Tải bản đầy đủ (.pdf) (35 trang)

Báo cáo nghiên cứu nông nghiệp " Thay thế phân bón N hoá học bằng chế phẩm vi sinh cố định đạm cho cây họ đậu tại Việt nam để tăng thu nhập cho nông dân và bảo vệ môi trường " pot

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (663.24 KB, 35 trang )


Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

Hợp tác vì sự Phát triển Nông nghiệp
và Nông thôn



Báo cáo Tiến độ
Báo cáo sáu tháng lần 2




013/06VIE
Thay thế phân bón N hoá học
bằng chế phẩm vi sinh cố định đạm cho
cây họ đậu tại Việt nam để tăng thu nhập
cho nông dân và bảo vệ môi trường






July 2008

2


Mục lục



1. Thông tin cơ quan thực hiện_____________________________________________ 1
2. Tóm tắt dự án ___________________________________Error! Bookmark not defined.
3. Tóm tắt thực hiện dự án ________________________________________________ 2
4. Giới thiệu và nền tảng dự án_____________________________________________ 3
5. Tiến độ ______________________________________________________________ 6
5.1 Các điểm thực hiện nổi bật ______________________________________________ 7
5.2 Lợi ích đối với nông hộ ________________________________________________ 22
5.3 Xây dựng năng lực_____________________________________________________ 23
5.4 Xuất bản______________________________________________________________ 24
5.5 Quản lý dự án _________________________________________________________ 24
6. Báo cáo về các vấn đề liên quan môi trường, giới và xã hội ___________________ 24
6.1 Môi trường____________________________________________________________ 24
6.2 Giới và các vấn đề xã hội _______________________________________________ 24
7. Các vấn đề thực hiện và tính ổn định ____________________________________ 23
7.1 Các khó khăn, tồn tại __________________________________________________ 23
7.2 Lựa chọn giải pháp ____________________________________________________ 23
7.3 Tính ổn định __________________________________________________________ 25
8. Các bước thực hiện tiếp theo____________________________________________ 25
9. Kết luận ____________________________________________________________ 25
10. Công bố _____________________________________Error! Bookmark not defined.


1


1. Thông tin các cơ quan tham gia dự án
Tên dự án:
Thay thế phân bón N hóa học bằng chế phẩm vi
sinh cố định đạm cho cây họ đậu tại Việt nam để

tăng thu nhập cho nông dân và cải thiện môi
trường

Cơ quan Việt nam chủ trì dự án
Viện Nghiên cứu Dầu và Cây có dầu (OPI)
Chủ nhiệm dự án Việt nam
Ths. Trần Yên Thảo
Cơ quan Úc
NSW Department of Primary Industries
Đại học Sydney
Nhân sự phía Úc
Dr David Herridge
Dr Roz Deaker
Bà Elizabeth Hartley
Ông Greg Gemell
Thời gian bắt đầu
Tháng 3/2007
Thời gian hòan tất (đầu tiên)
Tháng 3/2009
Thời gian hòan tất (sửa đổi)
Như trên
Giai đoạn
9/2007 – 3/2008

Cán bộ liên lạc
Tại Úc: trưởng nhóm
Tên:
Dr David Herridge
Telephone:
02 67631143

Chức vụ:
Nhà Khoa học cao cấp
Fax:
02 67631222
Organisation
Sở các nghành Công nghiệp
cơ bản NSW
Email:


Tại Úc: cán bộ quản lý
Tên:
Mr Graham Denney
Telephone:
02 63913219
Chức vụ: Quản lý Tài chính Fax: 02 63913327
Organisation
Sở các nghành Công
nghiệp cơ bản NSW
Email:


Tại Việt nam
Tên:
Ths. Trần Yên Thảo
Telephone:
08 9143024 –
8297336
Chúc vụ:
Cán bộ nghiên cứu

Fax:
08 8243528
Cơ quan
Viện Nghiên cứu Dầu và Cây có
dầu (OPI)
Email:








2


2. Tóm tắt dự án























3. Tóm tắt thực hiện dự án
Nâng cao sản xuất chế phẩm vi sinh cố định đạm chất lượng cao và quản lý
chất lượng sản phẩm
Trong suốt giai đoạn thực hiện dự án, nhiều nghiên cứu R&D tập trung vào việc đánh giá các
chủng rhizobium cho đậu tương và lạc cả trong phòng tăng trưởng của cây và ngoài đồng
ruộng. Hai chủng sản xuất thương mại của Úc là chủng CB1809 (đậu tương) và NC92 (lạc)
đã bộc lộ có hi
ệu quả cố định đạm cao hơn các chủng địap phương Việt nam ở hầu như tất cả
20 điểm thí nghiệm đã phân tích số liệu. Do đó, khi cây nhiễm với CB1809 hoặc NC92, trọng
lượng nốt sần, năng suất sinh khối và năng suất hạt đều tăng so với các chủng địa phương của
Việt nam ở 80%, 85% và 90% điểm thí nghiệm theo thứ tự. Tuy nhiên m
ức độ của sự tăng
này thì khác nhau và phụ thuộc vào điểm thí nghiệm và các chủng địa phương Việt nam khác
nhau. Hai chủng của Úc tăng nốt sần, sinh khối và năng suất hạt đậu tương và lạc trung bình
là 62%, 34% và 27%, so với lô không nhiễm và 26%, 11% và 10% so với các chủng địa
phương Việt nam.

R&D về công nghệ sản xuất chế phẩm thì tập trung vào các chất thêm vào cả trong dịch sinh
khối và trong than bùn, nghiên cứu khả năng t
ồn tại của rhizobium trên nền chất mang than

bùn, nhiệt độ và ảnh hưởng của pH đối với sinh trưởng và tồn tại của rhizobium. Khảo sát
ảnh hưởng của dịch sinh khối pha loãng trước khi nhiễm vào than bùn như là một phương
pháp để tăng dịch sinh khối.

Vấn đề thuần chủng của giống sản xuất và bảo quản các chủng đã được thảo luận tại Hội
thả
o Giai đoạn của Dự án vào tháng hai năm 2008, đưa ra gợi ý cần thực hiện cho việc duy
Nông dân Việt nam hiện nay bón phân đạm cho cây họ đậu như đậu tương và lạc mà
không nhiễm chế phẩm vi sinh cố định đạm rhizobia. Thay thế phân đạm hoá học bằng
chế phẩm vi sinh sẽ tiết kiệm cho nông dân Việt nam khoảng 50-60 triệu đô la Úc/năm
dùng vào đầu tư phân N hoá học, và cùng lúc, thúc đẩy mở rộng diện tích sản xuất cây
họ đậu. Cũng có các lợi ích về môi trường khi sử dụng chế phẩm này. D
ự án này có mục
tiêu là tăng sản xuất chế phẩm vi sinh cố định đạm rhizobium thông qua tăng cường năng
lực sản xuất, thực hiện chương trình bảo đảm chất lượng sản phẩm ở mức độ quốc gia
(QA) và tăng cường nghiên cứu và phát triển R&D. Tham gia trong dự án này là Viện
Nghiên cứu Dầu và Cây có dầu (OPI), Viện Khoa học Nông nghiệp Miền nam (IAS) và
Viện Quốc gia Nông hoá Thổ nhưỡng (NISF; hiện nay đổi tên là Vi
ện Nông hoá Thổ
nhưỡng (SFI)). Cơ quan Úc tham gia trong dự án là Sở Các nghành Công nghiệp cơ bản
NSW và Trường Đại học Sydney. Sử dụng chế phẩm vi sinh cố định đạm bởi nông dân
sẽ tăng lên thông qua sự phát triển và thực hiện một chương trình khuyến nông hiệu quả
và chương trình đào tạo ho cán bộ nghiên cứu, cán bộ khuyến nông của MARD và nông
dân. Lợi ích của chế phẩm và cố định đạm sinh học sẽ
được trình diễn trên đồng ruộng
và thảo luận trong các hội thảo, hội nghị đầu bờ và các ấn bản khuyến nông. Để chắc
chắn tính ổn định của sản xuất và sử dụng, dự án này có sự tham gia của các công ty tư
nhân trong việc marketing và “sản xuất thử” với mục đích là các công ty này sẽ mở rộng
sản xuất và việc cung cấp chế phẩm sẽ tăng dần lên cùng lúc khi công nghệ
và thị trường

phát triển.

3


trì các chủng giống sản xuất. Các vấn đề khác đã được đặt ra và thảo luận là các thực hiện để
mà hoàn thiện chất mang thông qua việc chỉnh pH, độ ẩm và khử trùng than bùn. Dự án chưa
thực hiện đào tạo trong thời gian này nhưng chương trình đào tạo vào thời gian tháng 8-
tháng 9 năm 2008 và muộn hơn tại Úc đã được thảo luận tại Hội thảo Giai đoạn củ
a dự án
tháng 2/2008.
Khuyến nông và đào tạo nông dân và cán bộ khuyến nông
Công tác khuyến nông và đào tạo nông dân và cán bộ khuyến nông là một trọng tâm của dự
án và là phương cách để đạt dược sự chấp nhận áp dụng chế phẩm tại Việt nam. Chương
trình khuyến nông-đào tạo đã được xây dựng trên nền tảng các thí nghiệm có thiết kế đơn
giản, thực hiện tại nhiều điểm t
ại rộng khắp các vùng sản xuất cây họ đậu tại Việt nam. Nông
dân và các cán bộ khuyến nông tham gia vào thí nghiệm ở tất cả các giai đoạn, từ thiết kế thí
nghiệm cho đến gieo trồng, lấy mẫu, thu hoạch và xử lý kết quả. Các Trung tâm Khuyến
nông của MARD đã có vai trò lớn trong các hoạt động khuyến nông của dự án. Các dữ liệu
của các điểm thí nghiệm trình diễn sẽ được sử dụ
ng cho việc đưa ra mô hình kinh tế cho sản
xuất và sử dụng chế phẩm vi sinh cố định đạm tại Việt nam. Thêm vào đó, các khóa học sẽ
được tổ chức cho nông dân, cán bộ khuyến nông và các cán bộ nghiên cứu về phương pháp
sử dụng chế phẩm, hiệu quả kinh tế cũng như lợi ích về môi trường của việc sử dụng chế
phẩm.

Có 28 điểm trình diễn đ
ã được thực hiện tại 9 tỉnh. Ở thời điểm này đã có số liệu của 15
điểm. Các điểm trình diễn thường có 2 nghiệm thức: nhiễm và không nhiễm. Trung bình

nhiễm chế phẩm cho cây đậu tương và lạc đã tăng thu nhập cho nông dân trung bình là
3.5000.000VNĐ/ha. Lợi ích kinh tế thì thay đổi tùy theo các điểm khác nhau.

Nông dân đã được mời đến các điểm trình diễn ít nhất là một lần.
Ở nhiều diểm ví dụ như ở
DakNong và DakLak nông dân đã đến các điểm trình diển từ 2 đến 3 lần tại lúc lấy mẫu nốt
sần, thu hoạch sinh khối và thu hoạch hạt. Tại mỗi điểm trình diễn, ít nhất có 20 nông dân và
cán bộ khuyến nông đến dự hội thảo đầu bờ đánh giá thí nghiệm (600 – 800 người đến điểm
trình diễn). Họ quan sát sự phát triển của đậ
u tương và lạc, so sánh sức khỏe và sự tăng
trưởng của cây ở hai nghiệm thức. Họ nhổ cây, quan sát nốt sần và học cách làm sao để nhận
diện các nốt sần hiệu quả với màu hồng đỏ phía trong và các nốt sần trắng không có hiệu quả
cố định đạm. Họ đánh giá hiệu quả của việc áp dụng chế phẩm bằng cách lấy mẫu cây đậu
tương và l
ạc, cân sinh khối và hạt. Họ cũng được cung cấp tài liệu khuyến nông. Cán bộ
nghiên cứu và cán bộ khuyến nông cũng giải thích sự hoạt động của rhizobium và các điều
kiện để sự áp dụng thành công. Nông dân rất thích thú tìm hiểu về cố định đạm sinh học.

