Tải bản đầy đủ (.pdf) (111 trang)

Luận văn xây dựng đời sống văn hóa cơ sở ở huyện châu thành tỉnh tiền giang

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.45 MB, 111 trang )

LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu
nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng .

Nếu sai tơi xin hồn tồn chịu trách nhiệm.

TÁC GIẢ

ĐINH VĂN LIỆNG


LỜI CẢM ƠN
Tôi xin cảm ơn các thầy cô Trường Đại học Văn Hóa thành phố Hồ Chí
Minh đã quan tâm, nhiệt tình giảng dạy trong chương trình học tập của lớp cao
học.
Cảm ơn thầy hướng dẫn khoa học – Phó giáo sư Tiến sĩ Trần Văn Ánh đã
quan tâm sâu sắc đến quá trình viết luận văn, chỉnh sửa bài viết luận văn, động
viên trong những lúc khó khăn, vướng mắc.
Xin trân thành cảm ơn Ban giám hiệu Trường đại học Văn hóa thành phố
Hồ Chí Minh, q thầy, cô Khoa Sau đại học đã tạo mọi điều kiện, giúp đỡ và
động viên để hoàn thành luận văn này.
Xin trân thành cảm ơn Ban giám hiệu và tập thể cán bộ, giáo viên Trường
Trung cấp Văn hoá Nghệ thuật Tiền Giang đã tạo điều kiện, giúp đỡ trong suốt
khoá học.
Xin cảm ơn anh Võ Văn Dũng phó trưởng phịng Văn hóa – Thơng tin
huyện Châu Thành, anh Trần Quốc Nam cán bộ cơng chức văn hóa xã hội xã
Thân Cửu Nghĩa, anh Huỳnh Quốc Vị cán bộ công chức văn hóa xã hội xã Long
An, anh Đồn Văn Phú trưởng ấp Long Bình xã Long An và bạn bè, anh em, bà
con cô bác ở huyện Châu Thành đã tạo điều kiện, cung cấp nhiều tư liệu, tài liệu
có giá trị trong quá trình làm luận văn.


TÁC GIẢ

ĐINH VĂN LIỆNG


BẢNG VIẾT TẮT, KÍ HIỆU

1. BVHTTDL: Bộ Văn hóa Thể thao Du lịch
2.CLB: Câu lạc bộ
3.TDTT: Thể dục Thể thao
4.ĐBSCL: Đồng bằng sơng Cửu Long
5.ĐSVHCS: Đời sống văn hóa cơ sở
6.GĐVH: Gia đình văn hóa
7.HĐND: Hội đồng nhân dân
8.KT-XH: Kinh tế - xã hội
9.TDĐKXDĐSVH: Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa
10.TPHCM: Thành phố Hồ Chí Minh
11.TTVH: Trung tâm Văn hóa
12.TW: Trung ương
13.UBND: Ủy ban nhân dân


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .............................................................................................................. 1
1 Lý do chọn đề tài .............................................................................................. 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................. 3
2.1 Mục đích .......................................................................................................... 3
2.2 Nhiệm vụ ......................................................................................................... 3
3 Tổng quan tình hình nghiên cứu..................................................................... 3
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu ................................................................... 6

4.1 Đối tượng nghiên cứu...................................................................................... 6
4.2 Phạm vi nghiên cứu ......................................................................................... 6
5 Phƣơng pháp nghiên cứu ................................................................................. 7
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài ....................................................... 7
7 Bố cục của luận văn.......................................................................................... 8
CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ........................................... 9
1.1 Cơ sở lý luận .................................................................................................. 9
1.1.1 Các khái niệm ............................................................................................... 9
1.1.2 Xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở - một nhiệm vụ văn hóa có ý nghĩa
chiến lược ............................................................................................................ 17
1.1.3 Các lý thuyết nghiên cứu............................................................................ 19
1.2 Tổng quan về huyện Châu Thành tỉnh Tiền Giang ................................. 23
1.2.1 Đặc điểm địa lý tự nhiên, dân cư ............................................................... 23
1.2.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội ........................................................................... 24
1.2.3 Đặc điểm văn hóa ....................................................................................... 28
1.2.4. Những thuận lợi, khó khăn trong xây dựng đời sống văn hóa cơ sở ở
huyện Châu Thành .............................................................................................. 31
Tiểu kết chƣơng 1:............................................................................................. 34


CHƢƠNG 2 THỰC TRẠNG XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CƠ SỞ
Ở HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TIỀN GIANG TRONG THỜI GIAN
QUA .................................................................................................................... 35
2.1 Những thành quả xây dựng đời sống văn hóa cơ sở ở huyện Châu
Thành.................................................................................................................. 35
2.1.1 Hoạt động văn hóa – văn nghệ ................................................................... 35
2.1.2 Hoạt động thể dục thể thao......................................................................... 39
2.1.3 Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa và xây dựng
nơng thơn mới ..................................................................................................... 43
2.1.4 Thực trạng xây dựng đội ngũ cán bộ ......................................................... 60

2.2 Những tồn tại hạn chế ................................................................................. 62
2.3 Đánh giá chung……………………………………………………….65
2.4 Nguyên nhân ................................................................................................ 66
2.4.1 Nguyên nhân khách quan: .......................................................................... 66
2.4.2 Nguyên nhân chủ quan: .............................................................................. 67
Tiểu kết chƣơng 2:............................................................................................. 72
CHƢƠNG 3 PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT
LƢỢNG HIỆU QUẢ CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CƠ
SỞ Ở HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TIỀN GIANG................................... 74
3.1 Một số yếu tố tác động đến hoạt động xây dựng đời sống văn hóa cơ sở
hiện nay .............................................................................................................. 74
3.2 Phƣơng hƣớng phát triển đời sống văn hóa cơ sở ................................... 77
3.2.1.Phương hướng chung ................................................................................. 77
3.2.2 Phương hướng cụ thể ................................................................................. 78
3.3 Giải pháp nâng cao chất lƣợng hiệu quả hoạt động xây dựng đời sống
văn hóa cơ sở ở huyện Châu Thành tỉnh Tiền Giang trong thời gian tới.... 80
3.3.1 Nhóm giải pháp về cơ sở vật chất .............................................................. 80
3.3.2 Nhóm giải pháp về cơ chế chính sách ........................................................ 82
3.3.3 Nhóm giải pháp về con người .................................................................... 88


