Tải bản đầy đủ (.pdf) (120 trang)

Luận văn quản lý lễ hội truyền thống ở tỉnh bà rịa vũng tàu

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.04 MB, 120 trang )

1

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ······························································································· 3
1. Lý do chọn Đề tài ··············································································· 3
2. Mục đích nghiên cứu ··········································································· 6
3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ····································································· 7
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ·························································· 13
5. Phương pháp nghiên cứu ···································································· 13
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn ······························································ 14
7. Bố cục của Luận văn ········································································· 16
Chương 1 ····························································································· 17
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN··············································· 17
1.1

Các khái niệm ············································································· 17

1.1.1

Khái niệm di sản ··································································· 17

1.1.2

Khái niệm lễ hội truyền thống···················································· 18

1.1.3

Khái niệm quản lý ································································· 19

1.1.4


Khái niệm bảo tồn và phát huy di sản ··········································· 22

1.2

Các quan điểm về quản lý lễ hội truyền thống ········································ 24

1.2.1

Quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước ta ··············· 24

1.2.2

Vận dụng của Đảng bộ và chính quyền tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu············ 29

1.3

Các giá trị tiêu biểu của lễ hội truyền thống ở Bà Rịa - Vũng Tàu ················· 32

1.3.1

Mộ số lễ hội truyền thống tiêu biểu ở tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu ·············· 32

1.3.2

Các giá trị tiêu biểu của lễ hội truyền thống···································· 34

Tiểu kết chương 1 ··············································································· 45
Chương 2 ····························································································· 47
THỰC TIỄN QUẢN LÝ LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG ········································ 47
Ở TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU·································································· 47

2.1

Tình hình quản lý lễ hội truyền thống ở tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu··················· 47

2.1.1

Các Quy chế tổ chức lễ hội ······················································· 47

2.1.2

Về chính sách hỗ trợ cho công tác quản lý lễ hội ······························ 60

2.1.3. Về tổ chức hoạt động lễ hội truyền thống ở Bà Rịa - Vũng Tàu················ 62


2

2.2. Đánh giá công tác quản lý tổ chức lễ hội ở tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu ················· 68
2.2.1

Những kết quả đạt được··························································· 68

2.2.2

Những tồn tại, hạn chế ···························································· 70

Tiểu kết chương 2 ··············································································· 74
Chương 3 ····························································································· 76
QUAN ĐIỂM VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT HUY CÔNG TÁC ······························· 76
QUẢN LÝ LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG Ở BÀ RỊA- VŨNG TÀU ·························· 76

3.1

Quan điểm về quản lý lễ hội truyền thống ở Bà Rịa – Vũng Tàu ·················· 76

3.1.1

Quan điểm bảo tồn nguyện vẹn ·················································· 76

3.1.2

Quan điểm bảo tồn trên cơ sở kế thừa ············································ 80

3.1.3

Quan điểm phát huy các giá trị di sản văn hóa ································· 82

3.2

Định hướng về quản lý lễ hội truyền thống ở tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu ·············· 86

3.2.1

Những khó khăn trong cơng tác quản lý lễ hội hiện nay······················ 86

3.2.2

Định hướng quản lý lễ hội truyền thống ở Bà Rịa - Vũng Tàu ·············· 91

Tiểu kết chương 3 ··············································································· 98
KẾT LUẬN ························································································· 101

TÀI LIỆU THAM KHẢO ········································································ 107
PHỤ LỤC………………………………...………………………………………………116


3

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn Đề tài
Lễ hội truyền thống là di sản văn hóa (phi vật thể) của cả dân tộc nói
chung và mỗi địa phương nói riêng. Với tư cách là sinh hoạt văn hóa cộng
đồng, lễ hội truyền thống có sức hấp dẫn, thu hút đơng đảo mọi tầng lớp nhân
dân tham gia. Trên khắp đất nước ta, địa phương nào cũng có lễ hội diễn ra
quanh năm, theo thống kê bước đầu, hiện nay cả nước có gần 8.000 lễ hội lớn
nhỏ, trong đó Bà Rịa - Vũng Tàu có 212 lễ hội ở các đình, đền, chùa, lăng,
miếu, dinh với quy mô, mức độ khác nhau. Lễ hội đã trở thành nhu cầu không
thể thiếu trong đời sống, nhằm thỏa mãn khát vọng trở về với cội nguồn, bày
tỏ niềm tin, cân bằng đời sống tâm linh và hưởng thụ, sáng tạo văn hóa của
nhân dân.
Hơn thế nữa, lễ hội truyền thống còn được coi là “nguồn sữa mẹ” ni
dưỡng các loại hình nghệ thuật. Lễ hội đã bảo lưu, nuôi dưỡng và phát triển
nhiều truyền thống văn hóa của cộng đồng các làng xã, các cộng đồng nghề
nghiệp. Lễ hội còn là chỗ dựa tinh thần của người dân, thể hiện quan niệm đối
với cái đẹp và khát vọng vươn tới cái đẹp của họ. Tìm về lễ hội là tìm về với
cội nguồn dân tộc, nơi “chôn nhau cắt rốn”, hướng về với những giá trị tốt
đẹp truyền thống của cộng đồng làng xã Việt Nam. Thời gian gần đây, lễ hội
đang là một đề tài lớn được xã hội quan tâm đặc biệt. Lễ hội truyền thống
luôn đồng hành suốt chiều dài lịch sử của mỗi cộng đồng dân tộc, đồng thời in
đậm dấu ấn đặc trưng văn hóa của từng quốc gia, vùng miền và từng địa
phương cụ thể. Nó vừa là nơi lưu giữ, tỏa sáng các giá trị văn hóa dân tộc tại
chỗ; đồng thời vừa là nơi giao lưu, tiếp biến các vốn văn hóa tiếp thu từ nhiều

vùng miền, dân tộc khác; vừa bảo lưu, kế thừa các giá trị văn hóa truyền
thống vốn có; vừa thu hút, phát triển các nguồn mạch văn hóa thời đại qua


4

nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau. Lễ hội truyền thống đang ngày càng phát
triển mạnh mẽ, góp phần“Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên
tiến đậm đà bản sắc dân tộc” theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 5, khoá
VIII và Nghị quyết Trung ương 9, khóa XI đã đề ra.
Trong nhiều năm vừa qua, lễ hội truyền thống ở Việt Nam nói chung,
tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu nói riêng đều có những thăng trầm nhất định, có lúc
phát triển một cách ồ ạt, thiếu tính tổ chức. Trong những nguyên nhân của
thời kỳ lắng xuống có thể kể đến những nguyên nhân khách quan, như chiến
tranh, kinh tế nước nhà cịn nhiều khó khăn; nguyên nhân chủ quan phải kể
đến nhận thức và cách thức quản lý của các nhà quản lý văn hóa - xã hội. Họ
đã có lúc coi lễ hội là một sự lãng phí, tốn kém tiền của của nhân dân, là mê
tín dị đoan nên đã đưa ra những quyết định quản lý lễ hội nặng về cấm đoán
hành chính, thiếu căn cứ khoa học. Chính vì thế, nhiều lễ hội truyền thống
không được vận hành theo đúng quy luật của văn hóa, nhiều giá trị văn hóa
đặc sắc của lễ hội theo đó ngày cũng bị mai một.
Trong những năm gần đây, khi có những thay đổi về mọi mặt của đời
sống xã hội, tình hình dường như có xu hướng ngược lại, lễ hội phát triển một
cách ồ ạt, không được định hướng, kéo theo là hàng loạt các yếu tố ngoại lai
đi kèm xuất hiện trong lễ hội, làm các nhà quản lý về văn hóa cũng phải xem
xét lại nhiều góc cạnh của lễ hội. Bên cạnh đó, các nhà quản lý văn hóa cũng
đã nhận thức được đây là nhu cầu thực, khách quan của nhân dân, nhu cầu
này cần phải được thỏa mãn một cách chính đáng. Tuy nhiên, họ lại phải
đứng trước một tình huống quản lý khó khăn hơn trong tình trạng phát triển ồ
ạt của lễ hội hiện nay (bởi vì nếu thực hiện khơng dựa trên những cơ sở khoa

