Tải bản đầy đủ (.pdf) (20 trang)

Cấu trúc và sinh lý tóc

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (552.81 KB, 20 trang )

1
CẤU TRÚC VÀ SINH LÝ TÓC
1. Cấu trúc cơ bản của tóc
Tóc là một bộ phận mảnh như sợi chỉ mọc từ nang tóc (follicle) trong da động vật có
vú. Tính từ dưới lên tóc chia thành 2 phần: Nang và thân tóc. Tóc lớn lên từ nang
tóc và ngoại trừ điểm này tóc là tế bào hóa sừng và đã chết. Nó gồm có một thân ở
trên da, và một gốc trong da. gốc được mở rộng ở dưới.
1.1. Nang tóc
Nang tóc nằm sâu trong da đầu, có hình quả lê từ đó tóc lớn lên. Nang tóc bao lấy
gốc tóc và được cung cấp dinh dưỡng từ máu qua mao mạch.
Nang tóc là một thực thể riêng biệt bên trong da được hình thành và gắn vớiø những
thành phần của biểu bì.

Hình 3
Cấu trúc của nang tóc
Nang tóc có thể được chia thành hai vùng: bao ở phía ngoài và hành tóc ở trong.
Hành tóc là một cấu trúc gồm những tế bào đang phát triển mạnh, dần dần lớn dài
ra tạo nên dạng hình trụ của tóc. Những tế bào mới sinh ra ở phần dưới của hành tóc
lớn lên và phát triển dần dần lên phía trước hình thành những tế bào phía trên. Khi
các tế bào đạt đến phần cao nhất của hành tóc thì bắt đầu thay đổi: chúng tự xếp
thành sáu lớp hình ống, 3 lớp trong trở thành tóc, 3 lớp ngoài trở thành lớp lót của
bao nang tóc.
Những tế bào đặc biệt trong nang tóc sản sinh chất màu gọi là các melanin, những tế
bào sinh melanin gọi là melanocyte. Tóc phát triển dần lên trên thì melanin cũng
được đưa dần lên trên tóc.
Bên cạnh nang tóc còn có một thành phần quan trọng đó là papilla: Papilla là bộ phận
của cấu trúc da nằm ở phần thấp nhất mang dinh dưỡng qua những mao mạch đến
nuôi tóc.

Printed with FinePrint trial version - purchase at www.fineprint.com



2

1.2. Thân tóc
Các tế bào phát triển, chết và rắn lại thành thân tóc, trong khi những tế bào bên dưới
tiếp tục chia cắt và đẩy lên trên, tóc lớn lên và ra khỏi da
Tính từ ngoài vào trong thân tóc chia làm 3 phần: biểu bì, vỏ và lõiø.

1.2.1. Biểu bì
Biểu bì là lớp ngoài cùng của thân tóc, gồm những vẩy bao trùm thân tóc. Nó được
tạo ra từ sáu đến mười lớp tế bào dài chồng lên nhau. Mỗi tế bào dày khoảng 0,3
m và dài khoảng 100 m, rộng 1m, các vẩy nằm dọc thân tóc như ngói trên mái
nhà.

Printed with FinePrint trial version - purchase at www.fineprint.com


3

Hình 5
Biểu bì
Có ba cấu trúc vẩy cơ bản tạo ra biểu bì : vòng, gai, và xếp lớp. Có thể có sự kết
hợp hay biến đổi những kiểu này.
Cấu trúc vảy dạng vòng thường gặp ở những lông rất mảnh và gặp ở động vật ít gặp
ở người
Cấu trúc vảy dạng vòng



Cấu trúc gai ( Spinous) là những vảy tam giác, tìm thấy ở lông chồn hải

cẩu, mèo và vài động vật khác không bao giờ thấy trong tóc người.

Hình 6.

Sơ đồ vẩy Spinous

Printed with FinePrint trial version - purchase at www.fineprint.com


4


Vẩy xếp lớp gồm những vẩy gối lên nhau với những lề hẹp. thường tìm thấy
trong người và nhiều lông động vật..

Hình 8.

