Tải bản đầy đủ (.doc) (22 trang)

Đề tài: Đánh giá cơ chế điều hành lãi xuất Việt Nam giai đoạn 1995 đến nay doc

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (230.14 KB, 22 trang )

B GIO DC V ĐO TO
TRƯỜNG ĐI HỌC
KHOA

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
Đánh giá cơ chế điều hành lãi suất Việt Nam
giai đoạn 1995 đến nay.
Mục lục
I.Lý thuyết chung về lãi suất 3
1.Những khái niệm về lãi suất 3
2.Phân loại lãi suất 3
3.Vai trò của lãi suất trong nền kinh tế 4
4.Các yếu tố ảnh hưởng đến lãi suất 6
5. Mối quan hệ giữa lãi suất và các biến cố kinh tế vĩ mô khác 7
II.Diễn biến lãi suất và cơ chế điều hành lãi suất 8
1.Nguyên nhân điều chỉnh lãi suất 8
2.Diễn biến các giai đoạn điều chỉnh lãi suất <1995 đến nay> 9
III.Đánh giá về cơ chế điều hành lãi suất 14
IV.Bài học kinh nghiệm từ một vài nước 18
V.Một số giải pháp điều hành lãi suất ở Việt Nam hiện nay và trong thời gian tới 20
1.Cụ thể những việc cần làm trước mắt của NHNN trong giai đoạn hiện nay là:
20
2. Về lâu dài đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ, góp sức của cả NHNN và hệ
thống NHTM nói riêng, hệ thống tài chính trong nền kinh tế nói chung. Dưới
đây là một số biện pháp được đề xuất: 21
I.Lý thuyết chung về lãi suất
1.Những khái niệm về lãi suất
 Lãi suất là giá cả của quyền được sử dụng vốn trong một thời gian nhất định
mà người sử dụng trả cho người sở hữu nó. Lãi suất được sinh ra là bởi lẽ
người đi vay đã sử dụng vốn đó để phục vụ các nhu cầu sinh lời của mình


( trong hoạt động sản xuất kinh doanh và tiêu dùng ) trong khi người cho
vay đã hi sinh quyền đó.
2.Phân loại lãi suất
a.Theo nghiệp vụ tín dụng của các tổ chức tín dụng
• Lãi suất huy động : Là lãi suất quy định tỷ lệ lãi phải trả cho các hình thức
nhận tiền gửi của khách hàng
 Lãi suất tiền gửi không kỳ hạn :Là loại lãi suất áp dụng với những khoản
tiền gửi không xác định cụ thể thời hạn gửi tiền và thông thường lãi suất
này thấp hơn lãi suất tiền gửi có kỳ hạn
 Lãi suất tiền gửi có kỳ hạn : Là loại lãi suất áp dụng với những khoản
tiền gửi có xác định rõ thời hạn gửi tiền (3 tháng,6 tháng,12 tháng )
• Lãi suất cho vay (LSCV): Là lãi suất quy định tỷ lệ lãi mà người đi vay phải
trả cho người cho vay ( về nguyên tắc trong điều kiện bình thường lãi suất
cho vay không được nhỏ hơn lãi suất huy động để đảm bảo cho tổ chức kinh
doanh tín dụng có lãi )
 Lãi suất cho vay thông thường :Là loại lãi suất áp dụng với những khoản
tín dụng thông thường (vay để phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng ,bổ sung
vốn sản xuất )
 Lãi suất cho vay ưu đãi :Là loại lãi suất áp dụng đối với một số đối
tượng hoặc các dự án nằm trong kế hoạch ưu tiên của chính phủ
 Lãi suất nợ quá hạn :Là loại lãi suất áp dụng đối với những khoản nợ
vượt quá thời hạn nợ theo thỏa thuận song người này chưa có khả năng
thanh toán
• Lãi suất chiết khấu: Là lãi suất cho vay ngắn hạn của ngân hàng thương mại
(NHTM) đối với khách hàng dưới hình thức triết khấu các giấy tờ có giá
chưa đến thời hạn thanh toán
• Lãi suất tái chiết khấu: Là lãi suất cho vay ngắn hạn của ngân hàng Trung
ương (NHTƯ) ấn định cho từng thời kỳ, căn cứ vào mục tiêu chính sách tiền
tệ (CSTT) (Lãi này dùng để kiểm soát và điều tiết sự biến động lãi suất trên
thị trường)

• Lãi suất thị trường liên ngân hàng: Là lãi suất mà các ngân hàng áp dụng khi
cho vay vốn trên thị trường liên ngân hàng
b.Theo cơ chế điều hành của nhà nước
• Lãi suất trần(lãi suất sàn) : Là mức lãi suất cao nhất (thấp nhất)trong một
khung lãi suất nào đó mà NHTƯ quy định để can thiệp vào hoạt động tín
dụng nhằm bảo vệ quyền của người cho vay và người đi vay.
• Lãi suất cơ bản : Là lãi suất do NHTƯ công bố làm cơ sở cho các NHTM
và tổ chức tín dụng (TCTD) khác ấn định lãi suất kinh doanh.
c.Theo ảnh hưởng của lạm phát
• Lãi suất danh nghĩa : Là mức lãi suất được công bố trên bảng niêm yết lãi
suất, trên các hợp đồng tín dụng và các công cụ nợ
• Lãi suất thực: Là lãi suất sau khi đã loại trừ sự biến động của giá trị tiền tệ
3.Vai trò của lãi suất trong nền kinh tế
• Là công cụ khuyến khích tiết kiệm đầu tư.
Lãi suất là công cụ khuyến khích lợi ích vật chất để thu hút các khoản tiết
kiệm của chủ thể kinh tế, tạo nên quỹ cho vay đáp ứng nhu cầu của nền kinh
tế.
Theo lý thuyết tài chính chúng ta có thể đưa ra phương trình thu nhập
sau:Thu nhập = tiêu dùng + tiết kiệm
Phương trình trên không những đúng với đặc điểm của hộ gia đình, các
doanh nghiệp mà còn đúng với cả nền kinh tế quốc gia.
Giả sử trong điều kiện của một nền kinh tế bình thường, tỉ lệ giữa tiêu dùng
và tiết kiệm là hợp lý để tăng tỷ lệ tiết kiệm cho nền kinh tế quốc dân thì
biện pháp hiệu quả là tăng lãi suất huy động vốn. Khi lãi suất vốn tăng lên,
thì trước hết các hộ gia đình phải xem xét các khoản chi cho tiêu dùng
thường xuyên có thể giảm chi hoặc hoãn một số khoản chi để tăng thêm
khoản tiết kiệm cho tổng thu nhập. Sau từ khoản tiết kiệm này họ sẽ hướng
đầu tư gửi vào ngân hàng, vào quỹ bảo hiểm hay đầu tư vào chứng khoán
khi thấy có lợi hơn.
Như vậy, lãi suất là công cụ có hiệu lực để phân chia tỉ lệ giữa tiêu dùng và

