Tải bản đầy đủ (.pdf) (17 trang)

giáo án ôn thi đại học môn ngữ văn THPT

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (179.63 KB, 17 trang )

Giáo án ôn thi đại học môn Ngữ văn THPT

- Giáo viên: Vũ Văn Lập – Trường THPT Giao Thuỷ -

1
ÔN THI ĐẠI HỌC. CHUYÊN ĐỀ VĂN XUÔI LÃNG MẠNG

Bài 1: “ Hai đứa trẻ” – Thạch Lam.

A. Kiến thức cơ bản
1. Tác giả:
a. Cuộc đời và sự nghiệp.
- Thạch Lam ( 1910 – 1942 ), tên thật là Nguyễn Tường Vinh sau đổi là Nguyễn
Tường Lân, xuất thân trong một gia đình viên chức. Thạch Lam bắt đầu viết văn
làm báo từ năm 1936. Các tác phẩm chính của ồn: Gió đầu mùa ( tập truyện
ngắn; 1937), Nắng trong vườn ( tập truyện ngắn ;1938), Sợi tóc ( tập truyện
ngắn; 1942), Hà Nội 36 phố phường ( bút kí; 1943), Theo dòng ( tập tiểu luận,
phê bình văn học; 1941)

b. Phong cách.
- Thạch Lam viết văn bằng dư vị của tuổi thơ mình, qua đó ông giành tình cảm
thương xót cho những kiếp người nghèo khổ trong xã hội bấy giờ. Những con
người sống cuộc sống quẩn quanh bế tắc, những con người bị chôn vùi mơ ước
trong cái ao đời bằng lặng của xã hội, họ sống không hi vọng, không tương lai
và ngày càng bị cuộc sống bào mòn làm cho tâm hồn dần chai cứng.

- Thạch Lam hay viết về phụ nữ và trẻ em với sự trân trọng và diễn tả thế giới
nội tâm phong phú ở họ. Những nhân vật phụ nữ và trẻ em hiện lên qua từng
trang văn Thạch Lam đều mang vẻ đẹp thanh cao và giàu lòng thương cảm, thấm
đẫm những yêu thương đồng loại.


- Văn Thạch Lam thường đi vào khám phá những trạng thái cảm xúc mơ hồ, tinh
vi trong sự biến chuyển của thế gới thiên nhiên xung quanh. Thiên nhiên và con
người nội tâm có sự đồng điệu nhất định. Thạch Lam tiêu biểu cho phong cách
truyện ngắn trữ tình, một kiể truyện dường như không có cốt truyện.

- Về diễn đạt, văn Thạch Lam là sự giao hoà giữa thơ và văn xuôi, những câu
văn giàu nhạc điệu, hình ảnh, trạng thái cảm xúc như thơ trữ tình nhẹ nhàng mà
thấm dần vào thế giới tâm hồn bạn đọc.

2. Tác phẩm.
( Kết hợp luôn với đề: Chứng minh phong cách truyện ngắn Thạch Lam qua tác
phẩm “ Hai đứa trẻ”.)

- Truyện ngắn “ Hai đứa trẻ” in trong tập “ Nắng trong vườn” ( 1938 ) là
một trong những truyện ngắn đặc sắc nhất của Thạch Lam. Tác phẩm vừa
có giá trị hiện thực cao vừa thấm đượm một giá trị nhân đạo sâu sắc. Qua
truyện ngắn này, nhà văn thể hiệm niềm thương cản sâu sắc, thông cảm và
Giáo án ôn thi đại học môn Ngữ văn THPT

- Giáo viên: Vũ Văn Lập – Trường THPT Giao Thuỷ -

2
xót thương vô hạn với những người nghèo khổ, khao khát một sự đổi thay
đến với cuộc đời của họ. Đồng thời, tác phẩm cũng thể hiện một tài năng
viết truyện ngắn bấc thầy của Thạch Lam.

- Truyện ngắn của Thạch Lam thường không có cốt truyện, mỗi truyện như
một bài thơ, Thạch Lam có ba truyện ngắn viết về những kỉ niệm thời thơ
ấu ( Hai đứa trẻ, Nhà mẹ Lê, Gió lạnh đầu mùa ). ở truyện ngắn “ Hai đứa
trẻ”, toàn bộ câu chuyện chỉ kể về tâm trạng thao thức của hai đứa trẻ Liên

và An, mong mỏi chờ đợi một chuyến tàu đêm đi ngang qua. Thế nhưng
qua câu chuyện kể tưởng như nhỏ nhặt, đơn giản ấy, Thạch Lam đã thể
hiện khá chân thực khung cảnh nghèo nàn, đơn điệu của phố huyện nhỏ,
thân phận và những ước mơ, khát vọng của những con người nơi đây.
- Trong tác phẩm này, Thạch Lam chú trọng đi sâu vào nội tâm nhân vật
với những cảm xúc, cảm giác mơ hồ, mong manh. Những trang viết vể
nội tâm nhân vật, đặc biệt là nhân vật Liên rất sâu sắc và tinh tế.

- Thạch Lam đã sử dụng rất thành công thủ pháp nghệ thuật đối lập, tương
phản giữa các vùng âm thanh và ánh sáng. Cả một phố huyện chìm sâu
vào bóng tối, chỉ còn một vài chấm sáng tù mù quen thuộc xung quanh
ngọn đèn con của một chõng hàng nước, cái bếp lửa của hàng phở khuya
vắng khách và ngọn đèn vặn nhỏ thưa thớt từng hột sáng lọt qua phên nứa
của một gian hàng tạp hoá. Những ngọn đèn tù mù như ngái ngủ đó tượng
trưng cho cuộc sống tù đọng của những người dân quê nghèo khổ nơi phố
huyện nhỏ của một vùng quê lặng lẽ. Trong cái chìm chìm nhạt nhạt và
vắng lặng đó, đêm nào cũng có một đoàn tàu đi qua mang theo những
luồng ánh sáng mạnh quét vào hai bên và tiếng ồn ào làm xao động cả một
vùng quê yên tĩnh. Đoàn tàu như mang đến một thế giới giàu sang và đầy
ánh sáng, một thế giới lí tưởng và ước mơ. đối lập với cái hiện thực tĩnh
lặng và đầy bóng tối nơi phố vắng một huyện nhỏ. Thủ pháp đối lập cũng
là một thủ pháp quen thuộc của các nhà văn lãng mạn chủ nghĩa.


