Tải bản đầy đủ (.pdf) (109 trang)

Phát triển nghiệp vụ ngân hàng quốc tế tại các ngân hàng thương mại Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (749.01 KB, 109 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG






VŨ THỊ THOA






PHÁT TRIỂN NGHIỆP VỤ NGÂN HÀNG QUỐC TẾ
TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI VIỆT NAM TRONG
ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ


Chuyên ngành : Thƣơng mại quốc tế
Mã số : 60.34.10




LUẬN VĂN THẠC SỸ THƢƠNG MẠI



NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:


TS. Phạm Thị Hồng Yến



Hà Nội - 2010
LỜI CẢM ƠN

Trước hết, tôi xin gửi lời cảm ơn tới Ban giám hiệu trường Đại học
Ngoại Thương, Quý thầy cô Khoa sau đại học đã tạo điều kiện cho tôi hoàn
thành khóa học cũng như luận văn tốt nghiệp.
Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn sâu sắc đến TS.Phạm Thị Hồng
Yến, người đã dành nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn, giúp đỡ, góp ý tận
tình cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn này.
Đồng thời, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới bạn bè, đồng nghiệp và gia
đình… đã giúp đỡ tôi và cung cấp những thông tin bổ ích cho việc nghiên cứu.
Tuy đã có nhiều nỗ lực, cố gắng nhưng do thời gian và khả năng
nghiên cứu còn hạn chế nên luận văn có thể còn thiếu sót, rất mong nhận được
sự góp ý nhiệt tình của Quý thầy cô và các bạn.

Hà Nội, ngày 05 tháng 05 năm 2010
Tác giả luận văn

Vũ Thị Thoa


MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG, HÌNH
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NGHIỆP
VỤ NGÂN HÀNG QUỐC TẾ TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ
QUỐC TẾ 6
1.1. Những vấn đề cơ bản về nghiệp vụ ngân hàng quốc tế 6
1.1.1. Nghiệp vụ ngân hàng 6
1.1.2. Nghiệp vụ ngân hàng quốc tế 10
1.2. Sự cần thiết phát triển nghiệp vụ ngân hàng quốc tế trong điều kiện
hội nhập kinh tế quốc tế của ngành ngân hàng Việt Nam 26
1.2.1. Do đòi hỏi của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của ngành ngân
hàng Việt Nam 26
1.2.2. Do những ảnh hưởng tích cực của việc phát triển nghiệp vụ ngân
hàng quốc tế đến hệ thống ngân hàng 29
1.2.3. Do đòi hỏi được đáp ứng nhu cầu từ phía khách hàng 33
1.2.4. Do đòi hỏi khách quan từ tăng trưởng kinh tế 34
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI NGHIỆP VỤ NGÂN HÀNG
QUỐC TẾ TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI VIỆT NAM HIỆN
NAY 36
2.1. Thực trạng hệ thống các ngân hàng thƣơng mại Việt Nam hiện
nay 36
2.2. Thực trạng triển khai nghiệp vụ ngân hàng quốc tế tại các ngân
hàng thƣơng mại Việt Nam 42
2.2.1. Nghiệp vụ tài trợ thương mại 42
2.2.2. Nghiệp vụ thanh toán quốc tế 50
2.2.3. Nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối 56
2.2.4. Nghiệp vụ tín dụng quốc tế 64
2.3. Đánh giá thực trạng triển khai nghiệp vụ ngân hàng quốc tế tại các
ngân hàng thƣơng mại Việt Nam 66
2.3.1. Những kết quả đạt được 66

2.3.2. Tồn tại và nguyên nhân 66
CHƢƠNG 3: ĐỊNH HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP TRIỂN KHAI NGHIỆP VỤ
NGÂN HÀNG QUỐC TẾ TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI VIỆT
NAM TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 71
3.1. Định hƣớng phát triển nghiệp vụ ngân hàng quốc tế tại các ngân
hàng thƣơng mại Việt Nam 71
3.2. Các giải pháp phát triển nghiệp vụ ngân hàng quốc tế tại các ngân
hàng thƣơng mại Việt Nam 74
3.2.1. Nhóm giải pháp vĩ mô 74
3.2.2. Nhóm giải pháp vi mô 79
KẾT LUẬN 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

BẢNG DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT



STT
TỪ VIẾT TẮT
TÊN VIẾT TẮT
1
AGRIBANK
Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam
2
BIDV
Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam
3
GDP
Tổng thu nhập quốc dân

4
IMF
Quỹ tiền tệ quốc tê
5
INCOMBANK
Ngân hàng công thương Việt Nam
6
KTQT
Kinh tế quốc tế
7
LC
Thư tín dụng
8
NHNN
Ngân hàng nhà nước
9
NHTM
Ngân hàng thương mại
10
RRHĐ
Rủi ro hoạt động
11
TCTD
Tổ chức tín dụng
12
VCB
Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam
13
VIETINBANK
Ngân hàng công thương Việt Nam

14
WTO
Tổ chức thương mại thế giới

DANH MỤC BẢNG, HÌNH

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1: Tỷ trọng thu nhập từ hoạt động phi tín dụng và thu phí dịch vụ tại một số ngân
hàng thương mại Việt Nam năm 2009 30
Bảng 2.1: Năm ngân hàng có vốn tự có lớn nhất Châu Á năm 2009 37
Bảng 2.2: Năm ngân hàng có tổng tài sản lớn nhất Châu Á năm 2009 37
Bảng 2.3: Năm ngân hàng có tổng tài sản lớn nhất Việt Nam năm 2009 38
Bảng 2.4: Doanh số thanh toán quốc tế của một số ngân hàng thương mại cổ phần từ năm
2007 đến năm 2009 56
Bảng 2.5: Doanh số kinh doanh ngoại tệ tại một số ngân hàng thương mại Việt Nam từ năm
2007 đến 2009 59


DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1: Tăng trưởng thu dịch vụ ròng tại BIDV năm từ 2006 đến 2008 30
Hình 1.2: Kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam từ năm 2005 đến năm 2009 34