3.4 Một số kiến nghị .......................................................................................... 92
3.4.1 Đối với các cấp ủy ...................................................................................... 92
3.4.2 Đối với chính quyền các cấp ...................................................................... 93
3.4.3 Đối với các cơ quan chức năng .................................................................. 94
Tiểu kết chƣơng 3:............................................................................................. 95
ẾT LUẬN ........................................................................................................ 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................................. 100
PHỤ LỤC……………………………………………………………………105



MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nông nghiệp và nông thơn nước ta có một vị trí và vai trị quan trọng trong
tiến trình phát triển của đất nước.Văn hóa nông thôn là điểm hội tụ, một bộ phận
cấu thành của nền văn hóa dân tộc. Do đó, cơng tác xây dựng đời sống văn hóa
ở cơ sở là một nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược lâu dài đã được Đảng và Nhà
nước ta xác định từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V (1982). Văn kiện Đại hội
V có đoạn viết: “Một nhiệm vụ của cách mạng tư tưởng và văn hóa là đưa văn
hóa thâm nhập vào cuộc sống hàng ngày của nhân dân. Đặc biệt chú trọng xây
dựng đời sống văn hóa ở cơ sở, bảo đảm nhà máy, công trường, nông trường,
lâm trường, mỗi đơn vị lực lượng vũ trang, công an nhân dân, mỗi cơ quan,
trường học, bệnh viện, cửa hàng, mỗi xã, hợp tác xã, làng, ấp đều có đời sống
văn hóa”.
Trong thời kỳ đổi mới hiện nay, đất nước ta bước vào quá trình phát triển
kinh tế thị trường, đa phương hóa, đa dạng hóa các mối quan hệ quốc tế, tiến
hành cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa nơng nghiệp và nơng thơn thì việc xây dựng
đời sống văn hóa cơ sở ở nông thôn nằm trong mục tiêu chung của cuộc cách
mạng tư tưởng văn hóa, nhằm xây dựng nền văn hóa mới, con người mới, nơng
thơn mới.
Gắn liền với cuộc đổi mới của đất nước, nhiều địa phương đã xây dựng
hàng loạt cơ sở mới cho hoạt động văn hóa, cơng tác xây dựng đời sống văn hóa
ở cơ sở từ đó thêm khởi sắc và mở rộng. Hiện nay trong cơ chế kinh tế thị
trường với tính chất cạnh tranh gay gắt, đã đến lúc chúng ta không thể tiếp tục tổ
chức hoạt động văn hóa ở cơ sở với quan niệm như trước đây, đồng thời cũng
không lạm dụng đổi mới để phủ định tất cả thành đạt của quá khứ.
Văn hóa Tiền Giang là nền văn hóa gắn liền với nơng nghiệp lúa nước do
người nơng dân sáng tạo, là nền văn hóa của những người nơng dân trong thơn
xóm và phục vụ cho đời sống sản xuất, sinh hoạt và chiến đấu của nhân dân.


1


Văn hóa Tiền Giang cịn là văn hóa của người Việt có sự giao thoa tiếp biến với
văn hóa Hoa, Chăm, Khmer và các dân tộc khác trong quá trình khai hoang lập
ấp ở Nam Bộ. Văn hóa Tiền Giang là văn hóa nhiều dịng chảy, là nơi hội tụ
giao hịa của nhiều dịng chảy văn hóa khác kể cả văn hóa Âu Tây trong q
trình giao lưu tiếp biến văn hóa. Các yếu tố trên đã tạo nên những truyền thống
văn hóa tốt đẹp của nhân dân Tiền Giang đó là lịng u nước, tinh thần đồn kết
chống giặc ngoại xâm và cần cù chịu thương, chịu khó trong lao động dựng xây
quê hương đất nước.
Từ nhận thức trên, trong quá trình tổ chức xây dựng đời sống văn hố cơ sở
ở huyện Châu Thành tỉnh Tiền Giang có bước khởi sắc đã thu được những thành
tựu to lớn, có ý nghĩa sâu sắc đối với sự phát triển đời sống vật chất và tinh thần
của nhân dân địa phương. Tuy nhiên, trong quá trình vận hành các chủ trương,
chính sách của Đảng-Nhà nước về xây dựng đời sống văn hóa cơ sở vào thực tế
ở huyện Châu Thành tỉnh Tiền Giang đã cho thấy có nhiều bất cập và mâu
thuẫn. Sự hạn chế, bất cập và tệ hình thức gần như phổ biến trong tổ chức hoạt
động phong trào.
Đã đến lúc cần nhìn nhận đúng thực chất quá trình xây dựng đời sống văn
hóa cơ sở ở huyện Châu Thành tỉnh Tiền Giang đi lên với sự phát triển tồn
diện, mà trong đó văn hóa là nền tảng cốt lõi. Với tư cách là một công dân của
tỉnh Tiền Giang, đồng thời là một người làm công tác giáo dục và đào tạo ngành
văn hóa, thể thao và du lịch nhiều năm qua, tơi muốn có dịp nhìn lại tồn bộ q
trình xây dựng đời sống văn hóa cơ sở, đánh giá những ưu, khuyết điểm mà
ngành văn hóa, thể thao và du lịch huyện Châu Thành cần phải khắc phục, phát
huy trong những năm sắp tới. Vì vậy tơi chọn đề tài “Xây dựng đời sống văn
hóa cơ sở ở huyện Châu Thành tỉnh Tiền Giang” làm luận văn tốt nghiệp cao
học ngành quản lý văn hóa.