Các câu hỏi thường được đặt ra bởi nông dân là:
- Giá của chế phẩm là bao nhiêu?
- Sử dụng bao nhiêu cho 1000m
2
hay cho 1ha?
- Nơi nào có thể mua được chế phẩm?
- Chế phẩm có lợi ích nào khác hơn việc thay thế phân urea (N)?
- Có thể dùng chung chế phẩm với các chất bảo vệ thực vật?
- Có thể dùng chế phẩm cho các cây khác không?
- Có phải chế phẩm sẽ bị ảnh hưởng xấu bởi các điều kiện thời tiết khắc nghiệt như là mưa
lớn, nóng trong lúc nhi
ễm vào hạt và trong quá trình cây tăng trưởng?

- Có thể dùng chế phẩm chung với urea (phân bón N)?



4


Và các đòi hỏi chính:
- Cung cấp chế phẩnm cho nông dân để họ tự thử nghiệm trên đồng ruộng của họ.
- Trợ giúp về kỹ thuật sử dụng cho nông dân
Tham gia của công ty tư nhân vào sản xuất, phân phối và marketing chế
phẩm
Sự lựa chọn cẩn thận các đối tác tư nhân cho sản xuất thương mại chế phẩm vi sinh cho cây
họ đậu thì rất quan tr
ọng để chắc chắn về sự cung cấp ổn định chế phẩm chất lượng cao tại
Việt nam. Sau khi thăm quan các công ty tư nhân vào tháng 2/2008 và sự rút lui của
Fitohoocmon khỏi dự án, chúng tôi có kết luận ban đầu là triển vọng sản xuất chế phẩm với
chất lượng cao bởi các công ty tư nhân tại Việt nam trong tương lai gần là thấp và sản xuất
với số lương lớn cần được thự
c hiện bởi các viện nghiên cứu. Tuy nhiên sau khi liên lạc với
công ty Thiên Sinh (Komix) mà công ty này được trang bị tốt hơn để sản xuất chế phẩm và
một kế hoạch đã được phát triển cho chuyển giao công nghệ từ các viện nghiên cứu đến công
ty này. Sự tham quan vào tháng 2/2008 này đã hé mở một khả năng tốt để sản xuất chế phẩm.
Công ty này có điều kiện thuận lợi cho các áp dụng công nghiệp vi sinh. Chuyển giao công
nghệ
từ các viện nghiên cứu đến công ty này đã được thảo luận và một kế hoạch đã được xác
định. Công ty này cũng đã đồng ý thực hiện công tác khuyến nông thông qua hệ thống rộng
khắp của họ.
4. Giới thiệu và nền tảng dự án
Mục tiêu dự án và các kết quả dự kiến

Nhà nước Việt nam (Bộ Công nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn) đã có kế
hoạch thực hiện tăng diện tích trồng các cây họ đậu từ diện tích hiện tại là 780.000 ha lên đến
hơn 1.000.000 ha vào năm 2010, đặc biệt đối với cây đậu tương và cây lạc tại vùng Đồng
bằng sông Cửu long, Duyên hải miền Trung và các vùng đất cao Bắc, Trung và Nam. Cây họ
đậu sử d
ụng làm thực phẩm, dầu ăn và bánh dầu cho gia súc, và trồng luân canh với lúa (ở
Đồng bằng sông Cửu long), xen canh với sắn, mía, cao su, cây ăn quả và bắp trên các vùng
đất cao, trồng như cây phủ đất trên đất cát ven biển. Dự án nhỏ ACIAR LWR2/98/27 (Tăng
năng suất và cố định đạm của đậu tương, lạc và đậu xanh thông qua sử dụng chế phẩm vi
sinh Rhizobium) đã chỉ ra rằng sản xuất cây họ đậu tạ
i Việt nam hiện tại phụ thuộc vào phân
N hóa học đắt tiền mà không áp dụng chế phẩm vi sinh rẻ tiền. Thay thế phân N hóa học
bằng chế phẩm vi sinh cố định đạm, nông dân Việt nam sẽ tiết kiệm được khoảng 50-60 triêu
đô la Úc hàng năm, và cùng lúc sẽ thúc đẩy mở rộng sản xuất cây họ đậu. Hơn nữa, còn có
lợi cho môi trường khi thay thế phân đạm khoáng bằng N được tạo ra bởi chính cây họ đậ
u.
Hiệu quả kinh tế đã được tổng kết chi tiết trong báo cáo kết thúc dự án LWR2/98/27. Trong
23 thí nghiệm ở Miền nam, lợi ích kinh tế mang lại là tăng lợi nhuận lên đến 760 đô la Úc/ha
(trung bình tăng hơn 100 đô la Úc/ha) do tăng năng suất và giảm sử dụng phân bón N hóa
học. Chế phẩm vi sinh này đã tăng năng suất hạt lạc trồng trên đất acid Đồng bằng sông Cửu
long trung bình là 42% so với không bón phân N và 28% so với bón phân N. Đối vớ
i 13 thí
nghiệm của đậu tương năng suất tăng trung bình là 19% so với không bón phân, và năng suất
tăng 40-50% trong một số thí nghiệm. Năng suất của các lô thí nghiệm sử dụng chế phẩm vi
sinh và bón phân N hầu như không khác biệt. Mức độ lợi ích kinh tế thì thay đổi phụ thuộc
vào loại cây, vùng đất và lịch sử trồng. Không có trường hợp nào giảm năng suất khi thay
phân đạm khoáng N bằng chế phẩm vi sinh cố đị
nh đạm.
Các nhà khoa học và quản lý đã kết luận trong hội nghị tổng kết dự án LWR2/98/27 rằng
nông dân Việt nam nên thay thế phân đạm khoáng bằng chế phẩm vi sinh cố định đạm. Tuy


5


nhiên, để điều này trở thành hiện thực thì sản phẩm vi sinh này cần phải có sẵn trên thị
trường. Năng lực sản xuất hiện tại chỉ nhỏ hơn 5000 túi/năm, và cần phải tăng lên khoảng
500.000 túi/năm để đáp ứng nhu cầu. Hơn nữa chế phẩm hiện tại có chất lượng kém (dự án
LWR2/98/27) và cần thiết phải cải thiện. Thờ
i gian bảo quản, phân phối và marketing là các
vấn đề cũng cần quan tâm. Ngoài ra, sự hiểu biết của nông dân và ngay cả cán bộ khuyến
nông về lợi ích của chế phẩm cũng như cách sử dụng rất giới hạn.
Giới hạn về năng lực thì thấy rất rõ ở cả mức độ quốc gia và cơ quan nghiên cứu. Thiếu hụt
chính ở cấp độ quốc gia là thiếu một ch
ương trình hợp tác, tập trung. Ở mức độ cơ quan thì
không đủ năng lực để sản xuất chế phẩm này ở qui mô trung bình, bảo đảm chất lượng (QA)
kém cũng như cần tăng cường năng lực R&D và đào tạo. Dự án này mong muốn được chú
trọng vào các vấn đề sản xuất, chất lượng, phân phối, marketing và đào tạo nông dân. Sự
tham gia phối hợp của công ty tư nhân trong dự án về
cả sản xuất và marketing sẽ bảo đảm
sự áp dụng công nghệ sản xuất vào thực tế. Mục tiêu của dự án là để:
1. Tăng cường sản xuất chế phẩm vi sinh cố định đạm chất lượng cao cho đậu tương, lạc và
các cây họ đậu khác tại Việt nam thông qua tăng cường năng lực sản xuất (con người và
trang thiết bị) ở các viện nghiên cứu tham gia dự án, th
ực hiện bảo đảm chất lượng sản phẩm
(QA), và tăng cường R&D.
2. Tăng sự quan tâm và sử dụng chế phẩm vi sinh cố định đạm của nông dân thông qua việc
phát triển và thực hiện một chương trình khuyến nông và đào tạo hiệu quả về chế phẩm cho
cán bộ nghiên cứu, cán bộ khuyến nông của MARD và nông dân bằng việc thực hiện thí
nghiệm trình diễn đồng ruộng, tập hu
ấn, hội nghị đầu bờ và xuất bản, phân phối tài liệu

khuyến nông.
3. Bảo đảm tính ứng dụng thực tế của dự án bằng sự phối hợp tham gia vào hoạt động dự án
của các doanh nghiệp tư nhân trong ‘sản xuất pilot” các chế phẩm vi sinh cố định đạm, với
mục tiêu là các công ty này sẽ mở rộng sản xuất cùng lúc khi công nghệ và thị trường phát
triển.
Dự án này phù hợ
p với Mục tiêu chiến lược 2 “Cải thiện năng suất và kết nối với thị trường
cho vùng nông thôn nghèo ở Đồng bằng sông Cửu long và vùng Duyên hải miền Trung”, phù
hợp với Mục tiêu 2.1 “Tăng năng suất ở nông thôn”, và sử dụng Chiến lược 1 “Tăng năng
suất và cạnh tranh của các hệ thống nông nghiệp”

Cách tiếp cận và phương pháp thực hiện
Chiến lược c
ủa dụ án là để tăng cường sản xuất chế phẩm vi sinh cố định đạm cho cây họ
đậu, quản lý chất lượng, phân phối, tiếp cận thị trường và đào tạo nông dân thông qua họat
động hợp tác của các cơ quan. Nó liên quan đến cả hai, các viện nghiên cứu của nhà nước –
Viện Nghiên cứu Dầu và cây có dầu (OPI), Viện Khoa học Nông nghiệp Miền nam (IAS) và
Viện Nghiên cứu Nông hóa Thổ nhưỡng (ISF) – cũng như các công ty tư
nhân (Công ty Cổ
phần Phân bón Fitohoocmon, Công ty Cổ phần Phân bón Sinh hóa Củ Chi và Công ty Phân
bón Humix). Các công ty tư nhân sẽ bước đầu tham gia trong việc tiếp cận thị trường và phân
phối sản phẩm và được hướng dẫn về kỹ thuật và cho lời khuyên để mà cải thiện và mở rộng
khả năng sản xuất của họ. Dự tính rằng đơn vị tư nhân sẽ đảm nhận việc sản xuất và công
việc QA sẽ
do các cơ quan nhà nước đảm nhận. Sự tham gia của bộ phận tư nhân trong cả
sản xuất và marketing sẽ bảo đảm tính hiện thực của ý tưởng này.
Tăng cường sản xuất chế phẩm vi sinh cố định đạm có chất lượng cao và QA
Các chủng giống cho sản xuất tại Việt nam
: chọn lựa từ bộ giống hiện tại của Việt nam
và/hoặc từ bộ giống của ALIRU (Úc), Niftal (Đại học Hawai), Đại học Suranaree (Thái lan).