Vẩy xếp lớp

Hình 9
Vi ảnh mẫu vảy trên tóc người
1.1.2. Vỏ
Vỏ là phần chính của tóc gồm các tế bào hình thon dài và hình thoi hóa sừng mà
thành phần chính là hỗn hợp các dạng khác nhau của keratin. Các tế bào hóa sừng
tạo thành các sợi, các sợi lại kết nhau thành những bó lớn hơn. Những bó này gắn kết
nhau bởi những khung (matrix) - Sự kết hợp sợi – matrix rất mạnh mẽ chống lại lực
căng, xoắn.
Một số keratin chứa hàm lượng lưu huỳnh cao. Lưu huỳnh đóng vai trò quan trọng
trong tính chất vật lý của tóc.
Keratin chứa một lượng lớn cystin. Mỗi đơn vị cystin chứa hai cystein trong 2 dây

chuyền nằm gần nhau, liên kết với nhau bởi hai nguyên tử lưu huỳnh, hình thành
cầu nối disulfid.
O
OH
H

NH2

H2N
S

S
NH2

HO

O

Cystin

Printed with FinePrint trial version - purchase at www.fineprint.com


5

Hình 10
Những liên kết hóa học bên trong tóc
Ngoài ra các dây chuyền keratin cũng được liên kết bởi những liên kết khác như
liên kết hro
Trong vỏ tóc có chứa các hạt chất màu, và những cấu trúc thay đổi từ hình trái xoan

tới hình tròn gọi là thể trứng.

Hình 11
Chất màu
Những hạt chất màu thường nhỏ và sẫm. Màu, kích thước và sự phân phối chất màu
trong tóc có thể thay đổi. Trong tóc người, những hạt chất màu tập trung phía biểu bì
trừ những người tóc đỏ lông động vật những hạt chất màu tập trung về phía lõi. Có
hai kiểu hạt: những hạt nhỏ mịn, sẫm xếp đều đặn trong vỏ và những hạt sáng hơn rải
rắc ngẫu nhiên trong vỏ. Một tóc có thể chứa một kiểu hạt hoặc pha trộn.
Bản chất hóa học của các chất màu là melanin một polyme rất phức tạp được chia
thành 2 nhóm: Eumelanin và pheomelanin
Eumelanin màu đen còn pheomelanin màu vàng đến nâu

Printed with FinePrint trial version - purchase at www.fineprint.com


6

Hình 12.
Phân phối chất màu trong người tóc đỏ
Thể trứng là những cấu trúc lớn ( lớn hơn những hạt chất màu), đặc hình cầu hay hình
trái xoan

Hình 13.
Thể trứng trong tóc người
Trong vỏ có chứa một lượng nhỏ nước. Mặc dầu chỉ chiếm 10-13 %, nhưng nước
đóng vai trò quan trọng trong tính chất hóa học và vật lý của tóc.
Tóc thường được bôi trơn bởi dầu sinh ra từ những tuyến chất nhờn (sebaceous
gland). Thành phần chất nhờn là hỗn hợp triglycerid, cholesterol, protein, và những
chất điện giải có tác dụng ngăn chặn sự phát triển của vi khuẩn và làm tóc mềm mại

tránh tóc ròn gẫy. Lượng dầu sinh ra được xác định bởi sự di truyền.
Trong vỏ tóc còn thấy vết kim loại đặc biệt là kẽm. Những phân tử kim loại được
giữ trong tóc trong thời gian tăng trưởng. Các thành phần khác của tóc có thể kể đến
là chất béo, và vitamin.
1.2.3. Tủy

Printed with FinePrint trial version - purchase at www.fineprint.com


7
Tủy là trung tâm của tóc. Nếu được làm đầy không khí, thì nó xuất hiện là một cấu
trúc đen hoặc mờ đục ở dưới đường truyền ánh sáng. Ở người cấu trúc của tủy tóc
không ổn định trong khi ở các động vật thì cấu trúc tủy ổn định rõ ràng.
Tủy trong lông động vật, đóng vai trò trong sự điều chỉnh nhiệt độ cơ thể còn ở
người
không có chức năng này. Sự có mặt không khí trong tủy tóc một số người có thể là
một

Hình 14
Tủy
sự giật lùi tiến hóa khi tổ tiên chúng ta cần sự cách nhiệt.
2. Những tính chất vật lý của tóc
2.1. Sự đàn hồi
Đây là một trong những thuộc tính quan trọng nhất của tóc. Nhờ sự đàn hồi tóc có thể
chịu đựng sự thay đổi hình dạng, thể tích hoặc chiều dàiù.
Khi tóc mạnh khoẻ được làm ướt và căng ra, nó có thể tăng thêm chiều dài tới 30 %
và trả lại cho chiều dài cũ khi nó bị khô. Tuy nhiên khi kéo căng hơn hay lâu dài có
hại tóc thậm trí có thể đứt.
Sự đàn hồi tóc phụ thuộc vào sợi keratin trong vỏ. Những xử lý vật lý hay hóa học
như uốn, tẩy, nhuộm có thể làm thay đổi cấu trúc vỏ và thay đổi sự đàn hồi của tóc.