tiết kiệm.
• Lãi suất ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Chính sách lãi suất là một bộ phận trong tiền tệ của nhà nước nhằm điều tiết
lưu thông tiền tệ kích thích điều tiết và hướng hoạt động sản xuất kinh doanh
của các đơn vị kinh tế.
Lãi suất phải trả cho khoản vay là các khoản chi phí của doanh nghiệp. Do
vậy, lãi suất sẽ khuyến khích các doanh nghiệp vay vốn đầu tư phát triển sản
xuất kinh doanh. Ngược lại lãi suất cho vay cao sẽ thu hẹp đầu tư của doanh
nghiệp.
Lãi suất là công cụ buộc các doanh nghiệp phải sử dụng hiệu quả các ưu đãi
về lãi suất, về điều kiện cung cấp tín dụng và thanh toán, là công cụ của nhà
nước khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào các ngành, các sản phẩm
cần ưu tiên trong chiến lược phát triển kinh tế.
• Lãi suất là công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô.
Lãi suất tạo chi phí của người đi vay, vì vậy sự biến động của lãi suất có tác
động đến đầu tư, đến tiêu dùng qua đó tác động đến các mục tiêu của kinh tế
vĩ mô biểu hiện trong các trường hợp:
-Lãi suất thấp  kích thích đầu tư, kích thích tiêu dùng  tăng tổng cầu 
sản lượng tăng, giá tăng, thất nghiệp giảm  nội tệ có xu hướng giảm giá so
với ngoại tệ.
-Lãi suất cao  hạn chế đầu tư, hạn chế tiêu dùng  giảm tổng cầu  sản
lượng giảm  giảm giá  thất nghiệp tăng  nội tệ có xu hướng tăng giá so
với ngoại tệ.
Như vậy bằng cách giảm lãi suất, NHNN có thể tạo điều kiện cho các hoạt
động kinh tế phát triển.Tương tự ngân hàng có thể tăng lãi suất khi muốn
thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ, giảm bớt lương, khối lượng tiền cần
thiết cho việc mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh và chi tiêu của người
tiêu dùng.
• Lãi suất là công cụ phân phối có hiệu quả nhằm khai thác và sử dụng
triệt để các nguồn lực của nền kinh tế.

Lãi suất có tác dụng trong việc phân phối vốn. Đối với các dự án có mức độ
rủi ro như nhau, dự án nào có lãi cao hơn thường thu hút được vốn nhanh
hơn, nhiều hơn. Còn những dự án nào chứa đựng nhiều rủi ro thì phải trả lãi
suất cao mới có khả năng thu hút được vốn. Như vậy bằng cách đưa ra
những mức lãi suất khác nhau có thể tạo được sự phân phối các luồng vốn
theo mục đích mong muốn.
• Lãi suất là công cụ đo lường tình trạng của nền kinh tế.
Lãi suất là biến cố thường xuyên biến động trong nền kinh tế. Căn cứ vào sự
biến động đó của lãi suất, người ta có thể dự báo được các yếu tố khác cùa
nền kinh tế, như tính sinh lời của các cơ hội đầu tư, mức lạm phát dự tính,
mức thiếu hụt của ngân sách, người ta có thể dựa vào lãi suất trong một thời
kỳ để dự báo tình hình kinh tế trong tương lai.
4.Các yếu tố ảnh hưởng đến lãi suất
• Khả năng cung ứng và nhu cầu vốn trên thị trường
Đây là nhân tố tác động trực tiếp đến việc hình thành lãi suất trên thị trường
cụ thể : Khi lượng vốn cung ứng trên thị trường lớn hơn nhu cầu sẽ làm cho
lãi suất giảm và ngược lại. Dựa vào quy luật này, nhà nước có thể khống chế
lãi suất hoặc tác động vào phía cung hay phía cầu trên thị trường vốn nhằm
thuwch hiện mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội trong từng giai đoạn .
• Lạm phát
Lạm phát có ảnh hưởng rất lớn đến lãi suất, khi lạm phát tăng lên thì lãi suất
cũng có xu hướng tăng theo. Khi đó khả năng cung ứng vốn trên thị trường
sẽ giảm, điều này sẽ làm cho lãi suất tín dụng tăng lên. Như vậy lạm phát và
lãi suất luôn có quan hệ chặt chẽ và tác động qua lại lẫn nhau.
• Chính sách tiền tệ của chính phủ
Khi lãi suất tăng làm giảm nhu cầu tiêu dùng và đầu tư, ngân hàng Trung
ương sẽ giảm lãi suất tái chiết khấu cho các ngân hàng thương mại, các ngân
hàng thương mại được giảm lãi suất tái chiết khấu sẽ hạ lãi suất cho vay đối
với các doanh nghiệp, làm cho toàn bộ hệ thống lãi suất, đối với các thành
phần kinh tế đều giảm, các khoản cho vay tiêu dùng tăng lên.

Khi lãi suất giảm Ngân hàng Trung ương sẽ sử dụng các chính sách tiền tệ
như dự trữ bắt buộc đối với các ngân hàng thương mại.Tăng lãi suất chiết
khấu để làm giảm các khoản cho vay.
Như vậy thông qua các chính sách tiền tệ của chính phủ mà lãi suất trên thị
trường đã có những thay đổi nhằm đảm bảo mục tiêu ổn định, phát triển kinh
tế -xã hội.
• Rủi ro và kỳ hạn của tín dụng
Thời hạn cho vay dài, độ rủi ro lớn thì lãi suất cho vay sẽ cao và ngược
lại.Vì thế lãi suất cho vay trong ngắn hạn sẽ nhỏ hơn lãi suất cho vay trong
dài hạn,lãi suất trái phiếu chính phủ thường thấp hơn lãi suất trái phiếu của
các công ty kinh doanh
• Các nhân tố ảnh hưởng khác
Sự ổn định về kinh tế -chính trị, tình hình cân đối của ngân sách nhà nước,
mức độ phát triển của các thể chế tài chính trung gian, chính sách tài khóa
của nhà nước, tỷ giá hối đoái, tình hình tài chính quốc tế, cũng ảnh hưởng
rất lớn đến lãi suất.
5. Mối quan hệ giữa lãi suất và các biến cố kinh tế vĩ mô khác
• Lãi suất và đầu tư
Quá trình đầu tư của doanh nghiệp vào tài sản cố định được thực hiện khi
mà họ dự tính lợi nhuận thu được từ tài sản cố định này nhiều hơn số lãi
phải trả cho các khoản đi vay để đầu tư. Do đó khi lãi suất xuống thấp
các hãng kinh doanh có điều kiện tiến hành mở rộng đầu tư và ngược lại.
Trong môi trường tiền tệ hoàn chỉnh, ngay cả khi doanh nghiệp thừa vốn
thì chi tiêu đầu tư có kế hoạch vẫn bị ảnh hưởng bởi lãi suất, bởi vì thay
cho việc đầu tư vào mở rộng sản xuất doanh nghiệp có thể mua chứng
khoán hay gửi vào ngân hàng nếu lãi suất của nó cao.
Đặc biệt trong thời kì nền kinh tế bị đình trệ, hàng hóa ứ đọng và xuống
giá, có dấu hiệu thừa vốn và áp lực lạm phát thấp cần phải hạ lãi suất vì
nguyên tắc cơ bản là lãi suất phải nhỏ hơn lợi nhuận bình quân của đầu
tư, sự chênh lệch này sẽ tạo động lực cho các doanh nghiệp mở rộng quy