1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Một nền kinh tế mở, hội nhập với thị trường thế giới phải được hỗ trợ
bởi một cơ cấu tài chính hiện đại vững mạnh. Trong đó, hệ thống ngân hàng
thông qua nghiệp vụ ngân hàng quốc tế, hỗ trợ cho sự phát triển của hoạt
động ngoại thương và thu hút đầu tư quốc tế, thúc đẩy thành công của quá
trình hội nhập kinh tế quốc tế. Nghiệp vụ ngân hàng quốc tế của hệ thống
ngân hàng phát triển sẽ thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động xuất nhập khẩu của quốc
gia, đồng thời là nhân tố tích cực kích thích sự luân chuyển các luồng vốn đầu
tư quốc tế vào quốc gia đó. Chính thông qua nghiệp vụ ngân hàng quốc tế, các
nhà kinh doanh và đầu tư nhanh chóng nắm bắt và làm chủ các thông lệ về tài
chính quốc tế, để có thể thực hiện tốt và cạnh tranh trên lộ trình hội nhập với
các nước đang phát triển có kinh nghiệm và năng lực, nguồn lực gấp nhiều lần
so với chúng ta. Việc phát triển nghiệp vụ ngân hàng quốc tế đã gián tiếp giúp
ổn định và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong thời kì hội nhập.
Đối với các NHTM, việc phát triển mạnh mảng nghiệp vụ ngân hàng
quốc tế giúp đối phó được với áp lực cạnh tranh khi các rào cản gia nhập thị
trường tài chính Việt Nam ngày càng được nới lỏng đối với các ngân hàng
100% vốn nước ngoài có bề dày kinh nghiệm và quy mô lớn theo lộ trình cam
kết mở cửa sau khi Việt Nam đã gia nhập WTO (Tổ chức thương mại Thế
giới). Ngân hàng thương mại nào không triển khai được nghiệp vụ quốc tế sẽ
bị suy yếu hẳn và được xem như bị tê liệt một nửa, nếu không tích cực vươn
lên sẽ sớm bị đào thải.
Phát triển nghiệp vụ ngân hàng quốc tế tại các NHTM Việt Nam trong
điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế (KTQT) để có thể đáp ứng được nhu cầu
thực tiễn ngày càng cao của nền kinh tế và nâng cao sức cạnh tranh cho chính
hệ thống ngân hàng, vì vậy là hết sức cần thiết. Nhưng làm thế nào để có thể
đưa ra các chính sách phát triển hiệu quả, nhất là trong điều kiện thị trường tài



2
chính thế giới đang biến động phức tạp, khó lường và việc điều hành các
chính sách tài chính còn nhiều lúng túng như hiện nay? Đây là yêu cầu có tính
bức xức trong giai đoạn hiện nay, đòi hỏi phải có sự phân tích và nhìn nhận
vấn đề một cách thực tiễn. Xuất phát từ thực tế này, học viên đã lựa chọn đề
tài “Phát triển nghiệp vụ ngân hàng quốc tế tại các ngân hàng thƣơng
mại Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” làm đề tài luận
văn thạc sỹ kinh tế của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
2.1. Ở nƣớc ngoài
Ở nước ngoài đã có một số công trình nghiên cứu về nghiệp vụ ngân
hàng quốc tế điển hình như nghiên cứu của Paul R. Krugman, Maurice
OBstfeld, Thị trường hối đoái và thị trường tiền tệ, 1994; hay của Luigi di
Rosa, International Banking and Financial Systems: Evolution and Stability,
Cambridge University 2003; Jane Hughes and Scott MacDonald,
International banking cases, 2001,…Hầu hết các công trình nghiên cứu này
đều chỉ đề cập đến một những kiến thức chung về một khía cạnh nào đó của
nghiệp vụ ngân hàng quốc tế mà thôi. Đồng thời không có công trình nào liên
hệ với thực tiễn triển khai nghiệp vụ này ở Việt Nam.
2.2. Ở trong nƣớc
Ở trong nước đã có nhiều công trình nghiên cứu về hoạt động của các
ngân hàng thương mại nói chung. Tuy nhiên, đối với Việt Nam mảng đề tài
về nghiệp vụ ngân hàng quốc tế còn khá mới mẻ. Hiện nay ở nước ta cũng có
một số công trình nghiên cứu về nghiệp vụ này, điển hình nhất là cuốn sách
“Nghiệp vụ ngân hàng quốc tế” GS.TS Lê Văn Tư, NXB Thanh niên 2009;
“Kinh doanh ngoại hối”, Đặng Hào Quang, NXB Thống kê 2006; “Nghiệp
Vụ Tín Dụng và Thanh Toán Quốc Tế”, PGS.TS Lê Văn Tề, NXB Thống kê
2006,…



3
Các công trình nghiên cứu trên dù ở khía cạnh này hay khía cạnh khác
cũng đã đề cập đến nghiệp vụ ngân hàng quốc tế, các vấn đề cơ bản của phát
triển nghiệp vụ này, tuy nhiên, các tài liệu nghiên cứu trên mới chỉ nêu lên
khái niệm, những nghiên cứu chung về nghiệp vụ ngân hàng quốc tế mà chưa
đi sâu vào nghiên cứu thực tiễn triển khai ở Việt Nam, cũng như đề xuất các
giải pháp phát triển. Cho đến nay chưa có luận văn thạc sỹ kinh tế nào, đặc
biệt trong ngành Thương mại quốc tế nghiên cứu về việc phát triển nghiệp vụ
ngân hàng quốc tế tại các ngân hàng thương mại Việt Nam trong thời kì hội
nhập kinh tế quốc tế. Đây là luận văn thạc sỹ đầu tiên nghiên cứu về về vấn
đề này.
3. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận về nghiệp vụ ngân hàng quốc
tế, về hội nhập KTQT và sự cần thiết phát triển nghiệp vụ ngân hàng quốc tế
trong điều kiện hội nhập KTQT; sau khi nghiên cứu thực trạng triển khai
nghiệp vụ này tại các ngân hàng thương mại Việt Nam, luận văn đề xuất
phương hướng và giải pháp phát triển mảng nghiệp vụ nhằm đáp ứng tốt nhu
cầu thực tiễn ngày càng cao và làm cho mảng nghiệp vụ này trở thành công
cụ cạnh tranh đắc lực cho các ngân hàng thương mại Việt Nam trong điều
kiện hội nhập KTQT.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích đề ra trên đây, luận văn phải giải quyết các
nhiệm vụ cụ thể sau đây:
Thứ nhất, luận văn làm rõ những vấn đề lý luận về nghiêp vụ ngân
hàng quốc tế, về hội nhập KTQT.
Thứ hai, luận văn nêu bật sự cần thiết khách quan phải phát triển
nghiệp vụ ngân hàng quốc tế trước những tác động của tiến trình hội nhập
KTQT.