Tóc với sự đàn hồi kém sẽ giãn ra chỉ tới một phạm vi hạn chế và dễ gãy.
nh sáng mặt trời vàø ánh sáng tử ngoại cũng làm thay đổi thành phần hóa học trong
tóc dẫn đến làm giảm sự đàn hồi.
2.2. Sự tích điện
Khi tóc khô được chà xát, hoặc chải, sự tích điện xảy ra. Thời tiết nóng, sự tích điện
tăng và các sợi tóc đẩy nhau và lúc đó khó tạo hình tóc.
Dầu gội đầu với những chất diện hoạt trong đó làm giảm sự ma sát giữa các sợi tóc
tóc ít tích điện nên tóc ít rối.

Printed with FinePrint trial version - purchase at www.fineprint.com


8
2.3. Độ ẩm của tóc
Độ ẩm tóc thay đổi theo độ ẩm khí quyển. Khi tóc ẩm vỏ phình lên và các mép vẩy
biểu bì nâng lên. Bề mặt tóc tạm thời mất sự bằng phẳng. Lúc đó tóc ma sát nhiều
hơn có thể dẫn tới làm rối tóc.
2.4. Độ bền của tóc
Tóc mạnh mẽ đáng ngạc nhiên : một sợi tóc có thể nâng tải trọng khoảng 100 gam
mà không bị đứt.
Keratin quyết định sức mạnh khác thường này. Những phân tử chất sừng trong vỏ
được nén thành một cấu trúc hoàn chỉnh , không chỉ mạnh mẽ mà còn linh hoạt.
Cầu nối disulphid quyết định độ bền của chuỗi keratin. Cầu disulfid gắn chặt các
chuỗi keratn giống một cái thang.
Liên kết disulfid là một trong những liên kết mạnh mẽ nhất trong thiên nhiên. sự
liên kết bởi những sự kết nối disulfid giữa những dây chuyền keratin tăng sức mạnh
của tóc.
2.5. Tính linh hoạt của tóc
Bên trong mỗi sợi tóc các dây chuyền keratin cũng được liên kết bởi liên kết hro.
Có nhiều liên kết hro hơn liên kết disulfid. Liên kết hro yếu và dễ vỡ hơn liên

kết disulfid, chúng tạo cho tóc tính linh hoạt. Những liên kết hydro bị vỡ khi tóc được
làm ướt, và tạo trở lại khi tóc khô. Khi liên kết gãy hình dạng tóc thay đổi. Khi tóc
được làm ẩm rồi cuốn lại nó sẽ tạo hình dạng mới khi làm khô nó sẽ giữ hình dạng
này. Sự thay đổi hình dạng tóc chỉ tạm thời vì điều đó sẽ mất đi khi tóc bị làm ướt,
lúc đó liên kết hro mới bị gãy lần nữa.
2.5. Kích thước tóc
Tóc người có thể dày hoặc mỏng, thô hoặc tinh tế. Điều này phụ thuộc vào hai yếu tố
số lượng tóc và bề dày mỗi thân tóc.
Người ta khác nhau về số lượng tóc. Trung bình có khoảng 100.000 sợi tóc, những
người tóc rất dầy có thể đến 150,000 sợi tóc.
Đường kính thân tóc cũng thay đổi: khoãng 57- 90 m ở Châu u, 120 m châu Á
3- Các dạng tóc
Có rất nhiểu dạng tóc khác nhau. Dạng tóc được thừa kế từ cha mẹ, xa hơn được xác
định bởi tổ tiên. Các nhà khoa học đã xác định ba kiểu tóc cơ bản: Châu ,
Caucasoid và Châu Phi.
Ba kiểu tóc không chỉ khác về hình thức mà còn khác nhau trong sự đáp ứng với các
tác nhân hóa học hay vật lý.
Châu á: Tóc thẳng, và đen.
Caucasoid: Nhóm Caucasoid là đa dạng nhất trong ba nhóm chủng tộc. Caucasoid
hiện đại đã thay đổi rất nhiều, dù chúng được thừa kế từ tổ tiên. Chúng trải rộng từ
Châu Âu bắc tây đến n độ. Tóc của họ có thể gợn sóng hoặc thẳng, và đường kính
thay đổi rộng. Màu thay đổi từ màu đen đến vàng nhạt hay màu trắng,
Châu Phi: Chặt xoăn, khô, và dễ bị hại bởi nhiệt hoặc hóa chất.
4. Chu trình tăng trưởng tóc