mô đầu tư.
• Lãi suất với tiêu dùng và tiết kiệm
Thu nhập của một hộ gia đình thường được chia thành hai bộ phận: tiêu
dùng và tiết kiệm. Tỷ lệ phân chia này phụ thuộc vào nhiều nhân tố như
thu nhập, vấn đề hàng hóa lâu bền tín dụng tiêu dùng, hiệu quả của tiết
kiệm trong đó tiết kiệm có tác dụng tích cực tới các nhân tố đó.
Khi lãi suất thấp chi phí tín dụng tiêu dùng thấp, người ta vay nhiều cho
việc tiêu dùng hàng hóa nghĩa là tiêu dùng nhiều hơn. Khi lãi suất cao
đem lại thu nhập từ khoản tiền để dành nhiều hơn sẽ khuyến khích tiết
kiệm, do đó tiết kiệm tăng.
• Lãi suất với tỉ giá hối đoái và hoạt động xuất nhập khẩu
Tỷ giá chịu ảnh hưởng của sự thay đổi lãi suất tiền gửi nội tệ và ngoại tệ.
Sự thay đổi lãi suất tiền gửi nội tệ ở đây là sự thay đổi trong lãi suất danh
nghĩa. Nếu lãi suất danh nghĩa tăng do tỷ lệ lạm phát tăng ( lãi suất thực
không đổi) thì tỷ giá giảm. Nếu lãi suất danh nghĩa tăng do lãi suất thực
tế tăng ( tỷ lệ lạm phát không đổi) thì tỷ giá tăng. Khi tỷ giá đồng ngoại
tệ tăng đồng nội tệ sẽ giảm giá (tỷ giá giảm) và ngược lại.
-Vai trò của lãi suất trong nước với quá trình xuất nhập khẩu: Khi lãi suất
thực tế tăng lên làm cho tỉ giá hối đoái tăng lên. Tỷ giá hối đoái cao hơn
làm hàng hóa của nước đó ở nước ngoài trở nên đắt hơn và hàng hóa
nước ngoài ở nước đó sẽ trở nên rẻ hơn, dẫn đến giảm xuất khẩu ròng.
-Vai trò của lãi suất nước ngoài với xuất khẩu ròng.
Khi lãi tiền gửi bằng ngoại tệ tăng lên, đường lợi tức dự tính của đồng
ngoại tệ dịch chuyển sang phải làm giảm tỷ giá hối đoái. Hàng xuất khẩu
trở nên rẻ hơn so với các quốc gia khác.
• Lãi suất và lạm phát
Lý luận và thực tiễn đã thừa nhận mối quan hệ chặt chẽ giữa lãi suất và
lạm phát. Fishes chỉ ra rằng lãi suất tăng cao trong thời kỳ lạm phát, do
đó lãi suất được sử dụng để điều chỉnh lạm phát. Cụ thể, lãi suất tăng sẽ
thu hẹp được lượng tiền trong lưu thông, lạm phát được kiềm chế.

Tuy nhiên dùng lãi suất để chống lạm phát không thể duy trì lâu dài vì nó
sẽ làm giảm đầu tư, tổng cầu, sản lượng. Do vậy phải kết hợp nó với các
công cụ khác.
• Lãi suất và cầu tiền
Cầu tiền là lượng tiền mà mọi người muốn nắm giữ. Đối với cầu giao
dịch dự phòng, khi lãi suất tăng thì cầu tiền để giao dịch và dự phòng sẽ
giảm. Lý do là khi giữ tiền trong tay người ta phải chịu một khoản chi phí
cơ hội, cho dù đó là tiền mặt hay tiền trong tài khoản séc. Chi phí cơ hội
của việc giữ tiền là lãi suất mà lẽ ra bạn có thể được hưởng bằng cách
này hay cách khác, nếu như không giữ tiền. Như vậy khi lãi suất càng cao
thì chi phí cơ hội càng lớn. lúc đó người ta càng ít muốn giữ tiền trong
tay, tức là cầu về tiền để giao dịch và dự phòng sẽ giảm.
II.Diễn biến lãi suất và cơ chế điều hành lãi suất
1.Nguyên nhân điều chỉnh lãi suất
Nguyên nhân điều chỉnh của ngân hàng Nhà nước là do những biến động
của tình hình nền kinh tế như: Lạm phát, thiểu phát, biến động của thị
trường vàng, thị trường ngoại hối, sự thay đổi trong cán cân cung-cầu
tiền, hoặc do mức lãi suất cũ chưa hợp lý, gây cản trở sự phát triển của
nền kinh tế, nên ngân hàng Nhà nước phải có biện pháp giữ ổn định cho
thị trường tài chính.
2.Diễn biến các giai đoạn điều chỉnh lãi suất <1995 đến nay>
a.Cải cách trong chính sách lãi suất từ giữa năm 2000 trở về trước
• Giai đoạn từ năm 1995 đến tháng 7/2000( cơ chế điều hành lãi suất
trần)
 Nét cơ bản của cơ chế điều hành trần lãi suất, đó là Ngân hàng Nhà
nước đã thay đổi căn bản cơ chế điều hành linh hoạt trần lãi suất bước
đầu đã thực hiện tự do hóa lãi suất huy động (lãi suất đầu vào của
ngân hàng thương mại) và linh hoạt trần lãi suất cho vay (lãi suất đầu
ra). Cơ chế lãi suất này đã góp phần duy trì sự tăng trưởng kinh tế,
kiểm soát lạm phát, ổn định sức mua của VND trong sự tương quan

của các đồng tiền trong khu vực do có khủng hoảng tiền tệ năm 1997-
1998 ở các nước Đông Nam Á.
 NHNN tiếp tục ấn định mức lãi suất tái cấp vốn và có những đổi mới
căn bản về điều hành lãi suất: Thay vì qui định khung lãi suất tối thiểu
về tiền gửi, lãi suất tối đa về tiền vay, NHNN chỉ qui định các mức lãi
suất “trần” theo thời hạn cho vay và khống chế chênh lệch giữa lãi
suất cho vay và lãi suất huy động vốn bình quân là 0,35%/tháng
(4,2%/năm) để khắc phục tình trạng hầu hết các ngân hàng thương
mại đều có mức lợi nhuận cao trong khi các doanh nghiệp lại gặp khó
khăn về tài chính (khi thực hiện cơ chế lãi suất thoả thuận ở giai đoạn
trước).
 Trong năm1997, NHNN đã thay đổi hình thức qui định lãi suất tái cấp
vốn, chuyển sang qui định mức lãi suất cụ thể. Mức lãi suất tái cấp
vốn cũng được điều chỉnh giảm xuống trong thời gian này (từ 1,1%
năm 1997 xuống 0,7%/tháng từ 4/9/ 99) để phù hợp với chỉ số lạm
phát, quan hệ cung- cầu vốn trên thị trường và thực hiện giải pháp
kích cầu về đầu tư của Chính phủ.
 Đến cuối tháng 1/1998, NHNN xoá bỏ qui định chênh lệch lãi suất,
chỉ còn qui định trần lãi suất cho vay. Cùng với nới lỏng sự kiểm soát
lãi suất, NHNN liên tục điều chỉnh trần lãi suất cho vay theo hướng
giảm cơ cấu trần và mức khống chế, đặc biệt trong năm các năm 1998,
1999.
 Để bổ sung thêm công cụ điều hành lãi suất, tháng 11/1999 NHNN
đưa vào sử dụng nghiệp vụ chiết khấu, tái chiết khấu giấy tờ có giá
cho các NHTM, lãi suất tái chiết khấu được qui định ở mức thấp hơn
0,05%/tháng so lãi suất tái cấp vốn.
 Tháng 7/2000, NHNN đưa vào sử dụng nghiệp vụ thị trường mở, lãi
suất thị trường mở được hình thành qua các phiên giao dịch. (Việc
điều chỉnh chính sách lãi suất như trên nhằm tiến tới việc duy trì một
trần lãi suất cho vay, tạo điều kiện để áp dụng mức lãi suất cơ bản và