6


Sẽ thảo luận để lựa chọn các giống pjù hợp nhất cho sản xuất chế phẩm thông qua một
chương trình nghiên cứu và phát triển.
Bảo quản giống cho sản xuất
: phát triển và thực hiện phương pháp duy trì hoạt tính lâu dài
và nhận diện các chủng sản xuất để bảo đảm tính ổn định chất lượng của chế phẩm. Trong
quá trình thực hiện dự án sẽ quyết định cơ quan/các cơ quan sẽ chịu trách nhiệm duy trì và
bảo đảm hoạt tính của bộ giống phục vụ cho sản xuất chế phẩm. Cơ quan này sẽ được trang
bị thêm các vậ
t liệu, hóa chất cần thiết để tiếp tục cung cấp giống gốc cho sản xuất sau này.

Công nghệ sản xuất: phát triển công nghệ sản xuất ở qui mô trung bình tại Việt nam dựa
trên kinh nghiệm sản xuất tại Thái Lan và Úc, về:
• Cải tiến công thức môi trường lên men, thực hiện các thí nghiệm để duy trì tính vô
trùng và kỹ thuật chiết dịch nuôi cấy vào chất mang.
• Thử nghiệm các dạng ch
ế phẩm thích hợp (than bùn, hạt, dịch thể) để đáp ứng tiêu
chuẩn chất lượng, dễ dàng sử dụng, thuận lợi cho cung cấp và vận chuyển. Hiệu quả
kinh tế sẽ được xác định bằng cách xác định hiệu quả của chúng trong phòng thí
nghiệm và đồng ruộng.
• Lựa chọn các chủng cho sản xuất: các chủng rhizobia khác nhau sẽ được thử nghiệm
về khả năng t
ồn tại của các chủng trong chế phẩm và trong suốt quá trình bảo quản,
vận chuyển cho tới khi ứng dụng nhiễm vào cây.
Bảo đảm chất lượng sản phẩm (QA
): Phương pháp bảo đảm chất lượng sản phẩm của Úc
sẽ được áp dụng trong thời gian ban đầu như một mô hình. Trên cơ sở này, các bước tiến

hành QA, đào tạo và soạn tài liệu phù hơp với điều kiện sản xuất tại Việt nam sẽ được tiến
hành bởi các nhà khoa học Úc và Việt nam tham gia trong dự án. Một cơ quan tham gia dự
án được trang bị sẽ chịu trách nhiệm thự
c hiện tiếp tục việc đảm bảo chất lượng các chế
phâm sản xuất tại Việt nam sau khi dự án kết thúc.
Đào tạo về sản xuất và bảo đảm chất lượng sản phẩm:
Các cán bộ nghiên cứu của Việt
nam sẽ được đào tạo tại Việt nam bởi các chuyên gia Úc và được đào tạo tại trường Đại học
Công nghệ Suranaree (Thái lan) về sản xuất, QA và cách quản lý cũng như R&D về
Rhizobium.

Khuyến nông và đào tạo nông dân và cán bộ khuyến nông
Chương trình khuyến nông và đào tạo cho nông dân và cán bộ khuyến nông sẽ được thực
hiện trên cơ sở các thí nghiệm đồng ruộng đơn gi
ản (về các nghiệm thức thí nghiệm), trên
các vùng sản xuất khác nhau (Đồng bằng sông Cửu long, Duyên hải miền trung, các vùng đất
cao Bắc bộ, Trung bộ và Đông Nam bộ). Nông dân sẽ tham gia ở mọi góc độ, từ lựa chọn
nghiệm thức thí nghiệm đến gieo trồng, lấy mầu, thu hoạch và đọc kết quả. Hy vọng rằng
Trung tâm Khuyên nông Quốc gia sẽ đóng góp vai trò lớn trong các hoạt động khuyến nông
của dự án này. Trung tâm và OPI đang th
ảo luận để tiến tới một thoả thuận hợp tác. Các số
liệu thu được từ các thí nghiệm trình diễn đồng ruộng sẽ dùng để xây dựng một mô hình kinh
tế về sản xuất và sử dụng chế phẩm vi sinh cố định đạm cho cây họ đậu tại Việt nam. Bên
cạnh đó, các tập huấn sẽ được tổ chức cho nông dân, cán bộ khuyến nông và cán bộ nghiên
cứu về
phương pháp sử dụng, hiệu quả kinh tế và hiệu quả đối với môi trường của việc sử
dụng chế phẩm. Chương trình khuyến nông – đào tạo này sẽ được thực hiện bởi các cán bộ
Việt nam trong sự kết hợp với đối tác phía Úc. Các chuyên gia Úc sẽ trợ giúp để tập hợp,
chọn lọc, soạn thảo các tài liệu khuyến nông và chuyển giao cho Việt nam.


7



Sự tham gia của đơn vị tư nhân vào sản xuất, phân phối và tiếp cận thị trường
Hai (có thể là 3) công ty Việt nam chuyên sản xuất và kinh doanh phân bón sẽ tham gia trong
dự án, đó là Công ty Cổ phần Phân bón Fitohoocmon và Công ty Cổ phần Phân bón Củ Chi
(và Humix). Chúng tôi dự đoán rằng thị trường chế phẩm sẽ lớn dần lên trong suốt quá trình
thực hiện dự án so với khởi điểm thấp hiện nay. Doanh nghiệp tư
nhân sẽ từng bước tham gia
sản xuất cùng lúc khi công nghệ phát triển và thị trường mở rộng. Các công ty này sẽ tham
gia marketing và phân phối sản phẩm. Đào tạo cũng sẽ mở ra cho các cán bộ của công ty. Dự
án thông qua ISF sẽ trợ giúp kỹ thuật trực tiếp cho Fitohoocmon để giải quyết các khó khăn
về kỹ thuật, tăng năng lực sản xuất cũng như cải thiện chất lượng sản ph
ẩm.
5. Tiến độ thực hiện
5.1 Các hoạt động mấu chốt
5.1.1 Tăng sản xuất chế phẩm vi sinh cố định đạm chất lượng cao và QA
Nội dung trọng tâm là chọn lọc các chủng rhizobium, duy trì hoạt tính của chúng, công nghệ
sản xuất chế phẩm (công nghệ lên men), QA của quá trình sản xuất và sản phẩm, đào tạo
công nghệ sản xuất và QA.
5.1.1.1 Các chủng rhizobium
Hiệu quả của các chủng địa phương Việt nam cho đậu tương và l
ạc đã được so sánh với các
chủng thương mại của Úc là CB1809 (đậu tương) và NC92 (lạc). Thí nghiệm trong chậu đã
cho thấy hạt đậu tương nhiễm với chủng CB1809 khi phát triển trong môi trường cát vô trùng
đã cho nhiều nốt sần hơn so sánh với 3 chủng địa phương (bảng 1). Khả năng của các chủng
khác nhau sinh trưởng trên điều kiện lên men khác nhau cũng đã được thử nghiệm tại IFS
(xem phần 5.1.1.3).


Bảng 1: Sự hình thành nốt sần của CB1809 và của các chủng địa phương trên đậu tương

Số nốt sần/cây
Số thứ
tự
Chủng
Tổng số
nốt sần
Trên rễ chính Trên rễ phụ
1 Đối chứng không nhiễm 0 0 0
2 CB1809 50 25 25
3 Chủng địa phương SL1 32 13 19
4 Chủng địa phương SL2 39 13 26
5 Chủng địa phương SL3 32 11 22
Thí nghiệm đồng ruộng cũng đã được thực hiện trong năm 2007-08 để đánh giá hiệu quả của
các chủng và ảnh hưởng của sự nhiễm chế phẩm đến nốt sần, sinh khối và năng suất hạt. Có
tất cả 29 thí nghiệm đã được tiến hành trong 10 tỉnh thành; 23 thí nghiệm đã thu hoạch; 6 thí
nghiệm sẽ thu hoạch trong tháng 7/2008 (2 ở Bình Thuận, 1 ở Trà Vinh và 3 ở Sơn La). Tại
m
ỗi điểm thí nghiệm, có ít nhất 3 chủng rhizobium được đánh giá (CB1809 hoặc NC9 và 2
chủng địa phương) cho cây đậu tương và lạc. Các nghiệm thức thí nghiệm là đối chứng
không nhiễm và không bón phân đạm, nghiệm thức đối chứng không nhiễm và bón phân
đạm, nghiệm thức nhiễm với CB1809 hoặc NC92 và các nghiệm thức với các chủng

8


rhizobium địa phương. Tóm tắt các thí nghiệm đồng ruộng trong thời gian 2007–08 và ảnh
hưởng của nhiễm của CB1809 hoặc NC92 đến nốt sần, sinh khối và năng suất hạt được chỉ ra
trong phụ lục 1. Hiệu quả thấp của sự nhiễm được xác định là tăng so với đối chứng nhỏ hơn

20%, từ 20% đến 40% là hiệu quả trung bình và lớn hơn 40% là hiệu quả cao.
Đồ
thị 1,2 và 3 tóm tắt hiệu quả nhiễm với chủng CB1809 (đậu tương) hoặc NC92 (lạc) về
nốt sần, sinh khối và năng suất hạt, theo thứ tự. Hiệu quả phân bố từ thấp tới cao tuỳ thuộc
vào vùng thí nghiệm.


Đồ thị 1. Hiệu quả nhiễm rhizobium
- nốt sần
-50
0
50
100
150
200
0 5 10 15 20
Điểm thí nghiệm
%Hiệu quả


Hiệu quả của nhiễm chế phẩm về nốt sần cao ở 70% số điểm thí nghiệm (đồ thị 1). Ở các
điểm này nốt sần tăng 43–166%. Nốt sần tăng trung bình ở một điểm (34%) và nốt sần tăng
thấp ở 25% số điểm thí nghiệm với trung bình tăng 10%. Nốt sần tăng trung bình khi sử
dụng các chủng có hiệu quả cao c
ủa Úc là 62%.


Đồ thị 2. Hiệu quả nhiễm rhizobium
- Sinh khối
0

10
20
30
40
50
60
70
0 5 10 15 20 25
Điểm thí nghiệm
% Hiệu quả


Đối với sinh khối, có sự tăng cao sinh khối do nhiễm (44-60%) tại 50% số điểm thí nghiệm,
tăng trung bình (22-37%) tại 30% điểm thí nghiệm và tăng ít (5-19%) tại 20% điểm thí
nghiệm (đồ thị 2). Tăng năng suất do sử dụng chế phẩm thì thấp hơn so với tăng sinh khối và
nốt sần. (đồ thị 3). Năng suất tăng cao (40-68%) ở 20 điểm thí nghiệm. Hiệu qu
ả nhiễm trung
bình về năng suất (20-37%) ở 55% điểm thí nghiệm và hiệu quả nhiễm thấp (4-19%) ở 25%

9


điểm thí nghiệm. Khi sử dụng các chủng của Úc năng suất sinh khối và năng suất hạt tăng
trung bình là 34% và 27% theo thứ tự.

Đồ thị 3. Hiệu quả nhiễm Rhizobium
- Năng suất hạt
0
10
20

30
40
50
60
70
80
0 5 10 15 20
Điểm thí nghiệm
% Hiệu quả


Có sự khác biệt lớn về sự hình thành nốt sần, năng suất sinh khối và năng suất hạt ở các
chủng rhizobium khác nhau. Các chủng sản xuất thương mại của Úc CB1809 (đậu tương) và
NC92 (lạc) có hiệu quả cố định đạm cao hơn các chủng địa phương Việt nam ở hầu hết tất cả
các điểm thí nghiệm (Phụ lục 2). Phân tích số liệu cho thấy khi cây đượ
c nhiễm với CB1809
hoặc NC92, trọng lượng nốt sần, sinh khối và năng suất hạt tăng tương đối so với các chủng
địa phương ở 85%, 85% và 90% các điểm thí nghiệm theo thứ tự. Tuy nhiên mức độ tăng thì
phụ thuộc vào các điểm và các chủng khác nhau. Đồ thị 4, 5 và 6 cho thấy sự tăng về nốt sần,
sinh khối và năng suất của đậu tương và lạc khi nhiễm vớ
i CB1809 và NC92 so sánh với các
chủng địa phương.

