức trắc
nghiệm: một là trắc nghiệm thành quả (đo lờng mức độ học đợc sau một thời kì
giảng dạy); hai là TN năng khiếu hay năng lực (đánh giá năng khiếu hay năng lực
hiện có của một đối tợng bất kể chúng đợc hình thành bằng cách nào).
1.2.1.2. Phân lọai các phơng pháp TN
Có nhiều cách phân loại tuỳ theo từng hình thức TN. Sau đây ta sẽ đa ra một
số phơng pháp TN:
1.2.1.2.1. Về cách thức thực hiện TN (trích 4, tr 7)
10

Bao gồm ba loại lớn:
a). Loại quan sát: Giúp đánh giá các thao tác, hành vi, phản ứng vô thức, các
kĩ năng thực hành và cả một số kĩ năng về nhận thức, chẳng hạn cách giải quyết
vấn đề trong một tình huống nào đó đang đợc nghiên cứu.
b). Loại vấn đáp: Có tác dụng tốt để đánh giá khả năng đáp ứng các câu hỏi
đợc nêu một cách tự phát trong một tình huống cần kiểm tra, cũng thờng đợc sử
dụng khi sự tơng tác giữa ngời hỏi và ngời đối thoại
c). Loại viết: thờng đợc sử dụng nhiều nhất vì:
Trong cùng một thời gian mà kiểm tra đợc nhiều thí sinh.
Thí sinh đợc cân nhắc nhiều hơn khi trả lời.
Có thể kiểm tra sự phát triển t duy ở mức độ cao.
Cung cấp một bản ghi rõ ràng các câu trả lời để nghiên cứu kĩ khi chấm bài.
11
Các phương pháp trắc nghiệm
Quan sát Viết Vấn đáp
Trắc nghiệm khách quan
(Objective tests)
Trắc nghiệm tự luận
(Essay tests)
Tiểu luận Cung cấp thông tin

Ghép đôi Điền khuyết Trả lời ngắn Đúng sai Nhiều lựa chọn
H.1. Phân loại các phương pháp trắc nghiệm

Dễ quản lí hơn vì ngời chấm không tham gia trực tiếp vào bối cảnh kiểm tra.
Qua bản trả lời của thí sinh ta có thể dùng để phân tích câu hỏi và khả năng
dạy của ngời giáo viên
Trong TN nghiệm viết lại đợc chia ra làm hai loại sau:
Trắc nghiệm tự luận: Các câu hỏi buộc phải trả lời theo dạng mở, TS phải tự
trình bày ý kiến trong một bài viết để giải quyết vấn đề mà câu hỏi đa ra.
Trắc nghiệm khách quan: Đề thi thờng bao gồm rất nhiều câu hỏi ,mỗi câu
nêu lên vấn đề và những thông tin cần thiết để TS có thể trả lời từng câu một cách
ngắn gọn.
1.2.1.2.2. Về cách chuẩn bị đề TN
Bao gồm hai loại.
a). TN tiêu chuẩn hoá: Thờng do các chuyên gia TN soạn thảo, thử nghiệm
tu chỉnh. Vì thế các câu TN ở đây đã có sẵn một độ khó và độ phân biệt riêng
phản ánh nội dung và mức độ kĩ năng nào, mỗi đề thi TN có một độ tin cậy xác
định.
b). TN dùng ở lớp học: do giáo viên tự soạn để sử dụng trong quá trình
giảng dạy có thể cha đợc thử nghiệm và tu chỉnh công phu, thờng chỉ sử dụng
trong các kì kiểm tra với số lợng học sinh không lớn và không thực sự quan trọng
1.2.1.2.3. Về thời gian làm bài
a). TN theo tốc độ: Hạn chế thời gian, chỉ một ít thí sinh làm nhanh mới có
thể làm hết số câu của bài TN, nhằm đánh giá khả năng làm nhanh của thí sinh.
b). TN không theo tốc độ: thờng cung cấp đủ thời gian cho phần lớn TS
1.2.1.2.4. Về phơng hớng sử dụng kết quả trắc nghiệm
Gồm hai loại.
a).TN theo chuẩn: là TN đợc soạn nhằm cung cấp một số đo lờng thành tích
mà ngời ta có thể giải thích đợc căn cứ trên vị thế tơng đối của một cá nhân so với
một nhóm ngời nào đó đã đợc biết.

b) TN theo tiêu chí: là TN đợc xác định nhằm cho phép giải thích thành tích
của ngời đợc khảo sát liên quan đến một tập hợp các khái niệm đã đợc xây dựng
rõ ràng (3, tr 20).
12