2


2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích
Trên cơ sở đánh giá thực trạng việc xây dựng đời sống văn hóa cơ sở ở
huyện Châu Thành tỉnh Tiền Giang, luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy
mạnh và nâng cao chất lượng hiệu quả của công tác xây dựng đời sống văn hóa
góp phần vào việc nâng cao nhu cầu hưởng thụ văn hóa của nhân dân huyện
Châu Thành.
2.2 Nhiệm vụ
- Làm rõ cơ sở lý luận về văn hóa, quản lý văn hóa và xây dựng đời sống
văn hóa ở cơ sở.
- Khảo sát đánh giá những ưu điểm và hạn chế trong hoạt động xây dựng
đời sống văn hóa cơ sở ở huyện Châu Thành tỉnh Tiền Giang trong những năm
qua, tìm nguyên nhân của những ưu điểm và hạn chế.
- Trong những điều kiện thực tế, bước đầu đề xuất phương hướng và một
số giải pháp để nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động xây dựng đời sống văn
hóa cơ sở ở huyện Châu Thành tỉnh Tiền Giang trong thời gian tới.
3 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Đối với nước ta, quản lý hoạt động xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở có
vị trí, vai trị rất quan trọng trong sự nghiệp cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước. Vì vậy, cần phải được làm sáng tỏ cả về mặt lý luận và thực tiễn, cho nên
vấn đề này đang thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học, cũng như các nhà
lãnh đạo, quản lý. Sau đây là một số cơng trình nghiên cứu lên quan đến lĩnh
vực này:
- Một số văn kiện các Đại hội hoặc các Hội nghị Ban chấp hành Trung
ương Đảng Cộng sản Việt Nam, đặc biệt là Nghị quyết Trung ương 5 (khóa
VIII), kết luận của Hội nghị Trung ương 10 (khóa IX) và gần đây là Nghị quyết
số 33 của Hội nghị Trung ương 9 (khóa XI), khi tổng kết, đánh giá thực trạng

q trình xây dựng, phát triển nền văn hóa mới ở nước ta, đã chỉ ra những
3


nguyên nhân của thành tựu và yếu kém, trong đó có ngun nhân về lãnh đạo,
quản lý văn hóa.
Ngồi ra, có nhiều cơng trình nghiên cứu liên quan đến xây dựng đời sống
văn hóa cơ sở, có thể kể ra đây một số cơng trình như:
+ Cục văn hóa thơng tin cơ sở - Bộ Văn hóa Thơng tin (nay là Bộ Văn hóa,
Thể thao và Du lịch ) với một số cơng trình đi sâu từng mặt cơng tác văn hóa cơ
sở như: xây dựng gia đình văn hóa; thơn, tổ dân phố văn hóa; cơng tác văn nghệ
quần chúng; nghiệp vụ thông tin cơ sở; Công tác Thư viện ở cơ sở, đặc biệt có
cơng trình “Tài liệu nghiệp vụ văn hóa cơ sở”. Tất cả những cơng trình này đã
trực tiếp đặt nền tảng cho việc triển khai các mặt công tác “ Xây dựng đời sống
văn hóa ở cơ sở” trên qui mơ tồn quốc.
+ Giáo trình “Cơng tác xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở” của nhóm các
tác giả Trần Văn Ánh, Nguyễn Xuân Hồng, Nguyễn Văn Hy được biên soạn vào
năm 2002 [3]. Nội dung gồm 2 phần, ứng với 2 học phần chun sâu của cơng
tác văn hóa quần chúng: Phần 1, cơng tác xây dựng đời sống văn hóa cơ sở ở
nước ta hiện nay, phần này trình bày những lý luận, chủ trương, đường lối, quan
điểm của Đảng về xây dựng và phát triển văn hóa. Tập thể các tác giả cũng nêu
quan điểm về đời sống văn hóa, đơn vị cơ sở, các nguyên lý trong công tác xây
dựng đời sống văn hóa, q trình tiến hành cơng tác xây dựng đời sống văn hóa
cơ sở ở nước ta hiện nay. Phần 2 trình bày cơng tác xây dựng nếp sống văn hóa,
các khái niệm về nếp sống, lối sống nội dung và những biện pháp chính trong
cơng tác xây dựng nếp sống văn hóa, đồng thời nhóm các tác giả cũng đã nêu ra
những mơ hình, khn mẫu văn hóa mới, nhằm hình thành lên những nếp văn
hóa mới.
+ Đề tài khoa học cấp Bộ năm 2005 “ Nâng cao chất lượng xây dựng đời
sống văn hóa cơ sở vùng Đồng bằng sông Cửu Long trong giai đoạn hiện nay ”

do tác giả Nguyễn Xuân Hồng làm chủ biên [21]. Đề tài đã tập hợp khá công
phu nhiều nguồn tư liệu trên diện rộng của toàn vùng Đồng bằng sông Cửu long,

4


nhìn nhận vấn đề một cách khách quan, căn cứ trên đánh giá thực trạng khá chi
tiết và số liệu điều tra xã hội học tương đối phong phú, từ đó đề xuất một số giải
pháp nhằm nâng cao chất lượng xây dựng đời sống văn hóa cơ sở cho các địa
phương trong vùng. Năm 2010 tác giả Trần Văn Ánh với cuốn sách “Văn hóa
phum sóc của người Khmer và vấn đề xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở” [2]
đề cập khá chi tiết công tác xây dựng đời sống văn hóa cơ sở, làm tư liệu tham
khảo tốt cho luận văn này. Tiếp theo đó, tác giả Trần Văn Ánh chủ nhiệm cơng
trình cấp Bộ năm 2013 [4] về đề tài “Thực trạng và giải pháp nâng cao chất
lượng công tác tổ chức xây dựng đời sống văn hóa cơ sở trong đồng bào Khmer
Nam bộ, thông qua nghiên cứu nghiêm túc đối với việc bảo tồn những giá trị của
nền văn hóa bản địa của cộng đồng Khmer ở Nam bộ là gợi ý tốt cho hệ thống
giải pháp đối với tác giả luận văn”.
+ Trước đó, năm 2005 trong hệ thống đề tài cấp nhà nước KX.05.02, Phan
Hồng Giang [20] đã chủ biên đề tài “ Đời sống văn hóa ở nơng thơn đồng bằng
sông Hồng và sông Cửu Long ” xác định khái niệm xây dựng đời sống văn hóa
cơ sở và hệ tiêu chí đo đạc đời sống văn hóa làm cơ sở tham khảo rất tốt cho
luận văn.
+ Năm 2009, Nguyễn Thị Phương Châm [13] với tác phẩm “ Biến đổi văn
hóa ở các làng quê hiện nay ”, qua nghiên cứu trường hợp làng Đồng Ky, Trang
Liệt và Đình Bảng thuộc huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, đã phân tích khá công
phu các yếu tố tác động đến đời sống văn hóa ở nơng thơn trong q trình đơ thị
hóa hiện nay. Đây là những tư liệu tham khảo thú vị cho luận văn này.
+ Ngồi ra cịn có nhiều khóa luận đại học, luận văn cao học của nhiều sinh
viên, học viên bảo vệ tại trường Đại học Văn hóa thành phố Hồ Chí Minh nhiều

năm qua liên quan đến đề tài là những tham khảo tốt cho luận văn.
+ Các giáo trình đại học về văn hóa Việt Nam tuy không trực tiếp bàn luận
chuyên sâu về văn hóa cơ sở hay đời sống văn hóa cơ sở, nhưng là những tài
liệu cơ bản về chuyên ngành văn hóa, đặc biệt là văn hóa Việt Nam, giúp người