- Thạch Lam có một phong cách, một giọng điệu rất riêng - đó là lối kể
chuyện thủ thỉ, tâm tình thấm đượm chất thơ. Người đọc thất ẩn hiện, kín
đáo, lặng lẽ sau những hình ảnh, những dòng chữ một tâm hồn Thạch
Lam đôn hậu, tinh tế, hết sức nhạy cảm với mọi biến tháu của lòng người
và tạo vật.


B. Kiến thức cho các dạng đề thi đại học.

Đề 1: Phân tích đời sống của phố huyện qua sự cảm nhận của Liên trong truyện
ngắn “ Hai đứa trẻ” ( Cách diễn đạt khác: Phân tích diễn biến tâm trạng của
Liên qua truyện ngắn “ Hai đứa trẻ”).
I. ĐVĐ
Giáo án ôn thi đại học môn Ngữ văn THPT

- Giáo viên: Vũ Văn Lập – Trường THPT Giao Thuỷ -

3
- Thạch Lam là thành viên của TLVĐ nhưng đây là gương mặt khá đặc biệt, nếu
các cây bút TLVĐ thường hướng về những con người lá ngọc cành vàng thì TL
hướng về những con người nhỏ bé, nghèo khổ. Văn của TLVĐ đượm nỗi buồn
lãng mạn với những câu chuyện tình yêu lứa đôi thì văn TL lại tha thiết giọng
tâm tình mà thổn thức chất chứa nỗi đau hiện thực.

TL xuất hiện trong văn học như để mang một xứ mệnh hoà giải giữa hiện
thực và lãng mạn, thơ và văn xuôi. Văn của TL là sự giao thoa giữa hiện thực và
lãng mạn, nó như một thứ hương hoàng lan thanh tao được chưng cất từ dư vị
của những nỗi đời. Truyện ngắn “ Hai đứa trẻ” in trong tập : Nắng trong vườn-
1938, tiêu biểu cho khuynh hướng nghệ thuật của Thạch Lam. Đó là truyện mà
không có cốt truyện, truyện trữ tình, giàu cảm xúc, giàu triết lí, đẹp như một bài
thơ. Tất cả nội dung tư tưởng truyện đều xoay quanh tâm trạng nhân vật chính là
Liên. Qua tâm trạng Liên, tác giả đã dựng lên một bức trang đời sống phố huyện
nghèo. Từ đó thể hiện sâu sắc giá trị hiện thực và nhân đạo của tác phẩm.

II. GQVĐ

Diễn biến tâm trạng của Liên trong truyện ngắn “ Hai đứa trẻ” thể hiện qua 3

cảnh như 3 nấc thang tâm lí: cảnh chiều tàn, cảnh đêm về và cảnh chuyến tàu
đêm qua phố huyện.

1. Cảnh chiều tàn nơi phố huyện:

Phố huyện hiện lên trong truyện ngắn “ Hai đứa trẻ” là trong sự nghèo
khổ, xơ xác, tiêu điều đem đến cho Liên tâm trạng buồn man mác.

a. Dường như có một sự tương phản giữa khung cảnh thiên nhiên và
đời sống xã hội nơi phố huyện
Xuất phát từ cảm hứng bút pháp lãng mạn, tác giả cảm nhận khung cảnh
thiên nhiên với một vẻ đẹp trữ tình thơ mộng.Một chiều em ả như ru báo hiệu và
gọi về một đêm mùa hạ êm như nhung. Đom đóm trên cánh đồng và vì sao trên
trời đua nhau nhấp nháy để rồi hoà lẫn cùng một màn đêm trải dài mênh mông
từ mặt đất đến vũ trụ. Mùi đất cát âm ẩm bốc lên cũng được cảm nhận như
hương vị của đất quê. Tuy nhiên, chiếc áo ngoài thơ mộng của thiên nhiên cũng
không che lấp được đời sống xã hội được cảm nhận qua cái nhìn của nhà văn.
Một phố huyện nghèo khổ và tiêu điều hiện lên với cảnh ngày tàn, chợ tàn và
những kiếp người tàn tạ.

b. Cảnh ngày tàn càng thê lương hơn khi chiều tàn rớt xuống chợ tàn.
Trong “Tràng Giang” của Huy Cận, ta bắt gặp không gian hiu quạnh,
buồn vắng của ngày tàn và chợ tàn : “ Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều”. Thời
điểm vãn chợ chiều là thời điểm nỗi buồn nhân lên, cộng lại khi nỗi buồn ngày
tàn cộng hưởng cùng lúc chợ tàn. ở truyện ngắn “ Hai đứa trẻ”, tác giả có điều
Giáo án ôn thi đại học môn Ngữ văn THPT

- Giáo viên: Vũ Văn Lập – Trường THPT Giao Thuỷ -

4

kiện miêu tả một cách cụ thể, tỉ mỉ hơn sự khái quát bằng hình ảnh của thơ nên
cảnh chợ tàn càng thê lương. “ Người về hết và tiếng ồn ào cũng mất, trên đất
cát chỉ còn vương lại rác rưởi, lá nhãn, vỏ thị, vỏ bưởi…Những đứa trẻ con nhà
nghèo lom khom nhặt rác, chúng kiếm tìn sự sống từ những gì người bán hàng
còn bỏ lại”. Mùi đất cát, rác rưởi âm ẩm bốc lên mà chị em Liên có cảm giác
như hương vị riêng của đất quê. Thực ra đó là mùi vị của đói nghèo, lam lũ.
Trong xã hội trước, phiên chợ là lúc người ta đánh giá chình xác nhất về mức độ
sống của một miền quê. Chỉ cần nhìn vào cảnh phiên chợ tàn cũng đủ thấy được
sự xơ xác tiêu điều của phố huyện nghèo.

c. Nổi bật lên trên cảnh ngày tàn, chợ tàn là những kiếp người tàn tạ.
Đó là mẹ con chị Tí, ngày mò cua bắt ốc, tối đến dọn hàng nước, lam lũ
vất vả thế mà thu nhập nào có ăn thua gì. Đó là gia đình bác xẩm cứ tối đến lại
xuất hiện cùng manh chiều rách. Chiếc chậu thau sắt Tây trắng, tiếng đàn bầu ế
khách, những âm thanh run lên bần bật cứa vào không gian nỗi buồn ảo não.
Đứa con bò ra bên đường nghịch rác bẩn. Đó là bà cụ Thi điên nghiện rượu,
người điên mà nghiện rượu là méo mó cả nhân hình, nhân tính. Bà cụ bước đi
lảo đảo với tiếng cười khanh khách dẽ sợ khuất sau luỹ tre làng như bị vùi lấp
trong đêm tối. Đó là chị em Liên giữa phố huyện nghèo, hai đứa trẻ như hai
mầm cây giữa cuộc đời mời lớn đã còi cọc.