Đồ thị 4. Sự tăng của nốt sần khi nhiễm
CB1809 và NC92 so với chủng địa phương
0
10
20
30
40

50
60
70
80
0 5 10 15 20
Điểm thí nghiệm
% tăng
Local strain1
Local strain 2


Hai chủng của Úc, CB1809 và NC92, tăng nốt sần của đậu tương và lạc trung bình 26%, so
với các chủng địa phương Việt nam (Đồ thị 4). Năng suất sinh khối tăng trung bình 11% (Đồ
thị 5) và năng suất hạt tăng trung bình 10% (Đồ thị 6) so với các chủng địa phương

Đối với mỗi chỉ tiêu có sự thay đổi lớn phụ thuộc vào điểm thí nghiệm. Đối với nốt sần, m
ức
độ là 0-70%, đối với năng suất sinh khối là 0-30% và đối với năng suất hạt là 0-32%.



10



Đồ thị 5. Sự tăng của sinh khối khi nhiễm
Cb1809 và NC92 so với các chủng địa phương
0
5
10

15
20
25
30
35
0 5 10 15 20
Điểm thí nghiệm
% tăng
Local strain1
Local strain2



Đồ thị 6. Sự tăng năng suất khi nhiễm
CB1809 và NC92 so với các chủng địa phương
0
5
10
15
20
25
30
35
0 5 10 15 20
Điểm thí nghiệm
% tăng
Local strain1
Local strain2

5.1.1.2 Duy trì hoạt tính Rhizobium

Cần thiết phải chắc chắn rằng các chủng dùng trong sản xuất cần phải được duy trì về tính
đúng về chủng loại, không bị tạp nhiễm và có hoạt tính cố định đạm sinh học.

Tổng kết về QA của các chủng sản xuất ở mỗi viện (OPI, IAS, SFI) trong suốt chuyến thăm
làm việc tại Việt nam vào tháng 2 năm 2008, cho thấy rằng cần phải
đào tạo hơn nữa về nhân
diện và duy trì các chủng thuần chủng dùng cho sản xuất. Sự thiếu hụt hiểu biết sâu về nhận
diện hình thái của các chủng rhizobium có thể đã là kết quả trong việc sản xuất chế phẩm ở
một số mẻ có chất lượng chưa cao.

Do đó đã có gợi ý cần thực hiện cho nghiên cứu trong tương lai (phòng thí nghiệm, phòng
sinh trưởng cây và ngoài đồ
ng ruộng). Chỉ sử dụng các chủng thương mại của Úc trong các
thí nghiệm. Đây là các chủng mà đã cho hiệu quả cao trong hầu hết các thí nghiệm đồng
ruộng thực hiện trong 2007/2008.

Bởi vì nghi ngờ tính thuần chủng của các mẫu giống NC92 và CB1809 được dùng trước kia
cho nghiên cứu, quyết định rằng tất cả các mẫu giống đang có của các chủng này phải bị loại
bỏ. OPI đã được ch
ọn như là nơi quản lý chủng giống sản xuất chế phẩm vi sinh cố định đạm

11


tại Việt nam. ALIRU sẽ cung cấp lại cho OPI các giống trong ống nghiệm và trong ống đông
khô của 2 chủng CB1809 và NC92.

Chúng tôi đã quyết định:
• Khi nhận được các giống từ ALIRU, cán bộ nghiên cứu của OPI sẽ kiểm tra tính
thuần chủng của các chủng bằng cách cấy ria trên mội trường YMA và CRYMA.

Một khi sự thuần chủng của các chủng đã được xác nhận, các chủng sẽ được cấy
chuyền và các phiên bản sẽ được gởi đến các viện khác.
• Khi OPI chuyển giống đến các viện khác, chúng phải được đi kèm với hình ảnh của
giống chỉ ra hình ảnh khuẩn lạc trên đĩa petri.
Kết hợp với sự nhận diện các chủng, mỗi viện sẽ cấy ria các chủng mà họ dùng cho lên men
sinh khối starter, chụp ảnh hình thái khuẩn lạc và gởi chúng đến các viện khác bao gồm cả
ALIRU. Kiểm tra chéo giữa các viện nghiên cứu như vậy sẽ chắc chắn r
ằng chủng giống
dùng trong sản xuất chế phẩm là đúng.
5.1.1.3 Công nghệ sản xuất chế phẩm và thí nghiệm
Các thí nghiệm về sản xuất chế phẩm đã được thực hiện tại SFI, IAS và OPI. Ở mỗi viện sản
xuất chế phẩm dựa trên các nguồn than bùn khác nhau và xác định khả năng tồn tại theo thời
gian. Tại IAS xác định khả năng tồn tại của rhizobia trên chấ
t mang than bùn bổ sung phân
trùn và bụi xơ dừa do đó đã thay đổi khả năng giữ nước của than bùn. Cả OPI và IAS đều
khảo sát ảnh hưởng của các chất thêm vào khác nhau trong công thức dịch thể, một công
nghệ mà có thể giảm giá thành sản phẩm do tiêu tốn cho khử trùng chất mang than bùn, trong
khi đó khảo sát khả năng sử dụng các thành phần môi trường rẻ hơn thực hiện tại SFI.

SFI sản xuất chế
phẩm sử dụng than bùn khử trùng sử dụng 3 chủng rhizobium địa phương
cho đậu tương và 2 chủng cho lạc. Chủng CB1809 (cho đậu tương) và NC92 (cho lạc) cũng
được khảo sát như là các đối chứng.

Giống được nhân trong môi trường lỏng trong các bình erlen sau đó chuyển qua các bình lên
men. Dịch sinh khối lỏng được kiểm tra sau khi sinh trưởng trong erlen và bình lên men.
Than bùn được thu thập, xay, trộn với vôi và khử trùng bằng autoclave trong các túi. Than
bùn ban đầu có pH khoảng 3-4 sau đó tăng lên 6.8 đến 7.0 sau khi bổ sung vôi. Sau khi kh

trùng than bùn được được pha loãng trong nước vô trùng đến 10

-6
và cấy trên môi trường
glucose-peptone để kiểm tra tạp nhiễm. Các túi sau đó được dán lại và tiêm vào đó dịch sinh
khối theo tỷ lệ là 1 dịch và 4 than bùn. Ẩm độ ban đầu của than bùn nhỏ hơn 10% và tăng lên
đến 40% sau khi tiêm nhiễm. Chế phẩm được ủ trong 1 tuần sau đó bảo quản ở nhiệt độ
phòng.

Số lượng rhizobia được xác định tại các thời điểm cho tới 6 tháng, ngay sau khi sản xuất, sau
2 tuần, 1, 2, 3, và sau 6 tháng (b
ảng 2). Số lượng tế bào ban đầu cho rhizobium đậu tương,
CB1809, và các chủng địa phương SL1, SL2, SL3 là 5 x 10
9
, 2.3 x 10
9
, 1.8 x 10
9
và 2.1 x 10
9

theo thứ tự và giảm đến 2.7 x 10
8
, 2.5 x 10
8
, 1.2 x 10
8
và 1.3 x 10
8
sau 6 tháng. Tại thời điểm
3 tháng thì số lượng tế bào sống rhizobium vẫn ở mức trên 10
9

và trong khoảng 1.1 đến 2.2 x
10
9
. Tuy nhiên, tất cả số lượng tế bào này được xác định trưc tiếp thông qua xác định khuẩn
lạc phát triển trên môi trường dinh dưỡng CRYMA mà không xác định số lượng rhizobium
thông qua nhiễm chế phẩm vào hạt và xác định gián tiếp qua sự hình thành nốt sần để mà
chắc chắn sự hiện diện của rhizobium. Số lượng rhizobium đếm được trên CRYMA có thể sẽ
vượt hơn số lượng có thực bỏi vì rất khó phân biệt khu
ẩn lạc của rhizobium và khuẩn lạc của
các vi khuẩn tạp nhiễm. Mặc dù sự táp nhiễnm trong than bùn là thấp sau khi khử trùng

12


nhưng các vi sinh vật tạp nhiễm có thể phát triển rất nhanh chóng sau đó phụ thuộc vào ẩm
độ và sự cạnh tranh với rhizobia.

Bảng 2. Số lượng của rhizobia trong than bùn trong suốt quá trình bảo quản

Số lượng của rhizobia (CFU/g) Các chủng rhizobium
Innitial 2 weeks 1 month 2 month 3 month 6 month
CB1809
Chủng địa phương SL1
Chủng địa phương SL2
Chủng địa phương SL3
5.0 x 10
9
2.3 x 10
9


1.8 x 10
9

2.1 x 10
9

6.2 x 10
9
4.8 x 10
9

3.4 x 10
9

3.2 x 10
9
5.6 x 10
9

2.9 x 10
9
2.2 x 10
9

3.0 x 10
9
3.5 x 10
9

3.0 x 10

9

2.0 x 10
9

1.8 x 10
9
2.2 x 10
9

1.3 x 10
9

1.3 x 10
9

1.1 x 10
9
2.7 x 10
8
2.5 x 10
8

1.2 x 10
8

1.3 x 10
8

Thành phần môi trường cho sinh trưởng rhizobium khi sản xuất lớn có thể là đắt tiền. SFI

nghiên cứu sự thay thế yeast extract của phòng thí nghiệm và nước chiết nấm men và nước
chiết đậu tương. Tất cả các chủng rhizobium phát triển số lượng đến 10
9
cfu/ml chỉ ra rằng
môi trường lên men có thể được thay thế bằng cách sử dụng các chất rẻ tiền hơn (bảng 3).

Bảng 3. Số lượng rhizobia sinh trưởng trên các môi trường khác nhau

Môi trường Chủng
YEM Nước chiết đậu tương Nước chiết nấm men
CB1809
SL1
SL2
SL3
6.1 x 10
9

3.1 x 10
9

6.6 x 10
9

3.8 x 10
9
4.2 x 10
9

1.6 x 10
9


2.7 x 10
8

2.6 x 10
8
2.8 x 10
9

3.4 x 10
9

5.6 x 10
9

5.2 x 10
9

So sánh sức chịu đựng với nhiệt độ và pH đã cho thấy ít có sự khác nhau về sinh trưởng của
các chủng rhizobium khác nhau trong môi trường dinh dưỡng ở các nhiệt độ và pH nuôi cấy
khác nhau và sinh trưởng tốt nhất của các chủng là ở nhiệt độ 30
o
C. Số lượng tế bào thấp ở
nhiệt độ 25
o
C và thấp nhất ở 37
o
C. Không có tế bào nào được xác định ở nhiệt độ >45
o
C

(Bảng 4). Sự khác nhau đã được quan sát về tăng trưởng cao hơn 10 lần của các chủng Việt
nam hơn các chủng của Úc trong môi trường acid chỉ ra rằng tính chịu đựng acid có thể là
một thuận lợi trong điều kiện đất chua (Bảng 5).