từng bước tự do hoá lãi suất, mặt khác nhằm mục đích kích cầu thúc
đẩy đầu tư và tiêu dùng). Tuy nhiên ảnh hưởng của lãi suất đối với
tổng cầu của nền kinh tế Việt Nam rất hạn chế. Có hai lý do: trước
hết, việc giảm phát trong thời gian từ 1996 xuất phát từ sự suy giảm
các yếu tố sản xuất liên quan đến tổng cung nhiều hơn tổng cầu, vì thế
các chính sách vĩ mô tác động vào tổng cầu sẽ chỉ đem lại hiệu quả
hạn chế; thứ hai, sự điều chỉnh lãi suất thường là chậm so với thị
trường, nên mất đi lợi thế bất ngờ của sự thay đổi lãi suất. Hơn nữa
việc sử dụng các công cụ gián tiếp khác chưa thực sự có hiệu quả;
việc điều hành trần lãi suất vẫn là một biện pháp can thiệp hành chính
của Nhà nước do vậy đã hạn chế tính chủ động, linh hoạt trong kinh
doanh của các TCTD, hạn chế việc hình thành và phát triển của các
công cụ tài chính, có nguy cơ làm suy yếu năng lực tài chính của
TCTD.
b.Tự do hóa lãi suất từng bước từ giữa năm 2000 đến nay
• Giai đoạn từ tháng 8/2000 đến 5/2002(cơ chế điều hành lãi suất cơ
bản kèm biên độ)
 Nội dung của cơ chế điều hành lãi suất cơ bản kèm biên độ là Ngân
hàng Nhà nước đã điều hành cơ chế lãi suất theo luật ngân hàng để
thay thế cho cơ chế lãi suất trần. Lãi suất cơ bản và biên độ được
công bố định kỳ hàng tháng, trường hợp cần thiết, Ngân hàng Nhà
nước sẽ công bố điều chỉnh kịp thời.
Đối với lãi suất cho vay bằng ngoại tệ, về cơ bản các ngân hàng
thương mại, các tổ chức tín dụng được ấn định lãi suất cho vay trên
cơ sở lãi suất thị trường quốc tế và cung cầu vốn trong nước của
từng loại ngoại tệ. Theo cơ chế lãi suất này cho thấy Ngân hàng Nhà
nước VN đã quyết tâm đổi mới chính sách lãi suất theo hướng tự do
hóa và từng bước gắn lãi suất trong nước vào thị trường khu vực và
thế giới.
 tháng 8 năm 2000, NHNN đưa ra một cơ chế lãi suất mới trong đó

lãi suất cho vay nội tệ của ngân hàng được điều chỉnh theo lãi suất
cơ bản do NHNN. Tuy nhiên, các ngân hàng không được tính lãi
suất cho vay vượt quá lãi suất cơ bản 0,3%/tháng đối với vốn ngắn
hạn và 0,5%/tháng đối với vốn trung, dài hạn.
Cơ chế giới hạn biên độ lãi suất so với lãi suất cơ bản về bản chất
không khác gì so với trần lãi suất áp dụng trước đây. Tuy nhiên, trên
thực tế mức trần (lãi suất cơ bản cộng biên độ) được định ở mức cao
hơn trần lãi suất theo cơ chế cũ rất nhiều. Trước thời điểm áp dụng
lãi suất cơ bản, lãi suất cho vay bình quân của bốn ngân hàng
thương mại quốc doanh đã kịch trần (0,85%/tháng). Thực tế là trong
năm 1999, các NHTM không theo kịp 5 đợt hạ trần lãi suất của
NHNN, LSCV ngắn hạn bình quân vượt trên trần lãi suất
 Từ tháng 8/2000, lãi suất cơ bản được đặt ở mức mà khi cộng với
biên độ 0,3%/tháng đã cao hơn hẳn lãi suất cho vay thực tế. Như
vậy, từ khi có cơ chế lãi suất cơ bản, các ngân hàng đã bắt đầu ấn
định lãi suất trên cơ sở thỏa thuận với khách hàng.
Một điểm đáng chú ý nữa là LSCV của các NHTM, mặc dù luôn cao
hơn lãi suất cơ bản, nhưng thay đổi theo lãi suất cơ bản. Trong năm
2000 và 2001, cả hai mức lãi suất này đều giảm. Nhưng trong thời
gian đó, lãi suất tiền gửi lại tăng lên. Cạnh tranh giữa các ngân hàng
đã dẫn tới gia tăng lãi suất huy động vốn, nhưng LSCV vẫn không
tăng và nằm trong biên độ lãi suất cơ bản. Chênh lệch lãi suất, do
vậy, đã giảm đi rõ rệt.
Vào tháng 11/2001, trần lãi suất cho vay ngoại tệ được xóa bỏ, từ đó
cho phép những người vay ngoại tệ trong nước có thể thương lượng
lãi suất với các ngân hàng nội địa và ngân hàng nước ngoài. Vào
tháng 6/2002, lãi suất được tự do hóa hoàn toàn với việc các ngân
hàng được phép xác định lãi suất cho vay trên cơ sở tự thẩm định và
thương lượng với khách hàng.
 Như đã trình bày, các ngân hàng đã chủ động xác định LSTG và