1.2.2. Trắc nghiệm khách quan là gì?
1.2.2.1. Khái niệm
Trắc nghiệm khách quan là một phơng pháp trắc nghiệm mà đề thi gồm có
nhiều câu hỏi, ở mỗi câu đều nêu lên vấn đề và những thông tin cần thiết giúp thí
sinh trả lời một cách ngắn gọn nhất.
1.2.2.2. Phép so sánh giữa TNKQ và TL
Ngày nay khi hầu hết GV đang sử dụng phơng pháp TL là công cụ đắc lực
cho việc đánh giá năng lực của thí sinh, thì phơng pháp TNKQ đợc coi là phơng
pháp có nhiều nhợc điểm và hạn chế. Nhng đứng trên quan điểm của những nhà
khoa học hãy xem xét lại u nhợc điểm của từng phơng pháp.
Trớc tiên tại sao ta lại có khái niệm phơng pháp TNKQ? Câu trả lời nằm
trong chính tên của phơng pháp. Bài TN đợc coi là khách quan vì việc cho điểm là
khách quan. Nếu một bài thi tự luận thì điểm số của bài thi còn phụ thuộc vào sự
chủ quan của ngời chấm. Chính vì thế mới có sự chênh lệch điểm văn thi ĐH là
hai điểm thì không đợc sửa điểm khi phúc tra bài. Ngợc lại bài TNKQ điểm số
phụ thuộc hoàn toàn vào phơng án lựa chọn của TS và chỉ có một phơng án duy
nhất. Kết quả sẽ đợc chấm điểm nh nhau không phụ thuộc vào ngời chấm.
Số câu hỏi trong bài TL luôn ít hơn số câu hỏi trong bài TNKQ nhng việc
chấm bài thi vẫn ít tốn công chấm thi hơn bài TL. Cách trả lời bài thi TNKQ đơn
giản hơn nên cũng không đánh giá đợc khả năng diễn đạt đặc biệt là t duy hình t-
ợng của TS. Song song với việc ít tốn công chấm bài thi thì TNKQ rất tốn công
làm đề thi. Để có một đề thi công phu hoàn hảo chúng ta phải đầu t khá tốn kém.
Nhng GD là quốc sách hàng đầu nên để có chất lợng GD thực sự hiệu quả thì phải
có sự đầu t chính đáng.
Nếu nh bài TL có số câu hỏi ít hơn thì nội dung thi sẽ không thể phủ kín nội

dung môn học nó chỉ đề cập đến một chủ đề nào đó. Ngợc lại bài thi TNKQ số
câu nhiều và đợc chia nhỏ nên đã phủ kín hoàn toàn nội dung môn học. Chỉ trong
một khoảng thời gian ngắn với TNKQ ta có thể kiểm tra đợc một lợng kiến thức
rất lớn liên quan đến toàn bộ môn học. Đặc biệt là ngày nay GD đang hớng đến
chất lợng toàn diện thì TNKQ có phải là một công cụ hữu hiệu?! Với TL khi kiểm
13

tra theo chủ đề thì tuỳ từng lĩnh vực, có ngời giỏi lĩnh vực này ngời giỏi lĩnh vực
khác cha chắc ai tài hơn ai. Nh vậy có nên kết hợp giữa hai phơng pháp này trong
việc kiểm tra năng lực của TS tuỳ mục đích sử dụng năng lực đó.
Một lí do nữa mà mọi ngời thờng quan niệm sai lầm về TNKQ là: TNKQ dễ
đem lại may rủi cho TS. Nếu chúng ta cho rằng một anh chàng nếu không biết gì
mà làm bài TNKQ và anh ta tích bừa thì vẫn có khả năng đúng và có thể anh ta
đạt tiêu chuẩn thì hoàn toàn sai lầm. Với một đề thi TL TS rất dễ gặp may rủi do
trúng tủ trật tủ vì đó có phải là lĩnh vực của mình hay không? Còn với đề thi
TNKQ thì sự may rủi hoàn toàn không xảy ra bởi đề thi đã phủ kín chơng trình
học. Nếu học sinh nắm vững nội dung môn học thì sẽ làm đúng phần lớn các câu
trắc nghiệm và TS mà không nắm vững một vài chi tiết của môn học thì số ít câu
không làm đợc cũng không ảnh hởng lớn đến kết quả bài thi. Ngợc lại đề thi TL
ngoài những TS học chắc thật sự và những thí sinh trúng tủ là điểm khá còn lại
những TS trật tủ là bị đánh hạng hết bất kể phần lớn nội dung môn học đó TS có
học tốt đi chăng nữa.Vậy số đỏ sẽ đến với anh chàng không biết gì và đánh dấu
bừa?! TNKQ là một phơng pháp đợc dựa trên lí thuyết thống kê nên đó là một ph-
ơng pháp hết sức khoa học nó tuân theo luật số lớn: Khi tăng phép thử lên thì
tần suất tiến dần đến xác suất. VD: một thí sinh làm bài thi gồm 100 câu hỏi
nhiều lựa chọn, với 5 phơng án trả lời, nếu thí sinh đánh dấu hú hoạ vào các phơng
án trả lời, xác suất để anh ta làm đúng là 20% do đó tần suất làm đúng của anh ấy
sẽ gần với xác suất, có nghĩa là: bằng cách đánh dấu hú hoạ số câu anh ta làm
đúng chỉ chiếm trên dới 20/100 câu hỏi. Với cách chấm điểm của TNKQ thì
thành tích mà anh ta đạt đợc bằng cách đánh dấu hú hoạ nh trên là lân cận điểm