Quá khứ tươi đẹp của Liên và An thuộc về dĩ vãng. Hiện tại thầy liên mất
việc, gia đình phải chuyển về phố huyện nghèo, mẹ Liên lam lũ vất vả với gánh
hàng xáo mà gia đình vẫn không khá giả hơn. Hai chị em Liên có một gian hàng
tạp hoá tồi tàn, ngày chợ phiên mà cũng vắng khách.

Mặc dù cuộc sống Liên và An không đến nỗi nghèo khổ vất vả như mẹ
con chị Tí, gia đình bác xẩm nhưng chúng lại là những người đáng thương nhất.
Bởi Liên và An là hai đứa trẻ mới lớn, hai tâm hồn thơ ngây vừa thoáng qua một
thời khắc tuổi thơ đẹp như mơ giờ đã phải chứng kiến và chịu đựng những cảnh

đời cơ cực.

Để sống động và khắc sâu thêm ấn tượng về cuộc sống tàn tạ, tắt dần cuộc
sống nơi phố huyện chiều muộn cùng kiếp người tàn, còn ám ảnh người đọc là
những đồ vật tàn: Một ngôi quán ọp ẹp, một cái chõng sắp gãy. một manh chiếu
rách, một cái bát sứt, một chiếc chậu dúm dó. Thế giới trong “ Hai đứa trẻ” đúng
là một thế giới đang tàn lụi, trong đói nghèo lam lũ.

2. Cảnh đêm càng buồn bã hơn khi phố huyện chìm trong bóng tối và
cuộc sống lặp lại đến quẩn quanh, bế tắc.
a. Khi đêm về, bóng tối mịt mù bủa vây nơi phố huyện.
Truyện ngắn bắt đầu và diễn ra trong sự giao tranh giữa bóng tối và ánh
sáng. Chiều muộn nhưng ánh sáng vẫn còn rớt rơi yếu ớt. Bóng tối dần dần lấn
át, lan tràn và ngự trị cả phố huyện. Điều đáng lưu ý là cái tăm tối lại được diễn
Giáo án ôn thi đại học môn Ngữ văn THPT

- Giáo viên: Vũ Văn Lập – Trường THPT Giao Thuỷ -

5
tả bằng ánh sáng, thứ ánh sáng nhỏ bé, tù mù, leo lét nơi phố huyện đối trọi một
cách yếu ớt với vũ trụ thăm thẳm bao la. Đó là ánh sáng ngọn đèn dầu nơi hàng
nước chị Tí chỉ toả sáng một vùng đất nhỏ. Đó là những khe sáng hắt ra từ kẽ
cửa, là những hột sáng rọi qua tấm liếp. Những khe sáng, những hột sáng ấy
không hề làm phố huyện sáng hơn mà chỉ càng tạo nên cảm giác về một màn
đêm dày đặc.

Hình ảnh ngọn đèn dầu hàng nước chị Tí được nhắclại nhiều lầnlà chi tiết
nghệ thuật có ý nghĩa gợi liên tưởng về những kiếp người nhỏ bé vô danh đang
sống lay lắt trong đêm dài của xã hội cũ. Mỗi cư dân nơi phố huyện kiếm sống
ban đêm đều mang theo một ngọn đèn và mỗi người cũng là một ngọn đèn tù mù

leo lét. Người ta thường nói truyện TL giàu cảm xúc, giàu chất trữ tình như một
bài thơ trong đó có những chi tiết nghệ thuật giữ vai trò như nhãn tự gây ám ảnh
lớn vời bạn đọc.

b. Day dứt và ám ảnh người đọc hơn cả là cuộc sống lặp lại đến buồn tẻ,
bế tắc của phố huyện nghèo. Ngày hôm sau là sự lặp lại y nguyên những gì xảy
ra hôm trước.
Mẹ con chị Tí lại lễ mễ dọn hàng nước, gia đình bác xẩm lại xuất hiện
với tiếng đàn bầu ế khách, bác phở Siêu nhóm lửa lại đem đến cho phố huyện
nghèo món hàng phở gọi là xa xỉ phẩm. Người nhà cụ Thừa, cụ Lục lại gọi nhau
đi đánh tổ tôm…Cuộc sống nơi phố huyện hàng bao đêm vẫn như sân khấu cuộc
đời chỉ độc diễn một màn kịch không hề thay đổi người, thay đổi cảnh, gợi cảm
giác nhàm chán, bế tắc làm ta liên tưởng đến hình ảnh “ chiếc ao đời” trong “toả
nhị kiều” của Xuân Diệu. Chiếc ao đời ấy là cuộc sống của những người như
Quỳnh, Dao, …họ sống mà như không có mặt trên đời, như hai con vật, như hai
cái cây chỉ tồn tại một cách vô hồn, vô vị. Chiếc ao đời ấy tuy bằng phẳng nhưng
chật hẹp tù túng đã dìm chết bao sinh lực. Cuộc sống nơi phố huyện là cuộc
sống cứ mốc lên, rỉ ra và mòn đi như Nam Cao đã nói đến trong Sống mòn .
Cuộc sống nơi phố huyện còn đem đến cho ta cảm giác như hai câu thơ của Huy
Cận trước cách mạng tháng 8:
“ Quanh quẩn mãi giữa vài ba dáng điệu
Tới hay lui cũng từng ấy mặt người”

Sống giữa cảnh đời tăm tối, quanh quẩn, bế tắc chị em Liên cũng như con người
nơi phố huyện vẫn mong chờ một cái gì đó tốt đẹp hơn sẽ đến với cuộc sống của
họ. Chuyến tàu đêm qua phố huyện đã đáp ứng được nhu cầu ấy.