LSCV từ thời điểm áp dụng lãi suất cơ bản. Với việc chính thức tự
do hóa lãi suất thì lãi suất cơ bản do NHNN công bố chỉ còn tính
chất tham khảo. LSTG tiếp tục gia tăng. Đồng thời, ngay sau khi ra
quyết định tự do hóa, lãi suất cho vay của các ngân hàng đã lập tức
nhích lên. Quan điểm hoài nghi về tự do hóa lãi suất cho rằng, cạnh
tranh giữa các ngân hàng khi không còn kiểm soát lãi suất sẽ dẫn tới
tình trạng “cá lớn nuốt cá bé”. Các ngân hàng nhỏ khó có khả năng
cho vay với lãi suất thấp để cạnh tranh với các ngân hàng lớn. Đặc
biệt, các NHTM cổ phần dường như không thể giảm LSTG để giảm
LSCV vì sẽ ngay lập tức bị người tiết kiệm rút tiền. Ngược lại, khi
không còn trần về lãi suất hay giới hạn lãi suất cơ bản + biên độ, họ
có thể có xu hướng tăng lãi suất huy động rồi đầu tư rủi ro cao (do
tác động của lựa chọn bất lợi và tâm lý ỷ lại) trước sức ép cạnh
tranh. Trong khi đó, những người ủng hộ đưa ra các lập luận tương
tự như các lý lẽ ủng hộ cơ chế lãi suất cơ bản trước đây. Các nhà
hoạch định chính sách hy vọng rằng lãi suất giờ đây sẽ phản ánh
cung cầu trên thị trường vốn vay. Hơn thế nữa, khi lãi suất cơ bản
chỉ còn tính chất tham khảo thì các ngân hàng hoàn toàn có thể cho
các đối tượng kinh doanh nhỏ hay nông dân vay với lãi suất phản
ánh các chí phí cho vay và rủi ro.
 Đây là giai đoạn sử dụng lãi suất cơ bản cùng với lãi suất tái chiết
khấu, lãi suất tái cấp vốn trong điều hành chính sách tiền tệ. TCTD
ấn định lãi suất cho vay đối với khách hàng trên cơ sở lãi suất cơ
bản do NHNN công bố theo nguyên tắc lãi suất cho vay không được
vượt quá mức lãi suất cơ bản cộng biên độ do Thống đốc NHNN
quy định từng thời kỳ.
• Giai đoạn từ 6/2002 đến năm 2006 (cơ chế lãi suất thỏa thuận)
 Trong thực tế, cơ chế lãi suất này được Ngân hàng Nhà nước chuyển
đổi từng bước bắt đầu từ tháng 5.2001 áp dụng cho hình thức vay
bằng ngoại tệ, tiếp theo 5.2002 là áp dụng cơ chế lãi suất thỏa thuận

trong hoạt động tín dụng trong nước. Nhìn một cách tổng quát thì
quá trình thực thi cơ chế tự do hóa lãi suất ở VN bước đầu đã có kết
quả nhất định.
 NHNN tiếp tục công bố lãi suất cơ bản trên cơ sở tham khảo mức lãi
suất cho vay thương mại đối với khách hàng tốt nhất của nhóm các
TCTD để làm tham khảo và định hướng lãi suất thị trường.
 Theo Thống đốc NHNN Lê Đức Thúy, đây là một bước chuyển căn
bản của VN trong việc điều hành lãi suất, tạo điều kiện cho các
TCTD mở rộng mạng lưới để huy động, cho vay vốn với mức lãi
suất phù hợp với quan hệ cung cầu vốn thị trường, đồng thời nâng
cao năng lực tài chính, khả năng cạnh tranh, các tiêu chuẩn an toàn
và khả năng hội nhập với thị trường tài chính tiền tệ quốc tế của các
TCTD VN.
 Với cơ chế này, Nhà nước chính thức không can thiệp vào hoạt động
điều hành lãi suất bằng việc ấn định lãi suất cho vay mà chỉ gián tiếp
điều tiết lãi suất nhằm có lợi nhất cho nền kinh tế. Cơ chế này cũng
giúp giảm thiểu rủi ro trong hoạt động tín dụng và giúp các ngân
hàng nới lỏng các biện pháp bảo đảm tiền vay (thế chấp) đối với
khách hàng.
 Ngày 30 tháng 5 năm 2002, NHNN đưa ra Quyết định số
546/2002/QĐ-NHNN về việc thực hiện cơ chế lãi suất thỏa thuận
trong hoạt động tín dụng thương mại bằng đồng Việt Nam của tổ
chức tín dụng đối với khách hàng áp dụng từ 1-6-2002là
0,60%/tháng (7,2%/năm).
 Năm 2003,mức chênh lệch giữa lãi suất trần và lãi suất sàn đã được
nới rộng từ 0,05%/tháng tức là 0,6%/năm (tháng 3/2003) lên
2,4%/năm(tháng 6/2003) và tháng 9/2003 là 2%/năm.
 Năm 2004,mức lãi suất cơ bản là 0,625%/tháng và 7,5%/năm.
 Năm 2005,mức lãi suất cơ bản là 0,65%/tháng và 7,8%/năm
 Năm 2006,mức lãi suất cơ bản là 0,6875%/tháng và 8,25%/năm

• Giai đoạn từ 2007 đến nay ( cơ chế lãi suất tự do)
 Năm 2007 NHNN điều hành chính sách tiền tệ theo hướng thắt chặt
để rút mạnh tiền từ lưu thông về, giảm tốc độ tăng tổng phương tiện
thanh toán và tín dụng nhằm kiểm soát lạm phát và thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế:
-Mức lãi suất cơ bản: 8,25%/năm
-Lãi suất tái cấp vốn là 6,5%/năm
-Lãi suất chiết khấu là 4,5%/năm.
 1/3/2007 NHNN bỏ quy định trần lãi suất tiền gửi bằng USD đối với
pháp nhân.
 Đầu năm 2008NHNN đưa ra quyết định số 187/2008/QĐ-NHNN
tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc nhằm rút bớt tiền trong lưu thông để kiềm
dẫn đến NHTM đối mặt với khó khăn thiếu nguồn cung tiền đồng do
đó lãi suất huy động vốn tăng cao.
 26/2/2008 NHNN ra công văn số 02/CĐ-NHNN quy định trần lãi
suất là 12%/năm.17/5/2008 quyết đinh số 16/2008/QĐ-NHNN về cơ
chế điều hành lãi suất cơ bản bằng đồng việt nam được ban hành.
 Trong năm 2008 đã có 8 lần điều chỉnh lãi suất cơ bản ,lãi suất tái
cấp vốn , lãi suất tái chiết khấu, 5 lần điều chỉnh dự trữ bắt buộc và
lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc.
 23/1/2009 chính phủ đã công bố gói kích thích kinh tế với mức lãi
suất 4% đối với các tổ chức, cá nhân vay vốn ngân hàng trong thời
gian tối đa là 8 tháng kết thúc vào 31/12/2009.
 31/12/2009 chính phủ dừng hỗ trợ lãi suất ngắn hạn tăng lãi suất cơ
bản bằng Việt Nam đồng từ 7% lên 8%/năm
 Trong năm 2010 NHNN đã ban hành thông tư số 03/2010/TT-
NHNN thông tư 07/2010/TT-NHNN thông tư 12/2010 /TT-NHNN
cho phép tổ chức tín dụng được thực hiện cho vay bằng đồng việt
nam đồng theo cơ chế lãi suất thỏa thuận. 10 tháng đầu năm mức lãi
suất cơ bản là 8% còn 2 tháng cuối năm là 9% nhằm kiềm chế lạm