4
Thứ ba, luận văn đánh giá thực trạng triển khai nghiệp vụ ngân hàng
quốc tế tại các NHTM Việt Nam trong thời gian qua.
Thứ tư, luận văn đề xuất phương hướng, giải pháp phát triển nghiệp vụ
ngân hàng quốc tế tại các ngân hàng thương mại Việt Nam trong điều kiện hội
nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới.
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề về nghiệp vụ ngân
hàng quốc tế bao gồm thanh toán quốc tế, kinh doanh ngoại hối, tín dụng
ngân hàng quốc tế, tài trợ ngoại thương và về hội nhập kinh tế quốc tế. Trong
mối quan hệ này, đối tượng nghiên cứu chính và trọng tâm là nghiệp vụ ngân
hàng quốc tế, còn hội nhập KTQT là xu thế khách quan với những yêu cầu có
tác động nhất định đến việc phát triển nghiệp vụ ngân hàng quốc tế.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là nghiệp vụ ngân hàng quốc tế tại 3
tổ chức tín dụng nhà nước và 39 ngân hàng thương mại cổ phần đô thị theo
phụ lục đính kèm trong thời kỳ từ 2004-2009.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để đạt được những mục đích nghiên cứu trên, luận văn dự kiến sẽ sử
dụng tổ hợp các phương pháp nghiên cứu như phương pháp hệ thống hóa,
phương pháp phân tích, luận giải, phương pháp quy nạp, phương pháp thống
kê, phương pháp chuyên gia và phương pháp phân tích so sánh…
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Bảng danh mục từ viết tắt, Danh mục
bảng, hình, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung của luận văn
được kết cấu thành 3 chương:


5
Chương 1: Cơ sở khoa học của việc phát triển nghiệp vụ ngân hàng quốc tế

trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Chương 2: Thực trạng triển khai các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế tại các
ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay
Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển nghiệp vụ ngân hàng quốc tế
tại các ngân hàng thương mại Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế














6
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NGHIỆP
VỤ NGÂN HÀNG QUỐC TẾ TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH
TẾ QUỐC TẾ
1.1. Những vấn đề cơ bản về nghiệp vụ ngân hàng quốc tế
1.1.1. Nghiệp vụ ngân hàng
1.1.1.1. Khái niệm
Nghiệp vụ ngân hàng bao gồm tất cả các hoạt động huy động vốn, tín
dụng, thanh toán, ngoại hối, ngân quỹ….của hệ thống ngân hàng.
1.1.1.2. Phân loại nghiệp vụ ngân hàng thƣơng mại
Dựa vào bảng cân đối tài sản, các nghiệp vụ ngân hàng thương mại có

thể được chia thành nghiệp vụ nội bảng và nghiệp vụ ngoại bảng. Nghiệp vụ
nội bảng tức là những nghiệp vụ ngân hàng được phản ánh trên bảng cân đối
tài sản. Các nghiệp vụ nội bảng có thể chia thành nghiệp vụ tài sản nợ, hay
nghiệp vụ huy động vốn, và nghiệp vụ tài sản có, hay nghiệp vụ sử dụng vốn.
Các nghiệp vụ tài sản Nợ bao gồm các nghiệp vụ chủ yếu như tiền gửi khách
hàng, tiền gửi của các tổ chức tín dụng khác, tiền gửi Ngân hàng Nhà nước,
vay bằng cách phát hành trái phiếu, kỳ phiếu. Các nghiệp vụ tài sản Có bao
gồm các nghiệp vụ chủ yếu như là cho vay đối với khách hàng, đầu tư chứng
khoán, cho vay các tổ chức tín dụng khác. Nghiệp vụ ngoại bảng là các
nghiệp vụ không được phản ánh trên bảng cân đối tài sản của ngân hàng
thương mại, chủ yếu là các hoạt động dịch vụ và bảo lãnh ngân hàng.
Dựa vào đối tƣợng khách hàng, nghiệp vụ ngân hàng có thể chia
thành nghiệp vụ đối với khách hàng công ty hay khách hàng doanh nghiệp và
nghiệp vụ đối với khách hàng cá nhân. Các ngân hàng thương mại hiện đại
thường phân loại nghiệp vụ của mình dựa vào đối tượng khách hàng để từ đó
dễ dàng có chiến lược tiếp cận và phục vụ khách hàng tốt hơn.


7
Các nghiệp vụ đối với khách hàng doanh nghiệp: So với khách hàng
cá nhân, khách hàng doanh nghiệp là đối tượng khách hàng thường chiếm tỷ
trọng nhỏ hơn về mặt số lượng giao dịch nhưng chiếm tỷ trọng lớn hơn về
doanh số giao dịch. Do vậy, giao dịch với khách hàng doanh nghiệp ngân
hàng có thể tiết kiệm được chi phí giao dịch dựa vào lợi thể về quy mô giao
dịch. Đốí với khách hàng doanh nghiệp, ngân hàng thương mại có thể thực
hiện các nghiệp vụ bao gồm: Tiền gửi thanh toán, thanh toán không dùng tiền
mặt giữa các doanh nghiệp, thanh toán quốc tê, mua bán ngoại tệ với
doanh nghiệp, cho vay đối với doanh nghiệp, bảo lãnh đối với doanh
nghiệp, môi giới chứng khoán và tư vấn tài chính.
Các nghiệp vụ đối với khách hàng cá nhân: Ngược lại với khách

hàng doanh nghiệp, khách hàng cá nhân thường xuyên chiếm tỷ trọng lớn
hơn về số lượng nhưng lại chiếm tỷ trọng nhỏ về số giao dịch. Tuy nhiên,
khi nền kinh tế phát triển, nhu cầu giao dịch với ngân hàng của khách
hàng cá nhân ngày càng tăng thì nghiệp vụ ngân hàng đối với khách hàng
cá nhân ngày càng trở nên đáng chú ý hơn. Đối với khách hàng cá nhân,
ngân hàng thương mại có thể cung cấp các nghiệp vụ như: Tiền gửi cá
nhân, tiền gửi tiết kiệm, thẻ thanh toán, thanh toán qua ngân hàng, cho
vay tiêu dùng, cho vay xây dựng, sửa chữa, mua bán nhà, cho vay trả góp
và cho vay kinh tế hộ gia đình [11, trang 25].
1.1.1.3. Đặc điểm của nghiệp vụ ngân hàng
1.1.1.3.1. Các nghiệp vụ ngân hàng mang tính vô hình
Khác với các sản phẩm là những hàng hóa hữu hình có tính chất cơ, lý,
hóa học…nhất định, có tiêu chuẩn về kỹ thuật cụ thể, và do đó có thể sản xuất
theo tiêu chuẩn thì nghiệp vụ ngân hàng nói riêng và nghiệp vụ nói chung lại
không tồn tại dưới dạng vật chất bằng những vật phẩm cụ thể, không nhìn
thấy được và do đó không thể xác định được chất lượng nghiệp vụ trực tiếp
bằng những chỉ tiêu kỹ thuật được lượng hóa. Chất lượng của nghiệp vụ ngân