không.
Ngày nay, khi khoa học kĩ thuật ngày càng phát triển thì TNKQ đã kịp thời
ứng dụng thành quả KH để tăng thêm vai trò của mình. Lí thuyết ứng đáp câu
hỏi, và tin học, công nghệ là các phơng tiện để đánh giá từng câu hỏi và đề thi
TNKQ, giúp chọn các mẫu thử nghiệm hợp lí để nâng cao chất lợng và độ tin cậy
của đề thi, cũng tạo điều kiện cho phép nhiều ngời có thể đóng góp trong một thời
gian dài để chuẩn bị cho một đề thi TNKQ có chất lợng cao, vừa giữ an toàn và bí
14

mật cho đề thi. ứng dụng của KHKT giúp TNKQ hạn chế đợc nạn quay cóp, gian
lận trong quá trình thi. Khi nội dung bao phủ rộng TS sẽ không đủ thời gian để mở
tài liệu. Với các phần mềm vi tính sẽ cho ta một sự sắp xếp đảo đề kĩ thuật. Điều
này khiến cho những học sinh ở gần nhau không thể nhìn bài nhau.
Nh vậy với tiến bộ của KH đã giúp cho phơng pháp TNKQ khắc phục đợc
những điểm yếu của mình đồng thời nó còn đẩy mạnh u thế của phơng pháp này
càng khách quan hơn trong chấm thi. Sử dụng máy để chấm điểm chúng ta có thể
chấm hàng loạt, rất nhanh gọn và chính xác. ứng dụng đợc KHKT tiên tiến vào
giảng dạy là tốt song không nên quá lạm dụng vào nó.
Khi đề cập đến phơng pháp này, có những ý kiến cho rằng TNKQ không
đánh giá đợc khả năng t duy ở mức độ cao của học sinh và đối với các môn khoa
học xã hội thì không làm đợc TNKQ. Thật ra, thực tế đã chứng minh rằng chúng
ta hoàn toàn có thể viết câu hỏi TNKQ để đánh giá tất cả 6 mức nhận thức (Nhớ
Hiểu - áp dụng phân tích tổng hợp - đánh giá). Nếu một đề TL tồi
cũng chỉ đo đợc khả năng ghi nhớ của học sinh. Dù là lĩnh vực nào TN hay XH
đều có thể xây dựng bộ câu hỏi TNKQ hoàn hảo, nhng đối với mỗi loại môn học
cách viết câu hỏi có cái khó riêng, sắc thái riêng. Vậy vấn đề đặt ra ở đây là chất
lợng đề thi ra sao chứ không phải phơng pháp ra đề. Qua chất lợng bài kiểm tra
bằng TNKQ chúng ta không những đo đợc năng lực của học sinh mà ta còn đo đ-
ợc khả năng của ngời dạy cũng nh ngời ra đề. Năng lực của ngời ra đề thể hiện
trong chất lợng câu hỏi. Để có đợc bộ câu hỏi TN tốt đòi hỏi sự thuần thục trong

kĩ năng viết câu hỏi.
Ưu điểm TN TL
1. Khách quan trong chấm thi

2. ít tốn công chấm thi

3. ít may rủi do trúng tủ, trật tủ

4. Đề thi phủ kín nội dung môn học

5. Đánh giá đợc khả năng diễn đạt, sáng tạo

15

khi trả lời
6. ít tốn công ra đề thi

7. áp dụng đợc công nghệ mới trong việc
nâng cao chất lợng đề thi, giữ bí mật đề thi,
hạn chế quay cóp khi thi, hạn chế tiêu cực
trong chấm thi và giúp phân kết quả thi.

8. Đỡ tốn kém

H.2. Bảng so sánh giữa trắc nghiệm khách quan và tự luận
Qua những tìm hiểu ở trên cho ta thấy cả hai phơng pháp TNKQ và TL đều
là những phơng pháp hữu hiệu để đánh giá kết quả học tập. Cần nắm vững bản
chất từng phơng pháp và công nghệ triển khai cụ thể để có thể sử dụng mỗi phơng
pháp đúng lúc đúng chỗ nhằm đem lại hiệu quả cao.
Các chuyên gia về đánh giá cho rằng PPTL nên dùng trong các trờng hợp