2. Chị em Liên chờ tàu với niềm vui chờ đợi và cả nỗi buồn khi tàu đến rồi
tàu lại đi.


a. Trong cả chuỗi thời gian buồn tẻ của cuộc sống nơi phố huyện thì chờ đợi
chuyến tàu đêm là niềm vui duy nhất của chị em Liên.
Giáo án ôn thi đại học môn Ngữ văn THPT

- Giáo viên: Vũ Văn Lập – Trường THPT Giao Thuỷ -

6
Hai chị em đêm nào cũng cố gắng thức để được nhìn chuyến tàu qua phố
huyện. Liên và An chờ tàu không xuất phát từ nhu cầu đời sống vật chất. Là
những đứa trẻ ngoan ngoãn, Liên và An vẫn nhớ lời mẹ dặn cố thức đợi tàu để
xem còn ai mua hàng. Tuy nhiên, hai đứa trẻ không thức để bán hàng “ Mấy
năm nay mùa màng kém, người lên xuống tàu ít, nếu có khách thì họ cũng chỉ
mua bao diêm hoặc phong thuốc lào là cùng”. Vậy, nguyên nhân sâu xa để hai
chị em thức đợi tàu là nhu cầu của đời sống tinh thần. Hai đứa trẻ cũng như con
người phố huyện có nhu cầu thoát khỏi cuộc sống tăm tối, buồn tẻ trong hiện tại.
Riêng với Liên và An cùng với con tàu, chúng được trở về quá khứ tươi đẹp,
hạnh phúc. Con tàu như một tia hồ quang gợi lại một miền dĩ vãng thuở nào.
Con tàu chạy tời từ Hà Nội, chạy đến từ một tuổi thơ đã mất để hai đứa trẻ nhìn
lại chính tuổi thơ của mình, được sống lại quá khứ tươi đẹp, dù chỉ trong giây
lát. Ngày trước, Liên và An cũng từng ở Hà Nội, khi ấy gia đình Liên khá giả.
Hai chị em Liên có những buổi dạo chơi quanh hồ, được uống những cốc nước
xanh đỏ ngọt lịm. Với hai chị em, con tàu vẫn như điều huyền diệu mang không
khí và hơi ấm ở thủ đô về.

Với con tàu, hai chị em không chỉ được trở về quá khứ, tìm lại được
những gì đã mất mà còn được sống trong một thế giới mới tốt đẹp hơn. Con tàu
đã đem đến phố huyện âm thanh và ánh sáng, ánh sáng rực rỡ của con tàu khác
hẳn ánh lửa của bác phở Siêu, ánh đèn tù mù nơi hàng nước chị Tí. Luồng ánh
sáng rực rỡ của con tàu bắt đầu từ ánh đèn pha, từ ánh đèn trên toa xe hắt cả
xuống mặt đường. Trong những toa xe sang trọng, ánh đèn điện sáng trưng màu

đồng, màu kền bóng loáng, con tàu còn mang đến phố huyện những âm thanh
náo nhiệt. Đó là âm thanh của bánh xe lăn trên đường thép, âm thanh của người
lên xuống tàu nhộn nhịp và rồi âm thanh của những tiếng cười nói huyên náo
trong toa xe.

Con tàu đã xua đi dù trong giây lát tất cả bóng đêm mù mịt và không khí
tĩnh lặng của phố huyện nghèo. Đúng là con tàu mang trong mình bao điều
huyền thoại, bù đắp phần thiếu thốn trong cuộc đời hai đứa trẻ. Nó là một giấc
mơ để cân bằng lại cái phần thực không niềm vui, không hi vọng của đời sống.

b. Con tàu đến, con tàu đi như một giấc mơ và nhanh hơn một giấc mơ đêt trả
lại cho phố huyện và chị em Liên một cuộc sống tăm tối trong tĩnh lặng, buồn tẻ.
Nếu lúc chờ đợi tàu, hai chị em có được một niềm vui thiêng liêng- khi
con tàu đến, Liên và An cùng đứng dậy, hướng về phía tàu thì khi tàu đi chúng
lại mang nỗi buồn nuối tiếc, con tàu đã đi khuất mà hai chị em vẫn còn lặng nhìn
theo mơ tưởng. Niềm vui chợt đến rồi chợt đi như những đốm lửa than bay
ngược phía con tàu, loé sáng trong giây lát rồi tắt vụt trong đêm.

Kết thúc thiên truyện không phải là ánh sáng rực rỡ của con tàu mà là
hình ảnh ngọn đèn dầu nơi hàng nước chị tí. Cái ngọn đèn tù mù chỉ toả sáng
một vùng đất nhỏ lại chập chờn đi vào giấc ngủ của Liên.
Giáo án ôn thi đại học môn Ngữ văn THPT

- Giáo viên: Vũ Văn Lập – Trường THPT Giao Thuỷ -

7
III. KTVĐ
Qua diễn biến tâm trạng Liên, qua ba cảnh bức tranh phố huyện nghèo, người
đọc thấy Thạch Lam cũng như nhiều tài năng nghệ thuật chân chính không chí
có tài mà con có cái tình nhân bản sâu sắc.


Cái tài của Thạch Lam là tài viết truyện không có cốt truyện mà vẫn hấp dẫn,
vẫn ám ảnh và chạm khắc vào lòng người đọc. Truyện nhẹ nhàng mà thấm thía,
giàu chất trữ tình mà cũng giàu chất triết lí.

Cái tình của Thạch Lam là tình người nhân đạo. Nhà văn không chỉ cảm thương
trước những đau khổ, những thiệt thòi bất hạnh của con người mà còn đồng cảm
với những khát vọng chân chính ở họ. Trong hai đứa trẻ, không chỉ gợi quá khứ
mà còn gợi tương lai. Đúng như Nguyễn Tuân nhận xét : “ Truyện ngắn Hai đứa
trẻ có một hương vị thật là man mác, nó gợi một nỗi niềm quá vãng một thời
cũng dóng lên một điều gì đó còn ở tương lai”.