học thì những biện pháp hành chính khơng đúng sẽ khiến lễ hội truyền thống
biến dạng, làm cho nó khơng thể hiện vai trị mà nó vốn có).


5

Sở dĩ có hiện tượng trên là do trước đây chúng ta chưa có những nghiên
cứu khoa học đầy đủ để đưa ra những cách thức quản lý lễ hội truyền thống
phù hợp với quá trình xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở. Đặc biệt, đất nước
ta đang trong thời kỳ mở cửa, hội nhập quốc tế, xây dựng nền kinh tế theo cơ
chế thị trường sẽ ảnh hưởng rất lớn đến việc phát huy và bảo tồn bản sắc văn
hóa của dân tộc nói chung và lễ hội truyền thống nói riêng.
Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực
thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội (Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5,
BCH.TW Đảng khóa VIII; Nghị quyết lần thứ 9, BCH.TW khoá XI). Ngành
Văn hóa, Thể thao và Du lịch coi cơng tác xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở
là một trong những trọng tâm công tác của ngành. Công tác quản lý nhà nước
về văn hóa ở cơ sở trên thực tiễn đang đặt ra nhiều vấn đề đòi hỏi phải giải
quyết một cách khoa học. Công tác quản lý nhà nước về lễ hội cũng đang đòi
hỏi phải giải quyết cả tầm vĩ mô và tầm vi mô một số vấn đề bức xúc đang đặt
ra trong thực tiễn các lễ hội như việc đốt vàng mã, xin xăm, xóc thẻ, bói tốn,
cờ bạc, các trị vui chơi, giải trí dưới hình thức có thưởng (trá hình).
Với tư cách là một loại hình di sản văn hóa phi vật thể, lễ hội truyền
thống là một đối tượng nghiên cứu mà tiếp cận nó sẽ giải quyết được những
vấn đề lý luận, lịch sử, văn hóa... Nghiên cứu quản lý lễ hội truyền thống
không những chỉ giải đáp được những câu hỏi liên quan đến những vấn đề cụ
thể của bản thân lễ hội với tư cách là một di sản văn hóa phi vật thể cả trên
phương diện lý luận lẫn thực tiễn, mà cịn góp phần xây dựng và phát triển
nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Là một cán bộ đang công tác và gắn bó trong ngành văn hóa tại địa

phương, trước “báo động” về thực trạng hoạt động lễ hội tràn lan ngày càng
phổ biến, đặc biệt vấn đề quản lý lễ hội truyền thống ở tỉnh Bà Rịa - Vũng
Tàu hiện nay cũng đang còn nhiều bất cập, làm ảnh hưởng đến giá trị truyền


6

thống, đạo đức và bản chất tốt đẹp lễ hội của địa phương nói riêng và cả nước
nói chung. Vì vậy, tôi quyết định chọn đề tài: “Quản lý lễ hội truyền thống ở
tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu” để làm Luận văn tốt nghiệp Cao học - chuyên ngành
Quản lý văn hóa, với mong muốn từ một địa phương cụ thể sẽ nhận thức rõ
hơn và đầy đủ hơn về những mặt làm được, những tồn tại và bất cập trong
cơng tác quản lý lễ hội nói chung và ở tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu hiện nay nói
riêng. Từ đó đánh giá, đưa ra một số nhận định và giải pháp thực tiễn theo
quan điểm “Quản lý Di sản” góp phần cùng với các cấp, các ngành và người
dân quản lý lễ hội truyền thống ở Bà Rịa - Vũng Tàu tốt hơn. Đó cũng là giải
pháp tích cực để đưa lễ hội trở về với giá trị truyền thống và bản chất tốt đẹp
vốn có của nó. Bà Rịa - Vũng Tàu là một tỉnh có nhiều tiềm năng và lợi thế
phát triển du lịch, việc quản lý, bảo tồn và phát huy di sản văn hoá lễ hội theo
hướng bền vững sẽ rất có ý nghĩa đối với sự nghiệp xây dựng, phát triển kinh
tế, văn hóa - xã hội tỉnh nhà.
2. Mục đích nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài nhằm đạt các mục đích
1) Nhận diện và đánh giá tình hình cơng tác quản lý và tổ chức lễ hội
truyền thống ở tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu của ngành Văn hóa, Thể thao và Du
lịch thông qua việc triển khai các văn bản pháp quy cũng như việc áp dụng
các văn bản ấy trong thực tiễn công tác tổ chức lễ hội trong thời gian vừa qua
ở Bà Rịa - Vũng Tàu, đặc biệt nhấn mạnh đến giai đoạn hiện nay.
2) Đưa ra một số quan điểm và định hướng trong công tác quản lý và tổ
chức lễ hội truyền thống ở tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu trong giai đoạn hiện nay và

những năm tiếp theo.
3) Nghiên cứu lễ hội truyền thống nhằm mục đích hướng đến việc xây
dựng một mơ hình quản lý cụ thể sát hợp với công tác quản lý và tổ chức các
hoạt động lễ hội truyền thống ở tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu trong thời gian tới,


7

đáp ứng được nhu cầu hưởng thụ văn hóa (cả về vật chất lẫn tinh thần) của
đông đảo người dân ở tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nghiên cứu về lễ hội không phải là một đề tài mới. Từ trước tới nay, đã
có nhiều tác giả nghiên cứu về vấn đề này. Những nghiên cứu của họ có thể
tập hợp và phân loại theo các nhóm sau:
- Nhóm các cơng trình theo khuynh hướng miêu thuật từng lễ hội cụ thể:
khuynh hướng sưu tầm nghiên cứu và miêu thuật từng lễ hội cụ thể là khuynh
hướng trội nhất và có số lượng các cơng trình nhiều nhất như các cơng trình
của các tác giả Thạch Phương - Lê Trung Vũ [96], Nguyễn Chí Bền (trưởng
ban tuyển chọn) [9], Trương Thìn (chủ biên) [85]… Theo nhóm các tác giả
tuyển chọn [9], 212 lễ hội truyền thống đã được miêu thuật. Điều đáng quan
tâm, các công trình trên chủ yếu dừng lại ở miêu thuật và giải nghĩa các lễ hội
chứ chưa nhấn mạnh vào những phân tích về mối liên hệ của các lễ hội truyền
thống với xã hội đương đại để có thể đưa ra những giải pháp quản lý lễ hội.
- Nhóm cơng trình theo khuynh hướng nghiên cứu lễ hội ở bình diện
tổng thể, chủ yếu nhìn nhận các vấn đề giá trị của lễ hội truyền thống theo
phương pháp định tính. Một trong những tác giả tiêu biểu cho khuynh hướng
này là GS. Đinh Gia Khánh trong các cơng trình Ý nghĩa xã hội và văn hóa
của hội lễ dân gian; Văn hóa dân gian Việt Nam với sự phát triển của xã hội
Việt Nam; là tập thể các tác giả của Viện Nghiên cứu Văn hóa (Viện Khoa
học Xã hội Việt Nam) với cơng trình Lễ hội cổ truyền của người Việt ở Bắc