Printed with FinePrint trial version - purchase at www.fineprint.com


9
Mỗi tóc riêng lẻ được hình thành bên trong một hành tóc nằm sâu trong nang tóc.

Nang tóc là một nhà máy nhỏ nhưng mạnh. Từ lúc sinh ra và sau nhiều thập niên,
nang tiếp tục sinh ra tóc. Mỗi sợi tóc lớn lên trong nhiều năm, trong thời gian này nó
sẽ chịu nhiều tác động như gội, cắt, thổi khô, ánh nắng mặt trời chiếu, gió thổi,
nhuộm hoặc tẩy, uốn v.v.v Nhưng không tác nhân nào ảnh hưởng sự tăng trưởng tóc
trong hành tóc, dù các tác nhân đó có thể làm hại thân tóc. Cuối cùng tóc tự động rơi
ở ngoài. Nang tóc bắt đầu sản xuất tóc mới. Đây là chu trình tóc.
Hiểu biết chu trình tóc cũng có thể giúp hạn chế sự rụng tóc
4.1. Những giai đoạn của chu trình tóc
Thời gian bắt đầu lớn lên và rụng tóc mỗi sợi tóc trải qua ba giai đoạn.:
Anagen ( pha gia tăng), 1000 ngày
Catagen ( pha trung gian) 10 ngày
Telogen ( pha rụng)100 ngày
4.1.1. Pha anagen
Tóc mới bắt đầu mọc và phát triển mạnh. Trong thời gian này có sự tăng trưởng rất
mạnh trong hành tóc. Thông thường kéo dài ba đến bảy năm chiếm khoảng 85 % thời
gian phát triển tóc.
Không gì ngăn cản hoạt động của nang tóc. hay cản trở sự tăng trưởng của những
tóc trong pha anagen trừ đốt cháy hoặc thành sẹo. Các thuốc chống ung thư có thể
cản trở tóc lớn lên. Tuy nhiên, sự gián đoạn phát triển tóc chỉ tạm thời, tóc lại phát
triển trở lại khi dừng thuốc.
Độ dài pha anagen được xác định bơiû tính chất di truyền, giới tính. Độ dài pha này
quyết định thời gian tóc lớn lên và rụng.

Hình 15
Chu trình tăng trưởng tóc
Tóc lớn lên với nhịp độ 1 cm một tháng, tóc có thể dài tới một mét hay hơn.
Tóc phát triển trong mùa đông nhanh hơn mùa hè. Sự thay đổi tăng trưởng tóc theo
mùa là kết quả của một sự thay đổi trong nang tóc trong pha tăng trưởng và pha
rụng.
4.1.2. Pha catagen ( pha trung gian)


Printed with FinePrint trial version - purchase at www.fineprint.com


10
Pha catagen là một pha nghỉ ngắn. Pha catagen này kéo dài hai đến bốn tuần trong da
đầu. Trong thời gian pha này papilla đặc lại và những tế bào follicle dừng phát triển
và co lại tới khoảng 1 / 6 kích thước bình thường của nó. Không có chất màu nào
được tạo ra trong thời gian ấy. Follicle dừng việc sinh tóc và chuyển lên trên về phía
bề mặt da.
4.1.3. Pha telogen ( pha rụng)
pha này những papilla trở thành cô lập trong vùng da và tóc vẫn còn nằm trong
follicle nhưng có thể dễ dàng được kéo khi chải tóc ( sự rụng tóc bình thường). Nếu
sợi tóc già chưa rụng, nó sẽ được đẩy ra bởi sợi tóc mới lớn lên bên dưới.
Pha telogen kéo dài ba hoặc bốn tháng. thời gian này tóc mới bắt đầu lớn lên từ
follicle tóc. Trong khi tóc già sẽ rụng tự nhiên dễ dàng và không đau đớn. điều đó có
thể xảy ra khi gội hoặc chải đầu .
Sự rụng là quá trình bình thường của sự thay thế tóc cũ bằng tóc mới. Vào bất kỳ một
thời gian nào, một phần mười follicle trên đầu ở trong pha rụng.
Tóm lại:
 Mỗi đầu người mang 100,000 follicle tóc
 Mỗi follicle có thể sinh nhiều tóc qua một cả cuộc đời : khoảng hai mươi lần
 Tóc lớn lên ở nhịp độ khoảng 1 cm một tháng.
 Sau một năm nó sẽ là 12 dài cm. Sau năm năm nó sẽ là 60 cm.
 Tóc dài tới thắt lưng là 80 -90 cm, mất khoảng bảy năm để lớn lên.
 Tóc dài tới vai sẽ mất khoảng ba năm. Như vậy chỉ những người với thời gian
anagen dài tóc của họ có thể dài tới thắt lưng.
 Không phải là tất cả follicle này đang tích cực sản sinh tóc vào bất kỳ một
thời gian nào. mỗi follicle trải qua lặp lại những chu trình tăng trưởng tích cực
và nghỉ ngơi. Độ dài chu trình thay đổi với cá nhân, và cũng với bộ phận cơ thể