phát.
III.Đánh giá về cơ chế điều hành lãi suất
 Có thể nói quá trình đổi mới cơ chế điều hành lãi suất ngân hàng ở nước ta
từ khi có mô hình ngân hàng hai cấp (1988) đến nay đã trải qua sáu bước
chuyển đổi căn bản, đó là những bước đi khá thận trọng, phù hợp với tình
hình kinh tế từng thời kỳ và khẳng định xu hướng tất yếu của quá trình tự
do hóa lãi suất ở nước ta.
a. Giai đoạn từ năm 1995 đến tháng 7/2000 (cơ chế điều hành lãi suất trần)
 Ưu điểm:
- Kích cầu thúc đẩy đầu tư và tiêu dùng.
 Nhược điểm:
- Mức ảnh hưởng của lãi suất đối với tổng cầu của nền kinh tế Việt Nam rất
hạn chế.
-Tác động của chính sách vĩ mô vào tổng cầu sẽ chỉ đem lại hiệu quả hạn
chế, sự điều chỉnh thường chậm nên mất đi lợi thế bất ngờ của sự thay đổi
lãi suất.
b.Giai đoạn từ tháng 8/2000 đến 5/2002(cơ chế điều hành lãi suất cơ bản
kèm biên độ)
 Ưu điểm:
-Chính sách lãi suất thời kỳ này đã tiến gần đến các nguyên tắc lãi suất thị
trường hơn
-Việc sử dụng lãi suất cơ bản làm lãi suất tham chiếu khi cấp tín dụng của
các tổ chức tín dụng là bước chuẩn bị cho tụ do hóa lãi suất hoàn toàn sau
này.
 Nhược điểm:
-Việc khống chế biên độ dao động trên của lãi suất cơ bản làm hạn chế phần
nào tính thị trường của lãi suất, làm cho cơ chế này về bản chất vẫn là cơ chế
điều hành trần lãi suất.
c. Giai đoạn từ 6/2002 đến năm 2006 (cơ chế lãi suất thỏa thuận)
 Ưu điểm:

-Cơ chế lãi suất trần tạo điều kiện cho các ngân hàng chủ động trong việc
huy động và cho vay vốn. Lãi suất phản ánh được cung cầu trên thị trường,
tạo điều kiện khai thác triệt để sức mạnh của cơ chế thị trường.
 Nhược điểm:
-Cơ chế lãi suất thỏa thuận được đưa vào thực hiện, lãi suất vẫn còn thiếu
tính thị trường. NHTM chi phối lãi suất trên thị trường
-Chưa phát huy tốt hiệu quả của cơ chế lãi suất thỏa thuận do các yếu tố nền
tảng vẫn trong quá trình hoàn thiện.
d. Giai đoạn từ 2007 đến nay ( cơ chế lãi suất tự do)
 Ưu điểm:
-Thị trường tiền tệ và lãi suất cơ bản tương đối ổn định ở các tháng đầu năm
-Cơ chế truyền dẫn của các biện pháp điều hành lãi suất đã có hiệu lực và
hiệu quả đối với hoạt động kinh doanh của NHTM và lãi suất thị trường
 Nhược điểm:
-Việc khống chế biên độ lãi suất làm cho các tổ chức tín dụng không thể
phản ánh kịp thời để phòng tránh rủi ro về lãi suất và thanh khoản khi lãi
suất thị trường tiền tệ trong nước và ngoài nước có biến động
-Chênh lệch lãi suất huy động và cho vay bị thu hẹp do lãi suất huy động
tăng nhưng lãi suất cho vay không thể tăng được nữa.
-Cơ chế lãi suất tự do vẫn chưa được hoàn thiện vẫn chưa phát huy tốt hiệu
quả của nó.
 Quá trình đã đạt được những thành tựu không nhỏ:
• Tiến hành cải cách, điều chỉnh chính sách lãi suất làm cho lãi suất trong
nền kinh tế đã trở thành công cụ quan trọng của Nhà nước nhằm thực thi
chính sách tiền tệ, ổn định môi trường kinh tế vĩ mô, kiềm chế được lạm
phát.
• Lãi suất góp phần nâng cao hiệu quả của nền kinh tế nói chung, kích
thích sự tiết kiệm và khuyến khích đầu tư. Việc xóa dần chính sách ưu
đãi về lãi suất đã dần dần tạo điều kiện cho các ngân hàng thương mại
thực hiện tốt công tác hạch toán kinh tế và kinh doanh của mình được

chủ động và thuận lợi.
• Chính sách lãi suất qua các lần biến đổi đã tiến dần đến tự do hóa lãi
suất, chuẩn bị cho sự hội nhập về lãi suất với nền kinh tế thế giới.
Những phản ứng tích cực của thị trường là cơ sở khẳng định tính đúng
đắn của Thông tư 07, 13. Và những phản ứng này là một tín hiệu tốt để
NHNN thực hiện những bước tiếp theo nhằm tự do hóa hoàn toàn lãi
suất.
 Quá trình vẫn còn một số hạn chế:
• Hiệu lực, hiệu quả của các cơ chế điều hành LS chưa cao
Nguyên nhân: Năng lực tài chính, năng lực quản trị, khả năng cạnh tranh
của các thành viên trên thị trường tài chính không đồng đều, tính bền
vững trong phát triển chưa cao.
Trên thị trường có sự cạnh tranh không lành mạnh. Biểu hiện là tình
trạng đua nhau tăng lãi suất cho vay và lãi suất huy động của các
NHTM. Khi NHNN thực hiện cơ chế lãi suất thỏa thuận đối với cho vay
trung hạn, các NHTM đã đẩy mức lãi suất cho vay rất cao, khoảng 18%.
Những động thái tiêu cực đó là nguyên nhân gây ra sự bất ổn trong hệ
thống tài chính. Các dự án trung và dài hạn gặp nhiều khó khăn hơn
trong việc tìm kiếm các nguồn vốn từ Ngân hàng. Điều này là 1 trở ngại
đối việc phát huy hiệu lực, hiệu quả của các chính sách do NHNN đưa
ra.
Bên cạnh đó, đối với nhóm ngân hàng lớn, thông qua vị thế mạnh của
mình trong hệ thống, những hành vi chi phối thị trường của các ngân
hàng này có thể gây ảnh hưởng tới tác động tổng thể của chính sách
NHNN nói chung và chính sách lãi suất nói riêng.
• Mức độ tự do của LS còn hạn chế:
Một trong những lý do là thị phần tín dụng áp dụng mức lãi suất chính
sách là không nhỏ. Ngoài các khoản vay áp dụng cơ chế hỗ trợ lãi suất
trong thời gian qua, thì chúng ta cũng có không ít các dự án, các lĩnh vực
sản xuất được áp dụng lãi suất ưu đãi được thực hiện thông qua Ngân