sau:
Khi thí sinh không quá đông.
Khi muốn khuyến khích hay đánh giá cách diễn đạt.
Khi muốn tìm hiểu ý tởng của TS hơn là khảo sát thành quả học tập
Khi có thể tin tởng khả năng chấm bài TL của giáo viên là chính xác.
Khi không có nhiều thời gian soạn đề thi nhng có đủ thời gian chấm bài.
Phơng pháp TN nên dùng trong những trờng hợp sau:
Khi số TS rất đông.
Khi muốn chấm bài nhanh.
Khi muốn có điểm số đáng tin cậy, không phụ thuộc vào ngời chấm bài.
Khi phải coi trọng yếu tố công bằng, vô t, chính xác và muốn ngăn chặn sự
gian lận trong thi cử.
Khi muốn kiểm tra một phạm vi hiểu biết rộng, muốn ngăn ngừa nạn học tủ,
học vẹt và giảm thiểu sự may rủi.
Tóm lại, không có một phơng pháp nào đợc coi là tốt nhất, mỗi phơng pháp
đều có u nhợc điểm nhất định. Chúng ta là những nhà giáo phải biết linh động khi
sử dụng các phơng pháp TN. Nếu một phơng pháp đợc sử dụng đúng, hợp lí thì nó
16

sẽ đem lại kết quả tốt còn nếu quá lạm dụng, phiến diện thì không bao giờ có một
kết quả tốt đợc.
1.2.2.3 Các kiểu câu hỏi TNKQ (trích theo 1, tr 49-73)
1.2.2.3.1 Câu ghép đôi (xứng hợp).
Đặc điểm: Loại này có hai cột gồm danh sách các phần tử (những chữ,
nhóm chữ hay câu). Dựa trên một hệ thức tiêu chuẩn nào đó định trớc, học sinh sẽ
ghép mỗi phần tử của cột một với một phần tử của cột hai. Số phần tử trong hai
cột có thể bằng nhau hay khác nhau. Mỗi phần tử trong cột trả lời có thể dùng một
hay nhiều lần.
Trắc nghiệm ghép đôi rất thông dụng nó đợc dùng để đo lờng kiến thức về
các mối tơng quan, học sinh có thể ghép các từ với ý nghĩa tơng ứng, các phát

minh KH với tên các nhà bác học đã khám phá, ngày tháng với các biến cố, các
chữ, tên với các phần khác nhau của một giản đồ hay bản đồ. Hoặc sắp các chữ
hay câu thành từng loại dựa trên căn bản nào đó cho trớc (phân loại động vật theo
chủng loại, sắp xếp các biến cố theo thứ tự thời gian, sắp xếp các câu phát biểu
theo một chuỗi lí luận, đánh giá một tác phẩm dựa trên các tiêu chuẩn cho trớc).
Ưu điểm của TN ghép đôi:
1. Dễ viết và dễ dùng, đặc biệt rất thích hợp khi cần thẩm định các mục tiêu ở
mức tâm linh thấp. Tuy nhiên chúng ta nên cố gắng viết những câu hỏi ở mức trí
năng cao hơn.
2. Học sinh ở lứa tuổi học trờng phổ thông cơ sở rất thích loại TN ghép đôi.
3. So với những loại câu hỏi nhiều lựa chọn loại ghép đôi ít tốn giấy nhất.
4. Yếu tố may rủi giảm đi nhiều khi số phần tử trong mỗi cột tăng và khác
nhau.
5. Là loại câu hỏi hữu hiệu nhất trong việc đánh giá khả năng nhận biết các
hệ thức, hay lập những mối tơng quan.
Nh ợc điểm của loại TN ghép đôi:
1. Khó đo dợc các mức trí năng cao ở TS.
2. Nếu số phần tử trong một cột quá dài thì sẽ không thuận lợi cho TS.
Các quy tắc khi soạn câu TN ghép đôi:
17

1. Số phần tử của mỗi cột phải ít nhất là 6 và nhiều nhất là 12. Nếu danh sách
trong mỗi cột dài quá, chúng ta nên bỏ bớt các câu trả lời không hợp lí, nên phân
chia danh sách dài thành những danh sách ngắn gồm 7, 8 phần tử ở mỗi cột. Ngợc
lại, nếu mỗi cột chỉ có ít hơn 5 phần tử chúng ta nên ghép hai hay ba bài tập lại
với nhau.
2. Phải xác định rõ tiêu chuẩn để ghép một phần tử của cột trả lời vào phần tử
của cột câu hỏi. Phải nói rõ mỗi phần tử trong cột trả lời chỉ đợc dùng một lần hay
đợc dùng nhiều lần.
3. Số phần tử trong cột trả lời phải lớn hơn số phần tử trong cột câu hỏi, hoặc