 Tóc trên da đầu không lớn lên cùng lúc. Chúng nằm trong những chu trình
khác nhau. Nếu không phải như vậy Mọi người sẽ trọc tạm thời trong từng thời
gian .
 Sự rụng và gia tăng tóc có vẻ xảy ra tình cờ, nhưng mỗi follicle tóc quá trình
được kiểm soát chính xác. Không biết chính xác làm sao cơ thể điều khiển chu
trình đó.
 Việc nhổ tóc từ một follicle dẫn đến sự tăng trưởng tóc trong follicle đó ở thời
kỳ tiếp theo.
 Sự cắt tóc không làm tóc lớn nhanh hơn dày hơn. sự cạo lông không làm làm
lông thô hơn – Đó chỉ là cảm nhận kích thước tóc do gien xác định chứ không
phải là do bị tác động bởi bất cứ yếu tố nào.
Qua năm tháng, số follicle có khả năng sinh tóc giảm đi. Ở những người già thời kỳ
anagen ngắn lại.
Lúc này có sự suy giảm phát triển tóc, đặc biệt trên đỉnh đầu. Một số follicle sinh
những tóc ngắn, không có sắc tố, Ở phụ nữ lớn tuổi điều này dẫn tới tóc mỏng. đàn
ông có thể dẫn tới rụng tóc.

Printed with FinePrint trial version - purchase at www.fineprint.com


11
5- Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tăng trưởng tóc
Sức khỏe và yếu tố dinh dưỡng được cho là quan trọng cho sự tăng trưởng tóc.
Chúng ta biết rằng bệnh thiếu máu ảnh hưởng nghiêm trọng sự tăng trưởng tóc. Cũng
như vậy ï sự thiếu ăn, những người ăn kiêng có thể bị rụng tóc sau sáu tới mười tuần
sau. Những người nghiện rượu có sự tăng trưởng tóc kém vì có thể bị suy dinh dưỡng.
Muối khoáng đặc biệt quan trọng cho sự tăng trưởng tóc. Những người thiếu kẽm tóc
thường ngắn , thưa thớt. Panthenol, đóng một phần trong sự tăng trưởng tóc, nó cũng
cải thiện những thuộc tính vật lý ( sự đàn hồi, sức mạnh và độ bóng) của tóc.
Các vi tamin đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển tóc ( xem bảng 1)

Bảng 1:
Vai trò vitamin đối với tóc và nhu cầu
Vitamin
A

Tác dụng
Giúp cho quá trình tạo chất
nhờn cho tóc. Chống oxy
hóa
C
Chống oxy hóa duy trì sức
khỏe da, tóc
E
Chống oxy hóa thúc đẩy
chu trình tóc
Biotin
Tạo keratin chống bạc tóc,
rụng tóc
Inositol
Giữ cho tế bào follicle
mạnh khoẻ
Niacin (Vitamin Thúc đẩy chu trình tóc
B3)
Vitamin B5
Chống bạc tóc, rụng tóc
Vitamin B6
Ngăn ngừa sự rụng tóc,
giúp tạo melanin
Vitamin B12
Ngăn ngừa sự mất tóc


Nhu cầu
5000 UI/ ngày
không quá 25000UI / ngaøy
60mg/ngaøy
400 UI/ ngaøy
150-300 mcg/ngaøy
600 mg/ ngaøy
15 mg/ngaøy
4-7 mg/ ngày
1,6 mg/ ngày
2mg/ ngày