5


đọc có được kiến thức nền tảng về văn hóa. Đó là Cơ sở văn hóa Việt Nam của
Trần Quốc Vượng chủ biên, Cơ sở văn hóa Việt Nam của Chu Xuân Diên, Văn
hóa học Việt Nam của Nguyễn Đăng Duy, Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam
của Trần Ngọc Thêm, v.v…
+ Ngồi ra, cịn phải kể đến chun luận “ Văn hóa tiếp cận lí luận và thực
tiễn ” của Nguyễn Tri Nguyên xuất bản năm 2006. Đặc biệt cơng trình “ 60 năm
đề cương văn hóa với văn hóa và phát triển ở Việt Nam hơm nay ” do Đỗ Thị
Minh Thúy chủ biên, công bố năm 2003, đã có nhiều bài viết liên hệ đến vấn đề
xây dựng đời sống văn hóa cơ sở, vận dụng kinh nghiệm lịch sử vào việc xây
dựng đời sống văn hóa cơ sở hiện nay.
Nhìn chung, qua khảo cứu bước đầu, các đề tài, các bài nghiên cứu nói trên
chủ yếu đề cập đến những vấn đề chung của công tác xây dựng ĐSVHCS từ góc
độ vĩ mơ của cả nước, đến nay vẫn chưa có nhiều đề tài đi vào tầm vi mô của
công tác xây dựng ĐSVHCS của các địa phương. Đối với địa bàn huyện Châu
Thành tỉnh Tiền Giang cũng chưa có cơng trình khoa học nào đề cập đến vấn đề
này, ngoại trừ các báo cáo hành chính của các cơ quan chức năng của tỉnh, đặc
biệt là báo cáo của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh. Đó là các báo cáo:
- Tài liệu Hội nghị tổng kết 15 năm thực hiện phong trào TDĐK XDĐSVH
tỉnh Tiền Giang giai đoạn 2000 – 2015 (tháng 8/ 2015) [48]
- Văn bản hướng dẫn thực hiện phong trào TDĐK XDĐSVH trên địa bàn
tỉnh Tiền Giang giai đoạn 2012 – 2015, định hướng đến năm 2020 [46]
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu
Các hoạt động xây dựng đời sống văn hóa cơ sở ở huyện Châu Thành tỉnh
Tiền Giang trong những năm gần đây.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: nghiên cứu tại huyện Châu Thành trên cơ sở khảo sát ba
đơn vị cơ sở gồm hai xã: Long An, Thân Cửu Nghĩa và thị trấn Tân Hiệp.

6


- Về thời gian: hoạt động xây dựng đời sống văn hóa cơ sở ở huyện Châu
Thành tỉnh Tiền Giang từ năm 2011 đến 2015.
5 Phƣơng pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận Mác Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, luận
văn sử dụng các phương pháp cụ thể như sau:
- Phương pháp nghiên cứu định tính: quan sát tham dự, ghi chép, phỏng
vấn và hệ thống hóa tư liệu điền dã. Tác giả đã trực tiếp phỏng vấn sâu các cán
bộ phụ trách phịng Văn hóa và Thơng tin, Trung tâm Văn hóa huyện và các cán
bộ văn hóa- xã hội của 3 xã, thị trấn và trưởng ban ấp của 6 ấp trên địa bàn
huyện Châu Thành, Tiền Giang.
- Phương pháp nghiên cứu định lượng: tác giả chọn hai xã: Long An, Thân
Cửu Nghĩa và thị trấn Tân Hiệp để điều tra khảo sát với bản câu hỏi cụ thể ( xem
phần phụ lục ), tác giả điều tra khảo sát 6 ấp: ấp Long Bình, Long Tường xã
Long An, ấp Thân Bình, Ngãi Thuận xã Thân Cửu Nghĩa và ấp Me, ấp Ga thị
trấn Tân Hiệp. Mỗi ấp phát ra 50 phiếu tổng cộng có 300 phiếu khảo sát.
- Phương pháp so sánh, phân loại, thống kê, phân tích, tổng hợp trên cơ sở
các dữ liệu đã thu thập được và các tài liệu của các nhà nghiên cứu đi trước.
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: xã hội học, văn hóa học, nhân học.
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Về khoa học

Đề tài có thể được sử dụng cho việc nghiên cứu về văn hóa địa phương
hoặc dùng làm tài liệu tham khảo cho bộ môn Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở
của các Trường Văn hóa – Nghệ thuật .
- Về thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp nguồn tư liệu đáng tin cậy cho
cơng tác quản lý chun ngành và chính quyền các cấp ở tỉnh Tiền Giang.

7


7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục luận văn được
chia làm 3 chương.
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn (25 tr)
Chƣơng 2: Thực trạng xây dựng đời sống văn hóa cơ sở ở huyện Châu
Thành tỉnh Tiền Giang trong thời gian qua (38 tr)
Chƣơng 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả công
tác xây dựng đời sống văn hóa cơ sở ở huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang
(23 tr)

8


CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Cơ sở lý luận
Trong mục này, để làm rõ cơ sở lý luận phục vụ cho đề tài nghiên cứu,
chúng tơi tìm hiểu các khái niệm văn hóa, quản lý văn hóa, tổ chức xây dựng đời
sống văn hóa cơ sở và các lý thuyết tiếp cận cho các phần nghiên cứu và các
chương tiếp sau.