mỗi phần tử trong cột trả lời có thể đợc dùng nhiều lần. Điều này sẽ giảm bớt yếu
tố may rủi.
4. Đôi khi có thể dùng hình vẽ để tăng sự thích thú của học sinh, cũng nh để
thay đổi dạng câu hỏi.
5. Các câu hỏi nên có tính chất đồng nhất hoặc liên hệ nhau.
6. Sắp các phần tử trong danh sách theo một thứ tự hợp lí nào đó.
7. Các phần tử cùng danh sách nên nằm trong cùng một trang để học sinh đỡ
nhầm lẫn hoặc gặp khó khăn khi phải lật trang.
8. Các câu hỏi loại ghép đôi cũng có thể đợc sắp đặt dới dạng tơng tự loại có
nhiều câu trả lời để chọn lựa.
Khi chúng ta đã nắm chắc đợc các quy tắc soạn câu hỏi ghép đôi ta sẽ có một
câu hỏi khá hoàn chỉnh và đánh giá đợc các mức t duy cao của học sinh.
1.2.2.3.2. Câu điền khuyết hay có câu trả lời ngắn
đ ặc điểm : hai loại trắc nghiệm điền khuyết hay có câu trả lời ngắn thực ra
chỉ là một, chúng chỉ khác nhau về dạng thức vấn đề đợc đặt ra. Nếu đợc trình bày
dạng câu hỏi thì chúng ta gọi là loại câu trả lời ngắn, nếu đợc trình bày dới dạng
một câu phát biểu cha đầy đủ, đợc gọi là loại điền khuyết. Nội dung đây là loại
trắc nghiệm khách quan có câu trả lời tự do.
Ưu điểm:
18

1. Thí sinh có đợc cơ hội trình bày những câu trả lời khác thờng, phát huy
óc sáng tạo.
2. Phơng pháp chấm điểm nhanh hơn và đáng tin cậy hơn so với loại luận
đề, mặc dù phần cho điểm có phần phức tạp hơn so với các loại trắc nghiệm khách
quan khác.
3. Thí sinh mất cơ hội đoán mò câu trả lời nh trong trờng hợp các loại trắc
nghiệm khách quan khác. Thí sinh phải nhớ hoặc nghĩ ra câu trả lời, thay vì chỉ
chọn lựa câu trả lời đúng trong các câu cho sẵn.
4. Loại này dễ soạn câu hỏi hơn loại ghép đôi hoặc câu nhiều lựa chọn. Tuy

nhiên cũng không nên lạm dụng quá sự dễ dãi này mà lấy y nguyên câu trong
sách giáo khoa.
5. Thiếu yếu tố khách quan lúc chấm điểm. Dù cho phải chấm điểm loại
trắc nghiệm điền khuyết có tính chất khách quan hơn loại luân đề, giáo viên vẫn
gặp nhiều phiền phức hơn khi chấm các câu trắc nghiệm điều kiện vì giới hạn câu
trả lời đúng rộng rãi hơn. Giáo viên có thể phải cho điểm toàn phần hay một phần
cho một câu trả lời khác với đáp án để chấm bài. Do đó các nhân viên phục vụ
không thể chấm giúp, cũng nh không thể dùng phơng pháp chấm bằng máy.
6. Loại trắc nghiệm này thờng làm học sinh rối trí do vậy điểm số có độ t-
ơng quan cao với mức thông minh hơn là với thành quả học tập của học sinh điều
này làm cho độ giá trị của bài thi giảm.
Các quy tắc soạn thảo trắc nghiệm loại điền khuyết:
1. Lời chỉ dẫn phải rõ ràng. Thí sinh phải biết mình cần làm gì và làm nh
thế nào?
2. Tránh soạn câu hỏi một cách quá lạm dụng do lấy nguyên văn các câu từ
sách hoặc đã dạy cho học sinh để khỏi bắt buộc học sinh học thuộc lòng.
3. Các câu viết ý nghĩa phải rõ ràng tránh mơ hồ, không rõ nghĩa.
4. Vị trí cần học sinh điền vào phải là những từ ngữ chắt lọc, quan trọng và
phải rõ ràng đơn vị.
5. Không nên để trống quá nhiều vị trí làm học sinh rối và không biết ý của
ngời ra đề nh thế nào? Nên để chỗ trống ở cuối câu để thí sinh không bị hẫng.
19

6. Khi tính điểm, mỗi chỗ điền vào nên tính một điểm (trừ câu trả lời đòi
hỏi phải điền nhiều chữ) không nên trừ điểm chính tả.
7. Nếu trong bài trắc nghiệm có nhiều chỗ phải điền thì nên đánh số sắp xếp
ra cạnh để thí sinh điền câu trả lời. Những chỗ trống phải đủ để học sinh điền vào
và chiều dài bằng nhau để tránh sự đoán mò.
8. Khuyến khích sự sáng tạo của học sinh bằng cách công bằng khách quan
khi cho điểm với những câu trả lời không giống đáp án.