Bộ do Phó GS. Lê Trung Vũ (chủ biên) [95]… Đáng lưu ý là năm 1993,
Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn (nay là Viện Khoa học Xã hội Việt
Nam) tổ chức một hội thảo khoa học quốc tế về Lễ hội truyền thống trong
đời sống xã hội hiện đại [87]. Các tác giả tham gia hội thảo này đã đóng góp
nhiều ý kiến về vai trò của lễ hội truyền thống trong xã hội đương đại, trong


8

đó tác giả Vũ Ngọc Khánh cho rằng lễ hội khơng phải là một hiện tượng văn
hóa bất biến mà nó có sự biến chuyển qua thời gian. Sự thay đổi và tiếp tục
của các lễ hội chính là sự hài hịa của nó đối với khơng gian và thời gian
nhất định.
Đánh giá về vai trò của lễ hội đối với sự phát triển của xã hội, về những
giá trị của lễ hội truyền thống trong đời sống xã hội đương đại, tác giả Ngô
Đức Thịnh cho rằng, trong xã hội đương đại, lễ hội truyền thống còn giữ năm
giá trị cơ bản là: 1/ Giá trị cộng đồng, trong đó, lễ hội chính là “sự biểu
dương sức mạnh của cộng đồng” và là chất kết dính tạo nên “sự cố kết cộng
đồng”. Lễ hội là mơi trường góp phần quan trọng tạo nên niềm cộng mệnh và
cộng cảm của sức mạnh cộng đồng [82, tr.7]; 2/ Giá trị hướng về nguồn, đó là
nguồn gốc tự nhiên, nguồn gốc cộng đồng, và chính vì vậy, lễ hội thường gắn
với hành hương - du lịch [82, tr.7]; 3/ Giá trị cân bằng đời sống tâm linh, theo
đó lễ hội góp phần làm thoả mãn nhu cầu về đời sống tâm linh của con người
[82, tr.7]; 4/ Giá trị sáng tạo và hưởng thụ văn hóa, trong đó, các lễ hội do
nhân dân tự tổ chức, làm tái hiện các sinh hoạt văn hóa cộng đồng, và cũng
chính bản thân họ là những người hưởng thụ các sinh hoạt văn hóa đó [82,
tr.8]; và 5/ Giá trị bảo tồn, làm giàu và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Lễ
hội truyền thống là một bảo tàng sống về văn hóa dân tộc, nhờ đó, nền văn
hóa ấy được hồi sinh, tái tạo và truyền giao qua các thế hệ [82, tr.8].
Một trong những cơng trình khác đánh giá tương đối đầy đủ về thực

trạng lễ hội truyền thống Việt Nam là đề tài khoa học cấp Bộ Văn hóa Thơng tin của các tác giả Nguyễn Thu Linh và Phan Văn Tú về Quản lý lễ hội
cổ truyền: thực trạng và giải pháp [89].
- Nhóm các cơng trình đề cập đến vấn đề quản lý lễ hội: Nhiều năm qua,
Bộ Văn hóa - Thơng tin đã chú ý đến vấn đề này. Những cơng trình Hội nghị
- Hội thảo về lễ hội [16]; Một số giá trị Văn hóa cổ truyền với đời sống Văn


9

hóa cơ sở ở nơng thơn hiện nay [17]; Lễ hội và ứng xử của những người làm
công tác lễ hội hiện nay [67] là những tập hợp báo cáo, các hội thảo khoa học
nhằm nâng cao chất lượng công tác quản lý lễ hội. Trong cuốn sách Một số
giá trị văn hóa cổ truyền với đời sống văn hóa ở cơ sở nông thôn hiện nay
[17], chương I. Lễ hội truyền thống trong đời sống văn hóa và việc quản lý,
phát huy lễ hội trong thời đại mới, các tác giả cho rằng, sau khi có sự bùng
phát trở lại việc tổ chức lễ hội ở nhiều địa phương, công việc tổ chức và quản
lý lễ hội ngày càng trở nên phức tạp, vì vậy, để làm tốt cơng tác tổ chức và
quản lý lễ hội, việc phân cấp và quản lý trên cơ sở của từng lễ hội là một việc
làm cần thiết; việc phân cấp quản lý các lễ hội sẽ phát huy được sức mạnh
tổng hợp của người dân cũng như chính quyền địa phương; bên cạnh những
lợi ích tinh thần, việc tổ chức các lễ hội ngày càng mang lại những lợi ích vật
chất, chính vì vậy việc xử lý các nguồn kinh phí trong lễ hội cũng là một
trong những vấn đề đặt ra đối với cơng tác quản lý lễ hội; ngồi ra, các tác giả
cũng nhấn mạnh rằng các phong tục của mỗi địa phương có những khác biệt
nhất định, chính vì vậy, khơng thể áp đặt một cách máy móc những qui định
chung cho tất cả các lễ hội, tránh sự khiên cưỡng trong điều hành, chỉ đạo
nhân dân, cũng như xảy ra những mâu thuẫn giữa làng tổ chức lễ hội với cán
bộ văn hóa chỉ vì lý do khơng hiểu phong tục, áp đặt tư tưởng, định kiến đối
với việc tổ chức lễ hội [17, tr.136-150].
Lễ hội ngày nay được phục hồi một cách tràn lan, nghi thức trở nên

rườm rà, linh đình, tốn kém, thậm chí cịn hơn cả trước kia. Khơng ít lễ hội
nặng về kinh doanh trong khi công tác quản lý bị buông lỏng. Tác giả cho
rằng ngành văn hóa thơng tin ở một số địa phương chưa phát huy tốt vai trò
quản lý của mình, và phê phán thái độ cực đoan phiến diện trong quản lý lễ
hội đã không phù hợp với điều kiện và hồn cảnh hiện nay [67, tr. 5-6]. Để
cơng tác quản lý lễ hội có hiệu quả hơn, tác giả đưa ra những giải pháp liên