Bảng 4. Ảnh hưởng của nhiệt độ đến sự phát triển của các chủng

Sự tăng trưởng Nhiệt độ (
0
C)
CB1809 SL1 SL2 SL3
25
30
37
>45
++
+++
++
-
+++
+++
++
-
+
+++
++
-
+
+++
++
-

- không tăng trưởng; + tăng trưởng yếu:10
4
– 10
5
CFU/ml; ++ tăng trưởng trung bình: 10
6
– 10
7
CFU/ml
+++ tăng trưởng tốt 10
8
– 10
9
CFU/ml

Bảng 5. Ảnh hưởng của pH đối với tăng trưởng của rhizobium

Sự tăng trưởng của các chủng pH
CB1809 SL1 SL2 SL3
4.0
4.5
5.0
-
-
-
-
-
-
-
-

-
-
-
-

13


5.5
6.0
6.5
7.0
7.5
8.0
8.5
+
++
+++
+++
++
-
-
++
++
+++
+++
++
-
-
++

++
+++
+++
++
-
-
++
++
+++
+++
++
-
-
- không tăng trưởng; + tăng trưởng yếu:10
4
– 10
5
CFU/ml; ++ tăng trưởng trung bình: 10
6
– 10
7
CFU/ml
+++ tăng trưởng tốt 10
8
– 10
9
CFU/ml

Mục tiêu thí nghiệm tại IAS là đẩ xác định các yếu tố ảnh hưởng đến số lượng sống của các
chủng rhizobium trong chế phẩm. Số lượng tế bào rhizobium trong chế phẩm cao hơn sẽ có

khả năng cạnh tranh tốt hơn với các quần thể rhizobium sống tự do trong đất. Giá thành của
chế phẩm cũng sẽ giảm bởi vì chỉ cần dùng số lượng chế phẩm nhỏ
hơn.

IAS so sánh chế phẩm dùng các chủng của Úc NC92 (lạc) và CB1809 (đậu tương). Các thí
nghiệm thực hiện để xác định ảnh hưởng của pha loãng dịch sinh khối đến số lượng cuối
cùng của của rhizobium trong cơ chất than bùn trộn lẫn với phân trùn và bụi xơ dừa sau khi ủ
(Bảng 6). Sự tăng trưởng trong hỗn hợp của dịch sinh khối pha loãng dùng môi trường lỏng
yeast extract manitol (YMB, cho ra các nồng độ sau cùng là 0.1%, 1%, 10% và 30%) được so
sánh với dịch sinh khối không pha loãng có số tế bào là 10
9
cfu/mL. Hỗn hợp than bùn này
(70 g) được trộn với 38 mL dịch sinh khối. Sau 4 tuần sinh trưởng, kết quả chỉ ra rằng tiêm
lượng dịch không pha loãng thì cần thiết để thu được số lượng tế bào tối đa 6.18 x 10
7
đối
với NC92 và 5.85 x 10
8
đối với CB1809 trong hỗn hợp than bùn. Tỷ lệ tế bào sống của
CB1809 được tiêm nhiễm ở 0.1%, 1 % dịch sinh khối pha loãng với dịch không pha loãng
cho thấy không có sinh trưởng xảy ra trong hỗn hợp than bùn. Điều này có thể là do sự hiện
diện của vi sinh vật tạp nhiễm ( 10
6
/g hỗn hợp than bùn). Tạp nhiễm có thể tăng lên khi pha
loãng với môi trường YMB trước khi tiêm nhiễm vào hỗn hợp than bùn. Tất cả các lần xác
định số lượng rhizobium đều sử dụng môi trường yeast mannitol agar có hoặc không có
Congo red (YMA và CRYMA) và hình thái tế bào của các khuẩn lạc được quan sát sau khi
nhuộm gram dưới kính hiển vi.

Bảng 6. Số lượng tế bào rhizobium ở các nộng độ pha loãng dịch sinh khối khác nhau


Số thứ
tự Chủng rhizobium Dịch sinh khối pha loãng (%)
Số tế bào
(CFU/g)

1 NC 92 0,1 5.23 x 10
5

2 NC 92 1,0 8.78 x 10
5

3 NC 92 10 4.25 x 10
6

4 NC 92 30 6.90 x 10
6

5 NC 92 100 6.30 x 10
7

6 CB 1809 0,1 4.68 x 10
5

7 CB 1809 1,0 9.95 x 10
5

8 CB 1809 10 4.73 x 10
6


9 CB 1809 30 6.18 x 10
7

10 CB 1809 100 5.85 x 10
8


14



Nhiều nhà sản xuất đã pha loãng dịch sinh khối trước khi tiêm dịch vào than bùn như là một
cách để nhân nhiều lên dịch sinh khối và giảm đòi hỏi sử dụng các nồi lên men thể tích lớn.
Số lượng lớn dịch sinh khối dùng trong sản xuất thì mắc tiền hơn và rất dễ bị tạp nhiễm trong
quá trình sản xuất. Do đó, lượng nhỏ sinh khối dùng trong sản xuất thì rất hi
ệu quả đặc biệt
đối với các nước đang phát triển. Ở Thái lan, chế phẩm được sản xuất bằng cách pha loãng
dịch sinh khối đến 1/1000. Gợi ý cần thực hiện cho các thí nghiệm của IAS là cần lập lại thí
nghiệm với lưu ý đặc biệt đến khử trùng than bùn và pha loãng dịch sinh khối trong nước.
Tại SFI than bùn thấp hơn 10% ẩm độ trước khi khử trùng nhưng ở IAS ẩm
độ chỉ đạt 1%
Điều này đã được nhận diện như là một vấn đề tiềm tàng mà nó dẫn đến kến quả khử trùng
cơ chất không hiệu quả. Nên điều chỉnh ẩm độ của than bùn 20% trước khi khử trùng. Tuy
nhiên không phải tất cả than bùn và hỗn hợp than bùn có khả năng giữ 20% ẩm độ do đó cần
thiết lựa chọn than bùn có khả năng giữ n
ước cao hơn và/hoặc sử dụng các chất thêm vào
(như là bụi xơ dừa).

Trong thí nghiệm khác của IAS, sự tồn tại của rhizobium được xác định sau khi tiêm nhiễm
dịch sinh khối vào hỗn hợp của phân trùn và bụi xơ dừa (Bảng 7).Số lượng tế bào sống của

rhizobium trong than bùn, than bùn (70%) trộn với phân trùn (30%), than bùn (40%) trộn với
phân trùn (30%) và bụi xơ dừa (30%) đã được xác định sau 1 tháng phát triển trong chất
mang. Kết quả cho th
ấy là cả phân trùn và bụi xơ dừa đều làm tăng khả năng giữ nước của
than bùn. Chỉ có 15ml dịch sinh khối được thêm vào 70 than bùn trong lúc đó 35 ml được
thêm vào hỗn hợp than bùn, phân trùn và bụi xơ dừa (không đo trực tiếp ẩm độ). Cũng quan
sát thấy rằng bụi xơ dừa hấp thu nước mạnh nhưng cũng mất nước rất dễ dàng. Sự tồn tại của
rhizobium được cả
i thiện khi than bùn được trộn cùng với phân trùn và bụi xơ dừa. Mặc dù
chất mang được tiêm nhiễm với các thể tích dịch sinh khối khác nhau số lượng rhizobium sau
1 tháng không phản ánh tỷ lệ nhiễm ở lúc tiêm nhiễm. Tuy nhiên, số lượng tế bào tạp nhiễm
trong hỗn hợp than bùn thì cao hơn trong than bùn một mình và bởi vì số lượng tế bào được
đếm bởi phương pháp đếm khuẩn lạc nên kết quả không chắc chắn về số
lượng rhizobium
dẫn đến có thể bởi sự nhầm lẫn khi nhân diện khuẩn lạc. Gợi ý cần thực hiện tiếp theo thí
nghiệm về chất mang này là cần điều chỉnh chất mang đến các ẩm độ khác nhau sử dụng
hướng dẫn trình bày dưới đây của báo cáo này. Tất cả các thí nghiệm cần thiết phải có sự
khẳng định về sự hiên diện của rhizobium sử d
ụng phương pháp nhiễn lên cây cũng trình bày
dưới đây.

Bảng 7. Số lượng tế bào rhizobium trong các chất mang khác nhau sau 1 tháng
STT Chủng rhizobium Chất mang
Số lượng tế bào
rhizobium (CFU/g)
1 NC 92 Than bùn 2.7 x 10
7

2 CB 1809 Than bùn 5.4 x 10
6


3 NC 92 Than bùn + phân trùn 8.3 x 10
8

4 CB 1809 Than bùn + phân trùn 5.4 x 10
8

5 NC 92 Than bùn + phân trùn + Bụi xơ dừa 2.5 x 10
9

6 CB 1809 Than bùn + phân trùn + Bụi xơ dừa 6.8 x 10
8


Chế phẩm dạng lỏng ở IAS được chuẩn bị bằng sự thêm vào PVA (0.5%), gum Arabic
(0.17%) và sodium alginate (0.5%) vào dịch thể lỏng như là chất kết dính cho sự tồn tại tốt
hơn của rhizobium trên hạt. Sau 1 tháng số lượng tế bào cao nhất trong PVA (4.15 x 10
8
/ml
đối với NC92 và 6.88 x 10
7
/ml đối với CB1809) và Na alginate (1.04 x 10
8
/ml cho NC92

15


and 5.38 x 10
7

/ml cho CB1809) và thấp hơn trong gum Arabic (4.42 x 10
6
/ml - NC92 và
8.73 x 10
7
/ml - CB1809) (Bảng 8)

Table 8. Ảnh hưởng của các chất thêm vào khác nhau đến số lượng tế bào rhizobium
STT
Chủng
rhizobium Chất thêm vào Lượng chất thêm vào Số tế bào (CFU/ml)
1 NC 92 PVA 0,5 4.15 x 10
8

2 CB 1809 PVA 0,5 6.88 x 10
7

3 NC 92 Gum Arabic 0,17 4.42 x 10
6

4 CB 1809 Gum Arabic 0,17 8.73 x 10
7

5 NC 92 Sodium Aginate 0,5 1.04 x 10
8

6 CB 1809 Sodium Aginate 0,5 5.38 x 10
7



5.1.1.4 Công nghệ sản xuất chế phẩm – các vấn đề nẩy sinh trong hội thảo giai
đoạn của dự án vào, OPI, Tp Hồ Chí Minh
Tham dự trong hội thảo này có các thành viên của tất cả các viện tham gia trong dự án – OPI,
IAS và SFI (Việt nam) và Sở các nghành cơ bản NSW và Trường Đại học Sydney. Tại hội
thảo các viện trình bày các báo cáo về nghiên cứu 2007-2008. Kết quả chính của hội thảo này
và các thảo luận theo sau đó đã xác định rõ ràng kế hoạch nghiên c
ứu R&D cho sản xuất chế
phẩm, và các yêu cầu về phương pháp để thực hiện các thí nghiệm.
Phần tiếp theo này trình bày tóm tắt các gợi ý đó liên quan đến thiết kế thí nghiệm và bước
tiến hành để thử nghiệm các chế phẩm rhizobium trên cơ chất than bùn. Một số gợi ý là để
cải thiện thiết kế thí nghiệm đã được trình bày tại hội thảo dự án tại OPI vào ngày 18 và 19
tháng 2/2008. Các chủng mớ
i của CB1809 và NC92 sẽ được cung cấp bởi ALIRU đến OPI.
Các chủng này sau đó được phân phối cho tất cả các nghiên cứu năm 2008. Than bùn khử
trùng của Úc sẽ được cung cấp cho các viện để dùng như là đối chứng so sánh chất lượng với
than bùn Việt nam. Tất cả các thí nghiệm trình diễn sẽ được thiết kế sử dụng chế phẩm của
Úc với CB1809 và NC92.