1.1.1 Các khái niệm
1.1.1.1 Khái niệm văn hóa
Hiện nay, trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã có đến hàng trăm định
nghĩa khoa học về văn hóa. Trong đó có rất nhiều định nghĩa được nhiều nhà
khoa học ghi nhận hợp lý, được nhiều giáo trình khoa học công bố. Sau đây là
một số định nghĩa được vận dụng.
Theo định nghĩa của E.B Tylor (năm 1871)
Văn hóa hiểu theo nghĩa rộng về tộc người học, nói chung gồm có tri thức,
tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, pháp luật, phong tục tập quán và tất cả
những khả năng và thói quen khác, được con người chiếm lĩnh với tư cách
là một thành viên của xã hội [19, tr 13]
Định nghĩa này bắt đầu bằng việc liệt kê (tri thức, tín ngưỡng…) mà sau đó
nó được tóm lược lại bằng hai điểm chung. Tất cả các yếu tố riêng lẻ, được liệt
kê ở trên, một mặt được hiểu là thói quen, mặt khác lại được xem như hình thái
xã hội. Cuối cùng, một bằng chứng được đưa ra rằng văn hóa bao gồm những
thói quen của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội.
Dưới góc nhìn giá trị, ông Fédérico Mayor Zaragoza, nguyên tổng giám
đốc UNESCO cho rằng:
Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo trong quá khứ và
trong hiện tại. Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên

9


một hệ thống giá trị, các truyền thống và các thị hiếu – những yếu tố xác
định đặc tính riêng của mỗi dân tộc [2, tr 12].
Tại hội nghị quốc tế ở Mêhico, những nhà văn hóa đại diện cho trên trăm
nước, do UNESCO chủ trì, trong tuyên bố chung, người ta chấp nhận một quan
điểm về văn hóa như sau:
Trong ý nghĩa rộng nhất, văn hóa là tổng thể những nét riêng biệt về tinh

thần và vật chất, trí tuệ và cảm xúc quyết định tính cách của một xã hội hay
một nhóm người trong xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương;
những lối sống, những tập tục và tín ngưỡng [52, tr 39]
Những năm gần đây, ở Việt Nam, nhiều nhà khoa học đã nhắc đến quan
điểm về văn hóa của danh nhân văn hóa thế giới Hồ Chí Minh:
“ Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, lồi người mới sáng tạo
và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo,
văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở
và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức
là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng
với biểu hiện của nó mà lồi người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những
yêu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn ” [27, Tập 3, tr 431]
Qua các định nghĩa về văn hóa trên đây ( không kể định nghĩa của Đào Duy
Anh [1, tr 13], Trần Ngọc Thêm [35, tr 10],…) chúng ta có thể nói rằng, tùy
theo cách tiếp cận mà chúng ta có định nghĩa về văn hóa khác nhau. Có
những định nghĩa về chức năng, có định nghĩa về giá trị, về dân tộc học, về
nhân học. Chúng tôi cho rằng quan niệm của Hồ Chí Minh về văn hóa là
phù hợp với luận văn này.
1.1.1.2 Khái niệm đời sống văn hóa
Trong phần này, tác giả xin dẫn lại nội dung phân tích khái niệm đời sống
văn hóa của nhóm tác giả Trần Văn Ánh, Nguyễn Xuân Hồng, Nguyễn Văn Hy

10


[3, tr 21- 24]. Tác giả cho rằng phân tích như vậy là hợp lý và vẫn mang tính cập
nhật đối với cơng tác xây dựng đời sống văn hóa cơ sở hiện nay.
Đời sống văn hóa là bộ phận cấu thành thích hợp và có thể coi là “mặt cắt
ngang” trong đời sống chung của con người và xã hội. Nó gồm một tổng
hợp những thành tố văn hóa tác động qua lại với đời sống của những cá

nhân và cộng đồng, khả dĩ để đáp ứng nhu cầu, tinh thần của con người và
thúc đẩy sự tiến triển của đời sống xã hội. Đời sống văn hóa, cũng có khi
được hiểu như “mơi trường văn hóa” là khâu nối liền giữa văn hóa của xã
hội và văn hóa của cá nhân. Nó là một tổng thể những yếu tố văn hóa vật
thể, phi vật thể và nhân cách văn hóa bao quanh con người, gây ra sự tác
động lẫn nhau giữa các cá nhân trên phạm vi không gian nào đó, trực tiếp
hình thành nếp sống và lối sống của con người ở đó. Thể thống nhất này
của đời sống văn hóa thường gồm 4 loại yếu tố:
- Những yếu tố văn hóa vật thể và phi vật thể hiện diện ở mỗi cộng đồng:
các thiết chế văn hóa, các tác phẩm và sản phẩm văn hóa, các phương tiện
thơng tin đại chúng và truyền bá văn hóa, lễ hội, văn hóa, văn nghệ dân
gian, các trường học, các nhóm văn hóa…
- Những yếu tố cảnh quan văn hóa (tự nhiên và xây dựng) hiện diện ở mỗi
cộng đồng: di tích lịch sử - văn hóa, phong cảnh, công viên, quy hoạch và
kiến trúc, tượng, đài…
- Những yếu tố văn hóa cá nhân ở mỗi cộng đồng – những con người biểu
hiện văn hóa: trình độ học vấn, mức phát triển nhu cầu, sở thích và thị hiếu
văn hóa, định hướng giá trị, các sinh hoạt và xử lý thời gian lao động và
thời gian tự do, văn hóa ứng xử, nếp sống văn hóa, lễ nghi, lễ phép…
- Những yếu tố văn hóa của các vi mơi trường trong những cộng đồng (gia
đình, tập thể nhỏ về lao động, học tập, quân ngũ…).
Trong bất kỳ cộng đồng nào cũng đều có mơi trường văn hóa nhỏ và môi

11


trường văn hóa lớn. Mơi trường văn hóa nhỏ là mơi trường văn hóa trong
nhóm gia đình, trong tổ lao động, trong tổ học tập…- môi trường gần gũi
nhất với mỗi cá nhân. Nó khơng phải là những mơi trường văn hóa biệt lập
mà là một bộ phận cấu thành trong mơi trường văn hóa lớn. Cịn mơi