10

quan đến tuyên truyền vận động các tầng lớp nhân dân thực hiện tốt các chủ
trương của Đảng, Nhà nước, các thơng tư hướng dẫn của Bộ Văn hóa - Thông
tin; đưa nội dung thực hiện nếp sống văn minh trong lễ hội vào nội dung thi
đua của phong trào Tồn dân đồn kết xây dựng đời sống văn hóa; nghiên
cứu xây dựng mơ hình lễ hội kết hợp và phát huy các yếu tố tích cực truyền
thống với yếu tố văn minh, hiện đại; bổ sung các hình thức sinh hoạt văn hóa
có tính chất quần chúng; đào tạo đội ngũ cán bộ ngành văn hóa thơng tin để
nâng cao hiểu biết và năng lực quản lý lễ hội [67, tr.7].
Đề tài Quản lý lễ hội cổ truyền: thực trạng và giải pháp [89] là một cơng
trình khoa học rất gần gũi với nội dung nghiên cứu của đề tài luận văn. Các
tác giả nhấn mạnh lễ hội truyền thống như một di sản văn hóa quý giá của dân
tộc, sau đó, đưa ra những đánh giá về thực trạng và những vấn đề đang được
tranh luận trong quản lý lễ hội, và kết luận bằng một số giải pháp quản lý lễ
hội nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển văn hóa - du lịch. Các tác giả nhận xét,
trong quản lý lễ hội đang tồn tại một số vấn đề gây tranh luận như: 1/ vấn đề
“khơi trong gạn đục” hay nói cách khác vấn đề liên quan tới việc chọn lọc
“những ý tưởng, những nhân tố có khả năng phát triển thành những sản phẩm
văn hóa, có khả năng hịa nhập với đời sống văn hóa đương đại” [89, tr.56] và
ngăn chặn sự lạm dụng lễ hội; 2/ vấn đề “mê tín” và chống mê tín trong lễ
hội; 3/ vấn đề bảo tồn và “cách tân”; 4/ vấn đề kinh tế và hoạt động kinh tế

trong quản lý lễ hội; 5/ vấn đề tài chính cho tổ chức lễ hội; 6/ vấn đề không
gian và thời gian tổ chức lễ hội; 7/ vấn đề liên quan đến tính tương đối trong
xử lý các hiện tượng lễ hội từ khía cạnh quản lý Nhà nước; 8/ vấn đề liên
quan đến nhận thức về tổ chức lễ hội, trong đó, đặc biệt các tác giả nêu ra ý
tưởng về bảo tồn những giá trị lễ hội đã ổn định qua lịch sử và phát triển lễ
hội theo hướng đáp ứng các nhu cầu, mục tiêu và thẩm mỹ của xã hội đương
đại; 9/ các vấn đề liên quan đến chủ trương xã hội hoá hoạt động lễ hội [89,


11

tr.56-64]. Để kết luận, các tác giả đưa ra một số giải pháp quản lý lễ hội nhằm
đáp ứng nhu cầu phát triển văn hóa - du lịch như sau: 1/ giải pháp về kết hợp
giữa nghiên cứu và ứng dụng trong việc phục dựng và bảo tồn các giá trị di
sản lễ hội dân gian; 2/ giải pháp về huy động kinh phí (nguồn vốn) cho việc tổ
chức lễ hội; 3/ giải pháp về quản lý dịch vụ và vệ sinh môi trường; 4/ giải
pháp về chống lợi dụng tín ngưỡng và tệ nạn xã hội [89, tr.65-78]. Đây là một
đề tài có ý nghĩa khoa học, là nguồn tư liệu quý giá cho luận văn, tuy nhiên,
kết quả của đề tài này chưa làm rõ được vai trò của lễ hội truyền thống trong
việc xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở và chưa nêu ra những giải pháp quản
lý phù hợp để phát huy vai trò của lễ hội truyền thống trong quá trình xây
dựng đời sống văn hóa ấy, nhất là đối với một địa phương cụ thể.
Đặc biệt cơng trình mới xuất bản gần đây nhất của Giáo sư Nguyễn Chí
Bền về Lễ hội cổ truyền của người Việt, cấu trúc và thành tố [11] cơng trình
đã đánh giá một cách tồn diện lịch sử nghiên cứu, sưu tầm lễ hội cổ truyền
của người Việt. Nghiên cứu chủ thể, khách thể của lễ hội cổ truyền. Nghiên
cứu cấu trúc luận, cấu trúc chức năng, các thành tố trong cấu trúc lễ hội cổ
truyền. Nghiên cứu nhân vật thờ phụng, các thành tố hiện hữu, tầng âm... và
quan hệ giữa các thành tố trong cấu trúc lễ hội cổ truyền của người Việt. Từ
nghiên cứu cấu trúc, cơng trình đề ra giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị lễ

hội cổ truyền trong xã hội đương đại một cách khoa học, rất có giá trị tham
khảo khi thực hiện cho đề tài này.
Riêng những cơng trình nghiên cứu về đề tài lễ hội ở Bà Rịa - Vũng Tàu
thì rất nhiều. Trong đó, đặc biệt phải kể đến một số nhà nghiên cứu về lễ hội ở
Bà Rịa - Vũng Tàu liên quan đến nội dung mà đề tài người thực hiện đang
nghiên cứu như: “Lễ hội dân gian của ngư dân Bà Rịa - Vũng Tàu” (Đinh
Văn Hạnh - Phan An), “Về lễ hội ở Bà Rịa - Vũng Tàu trước đây và hiện
nay” trong sách Bà Rịa - Vũng Tàu Đất và Người (TS. Đinh Văn Hạnh), “Lễ


12

hội Nghinh Cơ - Long Hải nét văn hóa độc đáo của ngư dân Bà Rịa - Vũng
Tàu” (TS. Đinh Văn Hạnh); “Di sản văn hóa Bà Rịa - Vũng Tàu trong cơng
nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển du lịch văn hóa” (GS. TS Phan
Khanh); “Tiềm năng hệ thống di tích và lễ hội với chiến lược phát triển du
lịch văn hóa Bà Rịa - Vũng Tàu” trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Văn hóa –
Du lịch, vai trị của các di tích tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu” - Sở Văn hóa, Thể
thao và Du lịch Bà Rịa - Vũng Tàu (TS. Huỳnh Quốc Thắng)… là những nhà
nghiên cứu về lễ hội có nhiều năm gắn bó với vùng đất Bà Rịa - Vũng Tàu.
Đặc biệt là PGS. TS. Phan An và TS. Đinh Văn Hạnh là hai nhà nghiên cứu
đã có một số cơng trình, bài viết tương đối có hệ thống, khái quát được gần
như đầy đủ về các lễ hội ở vùng đất Bà Rịa - Vũng Tàu. Tuy nhiên, do giới
hạn đối tượng, phạm vi nghiên cứu của các tác giả nên vấn đề chun sâu tìm
hiểu về cơng tác quản lý lễ hội ở Bà Rịa - Vũng Tàu vẫn còn là vấn đề mới
mẽ của thực tiễn…
Các cơng trình nghiên cứu trên đóng góp một phần quan trọng trong việc
bổ sung những kiến thức cho đề tài luận văn này. Tác giả trân trọng kế thừa,
tiếp thu các ý kiến của các học giả đi trước trong nghiên cứu về lễ hội. Tuy
nhiên, những cơng trình này là chủ yếu xuất phát từ kinh nghiệm để quản lý lễ

hội, chưa thực sự đặt việc quản lý lễ hội trong khoa học quản lý văn hóa. Các
kết quả nghiên cứu về lễ hội truyền thống chủ yếu là dùng phương pháp định
tính để khẳng định các giá trị của lễ hội, giải mã thông qua miêu thuật các lễ
hội cụ thể mà chưa phác thảo được một cách chân xác thực trạng của lễ hội
truyền thống để đưa ra hệ thống các giải pháp quản lý lễ hội truyền thống
trong quá trình xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở. Vì thế, nghiên cứu giải
pháp quản lý lễ hội truyền thống trong giai đoạn hiện nay là việc làm có ý
nghĩa lý luận, thực tiễn và khoa học.