9. Nên dùng câu hỏi thế nào với những câu trả lời ngắn.
1.2.2.3.3. Trắc nghiệm loại đúng sai
Đặc điểm:
Loại câu trắc nghiệm đúng sai thờng gồm một câu phát biểu để thí sinh
phán đoán xem nội dung đó đúng hay sai. Để giảm bớt khuyết điểm của loại trắc
nghiệm này ngời ta tìm cách cải tiến phơng pháp: những chữ chính yếu quyết định
sự đúng sai trong câu đợc gạch chân hay in đậm nét hơn. Và yêu cầu thí sinh sửa
lại nếu thí sinh cho là sai. Đây là một yếu tố làm giảm sự đoán mò và do đó làm
tăng độ tin cậy của bài trắc nghiệm.
Ưu điểm của loại trắc nghiệm đúng sai
1. Đây là loại đơn giản nhất để trắc nghiệm kiến thức về những sự kiện.
2. Nếu trắc nghiệm theo loại này sẽ kiểm tra đợc một lợng kiến thức rộng
lớn trong khoảng thời gian ngắn.
3. Trong cùng một khoảng thời gian giáo viên có thể soạn đợc nhiều câu hỏi
hơn loại câu hỏi nhiều lựa chọn (cứ khoảng 5 câu nhiều lựa chọn thì tơng ứng ít
nhất là 10 câu hỏi đúng sai).
4. Hoàn toàn khách quan khi chấm điểm.
5. Việc trả lời câu hỏi rất đơn giản.
Nh ợc điểm của loại trắc nghiệm đúng sai :
1. Có thể khuyến khích sự đoán mò. Theo luật số lớn thì cho dù cô giáo có
sử dụng công thức hiệu chỉnh, học sinh vẫn có khuynh hớng đoán may rủi để có
50% hy vọng trả lời đúng.
2. Khó dùng để chẩn định điểm yếu của học sinh, do yếu tố đoán mò.
20

3. Rất khó khăn cho các môn thuộc lĩnh vực KHXH trong việc soạn thảo câu
hỏi vì lĩnh vực này có nhiều quan điểm khác nhau. Do đó ngời soạn phải nói rõ tác
giả, xuất sứ của ý kiến, t tởng, lời nói nêu trong mỗi câu.
4. Loại TN đúng sai có độ tin thấp do xác suất đoán đúng của học sinh là
50%. Để có độ tin cậy tơng đơng với các loại TNKQ khác thì câu hỏi loại này

phải dài hơn nhiều.
5. Xu hớng trích nguyên văn các câu trong sách dễ làm cho học sinh tập thói
quen học thuộc hơn là tìm hiểu suy nghĩ.
6. Trong khuôn khổ của câu đúng sai làm cho học sinh khá cảm thấy khó
chịu khi phải ràng buộc ý kiến trả lời. Đồng thời với các em còn bé, những câu
phát biểu sai có thể khiến các em học những điều sai lầm một cách vô ý thức.
Quy tắc soạn câu hỏi loại Đúng, Sai:
1. Nên dùng những chữ chính xác và thích hợp để câu hỏi đơn giản và rõ
ràng.
2. Các câu hỏi loại đúng sai chỉ nên mang một ý tởng chính yếu để câu đợc
rõ ý và mang nghiã trong sáng hơn.
3. Tránh dùng những từ gây cho TS đoán ra đợc phơng án trả lời nh: luôn
luôn, tất cả,không bao giờ, không thể đợc, chắc chắn, vì các từ này th-
ờng có triển vọng sai,còn những từ nh: thờng thờng, đôi khi,ít khi lại thờng
đi với những câu để trả lời đúng
4. Nên cố gắng soạn các câu có nội dung hoàn toàn đúng hoặc hoàn toàn sai.
Quan điểm đúng sai nên lấy theo sự đồng ý thuần nhất của những nhà chuyên
môn có thẩm quyền.
5. Nên soạn các câu đúng văn phạm và áp dụng đựơc kiến thức đã học nhng
tránh những chi tiết vụn vặt không cần thiết
6. Tránh dùng câu phủ định kép, không để học sinh đoán đợc câu trả lời nhờ
chiều dài của câu, nên dùng các từ định tính hơn định lợng
Ph ơng pháp chấm điểm loại TN đúng sai :
Có hai phơng pháp đợc áp dụng cho loại TN đúng sai:
21

Phơng pháp thứ nhất là cho mỗi câu trả lời đúng một điểm và không kể đến
câu sai hoặc không làm.
Phơng pháp thứ hai thờng dùng hơn đếm số câu trả lời đúng R và trừ đi số
câu trả lời sai W . Công thức tính điểm khi đó sẽ là:

Điểm số = Số câu đúng R - Số câu sai W
Nguyên nhân dùng công thức này là, theo lí thuyết, một học sinh không biết
gì, dùng cách đoán mò, có thể trả lời 50 câu và sai 50 câu trong một bài 100 câu
hỏi. Nhiều nhà TN cho rằng một ngời đoán mò nh thế phải bị điểm không, nên
điểm số của học sinh trên bằng số câu hỏi đúng nhờ may rủi (50) trừ số câu sai
(50). Nhiều chuyên viên TN nh W.B.Michacl, J.A.R.Wilson và M.C Robeck
(1969) khuyên không nên dùng công thức hiệu chỉnh cho số câu TL sai trừ trờng
hợp bài TN tốc độ. Việc dùng công thức hiệu chỉnh thờng đa vào một nguồn sai số
làthói quen trả lời câu hỏi theo một khuynh hớng nào đó (liều lĩnh hay thận trọng)
sẽ làm giảm giá trị của bài trắc nghiệm.
1.2.2.3.4. Trắc ngiệm có nhiều phơng án trả lời (MCQ).
ở phần trên chúng ta đã tìm hiểu về một số loại câu hỏi TNKQ và cũng thấy
đợc rằng các loại đó vẫn còn nhiều nhợc điểm. Một loại câu hỏi mà khắc phục đợc
nhiều nhợc điểm đó chính là TN-MCQ (TN có nhiều phơng án TL). Đây là dạng
TNKQ đợc a chuộng nhất, thờng đợc kí hiệu là MCQ.
Đặc điểm: Một CH loại này gồm một phần phát biểu chính,thờng gọi là lời
dẫn, hay CH, và bốn, năm, hay nhiều phơng án trả lời cho sẵn để TS chọn ra câu
TL đúng nhất, hay hợp lí nhất. Ngoài một câu đúng, các câu TL khác trong các
phơng án chọn lựa phải có vẻ hợp lí với TS.
Ưu điểm của TN-MCQ:
1. Có thể đo đợc các mức khả năng tâm linh khác nhau. Với sự phối hợp của
nhiều phơng án TL để chọn cho mỗi CH có thể kiểm tra, đánh giá những mục tiêu
giảng dạy, học tập khác nhau một cách khá toàn diện.
2. Độ tin cậy cao hơn. Yếu tố đoán mò may rủi của học sinh giảm đi nhiều so
với các loại TNKQ khác khi số phơng án chọn lựa tăng lên.
22

3. Học sinh phải xét đoán và phân biệt kĩ càng khi TLCH. Tính chất tuyệt đối
trong loại đúng sai nhờng chỗ cho tính chất tơng đối khi HS phải chọn lựa câu TL
đúng nhất hay hợp lí nhất trong số các phơng án TL đã cho.

4. Tính chất giá trị tốt hơn do dạng TN này có thể đo đợc đầy đủ các mức
tâm linh khác nhau nh: nhớ, hiểu, áp dụng, phân tích, tổng hợp, đánh giá.
5. Có thể phân tích đợc tính chất mỗi CH. Dùng phơng pháp phân tích câu
hỏi, chúng ta có thể xác định câu nào dễ quá, câu nào khó quá, câu nào mơ hồ hay
không giá trị đối với các mục tiêu cần TN. Ngoài ra, chúng ta có thể xét xem câu
TL cho sẵn nào không ích lợi, hoặc làm giảm giá trị CH. Phơng pháp này không
thực hiện với loại CHTL, hay khó thực hiện với loại TN khác.
6. Tính khách quan khi chấm bài thi. Dựa vào máy, bài thi đợc quét và vào
điểm một cách hoàn toàn khách quan. Ngay cả những khi bài thi đợc chấm bằng
tay thì điểm số trên bài thi của TS cũng không phụ thuộc vào ngời chấm vì
TNMCQ không phụ thuộc vào các yếu tố nh phẩm chất của chữ viết, hoặc khả
năng diễn đạt t tởng.
Ngoài ra, TNMCQ còn có tất cả các u điểm khác của TNKQ.
Nh ợc điểm của loại CHTNMCQ :
Ngoài những nhợc điểm của CHTNKQ so với TL mà ta đã so sánh ở trên thì
TNMCQ còn có những tồn tại sau:
1. Khó soạn CH. Việc soạn CHMCQ sẽ mất nhiều thời gian và sự công phu
mới viết đợc những CH đạt tiêu chuẩn, đúng kĩ thuật. Yêu cầu đặt ra ở đây là phải
chọn ra phơng án đúng nhất trong khi các phơng án nhiễu đề ra cũng phải có vẻ
hợp lí. Qua đó ta mới có thể đo đợc các mục tiêu đã định sẵn và các mức kĩ năng
cao hơn mức nhớ.
2. Đối với những TS học khá thờng khó chịu với những CH mà họ có thể
có phơng án TL hay hơn. Vì vậy khi soạn CH thì GV phải cố gắng soạn để có câu
TL tốt nhất và hay nhất.
3. Còn có những nhợc điểm khác là: tốn nhiều giấy để in CH, và TS sẽ phải
tốn nhiều thời gian để đọc CH.
23

4. Nếu so với CHTL thì CHMCQ không thể đo đợc khả năng giải quyết
vấn đề khéo léo hay khả năng phán xét , nhìn nhận vấn đề của TS.