Thông tin chung về than bùn
Chất lượng chế ph
ẩm tại Úc đã được cải thiện sau các thất bại bằng cách nghiên cứu thông
qua 5 yếu tố chính ảnh hưởng đến sự tồn tại của rhizobium trên chất mang than bùn.
(Roughley and Vincent, 1967). Đầu tiên, nguồn gốc than bùn thì quan trọng. Sự tồn tại của
rhizobium clover, lucerne và cowpea thay đổi tuỳ thuộc vào vùng, chiều sâu của mỏ than
bùn. Than bùn thử nghiệm thì khác nhau về màu sắc và cấu trúc nhưng không có giải thích
nào của các tác giả về nguyên nhân dẫn đến sự tồn t
ại khác nhau của rhizobium trên than
bùn. Yếu tố thứ hai là pH, tính acid của than bùn cần được trung hoà bằng calcium hoặc
magnesium carbonate. Thứ ba, khử trùng than bùn, sử dụng chiếu xạ tia gamma, được cho là
quan trọng đặc biệt đối với sự tăng trưởng và phát triển đối với các rhizobium sinh trưởng

chậm bởi vì cho phép chúng vượt qua sự cạnh tranh với các vi sinh vật tạp nhiễm phát triển
nhanh. Yếu tố thứ tư là nếu rhizobium được trộn vào trong than bùn mà trước đó than bùn
đã
được sấy khô ở 100
o
C, chúng sẽ tồn tại kém bởi vì do cả nguyên nhân là nâng nhiệt cơ chất
ướt và vì các chất ức chế tạo thành từ sự sử lý nhiệt. Yếu tố cuối cùng là ẩm độ, 40 đến 50%
cho thấy là phù hợp cho sinh trưởng và tồn tại của rất nhiều chủng rhizobium trên chất mang

16


than bùn. Các phát hiện sau này, sự tích luỹ của muối trong các mỏ than bùn gây ra bởi các
mùa khô đã ảnh hưởng âm tính đấn sự tồn tại của rhizobium (Steinborn and Roughley, 1975).
Có thể có các yếu tố ảnh hưởng khác nữa đến chất lượng than bùn sử dụng cho sản xuất chế
phẩm do ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và tồn tại của các chủng rhizobium.

Điều chỉnh pH than bùn
Điều chỉnh pH cần phả
i được làm rất cẩn thận, tính đến thời gian cho sự cân bằng. Phàn ứng
giữa vôi và H
+
trong than bùn sẽ phụ thuộc vào kích thước của cả than bùn và vôi. Kích cỡ
này càng nhỏ thì phản ứng càng nhanh. Ẩm độ than bùn cũng là yếu tố quan trọng đối với
phản ứng này. Lượng vôi đòi hỏi để làm thay đổi pH sẽ phụ thuộc vào lượng chất hữu cơ và
sét cũng như khả năng đệm của than bùn. Sau khi trộn than bùn và vôi cần để phản ứng trong
vài tuần trước khi đo pH. Củng có thể c
ần thiết đo pH trong thời gian dài hơn. Vôi nông
nghiệp mịn (Aglime, calcium carbonat, cần loại các chất không phải vôi, qua rây 150 micro
meter) là loại tốt nhất sử dụng để điều chỉnh pH. Vôi xây dựng thì quá mạnh và các loại khác

thì lại quá yếu.

Khả năng giữ nước của than bùn và tối ưu hoá ẩm độ
Kích cỡ hạt, chất hữu cơ và hàm lượng sét sẽ đóng vai trò quan trọng trong khả năng giữ
nước. Kh
ả năng giữ nước càng cao thì lượng dịch sinh khối càng có thể đưa vào nhiều trong
than bùn. Thiết kế thí nghiệm để thử nghiệm khả năng tồn tại của rhizobium ở các ẩn độ khác
nhau được trình bày chi tiết như sau:

Nâng cao ẩm độ than bùn hay là hỗn hợp các chất mang (than bùn và các chất mang khác)
cần được xác định ở cả IAS và SF, sử dụng một chủng rhizobium để giảm thiểu số lượng
mẫ
u và treatment như trình bày trong bảng 9 dưới đây. Trước khi trộn dịch sinh khối với than
bùn, than bùn phải được khử trùng trước ở ẩm độ 20%. Hiệu quả của khử trùng cần được xác
định bằng cách tiêm vào than bùn dịch nuôi cấy và xác định mức độ nhiễm theo thời gian
trong vòng 1 tháng. Pha loãng khi xác định tạp nhiễm và dủng môi trường glucose peptone
agar. Ghi nhận ở các mức pha loãng một khi tạp nhiễm xuất hiện tại các mức độ pha loãng
đó.

Bảng 9. Các nghiệm thức để xác định ẩm độ phù hợp cho chế phẩm rhizobium
Ẩm độ (%)
Dịch sinh khối thêm
vào (ml)
Thể tích của dịch sinh
khối (mL)
Thể tích của nước vô
trùng (ml)
40 29.5 29.5 0
50 52.5 29.5 23
60 87.5 29.5 58


Tính toán này dựa vào 70 g than bùn khô sau khi điều chỉnh đến 20% ẩm độ cho sự khử
trùng.

Cân bằng [1] được dùng cho tính toán ẩm độ của 70 g than bùn khô. Cân bằng giống như
vậy cũng sẽ được sử dụng cho bất cứ số lượng than bùn nào nhưng nếu than bùn ẩm thì khối
lượng than bùn khô cần được tính toán trước
70 100
x
y
x
=
+
[1]

Trong đó x là lượng dịch thêm vào và y là ẩm độ cuối cùng (ví dụ là 50).

Để điều chỉnh 70 g than bùn khô đến 20% cho sự khử trùng thì 17.5 ml nước cần thêm vào

17


Ví dụ: Bao nhiêu dịch nghĩa là sinh khối lỏng được thêm vào 150g than bùn với 20% ẩm độ
để có được ẩm độ là 35%?
a)
Khối lượng của than bùn khô

20
100
x 150 g = 30 g


150 g – 30 g = 120 g

b)
Ẩm độ thêm vào cho than bùn khô

35
120 100
x
x
=
+


0.35(120 )
x
x
=
+

42 0.35
x
x
=
+


0.35 42xx

=



0.65 42x
=


64.6x
=


64.6 g ẩm cần thêm vào 120 g than bùn khô để thu được 35%. Nếu than bùn đã có ẩm độ là
30 g thì 64.6 g – 30 g = 34.6 g cần thêm vào cho 150 g than bùn.

Thí nghiệm thử nghiệm hiệu quả của hỗn hợp than bùn, phân trùn và bụi xơ dừa cần có thiết
kế như trình bày trong Bảng 10. Tất cả các chất mang cần phải được mang về ẩm độ 20%
trước khi khử trùng và hiệu quả của khử trùng cũng phải được xác định như trong mô tả phầ
n
2.1. Số lượng tế bào sống/g trong chất mang cần được xác định ở 1 tuần và 1 tháng. Phương
pháp cần được xác định bởi đếm khuẩn lạc và MPN bằng cách nhiễm 2 cây cho pha mỗi
nồng độ loãng 10
-5
và 10
-6
(nghĩa là 4 chất mang x 3 ẩm độ x 3 lập lại).

Bảng 10. Thiết kế thí nghiệm xác định hiệu quả của các chất mang khác nhau
Ẩm độ (%)
Chất mang
40 50 60
Than bùn

Than bùn + phân trùn
Than bùn + bụi xơ dừa
Than bùn + phân trùn + bụi xơ dừa
Cần có 3 lần lập lại cho mỗi treatment. Số lượng tế bào đếm
sau 1 tuần và 1 tháng. Phương pháp đếm là đếm khuẩn lạc
và xác định bằng nhiễm vào cây. Hai cây cần được nhiễm
cho mỗi pha loãng 10
-5
và 10
-6
.

Đếm số lượng rhizobium và xác định rhizobium trong các chế phẩm than bùn như sau: pha
loãng chế phẩm trong nước vô trùng (10g chế phẩm trong 90 ml nước), sau đó chuẩn bị các
dịch pha loãng cho đến 10
-6
. Cấy trải trên đĩa petri có môi trường CRYMA và đếm số khuẩn
lạc phát triển đồng thời nhiễm vào cây ở hai nồng độ pha loãng 10
-5
và 10
-6
, lập lại hai lần
cho mỗi nồng độ. Quan sát sự hình thành nốt sần.



18



























Hình 7. Xác định số lượng và rhizobium sống trong chế phẩm trên nền than bùn tạp nhiễm

Nguồn than bùn
Ngoài đặc trưng của nguồn than bùn là độ măn, sét, chất hữu cơ hay nhiễm với các chất hoá
học hay là một số các yếu tố chưa xác định khác sẽ ảnh hưởng đến chất lượng than bùn cho
sản xuất chế phẩm. Than bùn từ các nguồn khác nhau cần điều chỉnh đến cùng kích cỡ hạt và
độ ẩm như nhau (nếu có thể được). Không thể chọn than bùn dự

a vào màu sắc và kết cấu bề
ngoài của nó
.

Khử trùng than bùn
Ở Úc, than bùn được đóng bao và sau đó khử trùng bằng tia gamma. Hiệu quả của việc khử
trùng phụ thuộc sự sắp xếp các túi khi nó được chiếu cobalt 60 rods, độ ẩm của than bùn
trong quá trình khử trùng và mức độ nhiễm. Nếu than bùn bị ướt trong thời gian dài sau khi
khai thác thì có khả năng phát triển nhiều vi sinh vật tạp nhiễm. Một số vi sinh vật này có khả
năng kháng với nhiệt và sự chiếu xạ và do
đó trở thành trở ngại cho sản xuất. Khử trùng bằng
tia gamma thì tăng đáng kể giá thành sản phẩm. Khử trùng bằng nhiệt có thể là phương pháp
thay thế. Tuy nhiên có thể phương pháp này có thể tích luỹ một số chất độc. Nếu điều này
xảy ra thì khử trùng theo chế độ nhiệt độ thấp và lập lại vài lần có thể là một giải pháp. Độ
ẩm than bùn trước khi khử trùng nên là 20%.

Lên men trong chất mang cứ
ng
Để xác định số lượng tế bào tối thiểu đòi hỏi cho phát triển tối đa trong than bùn thì sinh khối
lỏng cần được pha loảng với nước vô trùng để thu được pha loãng 1:10, 1:100 và 1:1000. Lập
lại 3 lần (3 túi cho 1 nghiệm thức), dùng dịch sinh khối không pha loãng làm đối chứng.
Lượng dịch cho vào các túi than bùn thì phụ thuộc vào ẩm độ thích hợp và tính toán sao cho
đã có 20% ẩm độ cho vào trước khi khử trùng. Số lượng tế bào sống cần được xác đị
nh sau 1
10
-2
10
-3
10
-4

10
-5
10
-6
Carrier suspended in sterile water (10 g in 90 mL, 10
-1
dilution)
Spread 0.1 mL on the surface of duplicate
CRYMA plates and count colonies after growth
taking note of diltuions with contamination
Prepare dilution series to 10
-6
Inoculate 2 plants
from each of the
10
-5
and 10
-6
dilutions and
check for nodules
to confirm colonies
are rhizobia on the
corresponding
plates
10
-2
10
-3
10
-4

10
-5
10
-6
Carrier suspended in sterile water (10 g in 90 mL, 10
-1
dilution)
Spread 0.1 mL on the surface of duplicate
CRYMA plates and count colonies after growth
taking note of diltuions with contamination
Prepare dilution series to 10
-6
Inoculate 2 plants
from each of the
10
-5
and 10
-6
dilutions and
check for nodules
to confirm colonies
are rhizobia on the
corresponding
plates

19


tuần, 1 tháng, 3 tháng và 6 tháng bằng phương pháp đếm trực tiếp và kiểm tra xem có phải
rhizobium hay không bằng MPN như mô tả trong phần 2.1.2 và Hình 7.