13

4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hoạt động quản lý lễ hội truyền
thống ở tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu từ giai đoạn 1991 (từ khi thành lập tỉnh Bà
Rịa - Vũng Tàu) đến nay. Từ việc ban hành và triển khai các văn bản pháp
quy của nhà nước; các văn bản, quyết định, quy định, quy chế, chỉ thị, nghị
quyết từ Trung ương đến các văn bản quản lý của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân,
Ủy ban Nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tới những vấn đề nảy sinh trong
thực tiễn công tác quản lý và tổ chức lễ hội hiện nay.
Phạm vi không gian:
Các lễ hội truyền thống mà luận văn đề cập hạn chế trong phạm vi của lễ
hội truyền thống ở tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Phạm vi thời gian:
Năm 1991, đánh dấu sự thành lập tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu gồm Đặc khu
Vũng Tàu - Côn Đảo và các huyện Châu Thành, Long Đất, Xuyên Mộc của
tỉnh Đồng Nai. Việc quản lý xã hội nói chung, quản lý lễ hội nói riêng cũng
có những sự thay đổi mang tính cách mạng, bước ngoặt so với thời gian trước
đó, vì vậy tác giả chọn mốc thời gian 1991 đến nay là phạm vi nghiên cứu của
đề tài.

Tác giả tiến hành chọn một số lễ hội tiêu biểu làm nghiên cứu trường hợp
nhằm minh chứng thêm những luận điểm mà mình đưa ra.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Nghiên cứu đường lối, chính sách pháp luật và các văn bản pháp quy của
Đảng và Nhà nước, cùng với việc vận dụng hệ thống lý thuyết chuyên ngành
liên quan và tìm hiểu nhu cầu hưởng thụ văn hóa (tinh thần và vật chất), giải
trí, tâm linh, tơn giáo - tín ngưỡng của quần chúng nhân dân kết hợp với các
phương pháp:


14

Phương pháp điều tra xã hội học: nhằm tìm hiểu về nhu cầu của đời
sống xã hội cần gì, muốn gì? Đồng thời, chúng ta có một cái nhìn khái quát
nhất về nhu cầu của đời sống xã hội của người dân Bà Rịa - Vũng Tàu. Từ đó
tiến hành quan sát, phỏng vấn những người tổ chức lễ hội để biết được sâu sắc
hơn về giá trị lễ hội, di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh của địa
phương mình, từ đó đánh giá được thái độ và hiệu quả của văn bản quản lý
theo hai hướng: nghiên cứu, so sánh để đánh giá được các khía cạnh của công
cụ quản lý; so sánh, đánh giá việc ban hành và thực thi văn bản từ trung ương
đến tỉnh (vĩ mơ và vi mơ) bằng tính định lượng và tính định tính.
Phương pháp điền dã: đi đến từng nơi, từng địa điểm, những nơi diễn ra
lễ hội để tiếp cận, thu thập thông tin, phỏng vấn tại chỗ. Từ đó, có cái nhìn cận
cảnh nhất, khách quan nhất về khơng gian, kiến trúc, di tích, danh thắng, đối
tượng thờ cúng, nghi thức tiến hành lễ hội… để nắm bắt và đánh giá một cách
chính xác và khoa học nhất.
Phương pháp phân tích, tổng hợp:
Trên cơ sở các tài liệu, văn bản từ Trung ương đến địa phương, tác giả
luận văn sẽ tổng hợp, phân tích các luận cứ, luận điểm để cho chúng ta thấy
được mặt mạnh cũng như mặt hạn chế của các văn bản trong công tác triển

khai ở địa phương trong đó chủ yếu liên quan đến công tác tổ chức, quản lý và
hoạt động của lễ hội truyền thống ở tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Từ việc nghiên cứu, đánh giá thực trạng công tác quản lý và tổ chức lễ
hội truyền thống ở tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, phân tích thơng qua các văn bản
pháp quy của nhà nước và của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu liên quan đến quản lý
lễ hội truyền thống, luận văn sẽ đưa ra những lý giải theo cách riêng của mình
về ảnh hưởng của các văn bản quản lý đối với công việc tổ chức và quản lý lễ
hội từ năm 1991 đến nay.


15

Đề tài khơng đi sâu vào tìm hiểu nguồn gốc, đặc trưng và sự hình thành
của từng lễ hội ở Bà Rịa - Vũng Tàu, mà chỉ tập trung làm nổi bật hệ thống lễ
hội ở Bà Rịa - Vũng Tàu và những giá trị của nó một cách chung nhất và khái
quát nhất. Đề tài đi sâu tìm hiểu thực tiễn công tác quản lý lễ hội truyền thống
ở tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu hiện nay. Từ đó nói lên được những mặt mạnh, mặt
yếu, cái tích cực, cái tiêu cực… trong công tác quản lý lễ hội truyền thống.
Đồng thời, đưa ra một số giải pháp, kiến nghị trong công tác quản lý lễ hội
truyền thống nhằm bảo tồn và phát huy giá trị lễ hội để duy trì, tu bổ, động
viên, khuyến khích tồn xã hội tham gia sáng tạo trong lễ hội - nhưng không
làm mất đi cái bản chất truyền thống và giá trị tốt đẹp vốn có của nó. Đồng
thời, khẳng định lễ hội truyền thống là một tiềm năng và lợi thế to lớn của
tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu trong công cuộc xây dựng và thúc đẩy sự phát triển
kinh tế, văn hóa, xã hội ở tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu trong giai đoạn hiện nay.
Có thể thấy, nghiên cứu về quản lý lễ hội truyền thống ở tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu khơng những góp phần lý giải nhiều vấn đề khoa học về thực tiễn,
mà còn là một nhiệm vụ quan trọng trong việc đưa ra những cơ sở lý luận,
đúc kết các vấn đề liên quan đến đề tài một cách thiết thực nhất. Nhiệm vụ
cuối cùng của người thực hiện đề tài chính là muốn cho chúng ta thấy được

những luận điểm quan trọng về công tác quản lý lễ hội truyền thống ở tỉnh Bà
Rịa - Vũng Tàu hiện nay. Từ đó, đưa ra một số giải pháp, kiến nghị thiết thực
trong công tác quản lý lễ hội truyền thống, nhằm bảo tồn và phát huy giá trị
các lễ hội ở tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Tác giả áp dụng quan điểm lý thuyết quản lý di sản để giải thích cho
những vấn đề đang đặt ra đối với công tác tổ chức và quản lý lễ hội truyền
thống hiện nay ở Bà Rịa – Vũng Tàu. Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra một số giải
pháp, quan điểm và định hướng cụ thể nhằm phát huy hơn nữa vai trò quản lý


16

của nhà nước đối với công tác tổ chức và quản lý lễ hội truyền thống ở tỉnh
Bà Rịa - Vũng Tàu hiện nay.
7. Bố cục của Luận văn
Ngoài phần Mở đầu (14 trang), Kết luận (06 trang), Tài liệu tham khảo (09
trang), Phụ lục (79 trang), Nội dung Luận văn (86 trang) được chia thành 3
chương như sau:
Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận và thực tiễn (35 trang).
Chƣơng 2: Thực tiễn quản lý lễ hội truyền thống ở tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
(28 trang).
Chƣơng 3: Quản lý lễ hội ở tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, quan điểm và định
hướng phát triển (23 trang).