Đề 2: Phân tích Giá trị hiện thực và nhân đạo của truyện ngắn Hai đứa trẻ
Cảnh vật và con người được miêu tả trong tác phẩm và qua diễn biến tâm
trạng Liên, truyện ngắn “ Hai đứa trẻ” chứa đựng nội dung hiện thực và giá
trị nhân đạo sâu sắc.
1. Tác phẩm là bức tranh chân thực và đượm buồn về một miền đất, nơi đó
có những miền đời bị rơi vào quên lãng.
a.Miền đất bị quên lãng ấy là một phố huyện nghèo, cái phố huyện nhỏ bé, xa
vắng với phiên chợ tiêu điều. Ga xép đêm đêm xình xịch một chuyến tàu chạy
qua, chiếc đèn dầu tù mù của những chõng hàng nước.
Miền đời bị quên lãng ấy là những kiếp người tàn bị lãng quên như mẹ
con chị Tí, vợ chồng bác xẩm, bà cụ Thi điên, hai chị em Liên,…Những con
người nơi phố huyện, họ có những số phận khác nhau nhưng ai cũng nheo
nhếch, cũng lam lũ tội nghiệp như nhau. Người lớn như những cái cây héo hắt,
trẻ em như những mầm cây còi cọc. Những cảnh vật, con người được miêu tả
trong phố huyện là những cảnh vật chi tiết quen thuộc thường có quanh ta. Vậy
mà dưới ngoì bút Thạch Lam chúng trở nên gợi cảm biết bao.

Giáo án ôn thi đại học môn Ngữ văn THPT

- Giáo viên: Vũ Văn Lập – Trường THPT Giao Thuỷ -

8
b.Làm nên sự hấp dẫn này, một phần quan trọng là bởi ngòi bút hiện thực của
Thạch Lam đậm chất trữ tình.
Nhà văn viết về cảnh đời, cảnh người nơi phố huyện bằng chính kí ức tuổi
thơ của mình. Thạch Lam có những năm tháng tuổi thơ sống ở phố huyện Cẩm
Giàng(HảI Dương). Ngày ấy trước cách mạng nó còn là một phố huyện nhỏ,
nghèo nàn xa vắng. Khi đặt bút viết, những kỉ niệm tuổi thơ đã hiện về nguyên
vẹn trên từng con chữ. Mỗi chữ đều phập phồng nhịp điệu trái tim giàu lòng trắc
ẩn của nhà văn làm xúc động lòng người.
2.Làm nên tầm vóc bất tử với thời gian của “ Hai đứa trẻ” không chỉ ở giá
trị hiện thực mà còn ở giá trị nhân đạo sâu sắc.
a.Trước hết là niềm thương cảm của nhân vật giành cho những số phận nhỏ bé
vô danh chịu nhiều thiệt thòi trong xã hội cũ. Đó là những số phận không bào
gìơ biết đến ánh sáng của hạnh phúc. Sống trong cuộc đời buồn tẻ tối tăm đang
có nguy cơ bị chôn vùi, lãng quên.
Với truyện ngắn này Thạch Lam như muốn rung lên tiếng chuông cảnh tỉnh
xã hội đừng quên những con người nhỏ bé, vô danh, những kiếp người tàn như
mẹ con chị Tí, vợ chồng bác Xẩm, chị em Liên. Họ có thể vô danh nhưng đừng
để họ thành những cuộc đời vô nghĩa.
b.Thông điệp mà nhà văn gửi gắm phải chăng là con tinh thần nhân đạo sâu sắc
này:
- Cuộc sống dù tăm tối nghèo khổ đến đâu cũng không dập tắt được khát
vọng và hi vọng của con người. Trong hoàn cảnh tăm tối, bế tắc, những
con người nơi phố huyện vẫ mong đợi một cái gì đó tươi sáng cho sự sống
nghèo khổ hàng ngày của họ. Chuyến tàu qua huyện chỉ trong khoảnh
khắc nhưng cũng đủ khuấy động niềm mong mỏi về một sự đổi thay.

- Chị em Liên chờ tàu là một nỗ lực vươn lên để bám vào cái phao tinh thần
, đề khỏi chết chìm trong phố huyện nghèo như caí ao đời bằng phẳng.
Hai đứa trẻ vừa đáng thương, vừa đáng trân trọng. Chúng đáng thương vì
hai mầm cây mới lớn đã còi cọc bời hoàn cảnh, chúng đáng được trân
Giáo án ôn thi đại học môn Ngữ văn THPT

- Giáo viên: Vũ Văn Lập – Trường THPT Giao Thuỷ -

9
trọng bởi vì 2 mầm cây còi cọc trên mảnh đất khô cằn vẫn cứ hi vọng vào
ngày mai đơm hoa kết trái.

c.Bước phát triển của tư tưởng nhân đạo trong văn học Việt Nam giai đoạn 1930
– 1945.
Đó là sự thức tỉnh của ý thức cá nhân. Nhà văn ý thức được ý nghĩa sự tồn tại
mỗi cá nhân, trong cuộc đời đã là con người thì dù là ai đi nữa, nghèo hay
giàu, vô danh hay nổi tiếng thì cũng có quyền sống có nghĩa và sống hạnh
phúc. Tư tưởng nhân đạo khẳng định sự thức tỉnh ý thức cá nhân cũng có
trong nhiều tác phẩm xuất hiện cùng thời Hai đứa trẻ: Trong truyện ngắn “
Toả nhị kiều “, Xuân Diệu phủ nhận lối sống không cá tính, bản lĩnh: lối sống
của Quỳnh và Dao với hoạ sĩ Phan cái gì cũng lỡ cỡ. Đó là lối sống quẩn
quanh trong một buổi chiều tà. Đó là những con người sống cuộc sống vô
nghĩa, họ tồn tại như không có mặt trên đời. Nam Cao qua truyện ngắn “ Đời
thừa” lại lên tiếng đòi quyền sống có nhân cách, có ích cho mọi người.
Trong sự phát triển chung của tinh thần nhân đạo ấy, Thạch Lam cũng đã
hướng ngòi bút về những con người nhỏ bé, vô danh để nói lên cả những đau
khổ và những khát vọng chân chính ở họ.