5.1.1.5 Chương trình QA (Quản lý chất lượng sản phẩm)
Phần này đã trình bày chi tiết trong báo cáo 6 tháng lần đầu tiên và trong báo cáo Thông tin
ban đầu vào tháng 4/2008.
5.1.1.6 Đào tạo về công nghệ sản xuất và QA
Không có các chương trình đào tạo đặc biệt trong thời gian báo cáo này. Dự định sẽ có đào
tạo cho 3-4 cán bộ nghiên cứu của Việt nam trong các viện tham gia trong dự án tại trường
Đại học Công nghệ Suranaree (Thái Lan) về sản xuất chế phẩm, QA, quản lý phòng thí
nghiệm cũng như nghiên cứu R&D về rhizobium trong thời gian khoảng 7-8/2008. Thêm vào
đó sẽ có đào tạo cho một cán bộ tại Úc trong thời gian khoảng cuối năm 2008. Đào tạo trong
suố
t năm 2007 đã trình bày trong báo cáo lần thứ nhất, đệ trình vào tháng 9/2007.

5.1.
2 Công tác khuyến nông và đào tạo nông dân, cán bộ khuyến nông
Chương trình đào tạo khuyến nông cho nông dân và cán bộ khuyến nông được xây dưng dựa
trên cớ sở các thí nghiệm đơn giản trên các vùng khác nhau (Đồng bằng sông Cửu long,
Miền Trung, miền núi phía Bắc và Đông Nam bộ). Nông dân và cán bộ khuyến nông tham
gia vào các thí nghiệm này ở mọi kía cạnh từ thiết kế thí nghiệm cho đến gieo hạt, lấy mẫu,
thu hoạch và đọc kết quả. Khuyến nông của MARD đã đóng góp vai trò quan trọng trong các
hoạt động khuyế
n nông. Số liệu từ các thí nghiệm trình diễn này sẽ là cơ sở để xác định một
mô hình kinh tế cho sản xuất và sử dụng chế phẩm tại Việt nam. Hơn nữa, các khoá đào tạo
sẽ được tổ chức cho nông dân, cán bộ khuyến nông và cán bộ nghiên cứu về phương pháp sử
dụng chế phẩm, lợi ích của nhiễm rhizobium về hiệu quả kinh tế cũng như môi trường.
Ch
ương trình này sẽ được xây dựng bởi các cán bộ nghiện cứu Việt nam với sự hợp tác với
cán bộ nghiên cứu của Úc, những người sẽ trợ giúp trong việc kiểm tra và chuẩn bị tài liệu
khuyến nông cho sự biên dịch và chuyển giao cho Việt nam.
5.1.2.1 Điều tra về hiểu biết và thái độ đối với cố định đạm sinh học

Điều tra này đã được thực hiện trong tháng 4 đến tháng 8 năm 2007 và sau đó tiếp tục trong
thời gian tháng 12/2007 đến 2/2008 để xác định mức độ hiểu biết về chế phẩm nhiễm
rhizobium, sử dụng chế phẩm bởi nông dân và cán bộ khuyến nông và thái độ của họ đối với
sử dụng chế phẩm trong tương lai và cuối cùng, sản xuất chế phẩm hiện tại và QA tại Việt
nam. Kết quả đã được trình bày trong báo cáo toàn văn của Báo cáo thông tin ban đầu, đệ
trình 4/2008.
5.1.2.2 Chương trình khuyến nông – Hiệu quả sinh học và kinh tế của nhiễm
rhizobium
Đã có 28 điểm thí nghiệm trình diễn thực hiện tại 9 tỉnh. Tại Bình Định, theo thảo luận của
cán bộ Viện Khoa học Nông nghiệp Nam Trung bộ (ASISCV) và Khuyến nông tỉnh thì các
điểm trình diễn sẽ được thực hiện sau khi thực hiện các thí nghiệm đồng ruộng. Lý do là các
điểm thí nghiệm đồng ruộng về nhiễm chế phẩm rhizobium chưa được thực hiện tại vùng này
và các cán bộ khoa học và khuyế
n nông địa phương muốn có các kinh nghiệm thực hiện các
thí nghiệm như vậy trước khi thực hiện các điểm trình diễn cho nông dân. Các điểm trình
diễn còn lại của dự án sẽ được hoàn tất trong vụ Đông Xuân 2008/2009 sắp tới. Trong báo

20


cáo này chúng tôi trình bày kết quả của 15 điểm trình diễn bởi vì một số điểm chưa thu hoạch
và một số chưa xử lý số liệu. Các điểm trình diễn này thường có 2 nghiệm thức: nhiễm và
không nhiễm Với các ô nhiễm thì không bón phân đạm, nếu có sử dụng thì không quá
10kgN/ha. Trong các lô không nhiễm thì ngược lại có bón phân đạm (urea) ở liều lượng được
khuyến cáo hoặc áp dụng của nông dân. Kết qu
ả được tóm tắt trong Phụ lục 3.

Một cách tổng quát, nhiễm chế phẩn cố định đạm rhizobium cho đậu tương và lạc làm tăng
thu nhập cho nông dân, trung bình là 3.5000.000VNĐ/ha. Mức độ lợi nhuận phụ thuộc vào
các điểm khác nhau (Đồ thị 8 và 9). Sự tăng lợi nhuận khoảng 500.000VNĐ/ha tại điểm trình

diễn tại Bầu Đồn, Tây Ninh nhưng cao hơn nhiều tại Cầu Ngang, Trà Vinh, đạt
7.180.000VN
Đ/ha. Tương tự đối với đậu tương, lợi nhuận của sử dụng chế phẩm đạt tới
khoảng 6.000.000VNĐ tại Quảng Hiệp, DakLak.

Đồ thị 7. Lợi nhuận từ sử dụng chế
phẩm rhizobium cho đậu tương
0
1
2
3
4
5
6
7
012345678910
Điểm trình diễn
Lợi nhuận
(triệu VN đồng)
Đồ thị 8. Lợi nhuận từ sử dụng
chế phẩm rhizobium cho lạc
0
1
2
3
4
5
6
7
8

012345678
Điểm trình diễn
Lợi nhuận
(triệu VNĐ)


Nông dân đã được mời đến các điểm trình diễn ít nhất là một lần. Tại nhiếu điểm tại
DakNong và DakLak nông dân được mời đến 2–3 lần, lúc gieo hạt, thu hoạch nốt sần,
biomass và thu hoạch hạt. tại mỗi điểm, có ít nhất 20 nông dân, cán bộ khuyến nông và cán
bộ nông nghiệp tham dự và thực hiện đánh giá (600-800 người đã đến thăm các điểm trình
diễn). Họ quan sát sự phát tri
ển của lạc và đậu tương, so sánh mức độ mạnh khoả và tăng
trưởng của cây ở hai nghiệm thức. Họ lấy mẫu nốt sần và quan sát nốt sần, học cách phân
biệt các nốt sần hiệu quả với màu hồng bên trong và nốt sần vô hiệu với màu trắng bên trong.
Họ tự đánh giá hiệu quả của việc sử dụng chế phẩm bằng cách lấy mẫu
đậu tương và lạc, cân
sinh khối và hạt. Họ cũng được cung cấp các tài liệu khuyến nông (xem Phụ luc 4). Cũng
vậy, các cán bộ khuyến nông và cán bộ nghiên cứu giải thích rhizobium hoạt động như thế
nào và điều kiện để áp dụng thành công. Nông dân rất thích học về cố định đạm sinh học.

Các câu hỏi thường được đặt ra bởi nông dân là:
-
Giá của chế phẩm là bao nhiêu?
-
Sử dụng bao nhiêu cho 1000m
2
hay cho 1ha?
-
Nơi nào có thể mua được chế phẩm?
-

Chế phẩm có lợi ích nào khác hơn việc thay thế phân urea (N)?
-
Có thể dùng chung chế phẩm với các chất ảo vệ thực vật?
-
Có thể dùng chế phẩm cho các cây khác không?
-
Có phải chế phẩm sẽ bị ảnh hưởng xấu bởi các điều kiện thời tiết khắc nghiệt như là mưa
lớn, nóng trong lúc nhiễm vào hạt và trong quá trình cây tăng trưởng?
-
Có thể dùng chế phẩm chung với urea (phân bón N)?

Và các đòi hỏi chính:
-
Cung cấp chế phẩnm cho nông dân để họ tự thử nghiệm trên đồng ruộng của họ.

21


-
Trợ giúp về kỹ thuật sử dụng cho nông dân

5.1.3 Tham gia của các công tư tư nhân trong sản xuất chế phẩm, phân
phối và marketing
Khi dự án bắt đầu khởi động có 2–3 công ty Việt nam muốn tham gia vào dự án. Cũng dự
tính rằng sẽ có thị trường trong suốt thời gian hoạt động của dự án và rằng các công ty tư
nhân sẽ từng bước tham gia sản xuất một khi công nghệ phát triển và thị trường mở rộng.
Các công ty này tham gia trong dự án về marketing và phân phối sản phẩm, hơn là sản xuất
chế phẩm. Hội thảo đào từ các công ty t
ư nhân cũng được mở ra cho cán bộ các công ty tư
nhân. Cán bộ nghiên cứu của các viện thuộc quản lý của nhà nước sẽ cung cấp các tiến bộ kỹ

thuật cho các công ty tư nhân.
5.1.3.1 Thương mại hoá sản xuất chế phẩm và marketing tại Việt nam
Phân tích sau đây được thực hiện dựa trên các dữ liệu trong và sau Hội thảo Sơ kết dự án
tháng 2/2008 và giả định rằng giá của sản phẩm bằng 1/3, 1/3 cho phân phối và 1/3 là lợi
nhuận. Phân tích này chỉ mang nghĩa như là một chỉ dẫn để hiểu động lực thực tế của sản
xuất chế phẩm tại Việt nam. Có rất nhiều công ty tại Việt nam sản xuất phân bón hữu cơ
vi
sinh (sản phẩm bao gồm một hay vài loại vi sinh vật được công bố là có lợi ích đối với tăng
trưởng thực vật). Có vài khác biệt chính giữa phân bón hữu cơ vi sinh và chế phẩm vi sinh cố
định đạm cho cây họ đậu. Phân bón hữu cơ vi sinh thông thường được sản xuất trên nền than
bùn không khử trùng, kiểm tra chất lượng sản phẩm thì khó khăn và hầu như không bao giờ
thực hiện, số lương phân bón lớn
được bón vào đất và hoạt tính còn là vấn đề không rõ ràng.
Chất lượng của chế phẩm rhizobium mang lại lợi nhuận từ than bùn được khử trùng trước và
số lượng rhizobium đủ cao mà chỉ cần một lượng nhỏ chế phẩm cần thiết cho hoạt động cố
định đạm hiệu quả. Mối tương quan giữa chủng rhizobium và cây chủ là đặc biệt và hiệu quả
dương tính của sự nhiễm thì d
ễ dàng được biểu thị và phụ thuộc vào một vài điều kiện đặc
trưng.