hàng Phát triển, Ngân hàng Chính sách xã hội, các dự án đầu tư phát
triển được sử dụng các nguồn vốn ưu đãi ODA khác nữa Ở chừng mực
nào đó nó làm giảm hiệu quả của chính sách tự do hóa lãi suất, vì khi đó
lãi suất hình thành trên thị trường chưa phản ánh đúng cung cầu vốn nên
việc phân bổ nguồn vốn qua công cụ lãi suất cũng bị méo mó.
• Việc điều chỉnh cơ chế điều hành lãi suất rất dễ gây ra mất ổn định trong
nền kinh tế và khó có thể đảm bảo các mục tiêu của CSTT.
Các nhà đầu tư nắm bắt thông tin thị trường không đầy đủ, dẫn đến phản
ứng theo “bầy đàn” - là đặc điểm nổi bật của thị trường tài chính của
Việt Nam hiện nay. Đặc điểm này dễ gây nên những kỳ vọng về lạm
phát trước bất cứ một động thái chính sách kinh tế vĩ mô nào tạo tín hiệu
áp lực lạm phát, nhất là chính sách tiền tệ - một chính sách theo đuổi
mục tiêu lạm phát là trụ cột.
• Những tác động không mong muốn trong cơ chế truyền dẫn
Lãi suất thực dương là 1 tất yếu trong cơ chế tự do hóa lãi suất. Nhìn vào
thực tế của Việt Nam, hiện tại, mức lãi suất thực mà người gửi tiền nhận
được là mức lãi suất thực dương, trung bình trong 3 tháng đầu năm 2010
khoảng 2,8% - chưa kể đến các hình thức khuyến mại khác. Tuy nhiên,
lãi suất thực đang có xu hướng giảm xuống bắt đầu từ tháng 2 do ảnh
hưởng của tốc độ gia tăng CPI. Để thu hút nguồn vốn, các ngân hàng có
thể bước vào 1 cuộc chạy đua tăng lãi suất huy động khi NHNN dỡ bỏ
trần lãi suất huy động. Với xu hướng này, một tín hiệu nâng lãi suất
chính sách có thể tạo ra kỳ vọng về lạm phát.
Xét về góc độ lãi suất thực tác động đến tăng trưởng kinh tế, thì hiện
nay, các nhà đầu tư vay vốn ngân hàng đang chịu một mức lãi suất thực
tương đối cao. Đánh giá tác động của lãi suất thực đến tăng trưởng kinh
tế, theo kết quả ước lượng mô hình đánh giá tác động của lãi suất thực
lên tăng trưởng kinh tế theo phương pháp OLS (41 quan sát từ quý
I/2000 đến tháng 3/2010 với mức ý nghĩa 10%) cho thấy khi lãi suất
thực cho vay ngắn hạn tăng 1% sẽ làm tăng trưởng kinh tế giảm 0,04%

so với quý trước. Tuy nhiên, ngoài lãi suất thực còn nhiều yếu tố khác
tác động lên tăng trưởng kinh tế, vì vậy, mức độ biến động của lãi suất
thực mới chỉ giải thích được 12,3% biến động của tăng trưởng kinh tế.
• Tính kỷ luật trong hoạch định các chính sách vĩ mô chưa cao, tình trạng
mâu thuẫn của các mục tiêu của các chính sách vẫn thường xảy ra.
Là một nền kinh tế đôla hóa, lãi suất đồng nội tệ, lãi suất ngoại tệ và tỷ
giá có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, với mức chênh lệch quá lớn giữa
lãi suất nội tệ với lãi suất đồng ngoại tệ cộng với mức kỳ vọng về tỷ giá
sẽ làm dịch chuyển sự nắm giữ giữa đồng nội tệ và đồng ngoại tệ của các
thành viên trong thị trường, điều này sẽ gây ra những rối loạn thị trường,
tạo áp lực lên tỷ giá. Do vậy, chính sách lãi suất tiền đồng cũng phải giải
quyết hài hòa mối quan hệ này. Trong năm 2009, vấn đề tỷ giá nổi lên
như một điểm nhấn của sự ổn định, chính sách lãi suất của NHNN cùng
hàng loạt các chính sách khác ( như yêu cầu các tổng công ty lớn bán
ngoại tệ cho NHNN, điều chỉnh tỷ giá công bố, điều chỉnh dự trữ bắt
buộc bằng ngoại tệ, qui định trần lãi suất tiền gửi ngoại tệ của các doanh
nghiệp ) đã phải hướng tới sự ổn định này.
IV.Bài học kinh nghiệm từ một vài nước
 Mỗi quốc gia khác nhau, vào từng thời kỳ khác nhau của nền kinh tế, tùy
thuộc vào mô hình của NHTW mà quốc gia đó sở hữu, sẽ có khả năng quyết
định việc điều chỉnh hay giữ nguyên mức lãi suất cũng như những chính
sách tiền tệ phù hợp để phục vụ cho mục tiêu phát triển của đất nước đó.
• Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) thực hiện chính sách tiền tệ chủ yếu
bằng cách định hướng “lãi suất quỹ vốn của FED” (tỷ lệ các ngân
hàng ấn định với nhau cho khoản vay qua đêm các quỹ đặt cọc tại
FED).Khi nền kinh tế có dấu hiệu chậm lại thì FED sẽ cắt giảm lãi
suất,còn khi lạm phát gia tăng sẽ nâng cao lãi suất.
• Ngân hàng liên bang Đức coi trọng điều kiện cấp tín dụng và cấp lãi
suất chiết khấu.
• Ở Pháp, lãi suất cơ bản là lãi suất Ngân hàng trên cơ sở đó tính các

lãi suất cơ bản cho vay khác và nguyên tắc mỗi Ngân hàng được
định ra lãi suất của mình trên cơ sở có sự nhất trí nào đó giữa Ngân
hàng. Do vậy lãi suất cơ bản chính là kết quả của những cuộc thương
lượng giữa Ngân hàng, lãi suất chiết khấu của Ngân hàng Trung
ương hoàn toàn không phụ thuộc vào lãi suất cơ bản mà phụ thuộc
vào lãi suất trên thị trường tiền tệ thông thường được ấn định hằng
ngày đối với các khối lượng tiền cung ứng cho từng kỳ hạn 1,2,3
tháng…
• Ngân hàng Trung ương Hàn Quốc hiện nay đang điều hành trần lãi
suất tối đa cho các tổ chức tín dụng. Từ mức lãi suất này Ngân hàng
Trung ương sẽ quy định lãi suất tái cấp vốn cho các Ngân hàng
thương mại tùy theo yêu cầu khách quan của việc tăng hay giảm khối
lượng tiền cung ứng.
• Nghiên cứu luật Ngân hàng Trung ương một số nước cũng đề cập
đến lãi suất Ngân hàng Trung ương về đề ngữ khác nhau, luật Ngân
hàng Trung ương của nước cộng hòa liên bang Đức “ Ngân hàng
Trung ương của nước cộng hòa liên bang Đức ấn định lãi suất và tỷ
lệ chiết khấu được áp dụng cho Ngân hàng liên bang”. Luật Ngân
hàng nhân dân Trung Quốc quy định “ xác định lãi suất cơ bản của
Ngân hàng Trung ương ”. Luật Ngân hàng Ba Lan quy định “ Lãi
suất tái chiết khấu đối với hối phiếu, lãi suất tín dụng tái cấp vốn”.
Luật Ngân hàng Trung ương Hàn Quốc quy định “ mức tối đa mà
các tổ chức Ngân hàng tính đối với các loại cho vay”.
 Bài học kinh nghiệm rút ra :
Trong những năm gần đây, thị trường tài chính – tiền tệ thế giới có sự phát
triển vượt bậc về quy mô và chiều sâu, cơ chế điều hành lãi suất của
NHTW các nước thay đổi theo hướng tự do hoá. Ở mỗi nước, NHTW căn
cứ vào luật định, điều kiện và bối cảnh phát triển kinh tế – xã hội, thị
trường tài chính – tiền tệ ở mỗi nước, cũng như địa vị pháp lý của NHTW,
mục tiêu của chính sách tiền tệ (lạm phát hoặc đa mục tiêu) để áp dụng cơ