Đề 3: Giá trị và ý nghĩa nghệ thuật của cảnh đợi tàu
(Khi tiến hành phân tích và tìm hiểu những ý nghĩa của cảnh đợi tàu cần đặt

nó trong toàn bộ tác phẩm Hai đứa trẻ.)
- Tóm tắt truyện ngắn Hai đứa trẻ: Hai chị em Liên và An được mẹ giao
cho trông coi một của hàng tạp hoá nhỏ ở một phố huyện nghèo; hai chị
em ngày nào cũng vậy, cảm nhận cảnh thiên nhiên và cuộc sống của phố
huyện nghèo từ thời khắc chiều tàn đến đêm. Chúng cố thức để đợi
chuyến tàu đi qua rồi mới ngủ dù không chờ đợi ai ở chuyến tàu và cũng
chẳng trông mong gì vào khách mua hàng.
Giáo án ôn thi đại học môn Ngữ văn THPT

- Giáo viên: Vũ Văn Lập – Trường THPT Giao Thuỷ -

10
- Truyện diễn biến theo ba đoạn, ba khoảnh khắc thời gian: Chiều tàn nơi
phố huyện, màn đêm dâng đầy phố huyện và cảnh đoàn tàu đến và đi qua
phố huyện.

+ Phố huyện lúc chiều tàn cả thiên nhiên và cuộc sống con người đều thật
buồn, xơ xác, tàn lụi. Đó là một cảnh sống không tương lai, con người
như chìm dần vào trong bóng tối của ngày tàn.

+ Màn đên dâng đầy và lấp kín phố huyện nghèo. Cuộc sống hiện ra quẩn
quanh và đơn điệu, nghèo và đang sa sút của những cư dân phố huyện.
Ngày nào cũng có bằng ấy con người, bằng ấy công việc nhưng họ đều ế
khách và mòn mỏi mong chờ một điều gì sẽ đổi khác nhưng chưa thấy.
Họ – những con người nơi phố huyện như những ngọn đèn con giữa đêm
tối mênh mông của cuộc đời xã hội cũ.

- Cảnh đợi tàu diến ra theo một logic tâm lý. Cả một ngày buồn chán chứng
kiến phố huyện xác xơ chìm dần vào bóng tối. Cuộc sống không tương lai,
không hi vọng, không ánh sáng khiến cho con người khát mong thoát ra

khỏi “ cái ao đời bằng phẳng” ấy.

- Hai chị em cố thức để nhìn ngắm chuyến tàu vì đó là hoạt động cuối cùng
của đêm khuya, quan trọng hơn là trong khoảnh khắc chúng được sống
một thế giới khác – thế giới của ánh sáng, sự giàu sang và sự sống thật
đáng sống. Đoàn tàu còn đến từ Hà Nội, nó gợi lại kí ức tuổi thơ êm đềm
tươi đẹp và ấm áp bên cha mẹ.


- Tấm lóng nhân đạo của nhà văn: cảm thông và xót thương vô hạn đối với
những cuộc đời không biết đến ánh sáng và hạnh phúc, đặc biệt là cõi
lòng thương cảm sâu sắc đối với những “ tuổit thơ bị đánh cắp”. Nhà văn
Giáo án ôn thi đại học môn Ngữ văn THPT

- Giáo viên: Vũ Văn Lập – Trường THPT Giao Thuỷ -

11
gửi đến một thông điệp : Hãy sống một cuộc đời đầy ý nghĩa, hãy luôn
vươn lên và nghĩ tới tương lai tốt đẹp cho dù thực tại đang tối tăm.mòn
mỏi. Đây là giá trị nhân văn, nhân bản đáng quý của truyện ngắn này.


Bài 1: “ Chữ người tử tù ” – Nguyễn Tuân
A. Kiến thức cơ bản
1. Tác giả:
( Kết hợp với đề: Anh ( chị) hãy nêu những nét chính trong sự nghiệp sáng tác
của Nguyễn Tuân )
1. Nguyễn Tuân là một nhà văn lớn của văn học Việt Nam. Sự nghiệp của
ông trải ra trên hai chặng đường: trước và sau CM T8 năm 1945 : trước
năm 1945, là nhà văn lãng mạn; sau năm 1945, chuyển biến thành nhà văn

cách mạng.
2. Trước năm 1945, sáng tác của Nguyễn Tuân xoay quanh các đề tài chính:
a. Chủ nghĩa xê dịch: Viết về cái tôi lãng tử qua những miền quê, trong đó
hiện ra cảnh sắc và phong vị quê hương, cùng một tấm lòng yêu nước
thiết tha. Tác phẩm chính: Một chuyến đi, Thiếu quê hương…
b. Vẻ đẹp “ vang bóng một thời”: Là những nét đẹp còn vương sót lại của
một thời đã lùi vào dĩ vãng gắn với lớp nho sĩ cuối mùa. Tác phẩm chính:
vang bóng một thời
c. Đời sống truỵ lạc: Ghi lại quãng đời do hoang mang bế tắc, cái tôi lãng tử
đã lao vào rượu, thuốc phiện và hát cô đầu, qua đó thấy hiện lên tâm trạng
khủng hoảng của lớp thanh niêm đương thời. Tác phẩm chính: Chiếc lư
đồng mắt cua, ngọn đèn dầu lạc,…
3. Sau năm 1945, sáng tác Nguyễn Tuân tập trung phản ánh hai cuộc kháng
chiến, qua đó thấy được vẻ đẹp của người Việt Nam vừa anh dũng vừa tài
hoa. Tác phẩm chính: Tình chiến dịch, Đường vui, Hà Nội ta đánh Mỹ
giỏi,…Ông cũng viết về công cuộc xây dựng đất nước, trong đó hiện lên
Giáo án ôn thi đại học môn Ngữ văn THPT