trường văn hóa lớn thì có thể chia thành nhiều cấp độ: mơi trường văn hóa
một xã hội tồn bộ; mơi trường văn hóa một cộng đồng bộ tộc trong một
quốc gia; mơi trường văn hóa miền, khu vực, thành phố, thị xã, quận,
huyện; mơi trường văn hóa của cấp hạ tầng cơ sở xã hội (xã, phường, thơn,
ấp, làng, bản, phum sóc, khối phố, nông trường, khu tập thể…)
- Như vậy, khái niệm đời sống văn hóa mà chúng ta hiểu ở đây, căn cứ vào
khái niệm văn hóa là nền tảng tinh thần của đời sống con người (trong sự
khu biệt với kinh tế là nền tảng vật chất của đời sống con người), là một
trong những phương tiện và phương thức thỏa mãn các nhu cầu chính yếu
của đời sống xã hội, đó là nhu cầu tồn tại nhân tính (sống và bảo vệ cuộc
sống theo hướng chuẩn mực hóa). Văn hóa cịn được coi như là hình thức
sống.
Khái niệm đời sống văn hóa là khái niệm chỉ q trình hoạt động văn hóa
thỏa mãn các nhu cầu văn hóa, bao gồm hoạt động văn hóa tự thân và sáng
tạo sản phẩm văn hóa nhằm thỏa mãn các nhu cầu về hưởng thụ thẩm mỹ
và giải trí, về xây dựng mơi trường văn hóa và về phát triển và hồn thiện
nhân cách con người.
Đời sống văn hóa là hệ quả của mối quan hệ biện chứng giữa mơi trường
văn hóa và chủ thể văn hóa (cộng đồng và cá nhân). Đời sống văn hóa
khơng chỉ thể hiện mức sống và chất lượng sống mà còn thể hiện tập trung
ở lối sống và nếp sống thơng qua:
- Hoạt động văn hóa tự thân (ứng xử trong quan hệ cộng đồng, hoạt động
tín ngưỡng, tâm linh, tham gia lễ thức, lễ tục và lễ hội),

12


- Hoạt động văn hóa sáng tạo (sáng tác văn học nghệ thuật, dân gian và bác
học) nhằm tạo ra các loại sản phẩm văn hóa (vật thể và phi vật thể) đáp ứng
nhu cầu hưởng thụ văn hóa,

- Hoạt động xây dựng mơi trường văn hóa (cộng đồng và gia đình) và hồn
thiện nhân cách (cá nhân)
1.1.1.3 Quan niệm về đơn vị cơ sở để xây dựng đời sống văn hóa
Theo Trần Văn Ánh, Nguyễn Xuân Hồng, Nguyễn Văn Hy, có thể hiểu
khái niệm cơ sở trên ba phương diện [3, tr 24 - 27]
- Cơ sở - được quan niệm như là: những cái gì cơ bản, cái làm nền, làm
gốc, làm căn cứ chính … Cho một lĩnh vực hoạt động hay tri thức nào đó.
Ví dụ: “Cơ sở văn hóa Việt Nam”, “Cơ sở lý luận Mác Lê nin”, “Cơ sở vật
chất” của chủ nghĩa xã hội, của nhà văn hóa… hoặc: Nói ra cái gì cũng
phải có “cơ sở ”, có đủ “cơ sở” chứng lý mới buộc tội được…
- Cơ sở - được quan niệm như là: một nơi, một địa điểm, địa chỉ, tụ điểm,
trung tâm… Để diễn ra một loại hoạt động nào đó (chính trị, kinh tế, văn
hóa - xã hội). Ví dụ: Cơ sở hoạt động cách mạng, cơ sở chiến khu, cơ sở
thương nghiệp, cơ sở dạy nghề, cơ sở văn hóa, cơ sở y tế, cơ sở hướng dẫn
kế hoạch hóa gia đình…
- Cơ sở - được quan niệm như là: một đơn vị, một tổ chức, một địa bàn…
có cơ cấu bộ máy quản lý hồn chính ở cấp cuối cùng của mỗi loại hệ
thống. Ví dụ: Trong hệ thống chính trị - xã hội thì có các Đảng bộ, Đoàn
Thanh niên, Hội Phụ nữ… cơ sở, trong hệ thống qn đội thì Trung đồn
hay Tiểu đồn là cấp đơn vị cơ sở; trong hệ thống kinh tế thì có các nhà
máy, nơng trường… trong hệ thống quản lý hành chính Nhà nước theo địa
bàn thì các xã, phường là đơn vị cơ sở… Bởi vì tất cả những loại địa bàn,
đơn vị, tổ chức đó đều được tính căn cứ dựa theo dấu hiệu của cấp quản lý.
Trong điều kiện nước ta, bộ máy tổ chức quản lý của bất kỳ loại hệ thống
nào, nói chung đều tổ chức dựa theo 4 cấp: trung ương; tỉnh, thành phố

13


trực thuộc trung ương; huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; xã,

phường – là cấp cuối cùng, cấp cơ sở.
Nhưng trong trường hợp của “Công tác xây dựng đời sống văn hóa cơ sở”,
vấn đề cơ sở và đơn vị cơ sở cần được đặt ra như thế nào. Ở đây, cơ sở cần được quan niệm dưới góc độ là: những địa bàn cơ sở và những đơn vị
cơ sở. (Có trường hợp, đó là những địa bàn; có trường hợp, đó là những
đơn vị ). Song có điều đáng lưu ý, lâu nay ngành Văn hóa chỉ tập trung chú
ý nhiều nhất vào việc xây dựng đời sống văn hóa trên các địa bàn cơ sở.
Cho nên lý luận phương pháp cơng tác cũng chỉ nói nhiều đến xây dựng đời
sống văn hóa theo địa bàn cơ sở.
Trong quá trình tiến hành việc xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở gần 20
năm qua ở nước ta đã xuất hiện hai xu hướng quan niệm về địa bàn cơ sở:
thời gian đầu coi xã, phường là địa bàn cơ sở; thời gian sau coi thôn, làng,
bản, ấp, khối phố … là địa bàn cơ sở.
Sở dĩ lúc đầu xem xã (ở nông thôn), phường (ở đô thị) là địa bàn cơ sở để
làm địa bàn tiến hành cơng tác xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở, vì nhìn
ở góc độ quản lý hành chính Nhà nước, xã, phường là cấp hành chính quốc
gia thứ tư, cuối cùng của đất nước; trong cơ cấu quản lý địa bàn đó có Ban
Văn hóa thơng tin xã, phường cũng là cấp quản lý thứ tư, cuối cùng của
ngành/Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch – một chuyên ngành đảm trách việc
xây dựng và phát triển các lĩnh vực văn hóa – thơng tin. Trong trường hợp
này, nội dung xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở gần như là đồng nhất,
đồng nghĩa với nội dung xây dựng và phát triển các mặt hoạt động văn hóa
- thơng tin ở xã, phường và các đơn vị tương đương.
Cịn thời gian sau này thì lại nhằm vào địa bàn thơn, làng, bản, ấp, phum
sóc, khối phố làm địa chỉ tiến hành xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở.
Thực ra trường hợp này có nhiều lý do xã hội khách quan và cũng chưa có
quan niệm rành mạch. Song với cách nhìn văn hóa học, chỉ nói riêng về khu