17

Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Các khái niệm

1.1.1

Khái niệm di sản

Khái niệm di sản là một thuật ngữ khoa học được sử dụng phổ biến, có
một lịch sử phát triển khá lâu dài, bắt đầu được biết đến qua cuộc cách mạng
tư sản Pháp. Có thể nói rằng, chính việc tịch thu được tài sản của tầng lớp quý
tộc và nhà thờ, sau đó tập hợp chúng thành các tài sản quốc gia trong thời
gian cách mạng tư sản đã sản sinh ra khái niệm về di sản.
Để tránh sự phá hoại của các tài sản này, nhà nước đã cho tiến hành kiểm
kê, tiến hành mơ tả, sắp xếp, phân loại các cơng trình lịch sử để xác định thứ
tự ưu tiên nhằm bảo tồn và khôi phục di sản của quốc gia. Như vậy, di sản lúc
đó được mọi người hiểu là “ý niệm về một tài sản chung, tài sản của mọi công
dân chứ khơng phải của riêng một ai, đó là ý niệm đã tạo thành cái ý thức về
di sản quốc gia”.
Khái niệm di sản được hiểu theo một nghĩa đơn giản nhất là tài sản của
thế hệ trước để lại cho thế hệ sau. Hay, chỉ chung cho các tài sản văn hóa như
văn học dân gian, các cơng trình kiến trúc, các tác phẩm điêu khắc, các tác
phẩm văn học… mà các thế hệ trước để lại cho thế hệ sau.
Luật Di sản Văn hóa nước Cộng hịa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam xác
định di sản là “sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa
học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác” [55, tr. 12].
Khái niệm di sản là một khái niệm tiến triển, có nghĩa là nó thay đổi theo
thời gian và không gian. Giờ đây, khái niệm di sản khơng hồn tồn đồng
nhất với khái niệm tài sản từ q khứ nữa vì nó liên quan đến quá trình chọn
lọc quá khứ, nhất là đối với các di sản của cộng đồng (như đối với trường hợp


18


lễ hội). Rõ ràng là, không phải bất kỳ quá khứ nào cũng có thể trở thành di
sản. Chính vì lẽ đó, tác giả luận văn sẽ áp dụng xuyên suốt Luật Di sản văn
hóa đã được Quốc hội thơng qua làm cơ sở lý luận chúng nhất cho toàn bộ
nghiên cứu luận văn.
1.1.2

Khái niệm lễ hội truyền thống

Theo thống kê của tác giả, lễ hội truyền thống cũng có nhiều khái niệm
khác nhau. Khái niệm “truyền thống” và “cổ truyền” cũng có những cách lý
luận khác nhau, nhưng ý nghĩa của nó gần như tương đồng với nhau. Theo
Tiến sĩ Nguyễn Xuân Hồng, “cổ truyền là trao lại cái vốn có từ xưa hoặc cái
giá trị từ xưa truyền lại cho con cháu và thường nhấn mạnh đến khía cạnh bất
biến của hiện tượng văn hóa; truyền thống, một mặt nhấn mạnh đến việc trao
lại cái hạt nhân, mặt khác cịn nhấn mạnh đến tính chất vượt trội trong kế thừa
hợp lý cái mới trong đời sống của xã hội đương đại”.
Cịn theo quan điểm của GS.TS. Ngơ Đức Thịnh, lễ hội truyền thống là:
“một hình thức diễn xướng dân gian bao gồm nhiều hình thức diễn xướng nhỏ,
kết hợp hữu cơ với nhau tạo thành tổng thể diễn xướng lễ hội; là một hình
thức diễn xướng tâm linh khơng cịn là thế giới hiện thực mà đã vươn lên thế
giới biểu tượng linh thiêng. Nó tái hiện lại lịch sử tự nhiên, lịch sử xã hội
trong một thời điểm mạnh, thời điểm có giá trị đặc biệt, thời điểm thiêng,
khác với thời gian thường ngày; diễn xướng lễ hội truyền đạt tới hiệu quả xã
hội nhiều mặt, nó tạo nên và biểu trưng cho sức mạnh cố kết cộng đồng, nó là
niềm cộng cảm và cộng mệnh của cộng đồng thỏa mãn ước vọng vươn tới sự
hòa đồng giữa con người với thiên nhiên, với cội nguồn” [81, tr.40].
Theo quan điểm chủ quan của tác giả thì, lễ hội truyền thống hay cổ
truyền vẫn là một sự kế thừa, bảo lưu truyền thống của người Việt. Những
sáng tạo của cư dân người Việt trong các lễ hội ở đây (lễ hội Nghinh Ông, lễ



19

hội Bà Chúa Xứ…) đã làm cho kho tàng lễ hội và văn hóa của người Việt trở
nên phong phú và đa dạng hơn.
Bên cạnh đó, tác giả cũng xác định rằng lễ hội là một hiện tượng văn hóa
dân gian tổng thể, được hình thành trên cơ sở một nghi lễ, tín ngưỡng nào đó.
Các lễ hội truyền thống là sinh hoạt văn hóa tiến hành theo định kỳ, mang tính
cộng đồng (thường là cộng đồng làng).
Ngồi ra, tác giả luận văn muốn nhấn mạnh lễ hội là một di sản văn hóa,
một sản phẩm của lịch sử, tồn tại và vận hành trong suốt quá trình lịch sử đến
hiện tại.
1.1.3

Khái niệm quản lý

Quản lý là một hoạt động nhằm đảm bảo sự vận hành của một hệ thống,
một tổ chức một cách liên tục, đúng chức năng. Chúng ta cũng thường nói
đến quản lý với tư cách là một khoa học, trong đó quản lý:
Dựa trên cơ sở vận dụng các quy luật phát triển của các đối tượng khác
nhau, quy luật tự nhiên hay xã hội. Những hình thức quản lý có ý thức ln
gắn liền với các hoạt động có mục tiêu, có kế hoạch của những tập thể lớn hay
nhỏ của con người và thực hiện qua những thể chế xã hội đặc biệt. Mục đích,
nội dung, cơ chế và phương pháp quản lý xã hội tùy thuộc vào chế độ chính
trị - xã hội.
Bản thân khái niệm quản lý có tính đa nghĩa nên có sự khác biệt giữa
nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Hơn nữa, do sự khác biệt về thời đại, xã hội, chế độ,
nghề nghiệp nên quản lý cũng có nhiều giải thích, lý giải khác nhau. Xuất
phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, nhiều học giả trong và ngoài
nước đã có những giải thích khác nhau về quản lý. Các trường phái quản lý

học đã đưa ra những định nghĩa về quản lý như:
Taylor cho rằng “Làm quản lý là bạn phải biết rõ: muốn người khác làm
việc gì và hãy chú ý đến cách tốt nhất, kinh tế nhất mà họ làm”; Fayol định