- Giáo viên: Vũ Văn Lập – Trường THPT Giao Thuỷ -

12
con người Việt Nam với vẻ đẹp cần cù mà rất mực tài hoa. Tác phẩm
chính: Sông Đà, ký Nguyễn Tuân,…
4. Nguyễn Tuân là nhà văn suốt đời tìm kiếm cái đẹp và khẳng định những
giá trị nhân văn cao quý, với những nét phong cách nổi bật: tài hoa, uyên
bác, hiện đại mà cổ điển,…Ông có nhiều đóng góp cho sự phát triển của
thể tuỳ bút và tiếng Việt,…
2 Tác phẩm:
“Chữ người tử tù” ( đăng báo 1939, in trong tập “ Vang bóng một thời” (
1940) ) là truyện ngắn đặc sắc nhất của Nguyễn Tuân. Cốt truyện xoay quanh

cuộc gặp gỡ kì lạ và éo le của hai nhân vật chính: Ông Huấn Cao có tài viết
chữ đẹp, có thiên lương và khí phách đã lãnh đạo nông dân khởi nghĩa và bị
bắt giam vào trại giam tỉnh Sơn. Viên quản ngục lại là một kẻ say mê chữ
đẹp của ông Huấn Cao, quyết tâm tìm mọi cách để xin chữ của Huán Cao.
Truyện kết thúc bằng cảnh cho chữ - Một cảnh tượng xưa nay chưa từng có.
B. Kiến thức cho các dạng đề thi đại học.
I. Tình huống chuyện độc đáo
Tình huống là hoàn cảnh có vấn đề nhà văn tạo dựng để các nhân vật buộc
phải thể hiện đúng tính cách của mình. Hoàn cảnh điển hình sẽ làm nảy sinh
tính cách điển hình. Nguyễn Tuân đã tạo dựng một tình huống vừa kì lạ vừa
oái oăm: ( Có lẽ chứ hề xảy ra trong thực tế ). Nơi gặp gỡ là nhà ngục và sự
gặp nhau giữa hai con người thộc về hai phía đối lập nhau: Huấn Cao – kẻ tử
tù bất đắc dĩ và viên quản ngục.

- Xét trên bình diện xã hội họ không thể tồn tại chung, Huấn Cao đại diện
cho những kẻ cầm đầu cuộc nổi loạn chống lại triểu đình, quản ngục đại
diện cho hệ thống và trật tự của giai cấp cầm quyền đương thời. Nhưng éo
le thay, Huấn Cao lại là người có tài viết chữ đẹp, còn quản ngục lại lả kẻ
tôn thờ những con chữ, hàng ngày khát mong có được chữ của Huấn Cao.
- Xét trên bình diện nghệ thuật họ hoàn toàn có thể trở thành tri âm, tri kỉ.
Huấn Cao – người sáng tạo ra cái đẹp tuyệt vời của nghệ thuật thư pháp,
Giáo án ôn thi đại học môn Ngữ văn THPT

- Giáo viên: Vũ Văn Lập – Trường THPT Giao Thuỷ -

13
quản ngục người gìn giữ và tôn thờ cái đẹp. Nếu gặp nhau trong một hoàn
cảnh khác, hay một bầu trời chỉ có nghệ thuật thì họ lại trở thành Bá Nha
và Tử Kì thuở trước.


Cuộc gặp gỡ đã tạo dựng một tình huống kịch tính, từ cuộc gặp gỡ này hai
nhân vật sẽ bộc lộ tính cách. Huấn Cao: tài hoa, thiên lương và khí phách anh
hung, quản ngục là kẻ dịu dàng, biết giá người, biết trọng người ngay. Hành
trình gian nan và có lúc tưởng như ngục tù ấy không chỉ giam giữ Huấn Cao
mà còn là tiêu tan đi cái đẹp bởi cái nhơ bẩn và cái ác. Thế nhưng những tấm
lòng trong thiên hạ đã gặp nhau, sự thành tâm và sở thích cao quý của quản
ngục đã làm Huấn Cao cảm động.
II. Phân tích vẻ đẹp của hình tượng nhân vật Huấn Cao trong truyện ngắn “
Chữ người tử tù”.
- Huấn Cao được nhà văn Nguyễn Tuân xây dựng từ nguyên mẫu người
anh hùng Cao Bá Quát đầu thế kỷ XIX.

- Nguyễn Tuân đã tạo ra tình huống éo le để tô đậm những vẻ đẹp khác
thường của nhân vật. ( Tình huống điển hình lảm nảy sinh những tính
cách điển hình).


1. Huấn Cao – Một nghệ sĩ tài hoa trong nghệ thuật thư pháp:
- Tài viết chữ của ông Huấn qua lời đồn của dân vùng tỉnh Sơn và qua
những lời nhận xét của viên quản ngụ c và thầy thơ lại.

- Niềm ao ước cháy bỏng của quản ngục và tấm chân tình, sự đối đáp của
quản ngục để xin chữ Huấn Cao. “ Chữ ông Huấn Cao đẹp lắm, vuông
lắm ( …). Có được chữ Huấn Cao mà treo là có một vật báu trên đời”.
Cho nên , “ Sở nguyện của viên quan coi ngục này là có một ngày kia treo
ở nhà riêng mình một câu đối do tay ông Huấn Cao viết”. Để có được chữ
Giáo án ôn thi đại học môn Ngữ văn THPT

- Giáo viên: Vũ Văn Lập – Trường THPT Giao Thuỷ -


14
của ông Huấn Cao, viên quản ngục không chỉ phải kiên trì, mà còn phải
liều mạng. Bởi quản ngục cũng biết thế nào là cái giá phải trả cho kẻ bỏ
qua lệnh triều đình biệt đãi tội phạm nguy hiểm, có khi phải trả giá bằng
tính mạnh của mình.


- Chữ Huấn Cao vuông vắn, tươi tắn, nó nói lên cái hoài bão tung hoành
của cả một đời con người.