Chu trình tóc chịu ảnh hưởng bởi nhiều hormon. Hormon tuyến giáp tăng tốc độ tăng
trưởng follicle tóc. Hormon nam (testosteron) là yếu tố quan trọng điều chỉnh sự tăng
trưởng tóc cũng như độ dày của thân tóc. Các hormon nữ (oestrogen) làm chậm sự
tăng trưởng tóc trong pha gia tăng nhưng cũng làm cho thời kỳ đó là dài hơn. Nhiều
phụ nữ thấy sự thay đổi trong sự tăng trưởng tóc thời kỳ mang thai do trong thời gian
này phụ nữ có lượng oestrogen trong máu cao, sự cân bằng giữa hormon nam và
hormon nữ cũng quyết định sự tăng trưởng tóc.
Chúng ta đã đã thấy ở tuổi dậy thì hệ thống lông tóc thay đổi. Sự thay đổi này do sự
tăng androgen. đặc biệt trong những người đàn ông tre.û Những hiệu ứng của
androgen tiếp tục sau tuổi dậy thì. Vài vùng da đáp ứng hormon mạnh hơn chỗ khác.

Printed with FinePrint trial version - purchase at www.fineprint.com


12
mu và nách, lông bắt đầu bắt đẩu phát triển ngay sau tuổi dậy thì. Râu chưa phát
triển đầy đủ cho đến khi đạt đến tuổi 30. Sự tăng trưởng lông ngực đạt đến tối đa khi

đã trưởng thành , lông mũi tai mọc tối đa khi tuổi đã cao.

Hình 16

( Trái) cậu bé này có một sự thiếu hụt kẽm, và tóc rất mỏng và thưa thớt;
(phải) sau khi điều trị tóc khỏe mạnh hơn
6. Sự rụng tóc
Nhiều người lo lắng bởi vì thấy tóc trên quần áo của họ, hoặc sau gội, và chúng trở
thành nỗi sợ hãi, ám ảnh.
Nếu kéo tóc nhẹ, thì có thể thấy một ít tóc rụng. Thực ra những tóc đó đã sẵn sàng
để rụng, tóc telogen. Có thể xác nhận điều này bởi việc xem những gốc trong một
ánh sáng tốt. Một gốc telogen follicle là một viên cứng, trắng nhỏ bé.
Nếu gốc tóc mà được kéo ra béo, mềm, dẻo, dính - vẫn còn mang chất lỏng từ
follicle và việc kéo nó ở ngoài làm đau thì đây là một tóc anagen, đây không phải là
tóc sẵn sàng để rụng.

Hình 17

Chân tóc pha anagen mềm và dính

Printed with FinePrint trial version - purchase at www.fineprint.com


13
Tóc telogen rụng ra ngoài rất dễ dàng. Trong giai đoạn tóc catagen biến đổi thành
telogen, gốc tóc đi vào follicle chậm chạp. Những gốc tóc trong giai đoạn đầu
telogen có thể được kéo ra trước khi chúng sẵn sàng để đi ra, đặc biệt nếu tóc được
gội. Sau khi gội 2-3 ngày có thể thấy tóc rụng nhiều hơn. Trong điều kiện bình thường, khi thấy tóc rụng sau gội thì lúc đó tóc mới đã bắt đầu mọc
Sự rụng tóc có thể do nhiều nguyên nhân nhưng có thể chia thành 2 nhóm nguyên
nhân :

6.1. Rụng tóc sinh lý
Papilla là cấu trúc quan trọng nhất trong nang tóc có trách nhiệm với sự tăng trưởng
cũng như sự mất tóc. papilla nhận tín hiệu testosteron . testosteron đóng vai trò chính
trong điều chỉnh - sự tăng trưởng tóc. Sự chuyển hóa testosteron nhờ một emzym gọi
là 5- reductase tạo thaønh DHT (5 - dihydrotestosteron).
OH

OH

5 - reductase

O

+
NADP H + H NADP
O

H

Testeron
5 - Dihydrotestosteron
DHT ức chế ADN sản sinh các protein cần thiết sự tăng trưởng tóc. rút ngắn pha
anagen hoặc dài pha telogen. DHT cũng làm gây ra tóc ngắn hơn. Ngoài ra một số
vitamin và chất khóang cần thiết cũng giảm. DHT chịu trách nhiệm tới 95 % sự rụng
tóc. Quá trình rụng sinh lý nói chung không thể thay đổi và mang yếu tố di truyển.
Gien rụng tóc nằm trên nhiễm sắc thể Y. Ngoài ra số lượng testosteron trên nam cao
hơn trên nữ nhiều vì thế thường chỉ có đàn ông hói dầu. Tuy nhiên theo thống kê ở
Hoa kỳ có khoảng 21 triệu phụ nử cũng mắc chứng rụng tóc. Những hoạn quan
thường không bị hói.
6.2. Rụng tóc do những nguyên nhân khác