8
hàng thông thường được đánh giá bởi sự hài lòng của khách hàng đối với các
dịch vụ mà họ cung cấp. Sự hài lòng đó phụ thuộc vào nhiều yếu tố như kiến
thức nghiệp vụ chắc chắn của đội ngũ nhân viên, thái độ chu đáo, tận tình khi
cung cấp, mức độ cạnh tranh về giá,… Đây chính là điểm khó nhưng đồng
thời cũng là cơ hội cho các nhà cung cấp dịch vụ ngân hàng. Muốn các nghiệp
vụ đạt hiệu quả cao, họ buộc phải nghiên cứu đánh giá, lượng hoá mức độ hài
lòng của khách hàng từ những tiêu chuẩn do chính mình đặt ra mà không có
một tiêu chuẩn nào để so sánh. Tuy nhiên, cũng chính điều này lại trở thành
cơ hội khi các nhà quản trị ngân hàng có vô vàn những cách mở để cải thiện
năng lực cạnh tranh của mình.

1.1.1.3.2. Chất lƣợng các nghiệp vụ ngân hàng không đồng nhất.
Các nghiệp vụ này gắn chặt với người cung cấp, vì vậy, chất lượng của
nó phụ thuộc vào cá nhân thực hiện nghiệp vụ đó (trình độ, kỹ năng,…). Hơn
nữa, ngay cả với cùng một cá nhân cung cấp nghiệp vụ thì chất lượng đôi khi
cũng thay đổi theo thời gian. Chẳng hạn, theo thời gian, kinh nghiệm cũng
như kỹ năng tăng lên, chất lượng nghiệp vụ cung cấp tăng lên. Hay khi tâm lý
ổn định, chất lượng nghiệp vụ do cá nhân đó cung cấp cũng tốt hơn. Ngoài ra,
đối với từng loại hình khách hàng nhất định, nhu cầu nghiệp vụ cũng khác
nhau, vì vậy, mức độ linh hoạt của các cá nhân trong cung cấp nghiệp vụ là
rất quan trọng. Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, yếu tố con người
chính là nhân tố quyết định đến chất lượng nghiệp vụ cung cấp.
1.1.1.3.3. Các nghiệp vụ ngân hàng vô cùng đa dạng, phong phú và không
ngừng phát triển
Hiện nay, trên thế giới có hàng nghìn loại nghiệp vụ ngân hàng khác
nhau do các ngân hàng cung cấp. Tuy nhiên, số lượng các nghiệp vụ này vẫn
không ngừng gia tăng để đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng. Ngoài các
nghiệp vụ ngân hàng truyền thống như nhận tiền gửi, cấp tín dụng và làm
trung gian thanh toán, các ngân hàng hiện nay đều đang cố gắng phát triển


9
theo hướng đa năng để thu hút khách hàng. Đồng thời, trong mỗi nghiệp vụ
cung cấp, các ngân hàng cũng đang cố gắng đa dạng hoá hình thức cung cấp.
Chẳng hạn, với nghiệp vụ thanh toán, bên cạnh kênh phân phối truyền thống
tại chi nhánh, các ngân hàng đã mở rộng cung cấp các kênh mới như home
banking, phone banking, e-banking, ATM,…Các nghiệp vụ ngân hàng mới
như bảo lãnh, tài trợ thương mại, bảo hiểm,… đang có ảnh hưởng tích cực
đến hoạt động ngân hàng, mở ra một hướng phát triển mới cho ngành dịch vụ
này.
1.1.1.3.4. Các nghiệp vụ ngân hàng hàm chứa hàm lƣợng công nghệ

thông tin cao
Hầu hết các nghiệp vụ ngân hàng ra đời và phát triển với sự hỗ trợ đắc
lực của công nghệ thông tin. Không chỉ có các nghiệp vụ mới mới sử dụng
công nghệ hiện đại mà ngay cả các nghiệp vụ ngân hàng truyền thống cũng
đang được cải tiến với hàm lượng công nghệ thông tin cao để đáp ứng tốt hơn
nhu cầu khách hàng và nâng cao năng lực cạnh tranh. Hiện nay, khách hàng
không bắt buộc phải đến ngân hàng để thực hiện giao dịch mà có thể thực
hiện ở bất kỳ nơi đâu thông qua e-banking, phone banking, home
banking, Các nghiệp vụ mới cũng sử dụng tối đa hàm lượng công nghệ
thông tin trong đó. Ví dụ, nghiệp vụ thanh toán qua thẻ. Thẻ này được sử
dụng trên cơ sở hệ thống máy tính được kết nối với nhau làm việc ở trình độ
tự động hóa cao. Bản thân mỗi chiếc thẻ có sức chứa hàng nghìn hoặc thậm
chí hàng triệu dữ liệu thông tin và thông qua hệ thống máy tính thực hiện mỗi
ngày hàng trăm bút toán tăng, giảm tài khoản tại các ngân hàng tham gia vào
hệ thống thanh toán thẻ, đảm bảo nhanh chóng, an toàn, chính xác. Khách
hàng có thể mua hàng tại chỗ, mua hàng qua điện thoại và dùng thẻ để thanh
toán. Ngoài ra, hàm lượng công nghệ công nghệ thông tin cao còn thể hiện
qua hệ thống core banking, hệ thống bảo mật đứng sau hỗ trợ cho việc cung
cấp các dịch vụ hiện đại. Theo nhiều nghiên cứu, lĩnh vực tài chính ngân hàng


10
chỉ đứng sau lĩnh vực công nghệ thông tin trong việc ứng dụng công nghệ
thông tin hiện đại. Bên cạnh yếu tố nhân lực, đây là yếu tố quyết định đến
chất lượng của nghiệp vụ ngân hàng (tốc độ, mức độ chính xác). Chính vì
vậy, đòi hỏi nguồn nhân lực hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng, ngoài
nghiệp vụ chuyên môn thành thạo, nhiều kinh nghiệm còn cần phải có kiến
thức về công nghệ thông tin. Với số lượng các nghiệp vụ ngân hàng ngày
càng gia tăng tính mới mẻ, các nhân viên ngân hàng luôn phải nâng cao tay
nghề, nghiệp vụ, hiểu biết sâu rộng về sản phẩm và có tính hiểu biết về các