2. Huấn Cao – Một con người có thiên lương trong sáng:
- Ông chỉ cho chữ chỗ bạn thân và tri kỉ, không vì bạc vàng hay quyền thế
mà ép mình viết chữ bao giờ “ ta nhất sinh không vì vàng ngọc hay vì
quyền thế mà ép mình viết câu đối bao giờ”.
- ý thức tự trọng, tinh thần nghĩa khí qua hành động đuổi viên quản ngục
- Trọng thiên lương, Huấn Cao đã thực sự cảm động trước “tấm lòng trong
thiên hạ” và sở thích cao quý của quản ngục
- Muốn người khác giữ trọn thiên lương, bằng việc gửi lại cái đẹp, cái ân
tình của nhữngc người tri kỉ Huấn Cao đã khuyên quản ngục và quản ngục
cảm động, tỉnh ngộ. Việc Huấn Cao cho chữ quản ngục không chỉ vì mục
đích chơi chữ mà chủ yếu để cữu người, cứu một thiên lương lầm đường
lạc lối quá lâu ngủ quên trong lớp tro tàn nguội lạnh của ngục tù phong
kíên.
3. Huấn cao – Một khí phách anh hùng.
- Lãnh đạo nông dân khởi nghĩa chống triều đình, chấp nhận tội danh “ cầm
đầu bọn phản nghịch”
- Ngục tù chỉ gông cùm được thể xác, Huấn Cao vẫn sống tự do về tinh
thần, vẫn những hứng sinh bình mà ông từng làm: Rỗ gông, nhận rượu thịt
thảm nhiên, đuổi quản ngục…lạnh lùng, thảm nhiên trước cái chết đang
đến gần

Giáo án ôn thi đại học môn Ngữ văn THPT

- Giáo viên: Vũ Văn Lập – Trường THPT Giao Thuỷ -

15
- Một tử tù chỉ đợi ngày ra pháp trường mà không hề nao núng, vẫn ung
dung, đàng hoàng “ Đến cái cảnh chết chém, ông còn chẳng sợ nữa là…”.
Đối với viên quản ngục, ônh chẳng những không sợ mà còn tỏ ra khinh
bạc đến điều”.
- Sáng tạo thư pháp và truyền lại cái đẹp trước khi lĩnh án tử hình mà vẫn
ung dung, đường hoàng chứng tỏ trong con người tài hoa ây là một khí
phách vô cùng cứng cỏi và vượt trên hoàn cảnh.
4. Cảnh cho chữ - Nơi hội tụ và thăng hoa tất cả những vẻ đẹp của hình
tượng Huấn Cao
- Cảnh xưa nay chưa từng có: Thời gian, không gian đặc biệt, tư thế cuả kẻ
xin người cho. Cái đẹp, cái thiện đã chiến thắng cái ác và cái xấu, thiên
lương và nhân cách con người đã làm cảm động và thanh lọc tâm hồn một
con người.
5. Tư tưởng của nhà văn gửi gắm.
- Một tinh thần dân tộc sâu sắc: Yêu mến và trân trọng nét đẹp của truyền
thống văn hoá dân tộc.
- Lòng say mê cái đẹp và đi tìm cái đẹp ở tài năng, đạo đức và nhân cách
con người.
- Khẳng định sự chiến thắng của cái đẹp, thiên lương và nhân cách ngay
trong hoàn cảnh ngặt nghèo, ngay ở môi trường của cái ác và bóng tối.

III. Phân tích nhân vật viên quản ngục trong truyện ngắn “ Chữ người tử
tù” (Nguyễn Tuân ) để làm sáng tỏ nhận xét : “ Trong hoàn cảnh đề lao,
người ta sống bằng tàn nhẫn, bằng lừa lọc, tính cách dịu dàng và lòng biết
giá người, biết trọng người ngay của viên quan coi ngục này là một âm

thanh trong trẻo chen vào giữa một bản đàn mà nhạc luật đều hỗn loạn xô
bồ” ( Chữ người tử tù – Nguyễn Tuân )
- Là một người làm nghề coi ngục, là công cụ trấn áp của bộ mãy thống trị
đương thời, nhưng viên quản ngục lại có thú chơi thanh cao- thú chơi chữ.
Giáo án ôn thi đại học môn Ngữ văn THPT

- Giáo viên: Vũ Văn Lập – Trường THPT Giao Thuỷ -

16
Ngay từ thời trẻ khi mới “ biết đọc vỡ nghĩa sách thánh hiền” ông đã có sở
nguyện “ một ngày kia được treo ơ rnhà riêng của mình một câu đối do
tay ông Huấn Cao viết
- Quản ngục trân trọng giá trị con người. Điều đó thể hiện rõ qua hành động
“ biệt đãi” của ông đối với Huấn Cao: Dám chơi chữ của một kẻ đại
nghịch là Huấn Cao, Dám xin chữ tử tù ngay trong nhà ngục; Kiên trì,
nhẫn nhục để có được một bức chữ như sở nguyện
- Sở nguyện thanh cao muốn có được chữ Huấn Cao để treo ở nhà riêng của
mình bất chấp nguy hiểm, cùng thái độ thành kính đón nhận chữ của Huấn
Cao cho thấy tấm lòng “ biệt nhỡn liên tài”, biết trân trọng những giá trị
văn hoá của viên quản ngục.
- Diễn biến nội tâm, hành động và cách ững xử của viên quản ngục cho ta
thấy không chỉ Huấn Cao mà cả viên quản ngục cũng có một nhâ cách đẹp
đẽ “ một tấm lòng trong thiên hạ” tri âm, tri kỉ với Huấn Cao. Đó là một
âm thanh trong trẻo chen vào giữa một bản đàn mà nhạc luật đều hỗn loạn
xô bồ”.
- Viên quan ngục là một người biết chữ thiên lương, biết trân trọng giá trị
văn hoá và tài năng, là người có tâm hồn nghệ sĩ, không có tài nhưng yêu
tài, không sáng tạo được cái đẹp nhưng biết yêu và trân trọng cái đẹp.

IV. Giá trị tư tưởng và nghệ thuật của đoạn văn tả cảnh ông Huấn Cao

cho chữ. Tại sao có thể nói là “ đây là một cảnh xưa nay chưa từng có”?
- Hoàn cảnh cho chữ: thời gian, địa điểm, ánh sáng
- Tư thế cua rngười xin và người cho xưa nay chưa có: Sự đôi ngôi giữa
Huấn Cao và Quản ngục
- Lần đầu tiên cũng là lần cuối cùng
- Giá trị, ý nghĩa: cái đẹp không thể chung sống với cái ác, muốn tôn thờ
cái đẹp phái có thiên lương, Khẳng định sự bất tử của cái đẹp và cái
thiện, của thiên lương
Giáo án ôn thi đại học môn Ngữ văn THPT

- Giáo viên: Vũ Văn Lập – Trường THPT Giao Thuỷ -

17
- Nghệ thuật tạo hình , tương phản

Bài viết được sưu tầm.
Diendankienthuc.net



×