Để mà chế phẩm cho cây họ đậu có sự cạnh tranh về lợi nhuận thì chi phí của sản xuất cần
giữ mức độ tối thiểu. Hiện tại thì phân bón đạm hoá học nông dân dùng cho 1 ha trung bình
khoảng 600.000VNĐ/1 ha. Chế phẩm cần phải thấp hơn số tiền này nhưng biến động của th

trường thì không rõ.

Giảm tối thiểu chi phí sản xuất bằng cách giảm chi phí đầu vào sẽ phụ thuộc vào chất lượng
(Bảng 10). Điều này có thể thu được bằng cách tăng số lượng của tế bào rhizobium/g than
bùn. Để tăng số lượng thì chất lượng than bùn (kích cỡ hạt, lượng chất hữu cơ, pH, khả năng
giữ nước), quá trình khử trùng, độ ẩm sau cùng (và có thể là bao gói) của sả

n phẩm tại Việt
nam cần được cải thiện. Giảm thiểu chi phí sản xuất sẽ cho phép tính linh hoạt hơn trong lợi
nhuận và lợi ích kinh tế sẽ lớn hơn cho nông dân. Nhà sản xuất chế phẩm chất lượng cao có
thể được hấp dẫn bằng cơ hội xuất sản phẩm ra nước ngoài trong vùng và ngay cả sang nước
Úc.

Lựa chọn một cách cẩn thận các đối tác tư nhân cho s
ản xuất thương mại chế phẩm
rhizobium cho cây họ đậu thì rất quan trọng để mà chắc chắn sự cung cấp sản phẩm ổn định
với chất lượng cao cho nông dân Việt nam. Sau khi thăm quan các nhà sản xuất vào tháng
2/2008 và sự rút lui khỏi dự án của Fitohoocmon chúng tôi kết luận ban đầu rằng hy vọng về
một đơn vị tư nhân sản xuất chế phẩm rhizobium với chất lượng cao trong tương lai gầ
n là
khó và rằng một sản xuất ở qui mô lớn có thể thực hiện được ở các cơ quan nghiên cứu. Tuy
nhiên, sau điều này, liên lạc đã được làm với công ty Thiên Sinh (Komix) mà công ty này

22


được tran bị tốt hơn nhiều với sản xuất chế phẩm và kế hoạch đã được phát triển cho chuyển
giao công nghệ từ các viện nghiện cứu đến công ty này.

Rất quan trọng để chắc chắn rằng thông qua chương trình khuyến nông mà chế phẩm duy trì
được nhận thức về một sản phẩm chất lượng cao và rằng các chế phẩm này khác hẳn với các
phân bón hữ
u cơ vi sinh khác. Các công ty Việt nam hiện nay sản xuất phân bón hữu cơ vi
sinh mà nó được sử dụng ở liều lượng từ 0.2–5 tấn/ha. Sản xuất chất lượng cao các chế phẩm
bởi các công ty sẽ đòi hỏi đầu tư cơ bản và đào tạo. Trong lúc năng lực của họ để sản xuất
lượng lớn phân bón hữu cơ vượt xa đòi hỏi mà sản xuất chế phẩ
m rhizobium cho lạc và đậu

tương cần tại Việt nam, chất lượng của chế phẩm thì rất thấp và rất khó quản lý chất lượng .
Thái độ sản xuất đối với phân bón hữu cơ vi sinh cần phải thay đổi hoàn toàn. Kỹ thuật sản
xuất phân bón hữu cơ vi sinh và thiết bị cho thấy một sự hiểu biết rất thấp về vi sinh vật, sự
tăng trưởng và tồn t
ại của nó (xem các báo cáo thăm quan của từng công ty đính kèm trong
Phụ lục 5)

Trong khi có tiêu chuẩn quốc gia, chất lượng của phân bón hữu cơ vi sinh không được kiểm
tra một cách hiệu quả và hầu như chúng có chất lượng rất thấp. Theo hiểu biết của chúng tôi
thì phân bón hữu cơ vi sinh được sản xuất với sự quan tâm đến số lượng vi khuẩn và chất
lượng sản phẩm là tại BioGro, được phát triển bở
i GS Nguễn Thanh Hiền tại Trường Đại học
Khoa học Hà nội với sự đóng góp từ AusAID và ACIAR trong hơn 8 năm. Các giống mẹ
trên nền chất mang than bùn của mỗi chủng giống được GS sản xuất và phân phối cho các
công tư nhân mà ở đây họ sẽ trộn các giống này thành một hỗn hợp nhiều chủng với than bùn
không khử trùng để thu được lượng sản phẩm lớn. Hiện tại l
ượng áp dụng của BioGro là 0.2
tấn/ha và lớn hơn. Chế phẩm rhizobium thì không phù hợp với loại sản xuất này bởi vì than
bùn cần khử trùng và do đó lượng than bùn cần phải giảm tối đa để giảm chi phí khử trùng.
Liều lượng áp dụng của chế phẩm rhizobium không cao như là phân bón hữu cơ vi sinh bởi
vì sự tương quan cộng sinh giữa rhizobium và cây chủ là sự lựa chọn cao so với quan hệ của
các vi sinh vật kia. Tuy nhiên, m
ột tiêu chuẩn tối thiểu là 2.5 x 10
11
tế bào/ha cần phải đạt
được để tối đa hóa khả năng cố định đạm. Điều nà liên quan đến lượng sử dụng của chế
phẩm, được chỉ ra trong bảng 11.

Khác hẳn với thông tin trước kia từ Fitohoocmon, chế phẩm rhizobium cho cây họ đậu không
được sản xuất tại Việt nam. Đã dự tính trước kia rằng các viện nghiên cứu sẽ xây dựng năng

lực củ
a họ để sản xuất sản phẩm chất lượng cao và các công ty tư nhân sẽ hình thành các liên
doanh trong tương lai. Năng lực sản xuất của các viện ngiên cứu hiện tại được chỉ ra trong
bảng 12. Tuy nhiên cần lưu ý rằng chất lượng hiện tại của chế phẩm sản xuất tại các viện thì
thay đổi và cần phải được cải thiện (báo cáo chi tiết trong phần 3, Báo cáo Thông tin ban đầu,
đệ trình 4/2008). Chi tiết về
cải thiện sản xuất chế phẩm rhizobium thì được ghi trong phần
5.1.1.4 của báo cáo này.

Về lâu dài, sản xuất (cũng như marketing và phân phối) chế phẩm rhizobium thì tốt hơn khi
đặt ở đơn vị tư nhân. Điều này cần có càng sớm càng tốt. Một bước đi rất lạc quan trong đó
Thiên Sinh (Komix) biểu hiện sự quan tâm đến sản xuất. Một cuộc thăm quan vào tháng
2/2008 đã hé lộ ra năng lự
c sản xuất rất tồt của công ty này. Côg ty đã đầu tư thích hợp cho
việc áp dụng vi sinh công nghiệp (xem Phụ lục 5). Chuyển giao công nghệ đến công ty này
đã được thảo luận và một phương hướng rõ ràng đã được xác định. Công ty này cũng đã
đồng ý thực hiện các hoạt động khuyến nông thong qua mạng lưới rộng khắp nước của họ.




23


Bảng 11. Giảm thiểu chi phí bằng cách cải thiện chất lượng sản phẩm (ghi chú: đây chỉ là các
tính toán theo tỷ lệ đối với số lượng than bùn mà không là sự đo đạc chính xác các giá trị
thực. Một sự phân tích chính xác hơn xác định chi phí nhân công, đóng gói… cần làm)

Liều lượng áp dụng (để tu được 2.5 x 10
11

tế bào/ha)
3 kg/ha

1 kg/ha 250 g/ha
Tế bào/g than bùn ẩm
1
0.8 x 10
8
2.5 x 10
8
1 x 10
9
Chi phí của than bùn
2
840 đồng 280 đồng 70 đồng
Tổng than bùn ẩm
3
3000 tấn 1000 tấn 250 tấn
Số lượng chế phẩm
4
30 tỷ 10 tỷ 2.5 tỷ
Lượng dịch sinh khối
5
900 L 300 L 75 L
Chi phí/ha
6
540,000 đồng 180,000 đồng 45,000 đồng
Lợi nhuận của công ty
7
180 tỷ đồng 60 tỷ đồng 15 tỷ đồng


1
Nông dân hiện tại áp dụng 3 kg chế phẩm. Để giảm liều lượng áp dụng, số lượng tế bào cần tăng lên 9cha61t
lượng tăng)
2
Chi phí than bùn 400,000 đồng/ha (ẩm độ than bùn không xác định). Chi phí của than bùn dựa và ẩm độ là
20%.
3
Tổng diện tíc trồng lạc và đậu tương tại Việt nam >1,000,000 ha vào năm 2010
4
Số lượng túi sản phẩm cho thi trường Việt nam dựa trên mỗi túi là 100g
5
Dịch sinh khối lỏng cho thị trường tính toán trên 50% và 30ml dịch sinh khối được thêm vào mỗi túi ở độ pha
loãng là 1:100.
6
Chi phí sản phẩm tính bằng cách nhân chi phí sản xuất với 3. Chi phí sản xuất 1kg than bùn ước tính là
60.000đ. Chi phí sản xuất 1kg có thể thay đổi khi số lượng sản phẩm khác nhau vì tổng chi phí và đầu tư hạ
tầng cơ sở sẽ thay đổi (nghĩa là kích cỡ của thiết bị, vận chuyển, đóng gói…). Có thể là sẽ đắt hơn khi sản xuất
1 kg sản phẩm với lượng áp dụng là 3 kg/ha bởi vì sự vậ
n hành sản xuất sẽ lớn hơn.
7
Lợi nhuận của công ty được tính bằng cách nhân chi phí với 1,000,000 ha và chia cho 3. Giảm chi phí sản xuất
thì lãi ròng sẽ linh hoạt hơn. Chế phẩm rhizobium trên nền than bùn với chất lượng 1 x 10
9
tế bào/g đạt chat
lượng xuất khẩu và thị trường rộng hơn.

Bảng 12. Năng lực hiện tại và tương lai ở các viện nghiên cứu sản xuất chế phẩm rizobium
chất lượng cao tại Việt nam.


Current capacity (tonnes/year) Viện
Sản xuất
hiện tại
tấn/năm
1 10 100 250 1000 3000
IAS
*
1.1
9 8 8 8 8 8
SFI 12
9 9 8 8 8 8

Năng lực sản xuất sản phẩm chất lượng cao nhất là 250 tấn/năm theo sau đó là 1000. Số lượng 300 tấn/năm thì
cho chất lượng hiện tại.
*
IAS muốn tăng năng lực để đáp ứng nhu cầu.

5.2 Lợi ích cho các nông hộ
Lợi ích tiềm năng cho các nông hộ có giá trị là 50–60 triệu đô la úc/năm, chủ yếu thông qua
việc giảm sử dụng phân bón hóa học N. Lợi nhuận cho các nông hộ cần bắt đầu để tăng cao
sau năm thư của dự án.


5.3 Xây dựng năng lực
Xây dựng năng lực đã bắt đầu với sự tham gia của 17 cán bộ nghiên cứu/kỹ thuật viên tại Hội
thảo Chất lượng sản phẩm tại Tp HCM vào tháng 2-3/2007 và Đào tạo về Công nghệ sản
xuất chế phẩm tại Thái lan vào tháng 6/2007 và đầu tư mua sắm vật liệu, hóa chất và thiết bị
cho R&D và sản xuất. Đầu tư này sẽ tiếp tục trong suốt năm 2008 với mộ
t khóa đào tạo khác

×