ứng dụng khoa học công nghệ trong ngân hàng.
1.1.2. Nghiệp vụ ngân hàng quốc tế
1.1.2.1. Khái niệm
Thương mại vượt ra khỏi biên giới quốc gia ra thế giới bên ngoài gặp
ngay vấn đề thanh toán giá trị hàng hóa đã trao đổi; đó là tiền đề ra đời các
nghiệp vụ ngân hàng quốc tế. Đến lượt mình, bằng các sản phẩm tài chính và
kỹ thuật nghiệp vụ không ngừng được cải tiến, nghiệp vụ ngân hàng quốc tế
có sắc thái riêng trong việc tiếp nhận buôn bán, đầu tư từ các nước khác.
Khái niệm “nghiệp vụ ngân hàng quốc tế” chưa được sử dụng một cách
thống nhất trong các sách báo kinh tế ở Việt Nam. Hoạt động ngân hàng quốc
tế gồm rất nhiều hình thức như thực hiện các phương thức thanh toán quốc tế,
bảo lãnh vay-trả nợ nước ngoài, tài trợ xuất nhập khẩu, tham gia thị trường
hối đoái, tín dụng quốc tế, …thực chất cũng là hoạt động kinh doanh tiền tệ,
với phạm vi mở rộng khỏi biên giới quốc gia để hội nhập, giao dịch với ngân
hàng khác trên thế giới.
Như vậy, nghiệp vụ ngân hàng quốc tế là những nghiệp vụ ngân
hàng liên quan đến ngoại tệ, có phạm vi mở rộng khỏi biên giới của một
quốc gia, và có hoạt động giao dịch với các ngân hàng nƣớc ngoài.


11
Các loại hình nghiệp vụ ngân hàng quốc tế khá đa dạng, có thể kể đến:
Hoạt động cho vay và nhận tiền gửi của các chính phủ, doanh nghiệp và các
cá nhân trong và ngoài nước bằng đồng ngoại tệ; Quản lý và làm đại lý cho
các khoản vay đồng tài trợ, tài trợ cho các dự án quốc tế và các hợp đồng
ngoại thương; Thực hiện các giao dịch hối đoái, mua bán vàng, kim loại quý
khác, chuyển tiền quốc tế; Cung cấp các dịch vụ thư tín dụng, thư tín dụng dự
phòng, cung cấp các khoản tín dụng đa ngoại tệ, hối phiếu và các công cụ
phái sinh khác; Mua bán các giao dịch tương lai, quyền chọn, hoán đổi lãi
suất,…; Bảo lãnh thực hiện và phát hành các giấy tờ có giá, hỗ trợ các vụ sáp

nhập, mua lại, giải thể vượt ra ngoài lãnh thổ quốc gia, tư vấn tài chính và
dịch vụ đầu tư. Khách hàng chủ yếu vẫn là các tổ chức phi ngân hàng, các
ngân hàng trung ương các nước và các ngân hàng thương mại khác.
1.1.2.2. Phân loại
1.1.2.2.1. Nghiệp vụ tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu
Tuỳ theo mục đích tài trợ, chúng ta có tài trợ thương mại và tài trợ dự
án. Tài trợ thương mại là khi đồng vốn sử dụng được sử dụng cho mục đích
thương mại. Các khoản vay này thường ngắn hạn, gắn với thương vụ nên thời
gian thu hồi vốn nhanh. Tài trợ xuất nhập khẩu là một trong những hình thức
của tài trợ thương mại. Tài trợ xuất nhập khẩu bao gồm các hình thức sau:
tài trợ nhập khẩu và tài trợ xuất khẩu.
Tài trợ nhập khẩu là các khoản ngân hàng cho người nhập khẩu vay
để thanh toán tiền hàng cho người xuất khẩu. Có ba hình thức phổ biến là: tài
trợ thanh toán bộ chứng từ giao hàng, cho vay bắt buộc và cho vay kí quỹ.
Tài trợ thanh toán bộ chứng từ giao hàng: Theo hình thức này,
khách hàng phải lập phương án kinh doanh khả thi cho lô hàng nhập khẩu về
phục vụ sản xuất hoặc kinh doanh. Đồng thời phải lên kế hoạch tài chính
nhằm xác định khả năng thanh toán khi đến thời điểm thanh toán dự kiến, xác
định khoản thiêu hụt cần ngân hàng tài trợ. Trên cơ sở xem xét và phân tích


12
kế hoạch kinh doanh và phương án của khách hàng, ngân hàng sẽ ra quyết
định tài trợ và xác định mức ngân hàng chấp nhận tài trợ.
Cho vay bắt buộc: Cho vay bắt buộc về nội dung cũng là cho vay
thanh toán bộ chứng từ giao hàng. Tuy nhiên, tình trạng cho vay bắt buộc phát
sinh khi người nhập khẩu không thanh toán hoặc không tập trung đủ tiền để
thanh toán bộ chứng từ giao hàng. Ngân hàng khi đó sẽ cho vay trên giá trị
tiền hàng còn thiếu để thanh toán đúng hạn cho ngân hàng nước ngoài. Người
nhập khẩu nên tránh tình trạng nợ vay bắt buộc do họ phải chịu lãi suất cho

vay tương ứng với lãi suất vay quá hạn. Tuy nhiên, vì khoản vay bắt buộc
mang tính nhất thời nên khách hàng phát sinh vay bắt buộc không hẳn là
khách hàng không lành mạnh, món vay phát sinh thường do họ không tính
toán chính xác trong kế hoạch tài chính, hoặc gặp biến cố bất ngờ trong sản
xuất kinh doanh.
Cho vay kí quỹ: Cho vay ký quỹ là hình thức tài trợ nhập khẩu do
ngân hàng nhà nước quy định hoặc do tính rủi ro của thương vụ quá cao, ngân
hàng sẽ yêu cầu khách hàng ký quỹ với giá trị lớn mà khả năng doanh nghiệp
không đáp ứng được hoặc chỉ đáp ứng được một phần. Điều này gây trở ngại
cho khách hàng trong quá trình thực hiện thương vụ hoặc vay vốn nước ngoài
vì tiền ký quỹ là món tiền bị phong toả khách hàng không được sử dụng trong
suốt thời gian bảo lãnh dẫn đến vốn lưu động của doanh nghiệp bị thu hẹp.
Khi đó, căn cứ trên uy tín của khách hàng, hiệu quả của thương vụ hoặc trên
tài sản đảm bảo, ngân hàng có thể xét cho vay ký quỹ. Cho vay ký quỹ vừa
giải quyết được khó khăn về vốn lưư động cho khách hàng, tăng tính an toàn
và mang lại hiệu quả cho ngân hàng, vừa đảm bảo tuân thủ quy định của ngân
hàng Nhà nước về ký quỹ bảo lãnh. Tuy nhiên, chỉ nên cho vay ký quỹ đối
với khách hàng thực hiện bảo lãnh và thanh toán qua chính ngân hàng cho
vay.