14



vực nông thôn ở nước ta khi chưa đi vào đơ thị hóa với lối sống cơng
nghiệp, việc xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở hiện nay nhằm vào các địa
bàn thôn, làng, bản, ấp là khả dĩ hợp lý.
Hiện nay thôn, làng, bản, ấp vẫn đang là những cộng đồng dân cư (khu dân
cư ) sống quây quần thường nhật, ổn định lâu dài, không dễ bị chia cắt về
mặt địa lý hành chính, khơng bị ngăn cách xa về địa vực cư trú của nội bộ
cộng đồng. Những cộng đồng dân cư gắn bó thường nhật với nhau bằng
những quan hệ văn hóa – xã hội và quan hệ làm ăn sinh sống – cụ thể là
cộng cảm nhau bằng tình nghĩa, cộng thơng nhau một biểu tượng văn hóa,
cộng tín nhau một tín hiệu niệm tâm linh, cộng sinh nhau một nghiệp sống.
Nhìn vào thực tế đời sống một làng (theo tên gọi ngày xưa) ở Bắc bộ; một
ấp ở Nam bộ; một bản, buôn ở vùng đồng bào dân tộc ít người; một phum
sóc ở vùng đồng bào Khmer Nam bộ,… đều cho thấy rõ những đặc điểm
trên. Trong trường hợp này, nội dung xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở
khơng đồng nghĩa và đồng nhất với việc xây dựng một ngành văn hóa
thơng tin cấp thơn, làng… và cũng khơng đồng nghĩa, đồng nhất với việc
xây dựng và phát triển các mặt hoạt động chun mơn văn hóa – thơng tin ở
thơn, làng, bản , ấp, bn, sóc. Thực chất ở đây là xây dựng lên ở mỗi cộng
đồng cơ sở hay khu dân cư cố định lâu dài ấy một mơi trường văn hóa, một
chỉnh thể biểu tượng văn hóa vừa tiên tiến vừa đậm đà bản sắc dân tộc.
1.1.1.4 Khái niệm “Quản lý văn hóa”
Theo Phan Hồng Giang, trong “ Đời sống văn hóa ở nơng thơn đồng bằng
sơng Hồng và sông Cửu Long [20, tr 72-73] :
Trước hết cần phân biệt khái niệm quản lý trong tiếng Anh và khái niệm
quản lý mà ta vẫn dùng trong tiếng Việt hiện nay. Khái niệm quản lý
(management) trong các giáo trình quản lý văn hóa nghệ thuật của thế
giới mang một nghĩa là quá trình tổ chức các nguồn lực nhằm đạt tới một
mục tiêu nào đó của một tổ chức, trong đó bao gồm q trình lập kế hoạch,

15



điều hành, lãnh đạo và giám sát, với nhiều cấp độ và phạm vi quản lý khác
nhau, phụ thuộc vào mục tiêu, thời gian, tính phức tạp của các quan hệ
kinh tế - xã hội và văn hóa trong quản lý. Đây là một quá trình tổ chức sản
xuất ra các sản phẩm hoặc dịch vụ đáp ứng một nhóm công chúng riêng
theo những quy luật của nền kinh tế thị trường và định hướng phát triển
văn hóa. Khái niệm quản lý ở đây không mang một nghĩa là quá trình kiểm
tra, giám sát của một tổ chức hay cá nhân cao hơn đối với tổ chức và các
nhân dưới quyền, ví dụ như hoạt động quản lý nhà nước (government
control) sẽ không cùng nghĩa với khái nhiệm quản lý trong giáo trình về
quản lý văn hóa nghệ thuật được giới thiệu ở trên.
Như vậy, quản lý văn hóa, dù hiểu theo nghĩa nào thì cũng là hoạt động xã
hội và là quá trình tổ chức xã hội để đạt tới một hay những mục tiêu nào đó.
Theo chúng tơi, khái niệm quản lý văn hóa mà hiện nay được dùng trong
các giáo trình tiếng Anh là hoạt động gắn với kinh thế thị trường và có nội
hàm chuyên biệt của q trình quản lý vi mơ. Cịn khái niệm quản lý văn
hóa theo cách hiểu trong ngơn ngữ và thực tiễn hoạt động văn hóa ở Việt
Nam hiện nay là khái niệm quản lý vĩ mô và quản lý trung mơ. Khái niệm
quản lý nhà nước ở ta có thể được hiểu tương đương với khái niệm quản lý
vĩ mô và trung mô này.
Ở Việt Nam, quản lý nhà nước về văn hóa đang ở trong giai đoạn chuyển
đổi cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường, về căn bản nó vẫn quy định tồn
bộ các hoạt động văn hóa diễn ra trong đời sống xã hội. Vì vậy, dù muốn
nghiên cứu những yếu tố mang tính thị trường mới xuất hiện trong q trình
quản lý văn hóa (vi mơ) ở nước ta thì cũng khơng thể bỏ qua những phân
tích về ảnh hưởng trực tiếp của cơ chế quản lý vĩ mơ trong lĩnh vực văn
hóa.
Trong luận văn này, việc nghiên cứu, đánh giá thực trạng quản lý văn hóa
chủ yếu được tập trung vào cơ chế quản lý nhà nước (tức đánh giá quá trình hiện