20

nghĩa “Quản lý là một hoạt động mà mọi tổ chức (gia đình, doanh nghiệp,
chính phủ) đều có, nó gồm năm yếu tố tạo thành là: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo,
điều chỉnh và kiểm sốt. Quản lý chính là thực hiện kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo,
điều chỉnh và kiểm sốt ấy”; Peter F. Druker nói về bản chất của quản lý “Suy
cho cùng, quản lý là thực tiễn. Bản chất của quản lý không nằm ở nhận thức
mà là ở hành động, kiểm chứng nó khơng nằm ở sự logic mà ở thành quả,
quyền uy duy nhất của nó là thành tích” (trích lại từ sách: Quản lý lễ hội
truyền thống của người Việt ở châu thổ Bắc Bộ từ năm 1945 đến nay của tác
giả Bùi Hoài Sơn, [72]).
Tóm lại, quản lý là quan niệm tổ chức khơng phải kỹ thuật, là một q
trình chứ khơng phải hoạt động, là tự do chứ không phải khống chế, là nhiệm
vụ thực tế chứ không phải lý luận; là thành tích chứ khơng phải tiềm tàng, là
trách nhiệm chứ không phải quyền lực; là cống hiến chứ không phải thăng
tiến; là cơ hội chứ không phải chướng ngại; là đơn giản chứ không phải phức
tạp v.v…
Mọi hoạt động quản lý đều phải do năm yếu tố cơ bản cấu thành đó là:
chủ thể quản lý - do ai quản lý? khách thể quản lý - quản lý cái gì? mục đích
quản lý - quản lý vì cái gì? mơi trường và điều kiện tổ chức - quản lý trong
hoàn cảnh nào? biện pháp quản lý - quản lý bằng cách nào?
Để tiến hành công việc quản lý, chúng ta phải dựa vào các phương tiện
và chính sách về pháp luật, tài chính, nghiên cứu khoa học, phát triển nguồn
nhân lực… để đạt được những mục tiêu quản lý đề ra. Thứ nhất, thơng qua
tập thể để thúc đẩy tính tích cực của cá nhân; thứ hai, điều hịa quan hệ giữa

người với người, giảm mâu thuẫn giữa hai bên; thứ ba, tăng cường hợp tác hỗ
trợ lẫn nhau, thông qua hỗ trợ để làm được những việc mà một cá nhân không
thể làm được, thông qua hợp tác tạo ra giá trị lớn hơn giá trị cá nhân và giá trị
tập thể.


21

Đối với quản lý lễ hội, khái niệm này được hiểu trên hai bình diện:
1. Quản lý nhà nước đối với hoạt động lễ hội
Đó là việc nghiên cứu xây dựng, củng cố và hồn thiện hệ thống chính
sách và pháp luật có liên quan, và các can thiệp bằng hệ thống công cụ cơ bản
này của cơ quan hữu trách nhằm các mục tiêu phù hợp với đường lối chính
sách của Đảng và Nhà nước cũng như hệ thống pháp luật hiện hành, đảm bảo
các lợi ích văn hóa của công dân, cộng đồng và quốc gia dân tộc.
Quản lý nói chung, quản lý lễ hội nói riêng cịn được hiểu là sự tác động
chủ quan bằng nhiều hình thức, phương pháp của chủ thể quản lý (các cơ
quan Đảng, nhà nước, đoàn thể, các cơ cấu dân sự, các cá nhân được trao
quyền và trách nhiệm quản lý) đối với khách thể (là mọi thành tố tham gia và
làm nên đời sống văn hóa) nhằm đạt được mục tiêu mong muốn (bảo đảm văn
hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, nâng cao vị thế quốc gia, cải thiện chất
lượng cuộc sống của người dân…).
Điều 54 Luật Di sản quy định
Nội dung quản lý nhà nước về di sản bao gồm:
1. Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch,
chính sách phát triển sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa;
2. Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về di
sản văn hoá;
3. Tổ chức, chỉ đạo các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn
hóa; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về di sản văn hóa;

4. Tổ chức, quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học; đào tạo, bồi dưỡng
đội ngũ cán bộ chuyên môn về di sản văn hóa;
5. Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực bảo vệ và phát huy giá trị
di sản văn hóa;


22

6. Tổ chức, chỉ đạo khen thưởng trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di
sản văn hóa;
7. Tổ chức và quản lý hợp tác quốc tế về bảo vệ và phát huy giá trị di
sản văn hóa của dân tộc;
8. Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, giải quyết khiếu nại, tố
cáo và xử lý vi phạm pháp luật về Di sản Văn hóa [55, 56].
2. Quản lý lễ hội đáp ứng các nhu cầu phát triển
Trong luận văn này, tác giả sử dụng khái niệm thao tác về quản lý lễ hội
như sau: Quản lý lễ hội là công việc của Nhà nước được thực hiện thông qua
việc ban hành, tổ chức thực hiện, kiểm tra và giám sát việc thực hiện các văn
bản quy phạm pháp luật về lễ hội nói chung, lễ hội truyền thống nói riêng
nhằm mục đích bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa của lễ hội được
cộng đồng coi trọng, đồng thời nhằm phát triển kinh tế, xã hội cả nước nói
chung, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu nói riêng.
1.1.4

Khái niệm bảo tồn và phát huy di sản

Có nhiều khái niệm, định nghĩa về thuật ngữ “bảo tồn” và “phát huy”
nhưng để làm rõ hơn khái niệm về bảo tồn và phát huy di sản văn hóa, ta có
thể hiểu như sau: “Bảo tồn di sản (heritage preservation) được hiểu như là
các nỗ lực nhằm bảo vệ và giữ gìn sự tồn tại của di sản theo dạng thức vốn có

của nó. Phát huy di sản (heritage promotion) có nghĩa là những hành động
nhằm đưa di sản văn hóa vào trong thực tiễn xã hội, coi đó như là nguồn nội
lực, tiềm năng góp phần thúc đẩy sự phát triển xã hội, mang lại những lợi ích
vật chất và tinh thần cho con người, thể hiện tính mục tiêu của văn hóa đối
với sự phát triển của xã hội” [97, tr. 39].
Về quan điểm bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa cũng có một số
quan niệm khác nhau. Nhưng trên thế giới vẫn tựu trung 2 quan điểm chủ yếu
là quan điểm Bảo tồn nguyên vẹn và quan điểm bảo tồn trên cơ sở kế thừa.