13
Tài trợ xuất khẩu là các khoản ngân hàng cho người xuất khẩu vay
với mục đích bổ sung vốn lưu động cho doanh nghiệp, để họ có khả năng thực
hiện hợp đồng ngoại thương đã ký, và giúp cho doanh nghiệp liên tục sản xuất
kinh doanh, không bị hụt vốn trong thời gian chờ tiền thanh toán hàng hoá của
đối tác nước ngoài. Hiện có hai hình thức phổ biến: Tài trợ vốn lưu động
trong giai đoạn chuẩn bị hàng xuất và chiết khẩu bộ chứng từ hàng xuất.
Tài trợ vốn lƣu động trong giai đoạn chuẩn bị hàng xuất: Giai đoạn
chuẩn bị hàng xuất khẩu bao gồm thu mua nguyên vật liệu, gia công, chế biến

nguyên vật liệu tạo thành sản phẩm. Với những giá trị hợp đồng lớn, thời gian
tạo thành phẩm dài, người xuất khẩu thường không đủ vốn lưu động để chuẩn
bị chọn lô hàng xuất vì vốn nằm cả trong ba khâu: nguyên vật liệu, sản phẩm
dở dang và thành phẩm chờ xuất khẩu. Do vậy, người xuất khẩu phải nhờ vào
sự tài trợ của ngân hàng trong giai đoạn này. Họ đến ngân hàng và xuất trình
các chứng từ minh chứng mục đích sử dụng vốn tài trợ như hợp đồng ngoại
thương, tín dụng thư, xác định tiền phong toả của ngân hàng, tài sản thế chấp
Sau khi xem xét, ngân hàng quyết định hạng mức tài trợ, giá trị tài trợ của
giai đoạn này không vượt quá 70% giai trị lô hàng xuất khẩu.
Chiết khấu bộ chứng từ xuất khẩu: Chiết khấu bộ chứng từ xuất
khẩu là hình thức ngân hàng tài trợ nhà xuất khẩu, thông qua việc mua lại
hoặc cho vay trên cơ sở giá trị bộ chứng từ xuất khẩu hoàn hảo được người
xuất khẩu xuất trình.
Có hai hình thức chiết khấu là chiết khấu có truy đòi và chiết khấu
miễn truy đòi. Chiết khấu miễn truy đòi là người xuất khẩu bán hẳn bộ chứng
từ cho ngân hàng, nhận tiền và không còn trách nhiệm hoàn trả, trách nhiệm
thu tiền và quyền sử dụng số tiền thu được hoàn toàn thuộc về ngân hàng.
Còn chiết khấu được phép truy đòi là khi ngân hàng thực hiện cho vay trên cơ
sở người xuất khẩu xuất trình bộ chứng từ hoàn hảo. Khi đó trách nhiệm
người xuất khẩu vẫn còn cho đến khi ngân hàng đòi được tiền từ người nhập


14
khẩu. Phí chiết khấu được tính dưới hình thức lãi chiết khấu, tính theo ngày
và mức phí dĩ nhiên thấp hơn hình thức chiết khấu miễn truy đòi, vì rủi ro
ngân hàng phải chịu thấp hơn. Tác dụng của hoạt động chiết khấu của ngân
hàng nhằm tài trợ cho người xuất khẩu để đảm bảo sản xuất kinh doanh liên
tục không bị gián đoạn trong thời gian chờ người nhập khẩu thanh toán tiền
hàng [15, trang 44].
1.1.2.2.2. Nghiệp vụ thanh toán quốc tế

Những quan hệ kinh tế vượt ra khỏi biên giới quốc gia làm phát sinh
việc chi trả giữa các tác nhân kinh tế với nhau. Các ngân hàng trong nước
thực hiện về mặt kỹ thuật các hoạt động chu chuyển với nước ngoài, đảm
nhận những rủi ro gắn liền với việc ấy, góp phần đáng kể vào tài trợ ngoại
thương. Việc tài trợ bao hàm sự chuẩn bị sẵn sàng các phương tiện tài chính
và thay thế về mặt tài chính, để hoàn tất nghĩa vụ thanh toán trong quan hệ
kinh tế đối ngoại, cũng như đảm bảo các quá trình thanh toán mậu dịch và phi
mậu dịch có liên quan. Những luồng của cải hữu hình hay vô hình đi ra, đi
vào đất nước đòi hỏi phải có những luồng tài chính ngược chiều đối ứng, đó
là các thanh toán mậu dịch. Ngoài ra, có những luồng dịch chuyển đơn
phương một chiều như cho tặng, viện trợ không hoàn lại diễn ra dưới hình
thức tiền tệ, tạo thành các thanh toán phi mậu dịch. Đây là những giao dịch
làm phát sinh nghiệp vụ thanh toán quốc tế ở ngân hàng. Cơ sở tạo nên giao
dịch là hợp đồng, hiệp ước, hiệp định mang tính quốc tế.
Nghiệp vụ chuyển tiền: Quy trình nghiệp vụ chuyển tiền khá đơn giản
với bốn bên tham gia gồm có: Khách hàng đặt lệnh, là người ra lệnh chuyển
tiền, có thể là khách hàng chủ tài khoản hay chính bản thân ngân hàng; Ngân
hàng đặt lệnh, thực hiện lệnh chuyển tiền; Ngân hàng tiếp nhận tiếp nhận lệnh
chuyển tiền để chi trả cho người hưởng và người hưởng là người nhận tiền.
Giữa hai ngân hàng nơi giữ tài khoản của người trả tiền và người nhận tiền, có
thể có ngân hàng trung gian, làm đại lý thanh toán cho mỗi bên.