Các quy tắc khi soạn CHTNMCQ:
1. Một yếu tố không thể thiếu trong TNMCQ là phần chính, hay câu dẫn của
CH phải diễn đạt rõ ràng một vấn đề. Các câu TL để chọn phải là những câu khả
dĩ thích hợp với vấn đề đã nêu. Tránh dùng những câu có vẻ nh CH loại "đúng,
sai" không có liên hệ với nhau sắp chung một chỗ.
2. Phần chính của câu hỏi nên mang chọn ý nghĩa và phần câu TL để chọn
nên ngắn gọn. Tránh những từ rờm rà không cần thiết để diễn tả ý nghĩa câu hỏi.
3. Nên có nhiều phơng án TL để TS lựa chọn nhng cũng không nên nhiều
quá gây rối cho TS, làm giảm giá trị của những mồi nhử. Nếu phơng án chọn ít
qúa sẽ làm tăng yếu tố may rủi nên dừng lại ở bốn hoặc năm phơng án.
4. Đối với câu hỏi: a) Nên tránh thể phủ định, hay hai thể phủ định liên
tiếp, nếu có thì phải gạch chân hoặc viết hoa để TS chú ý hơn.
b) Câu hỏi nhằm đo sự hiểu biết, suy luận, hay khả
năng áp dụng các nguyên lí vào các trờng hợp mới thì phải trình bày dới nhiều
hình thức khác nhau và mới mẻ.
5. Nếu câu hỏi đề cập đến vấn đề nhiều tranh luận thì phải nêu rõ nguồn
gốc, quan điểm... trong lời dẫn.
6. Đối với các phơng án TL:
a) Phải chắc chắn chỉ có một câu đúng.
b) Độ dài các câu phải gần bằng nhau.
c) Phải đồng nhất với nhau. Tính chất đồng nhất có thể dựa trên căn bản
ý nghĩa, âm thanh, độ dài, hoặc cùng là động từ, tính từ, danh từ.
d) Lu ý đến những điểm liên hệ về văn phạm giúp TS nhận biết câu TL.
e) Không nên dùng hai phơng án trái nghĩa nhau làm cho TS chỉ chú ý
đến hai phơng án này. Điều này làm cho câu hỏi TNMCQ giông dạng TN " đúng
sai".
24

f) Phơng án đúng nên đặt một cách ngẫu nhiên ở các vị trí và không nên
dùng các từ mang ý nghĩa chung chung nh: không câu nào trên đây đúng hoặc

tất cả các câu trên đây đều đúng.
Ph ơng án cho điểm loại câu hỏi MCQ :
Giả sử một TS có số câu TL đúng là R và số câu TL sai là W với số ph -
ơng án TL cho sẵn để lựa chọn là k thì công thức thờng đợc dùng để chấm điểm
là:
Điểm =
1


k
W
R
Đây là công thức có hiệu chỉnh do yếu tố đoán mò may rủi. Nguyên nhân là
do nếu bài thi gồm có 60 câu, mỗi câu có năm phơng án lựa chọn. Xác suất để
một ngời đoán mò đoán đúng là 20% tức là 12 câu, và sẽ trả lời sai là 48 câu. Chia
48 cho (5-1) thì ta đợc 12. Khi trừ con số này cho 12 câu trả lời đúng chỉ nhờ may
mắn, ngời đó sẽ đợc điểm không. Tuy nhiên nhiêu công trình và nhiều tác giả cho
thấy là việc áp dụng công thức là không cần thiết vì sẽ dùng điểm âm.
1.2.3. Các tiêu chuẩn để đánh giá các câu TN và bài thi TNKQ
1.2.3.1. Các mức độ mục tiêu trong lĩnh vực nhận thức
1.2.3.1.1. Các mức kĩ năng trong lĩnh vực nhận thức
Theo B. S. Bloom, các hoạt động giáo dục bao gồm ba lĩnh vực, đó là lĩnh
vực về nhận thức, lĩnh vực về hoạt động, và lĩnh vực về cảm xúc thái độ. Lĩnh vực
về nhận thức thể hiện ở khả năng suy nghĩ, lập luận, bao gồm việc thu thập các sự
kiện, giải thích, lập luận theo kiểu diễn dịch và quy nạp và sự đánh giá có phê
phán.
Bloom và các cộng sự của ông ta cũng xây dựng nên các cấp độ của các
mục tiêu giáo dục, thờng đợc gọi là cách phân loại B.loom, trong đó lĩnh vực nhận
thức đợc chia thành các mức độ hành vi từ đơn giản nhất đến phức tạp nhất nh sau
(5, tr 3):

nhớ: là sự nhớ lại các dữ liệu đã học đợc trớc đây. Có nghĩa là nhắc lại một
loạt dữ liệu, từ các sự kiện đơn giản đến các lí thuyết phức tạp, tái hiện trong trí
25

×