Có rất nhiều nguyên nhân khác có thể gây rụng tóc thí dụ: nhiễm nấm hay các quá
trình dùng các hóa chất có hại cho tóc như các chất oxy hóa (thuốc nhuộm tóc), chất
khử (tẩy tóc ) hay các mỹ phẩm khác. Quá trình này có thể thay đổi khi ngừng dùng
các hóa chất có hại tóc.
Trong thân tóc bình thường chưa bị tổn hại, rất ít nước vào hoặc ra khỏi vỏ. Khi tóc
được uốn hoặc nhuộm, hóa chất xâm nhập vào vỏ phản ứng với chất sừng bên trong
nó. Việc tăng nhiệt độ, hoặc sử dụng nước có tính kiềm các vẩy dựng lên, cho phép
hóa chất đi qua qua biểu bì. Quá trình kết thúc các vẩy đóng lại.

Printed with FinePrint trial version - purchase at www.fineprint.com


14

Hình 18

Vẩy tóc dưới tác dụng của các quá trình xử lý

Nhưng nếu tóc được xử lý nhiều lần vảy có thể không trở lại kín như cũ tác dụng bảo
vệ của chúng bị mất. Biểu bì cũng có thể bị hư hại khi làm khô nóng, việc cuộn tóc
nóng quá, hay tác động của gió và mặt trời. Tóc trở thành xốp và nước có thể ra khỏi
vỏ làm tóc khô, biểu bì dễ vỡ, dần dần làm yếu tóc
Tất cả các dầu gội hiện nay đều chứa thành phần chính là các chất hoạt động bề mặt
có tác dụng tẩy rửa và những chất phụ gia như những chất màu, mùi, các chất làm
đặc và hiện nay rất nhiều dầu gội đầu còn chứa các chất có tính chất trị liệu như các
vitamin, các chất trị gầu v..v.v.v
Những thành phần trong dầu gội đầu nói chung không làm hại tóc hoặc da đầu.
Dầu gội đầu không thay đổi những tính chất vật lý tóc, như sự đàn hồi và độ bền tóc
Người ta cũng không thấy bằng chứng dầu gội đầu gây ra tóc bọt gây ra gầu.
Nhiều người không biết rằng sự rụng tóc là một quá trình tự nhiên mà không có tác

nhân nào thay đổi được.
Dầu gội đầu không gây ra sự rụng tóc cũng như không ảnh hưởng nào trên nhịp độ
tăng trưởng tóc.
Cuối cùng những yếu tố dinh dưỡng protein, vitamin, chất khoáng đặc biệt là kẽm
nếu thiếu cũng là những yếu tố gây rụng tóc.
7- Tóc và tuổi già
Ở người già chu trình tóc trở thành ngắn hơn, follicle dần dần không sản sinh tóc
mạnh mẽ, và những tóc trở thành mỏng hơn và ngắn hơn. thậm chí rụng tóc.
Số follicle hạot động giảm 30 tới 50 % giữa tuổi ba mươi tới năm mươi. Điều này
liên quan với một sự thay đổi hormon. Tóc trở thành là thưa thớt hơn và các hạch
chất nhờn giảm tiết gần 30 phần trăm ở phụ nữ

Printed with FinePrint trial version - purchase at www.fineprint.com


15
Chất màu ( melanin) được tạo ra trong nang tóc chu trình tóc. những người già tóc ít
chất màu. Điều đó giải thích tại sao tóc trắng bắt đầu xuất hiện, dù tóc có thể vẫn
còn đang lớn lên khỏe mạnh.
Melanin là chất màu nâu được sinh bởi những tế bào gọi là melanocyte. Những tế
bào này nằm trong lớp đáy biểu bì. Số lượng chất màu giảm với tuổi. Cùng lúc,
không gian lõi thân tóc rộng ra. Sự kết hợp những sự thay đổi này là nguyên nhân
làm tóc bạc với tuổi. Tuy nhiên toàn bộ quá trình trên còn chịu ảnh hưởng bởi sự di
truyền, chủng tộc, giới.
8- Gàu
Gàu (tiếng Latinh simplex capillitii ) là sự bong của các tế bào da chết từ da đầu.
Bình thường các tế bào da chết và bong ra với số lượng nhỏ khoảng 487.000 tế
bào/cm2 và được làm sạch bằng chất tẩy rửa. Một số người hoặc do bệnh mạn tính
hoặc là một kết quả của tác nhân nào đó gây nên một số lượng lớn bất thường
800.000 tế bào /cm2, có thể kèm theo da đỏ và kích ứng. Hầu hết các trường hợp gàu