15
Khách hàng đặt lệnh gửi đến ngân hàng phục vụ một lệnh yêu cầu trích
từ tài khoản của mình trả cho người thụ hưởng xác định một khoản tiền. Lệnh
chuyển tiền phải chứa đựng đầy đủ các yếu tố như tên và số tài khoản của
người ra lệnh, loại tiền, số tiền, ngày giá trị, ghi vắn tắt đầy đủ nội dung chi
trả, tên đầy đủ, địa chỉ cụ thể và số tài khoản của người hưởng, chữ ký hay mã
khoá của người ra lệnh. Ngân hàng đặt lệnh sau đó có nghĩa vụ kiểm tra tính

pháp lý của bộ chứng từ, nguồn tiền và nghiên cứu chọn tuyến đường tối ưu
để chuyển với yêu cầu thời gian và chi phí tối thiểu, qua các ngân hàng đại lý
trung gian thích hợp cũng như bằng phương pháp thích hợp. Ngân hàng tiếp
nhận sau khi nhận được điện chuyển đến, phải kiểm tra khoá mật cùng nội
dung chi tiết của bức điện, nếu ổn, sẽ ghi có vào tài khoản của khách hàng với
lưu ý về ngày và giá trị món tiền.
Trong nghiệp vụ này ngân hàng chỉ đóng vai trò trung gian thanh toán
thụ động. Khách hàng cẩn thận và am hiểu về ngân hàng có thể yêu cầu bên
đối tác nhờ ngân hàng đứng ra bảo lãnh thực hiện hợp đồng hay bảo lãnh
thanh toán song, các dịch vụ phụ thêm này chưa tiện dụng bằng dịch vụ trọn
gói, trong đó, ngân hàng giữ vai trò tích cực hơn.
Nghiệp vụ nhờ thu: Là nghiệp vụ xử lý của ngân hàng đối với các
chứng từ tài chính, chứng từ thương mại, theo đúng chỉ thị nhận được, để
chứng từ đó được thanh toán, và/ hoặc được chấp nhận hoặc chuyển giao khi
chứng từ được thanh toán và/ hoặc được chấp nhận hoặc chuyển giao chứng
từ theo đúng các điều kiện và điều khoản khác. Tham gia vào quá trình nhờ
thu có các bên: Nhà xuất khẩu (Sau khi giao hàng lên tàu, tập hợp các chứng
từ liên quan đến lô hàng rồi nhờ ngân hàng phục vụ mình, thay mặt gửi đi thu
tiền); Ngân hàng phục vụ người xuất khẩu (Ngân hàng chuyển chứng từ), có
nhiệm vụ xem xét sự phù hợp giữa các chứng từ rồi gửi đến ngân hàng thu hộ;
Ngân hàng thu hộ ( Được phía bên xuất khẩu uỷ quyền thu hộ giá trị bằng tiền


16
của lô hàng trên cơ sở giao chứng từ) và nhà nhập khẩu là người trả tiền, được
kí phát hối phiếu.
Theo thời hạn có hai liệu nhờ thu trả ngay và nhờ thu trả chậm.
Nhờ thu trả ngay: Khi người mua nộp đủ giá trị số tiền của bộ chứng
từ thì ngân hàng mới giao bộ chứng từ để anh ta đi nhận hàng.
Nhờ thu trả chậm: Khi người mua ký chấp nhận lên hối phiếu hay có

văn bản chấp nhận thanh toán khi đến hạn thì ngân hàng thu hộ giao chứng từ
cho người mua đi nhận hàng.
Về cơ sở chứng từ cớ hai loại nhờ thu: Nhờ thu trơn và nhở thu kèm
chứng từ.
Nhờ thu trơn chỉ bao gồm có thư đòi tiền và chứng từ tài chính như hối
phiếu, séc, các loại ngân phiếu thanh toán. Nhờ thu kèm chứng từ gồm đủ
chứng từ thương mại có hay không kèm chứng từ tài chính.
Ở phương thức này, vai trò của ngân hàng được nâng lên một mức so
với phương thức chuyển tiền. Từ trung gian thanh toán, ngân hàng, thông qua
đại lý của mình thu tiền hộ người bán và đảm bảo rằng chừng nào người mua
chưa trả đủ tiền hoặc chưa chấp nhận trả đủ tiền khi đến hạn thì anh ta không
được đụng đến hàng hoá. Trong nghiệp vụ này, ngân hàng có quyền chấp
nhận hay từ chối vai trò. Ngay cả khi chấp nhận thực hiện sự uỷ thác, ngân
hàng cũng không có trách nhiệm phải thực hiện mọi chỉ thị mà người uỷ
nhiệm đưa ra.
Nghiệp vụ thanh toán theo phƣơng thức tín dụng chứng từ (LC):
Phương thức tín dụng chứng từ là một sự thoả thuận, trong đó ngân hàng mở
thư tín dụng theo yêu cầu của khách hàng (nhà nhập khẩu), cam kết hay cho
phép một ngân hàng khác chi trả hoặc chấp thuận những yêu cầu của nhà xuất
khẩu hưởng lợi, theo đúng các điều kiện và chứng từ thanh toán phù hợp với
thư tín dụng đã mở.


17
Các bên tham gia vào quy trình nghiệp vụ tín dụng chứng từ gồm:
Người mua, là người yêu cầu mở thư tín dụng, cũng là nhà nhập khẩu; Ngân
hàng phát hàng thư tín dụng; Người bán, là người hưởng lợi từ thư tín dụng
cũng là nhà xuất khẩu; Ngân hàng được chỉ định, có thể là nhiều ngân hàng
khác nhau tham gia vào quy trình, cũng có thể chỉ có một ngân hàng nhưng
tuỳ lúc mà hành động với tư cách khác nhau; Ngân hàng thông báo, chuyển