chế điều hành lãi suất phù hợp trong từng thời kỳ nhằm ổn định và phát
triển thị trường tiền tệ, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động ngân hàng và
sự phân bổ có hiệu quả các nguồn vốn trong nền kinh tế. Đối với nước ta,
một nước có nền kinh tế đang phát triển với mức tăng trưởng cao, NHTW
cần phải nghiên cứu kĩ các cơ chế điều hành lãi suất của các nước phát triển
trên thế giới như :Mỹ,pháp,hàn quốc,trung quốc, Để có những chính sách
đưa ra kịp thời và hợp lý.
V.Một số giải pháp điều hành lãi suất ở Việt Nam hiện nay và trong thời
gian tới
 Chính sách lãi suất là một công cụ của CSTT, vì vậy mục tiêu theo đuổi của
chính sách lãi suất phải nằm trong mục tiêu của CSTT, quá trình
hoàn thiện cơ chế điều hành lãi suất trong từng thời kỳ luôn phải đảm
bảo mục tiêu bao trùm của CSTT là ổn định tiền tệ, kiểm soát lạm phát,
hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và ổn định kinh tế vĩ mô. Điều đó có
nghĩa, sự thay đổi cơ chế điều hành lãi suất không được gây ra
những cú sốc thị trường, đảm bảo tính ổn định và thực hiện các mục
tiêu kiểm soát lạm phát, tăng trưởng kinh tế.
1.Cụ thể những việc cần làm trước mắt của NHNN trong giai đoạn hiện nay là:
• Trước mắt là phải thiết lập một mức lãi suất cơ bản định hướng được lãi suất
thị trường.
• Trên cơ sở mức lãi suất cơ bản, hình thành đồng bộ các mức lãi suất chỉ đạo,
như lãi suất tái cấp vốn, lãi suất chiết khấu, lãi suất cho vay qua đêm và lãi
suất nghiệp vụ thị trường mở nhằm chủ động điều tiết lãi suất thị trường và
các hành vi cho vay, đi vay của các thành viên trên thị trường tiền tệ. Lượng
tiền cung ứng sẽ được điều tiết hợp lý để đảm bảo các mức lãi suất mục tiêu.
• Đối với lãi suất huy động, do những bất cập về cấu trúc thị trường hiện nay
làm nảy sinh tình trạng cạnh tranh lãi suất thiếu lành mạnh, cũng như là diễn
biến của lãi suất thực huy động có thể làm kỳ vọng lạm phát gia tăng nên
việc thực hiện duy trì mức lãi suất trần trong giai đoạn này là cần thiết để
bình ổn mặt bằng lãi suất.

• Đồng thời, NHNN cần tích cực hỗ trợ thanh khoản đối với NHTM với kỳ
hạn dài hơn, khối lượng lớn hơn so với trước đây, hỗ trợ thông qua tái cấp
vốn và hoán đổi ngoại tệ và chỉ đạo các NHTM nhà nước giữ vai trò chủ đạo
trong cung ứng vốn và điều chỉnh lãi suất giảm dần phù hợp diễn biến nền
kinh tế.
2. Về lâu dài đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ, góp sức của cả NHNN và hệ
thống NHTM nói riêng, hệ thống tài chính trong nền kinh tế nói chung.
Dưới đây là một số biện pháp được đề xuất:
 Củng cố, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả hoạt động ngân hàng
 Nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong điều kiện hội nhập,
trong đó chú trọng:
• Tăng cường công tác dự báo những diễn biến về kinh tế thế giới,
nhất là những biến động của kinh tế Mỹ, các nước EU, sự biến động của
đồng USD, Euro và những vấn đề liên quan khác.
• Tham mưu cho Chính phủ thực hiện việc quản lý luồng vốn nước
ngoài vào Việt Nam (cả ngắn và dài hạn), theo dõi chặt chẽ cán cân
thanh toán, hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam.
• Tiếp tục triển khai có hiệu quả sự chỉ đạo của Chính phủ về chống
lạm phát tại v ă n b ả n của Thủ tướng Chính phủ ưu tiên chống lạm phát,
bảo đảm an sinh xã hội, tiếp tục ổn định và tăng trưởng kinh tế:
 Tiếp tục củng cố hệ thống ngân hàng, chú trọng việc ổn định
hệ thống, tiến hành cơ cấu lại để tăng cường năng lực cạnh tranh
trong điều kiện mới.
 Tiếp tục hoàn thiện các quy định pháp luật về ngân hàng, trong đó chú
trọng việc hoàn thiện các quy định về đảm bảo an toàn hoạt
động ngân hàng phù hợp với thông lệ quốc tế. Bổ sung, sửa
đổi các quy định về cấp phép thành lập, ngân hàng mới một
cách chặt chẽ, tăng mức vốn điều lệ, yêu cầu về năng lực quản trị cao
hơn…
 Củng cố tổ chức và hoạt động giám sát và kiểm soát hoạt động

của Ngân hàng thương mại chuyển từ thanh tra tuân thủ sang
thanh tra, giám sát, kiểm toán nội bộ theo định hướng rủi ro.
 Tăng cường đào tạo nguồn nhân lực, tiếp tục hiện đại hoá
ngân hàng, đẩy mạnh các hoạt động ngân hàng mới…
 Phát huy vai trò của các công cụ gián tiếp
 Công cụ dự trữ tối thiểu bắt buộc (dự trữ bắt buộc)
 Công cụ lãi suất cho vay
 Công cụ nghiệp vụ thị trường mở
 Phát triển thị trường tài chính đặc biệt là thị trường chứng khoán
 Thị trường tiền tệ và thị trường chứng khoán có mối liên hệ mật
thiết với nhau, khi lãi suất trên thị trường tiền tệ tăng lên, thị trường
tiền tệ nóng lên, thì thịtrường chứng khoán cũng sôi động. Phát triển
thị trường tiền tệ, làm tăng tốc độ chuchuyển vốn ngắn hạn trong nền
kinh tế, nâng cao khả năng kinh doanh trên thị trường tiền tệ của các
tổ chức trung gian tài chính, tạo điều kiện cho các tổ chức này sẵn
sàng tham gia có hiệu quả trên thị trường chứng khoán
 Nâng cao năng lực tài chính, năng lực quản lý và năng lực kiểm soát rủi
ro của các TCTD
 Tiếp tục hoàn thiện môi trường pháp lý

×