23

Quan điểm bảo tồn nguyên vẹn, theo Gregory J.Ashworth, được phát
triển đầu tiên từ những năm 50 của thế kỷ XIX. Quan điểm bảo tồn nguyên
vẹn này được khá nhiều học giả ủng hộ, đặc biệt các nhà bảo tồn, bảo tàng
trong lĩnh vực di sản văn hóa. Những người theo quan điểm Bảo tồn nguyên
vẹn cho rằng, những sản phẩm của quá khứ nên được bảo vệ một cách nguyên
vẹn như nó vốn có, cố gắng phục hồi nguyên gốc các di sản văn hóa vật thể
và phi vật thể cũng như cố gắng cách ly di sản khỏi môi trường xã hội đương
đại. Họ cho rằng, mỗi di sản chứa đựng những giá trị văn hóa - xã hội nhất
định mà không phải lúc nào thế hệ hiện tại có hiểu biết một cách cụ thể để có
thể phát huy những giá trị ấy một cách thích hợp. Hơn nữa, những giá trị văn
hóa ấy ln biến đổi theo thời gian do những tác động của xã hội hiện tại và
sẽ tạo nên những lớp văn hóa khác khơng trùng nghĩa với lớp văn hóa mà thế
hệ trước chuyển giao cho thế hệ sau, vì thế, có thể làm cho các thế hệ sau nữa
không thể truy nguyên được những giá trị di sản đang tồn tại. Chính vì như
vậy, những người theo quan điểm này cho rằng, do chúng ta chưa có đủ thơng
tin, trình độ hiểu biết để có thể lý giải giá trị của các di sản văn hóa, chúng ta
nên giữ nguyên trạng những di sản này để khi có điều kiện, các thế hệ tiếp nối
có thể xử lý, giải thích và tìm cách kế thừa, phát huy di sản một cách tốt hơn.

Với quan điểm bảo tồn trên cơ sở kế thừa thì được các học giả nước
ngồi hiện nay quan tâm nhiều hơn và là một xu thế khá phổ biến khi bàn đến
di sản. Có thể kể đến như Alfrey, Putnam, Ashworth và P.J. Larkham… xem
di sản như một ngành cơng nghiệp và cần phải có cách thức quản lý di sản
tương tự với cách thức quản lý của một ngành cơng nghiệp văn hóa với những
logic quản lý đặc biệt, phù hợp với tính đặc thù của các di sản. Hoặc các nhà
nghiên cứu Anh, Mỹ như Boniface, Fowler, Prentice,… thì cho rằng khơng
thể khơng đề cập đến phát triển du lịch trong vấn đề bảo tồn và phát huy di
sản. Cách tiếp cận của các nhà khoa học này sống động hơn, quan tâm di sản


24

văn hóa để phát triển du lịch, để khẳng định tính đa dạng trong sáng tạo của
con người. Cịn các tác giả như Corner và Harvey cũng cho rằng việc quản lý
di sản cần đặt dưới một cách tiếp cận tồn cầu hóa. Ngồi ra, các tác giả như
Moore và Caulton cũng cho rằng cần quan tâm làm thế nào lưu giữ được các
di sản văn hóa thơng qua cách tiếp cận mới và phương tiện kỹ thuật mới. Nhìn
chung, quan điểm lý thuyết này dựa trên cơ sở mỗi di sản cần phải được thực
hiện nhiệm vụ lịch sử của mình ở một thời gian và khơng gian cụ thể. Khi di
sản ấy tồn tại ở thời gian và không gian hiện tại, di sản ấy cần phát huy giá trị
văn hóa - xã hội phù hợp với xã hội hiện nay và phải loại bỏ đi những gì
khơng phù hợp với xã hội ấy.
1.2 Các quan điểm về quản lý lễ hội truyền thống
1.2.1

Quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước ta

Từ ngày thành lập Đảng cho đến nay, quan điểm của Đảng về vai trị, vị
trí của Văn hóa cơ bản nhất qn. Đảng, Nhà nước và Chính phủ Việt Nam

đặc biệt quan tâm đến lĩnh vực Văn hóa – Thể thao và Du lịch. Tuy nhiên,
ngân sách dành cho lĩnh vực này vẫn còn hạn chế do nhiều yếu tố như: ngân
sách nhà nước khơng nhiều; cơng tác xã hội hóa chưa thực sự thu hút sự chú ý
của xã hội… Trong đó có thể nhận thấy trong 10 năm trở lại đây (2005 2014), ngân sách nhà nước cấp cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch có
chiều hướng đi lên và ổn định. Nếu năm 2005, ngân sách nhà nước cấp cho
ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch là 989 tỷ đồng, thì năm 2012 là 2.410 tỷ
đồng, năm 2013 là 2.513 tỷ đồng và mới nhất năm 2014 là 2.800 tỷ đồng.
Nhìn chung ngân sách cấp cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch tương đối
cao và ổn định so với nhiều ngành, lĩnh vực khác (trừ lĩnh vực Giáo dục - Đào
tạo và dạy nghề, nếu năm 2006 chi cho Giáo dục - Đào tạo và dạy nghề là
10.056 tỷ đồng thì năm 2014 là 30.360 tỷ đồng).


25

Có thể nói Đề cương văn hố năm 1943 là văn kiện đầu tiên khẳng định
vị trí, vai trị quan trọng của ngành văn hóa nói chung (lễ hội nói riêng) trong
sự nghiệp cách mạng với những vấn đề then chốt sau: (1) Văn hóa là một
trong ba mặt trận “Chính trị - Kinh tế - Văn hóa”; (2) Muốn làm cách mạng
Xã hội Chủ nghĩa (XHCN) nhất thiết phải làm cách mạng văn hóa; (3) Sự
nghiệp văn hóa là của toàn dân, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng; (4) Ba nguyên
tắc vận động văn hóa ở Việt Nam giai đoạn đó là: Dân tộc hóa, Khoa học hóa,
Đại chúng hóa; (5) Tính chất nền văn hóa mới Việt Nam: Dân tộc về hình thức,
tân dân chủ về nội dung.
Tuy nhiên, theo từng giai đoạn của cách mạng Việt Nam, quan điểm và
đường lối của Đảng về văn hóa có sự thay đổi uyển chuyển, linh hoạt phù hợp
với nhiệm vụ cách mạng từng thời kỳ. Có thể khái quát theo ba giai đoạn sau:
Giai đoạn thứ nhất (từ năm 1945 đến hết năm 1954)
Trong điều kiện kháng chiến tồn dân, tồn diện với mục tiêu lớn là giải
phóng dân tộc khỏi ách thống trị của thực dân, phong kiến, giành độc lập dân

tộc, thì Văn hóa là một mặt trận, văn nghệ sĩ là chiến sĩ trên mặt trận ấy.
Giai đoạn thứ hai (từ năm 1954 đến năm 1975)
Cả nước tiếp tục cuộc cách mạng giải phóng dân tộc vì miền Nam vẫn
chưa được giải phóng khỏi chế độ thực dân. Miền Bắc bước vào giai đoạn đầu
xây dựng Chủ nghĩa Xã hội và trở thành hậu phương lớn cho tiền tuyến lớn ở
miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Muốn làm cuộc cách
mạng XHCN ở miền Bắc, Đảng xác định phải tiến hành đồng thời 3 cuộc cách
mạng lớn: 1) Cách mạng quan hệ sản xuất; 2) Cách mạng khoa học và kỹ thuật;
3) Cách mạng tư tưởng, văn hóa.
Giai đoạn thứ ba (từ năm 1976 đến nay)
Giai đoạn này là giai đoạn cả nước thống nhất đi lên xây dựng Chủ nghĩa
Xã hội. Chặng đường đầu đầy khó khăn, gian khổ và trải nghiệm những thử


×