giao thư tín dụng đến tận tay bên thụ hưởng; Ngân hàng xác nhận nhằm tăng
thêm uy tín cam kết của ngân hàng phát hành; Ngân hàng xuất trình để tiếp
nhận, kiểm tra, gửi bộ chứng từ do nhà xuất khẩu cung cấp về ngân hàng phát
hành được thanh toán; Ngân hàng thương lượng, với công việc giống như
ngân hàng xuất trình, song, nếu thấy chứng từ hoàn hảo có thể ứng trước tiền
cho nhà xuất khẩu và đòi lại ngân hàng phát hành; Ngân hàng trả tiền hay
ngân hàng hoàn trả, thừa uỷ quyền của ngân hàng phát hành trả tiền cho ngân
hàng xuất trình hay chiết khấu, thông thường, đây là ngân hàng mà ngân hàng
phát hành có tài khoản NOSTRO.
Phương thức tín dụng chứng từ được thực hiện theo quy trình: Sau hai
bên mua bán ký hợp đồng ngoại thương, dựa vào hợp đồng ngoại thương, bên
mua liên hệ với ngân hàng phục vụ mình để xin mở thư tín dụng. Qua thẩm
đinh thấy đạt, ngân hàng mở thư thư tín dụng và chuyển đến cho ngân hàng
đại lý của mình ở gần người bán nhất. Sau khi kiểm tra đúng khoá mật, ngân
hàng này thông báo cho người thụ hưởng biết là thư tín dụng đã được mở
xong. Theo yêu cầu đặc biệt, ngân hàng này có thể ký xác nhận lên thư tín
dụng nhằm đảm bảo việc thanh toán trước khi thông báo cho bên bán. Người
bán làm thủ tục xuất hàng cho người mua và tập hợp chứng từ theo yêu cầu.
Nhà xuất khẩu giao bộ chứng từ cho ngân hàng được chỉ định để xin được
thanh toán. Ngân hàng này kiểm tra bộ chứng từ, nếu thấy hoàn hảo và được
phép của ngân hàng phát hành thì thanh toán cho nhà xuất khẩu. Ngân hàng
này gửi toàn bộ chứng từ đã kiểm tra đến ngân hàng phát hành kèm theo thư
đòi tiền và chỉ dẫn thanh toán. Ngân hàng phát hành kiểm tra chứng từ so với


18
yêu cầu của thư tín dụng. Nếu chứng từ hoàn hảo, ngân hàng phát hành thanh
toán ngay hay thông báo chấp nhận thanh toán cho ngân hàng đã gửi bộ
chứng từ. Nếu có sai sót, ngân hàng phát hành làm điện tỏ ý từ chối, đồng
thời liên hệ với người mở thư tín dụng để xin ý kiến. Khi tiếp nhận chứng

từ bất hợp lệ, ngân hàng phát hành được giải trừ cam kết thanh toán theo
thư tín dụng.
Có nhiều tiêu chí để phân loại thư tín dụng. Theo loại hình gồm có
thư tín dụng không huỷ ngang và thư tín dụng huỷ ngang. Theo thời hạn
thanh toán có thư tín dụng trả ngay và thư tín dụng trả chậm. Theo mức
độ bảo đảm có thư tín dụng thường và thư tín dụng có xác nhận. Theo tính
chất sử dụng có thư tín dụng tuần hoàn, thư tín dụng giáp lưng, thư tín
dụng chuyển nhượng, thư tín dụng dự phòng,…
Ngoài ba phương thức thanh toán cơ bản trên, còn có phương thức
giao hàng trả tiền ngay, phương thức giao chứng từ nhận tiền ngay,
phương thức thanh toán ứng trước, phương thức ghi sổ hay tài khoản mở,
phương thức ký gửi [15, trang 48].
1.1.2.2.3. Nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối
Ngoại hối là một khái niệm dùng để chỉ các phương tiện có giá trị dùng
để thanh toán giữa các quốc gia. Tuỳ theo quan niệm của luật quản lý ngoại
hối của từng nước, khái niệm ngoại hối có thể không giống nhau, nhưng trên
đại thể, có thể bao gồm 5 loại: Ngoại tệ ( tiền của một nước khác lưu thông
trên một nước); Các phương tiện thanh toán quốc tế ghi bằng ngoại tệ như hối
phiếu, lệnh phiếu, séc, thư chuyển tiền, thẻ tín dụng, thư tín dụng; Các chứng
khoán có giá trị ghi bằng ngoại tệ: cổ phiếu, trái phiếu công ty, công trái quốc
gia, trái phiếu kho bạc; Vàng, kim cương, ngọc trai, đá quý được dùng làm
tiền; Tiền Việt Nam dưới các hình thức sau đây: tiền của Việt Nam ở nước
ngoài dưới mọi hình thức khi quay lại Việt Nam, tiền Việt Nam là lợi nhuận


19
của các nhà đầu tư nước ngoài ở Việt Nam, tiền Việt Nam có nguồn gốc ngoại
tệ khác.
Tóm lại, ngoại hối là những phƣơng tiện thanh toán thể hiện dƣới
dạng ngoại tệ hoặc các khoản phải thu, phải đòi bằng ngoại tệ, kể cả vàng

theo tiêu chuẩn quốc tế. Kinh doanh ngoại hối theo nghĩa rộng bao gồm việc
mua bán ngoại hối, đảm bảo ổn định số dư tài khoản kinh doanh ngoại hối tại
nước ngoài, và tìm cách thu lời thông qua chênh lệch tỷ giá và lãi suất giữa
các đồng tiền khác nhau. Theo nghĩa hẹp, kinh doanh ngoại hối chỉ đơn thuần
là việc mua và bán số dư có trên tài khoản bằng ngoại tệ. Kinh doanh ngoại
hối thực hiện các chức năng cơ bản như là hoạt động dịch vụ, để đảm bảo
thực hiện thanh toán trôi chảy cho các khách hàng của ngân hàng giữa các
quốc gia; Tạo cho các doanh nghiệp khả năng tránh rủi ro thay đổi tỷ giá
trong thanh toán bằng ngoại tệ; Tạo khả năng tiếp nhận tín dụng của nước
ngoài bằng bản tệ tại ngân hàng trong nước; Thực hiện nghiệp vụ tiền gửi
bằng ngoại tệ cho khách hàng tại ngân hàng trong nước; Tạo cho các ngân
hàng khả năng tận dụng sự chênh lệch tỷ giá giữa các thị trường ngoại hối
khác nhau; Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tính toán hiệu quả kinh tế
trong hoạt động trao đổi kinh tế đối ngoại thông qua đồng bản tệ.
Kinh doanh ngoại tệ , theo phạm vi không gian, có thể xếp thành
hai loại: hoạt động kinh doanh được thực hiện trong nước và hoạt động
kinh doanh trên thị trường tiền tệ quốc tế.
Những nội dung nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối được thực hiện ở
trong nước bao gồm: nghiệp vụ hối đoái, mua bán ngoại tệ, chi trả kiều
hối cho người nhận trong nước, nghiệp vụ tài khoản ngoại tệ phục vụ các
tổ chức và cá nhân “người cư trú” và “người không cư trú” trên đất nước
sở tại, nghiệp vụ thanh toán thẻ tín dụng quốc tế đối với các cơ sở chấp
nhận thẻ trong nước, nghiệp vụ huy động vốn và cho vay, bảo lãnh bằng
ngoại tệ theo cơ chế trong nước …Kinh doanh ngoại hối trên thị trường

×