16


thực hóa các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ở từng cấp quản lý
và hiệu quả của nó thể hiện ở đời sống thực tiễn như thế nào).
Quản lý nhà nước về văn hóa thơng tin thực chất là sự vận hành của bộ
máy nhà nước để đạt được những mục tiêu về văn hóa mà Đảng và nhà nước ta
đã đề ra.
Quá trình này được thể hiện ở quy trình sau:
Đảng: Đề ra những chủ trương, đường lối về văn hóa thơng tin;
Nhà nước (Quốc hội, Chính phủ): Thể chế hóa các đường lối chủ trương
đó, hoạch định chính sách văn hóa;
Bộ Văn hóa – Thơng tin nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (đại diện
cho nhà nước): Cụ thể hóa đường lối, chủ trương và các thể chế bằng những văn
bản pháp quy, xây dựng kế hoạch và đề xuất những quyết sách thích ứng với
tình hình mới
Các cơ quan quản lý nhà nước (Cục): Triển khai/phản hồi
Các sở văn hóa – thơng tin nay là Sở Văn hóa, thể thao và du lịch (Tỉnh/
thành): Triển khai/phản hồi;
Phịng văn hóa thơng tin huyện – thị: Triển khai/phản hồi;
Ban văn hóa thơng tin xã: Triển khai/phản hồi.
1.1.2 Xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở - một nhiệm vụ văn hóa có ý
nghĩa chiến lƣợc
Từ lâu, Đảng ta đã đề ra quan điểm nhân văn trong lĩnh vực hoạt động văn
hóa – văn nghệ, nhưng đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng
(1981), quan điểm ấy được nâng lên thành một chủ trương lớn - chủ trương tổ
chức, xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở.
Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu tồn quốc lần thứ V có chỉ rằng: “Một
nhiệm vụ quan trọng hiện thời là đưa văn hóa thâm nhập vào cuộc sống hằng

ngày của nhân dân. Đặc biệt chú trọng xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở, đảm
bảo mỗi nhà máy, công trường, nông trường, lâm trường, mỗi đơn vị lực lượng

17


vũ trang, công an nhân dân, mỗi cơ quan, trường học, bệnh viện, cửa hàng, mỗi
xã, hợp tác xã, phường, ấp, đều có đời sống văn hóa”
Để thực hiện chủ trương này, Nhà nước có kế hoạch đảm bảo cho phần lớn
cơ sở đều có hoạt động văn hóa, nhân dân lao động được đọc báo, nghe đài, xem
phim, xem nghệ thuật. Đặc biệt chú ý các vùng nông thôn, vùng dân tộc ít người
ở vùng cao và biên giới. Theo phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”,
cần củng cố và xây dựng các cơ sở văn hóa ở cấp tỉnh và huyện, nhà văn hóa,
thư viện, rạp chiếu bóng, bảo tàng, triển lãm, v.v… ở phường, xã cụm kinh tế kỹ
thuật, từng bước xây dựng đời sống văn hóa tùy thuộc theo thực tế ở cơ sở.
Đây là một nhiệm vụ quan trọng có tầm chiến lược, bời vì xây dựng đời
sống văn hóa ở cơ sở là tạo những điều kiện cần thiết để tiến hành cơng cuộc
xây dựng văn hóa, lối sống và con người ngay tại cơ sở.
Xây dựng văn hóa ở cơ sở được coi như bước đi ban đầu trong quá trình
xây dựng nền văn hóa. Đó là cơng việc xây dựng kết cấu văn hóa hạ tầng cơ sở
để tiến hành các hoạt động văn hóa – giáo dục, mở mang dân trí, bồi dưỡng đạo
đức, giáo dục thẩm mỹ và tổ chức hoạt động văn hóa trong thời gian rỗi theo
nhu cầu của nhân dân lao động.
Xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở là phát huy quyền làm chủ của nhân
dân trong việc sáng tạo, phổ biến và hưởng thụ những giá trị văn hóa, nghệ thuật
tiên tiến, tạo dựng một lối sống văn minh, lịch sự, hình thành những phong tục,
tập quán, lễ thức tốt đẹp, vừa đậm đà bản sắc dân tộc, vừa phù hợp với trào lưu
văn hóa tiến bộ của nhân loại.
Cuối cùng, xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở là xây dựng một mạng lưới
thiết chế văn hóa xã hội, bao gồm: nhà văn hóa, câu lạc bộ, thư viện, nhà truyền

thống, trường học, trạm y tế, sân vận động … tạo nên một cảnh quan văn hóa
đẹp ở nơng thơn, cảnh quan ấy mang đặc trưng kiến trúc của thời đại mới vừa
dân tộc vừa hiện đại [52, trang 114 – 116]

18


1.1.3 Các lý thuyết nghiên cứu
1.1.3.1 Biến đổi văn hóa (Cultural change)
Biến đổi văn hóa được hiểu là q trình vận động của tất cả các xã hội và
đây là đối tượng nghiên cứu trọng tâm của nhân học.
Biến đổi văn hóa đã được đề cập từ khá sớm bởi những nhà khoa học
khởi xướng ủng hộ thuyết tiến hóa văn hóa như E.B Tylor (1871) hay L.
Morgan (1877) khi họ phân chia xã hội theo thứ bậc đơn tuyến và có
chung một mẫu hình biến đổi xã hội và biến đổi văn hóa (Dẫn theo
Nguyễn Thị Phương Châm [13, tr 9 ])
Theo các nhà nhân học, các khái niệm gắn với biến đổi văn hóa được xác
định là truyền bá, tiếp biến, tiến hóa và phát triển. Hiện nay để nghiên cứu các
chiều cạnh của biến đổi văn hóa, các nhà nhân học cũng như xã hội học, văn hóa
học … thường gắn nó với phát triển, với tồn cầu hóa, hiện đại hóa, đơ thị hóa,
cơng nghiệp hóa và đương nhiên, đi kèm với đó là cả sự chuyển đổi xã hội. Ít có
cơng trình khoa học nào khảo sát về biến đổi văn hóa lại chỉ quan tâm đến một
khía cạnh nêu trên mà thường xun có sự tương hỗ, gắn kết nhất định.
Dù còn rất nhiều những quan điểm, những sự phân tích khác nhau về
tồn cầu hóa và văn hóa nhưng có thể nói các nhà nghiên cứu nhân học nói riêng
và khoa học xã hội nói chung tương đối thống nhất ở luận điểm cho rằng sự biến
đổi văn hóa là xu hướng tất yếu trong q trình tồn cầu hóa và sự biến đổi ấy
đã và đang diễn ra rất đa dạng ở nhiều cấp độ và theo nhiều chiều hướng khác
nhau, đặc biệt ở những xã hội đang chuyển đổi từ kinh tế nông nghiệp sang công
nghiệp, từ xã hội truyền thống sang xã hội hiện đại ( mà ở luận văn này tác giả

xin được nhận định qua đánh giá các thực trạng hoạt động văn hóa cơ sở ở các
xã của huyện Châu Thành, Tiền Giang).
Các nhà nghiên cứu đã tương đối thống nhất với nhau khi nói đến đơ thị
hóa là nói đến sự chuyển đổi, sự rút ngắn khoảng cách từ khu vực nông thôn đến

19


×