có thể dễ dàng điều trị bằng các loại dầu gội .
Gàu là một rối loạn da đầu ảnh hưởng đến gần một nửa dân số ở tuổi trước dậy thì và
của bất kỳ giới tính và sắc tộc. Trong một số nền văn hóa coi gàu là sự không tốt về
mặt thẩm mỹ. Những người bị gàu có thể bị ảnh hưởng đến lòng tự trọng. Điều trị
gầu quan trọng đối với cả hai lý do sinh lý và tâm lý. Gầu cũng thường gây ra ngứa.
Mức độ nghiêm trọng của gàu có thể dao động theo mùa thường nặng hơn vào mùa
đông.
8.1.Nguyên nhân
Khi lớp biểu bì liên tục thay thế, các tế bào được đẩy ra ngoài, chết và bong ra. Trong
hầu hết mọi người, những mảnh da quá nhỏ để được nhìn thấy. Tuy nhiên, điều kiện
nhất định làm cho các tế bào tăng bất thường nhanh chóng, đặc biệt là ở da đầu. Đối
với những người có gàu, các tế bào da có thể trưởng thành và bong ra trong 2-7 ngày
khác với khoảng một tháng ở những người không có gàu. Kết quả là các tế bào da
chết được đổ ra lớn, lượng dầu trên tóc cũng tăng, xuất hiện những mảng màu trắng
hoặc xám trên da, da đầu và quần áo.
Gàu đã được chứng minh là kết quả của ba yếu tố cần thiết:
- Da dầu. Dầu kết dính các tế bào chết
- Vi sinh vật (đặc biệt là hầu hết các loại men Malassezia)
Trong các tài liệu cũ cho rằng nấm Malassezia furfur (trước đây gọi là Pityrosporum
ovale) là nguyên nhân gây ra gàu. Trong khi loài này không xảy ra tự nhiên trên bề
mặt da của cả hai người khỏe mạnh và những người có gàu. Năm 2007 đã phát hiện
một loại nấm da đầu cụ thể là Malassezia globosa, chuyển hóa các chất béo có trong
bã nhờn qua tác dụng của lipase, kết quả tạo ra acid oleic. Trong gàu, mức độ tăng
Malassezia bằng 1,5 đến 2 lần so với bình thường. Acid oleic xâm nhập vào lớp trên
cùng của lớp biểu bì, lớp sừng, kết quả gây ra phản ứng viêm ở những người nhạy

Printed with FinePrint trial version - purchase at www.fineprint.com


16

cảm làm rối loạn cân bằng nội môi và kết quả gây nên sự phân cắt bất thường của tế
bào lớp sừng
- Nhạy cảm
Hiếm khi, gàu có thể là một biểu hiện của một phản ứng dị ứng với hóa chất trong gel
mái tóc, thuốc xịt, và dầu gội đầu, dầu tóc, hoặc đôi khi ngay cả thuốc gàu như
ketoconazol
Có một số bằng chứng cho thấy quá nhiều mồ hôi và khí hậu có vai trò quan trọng
trong bệnh sinh của gàu.
8.2. Thành phần gàu
Gàu là một cụm sừng gắn kết với nhau và tróc ra từ bề mặt của các tầng lớp sừng.
Kích thước và số lượng không đồng nhất ở các vị trí khác nhau và thời gian khác
nhau. Các tế bào sừng có nhân thường là một phần của gàu. Số lượng tế bào này liên
quan đến mức độ nghiêm trọng của các biểu hiện lâm sàng, mà cũng có thể bị ảnh
hưởng bởi tăng tiết bã nhờn.
Bong da có thể là một triệu chứng của viêm da tiết bã. Thay đổi theo mùa, căng
thẳng, và ức chế miễn dịch dường như ảnh hưởng đến viêm da tiết bã.
8.3. Điều trị
Dầu gội đầu thường được sử dụng trong trị gầu. Đó là sự kết hợp các thành phần kiểm
soát gàu.
Kẽm pyrithion (ZPT)

giúp bình thường hóa quá trình sừng hóa biểu mô hoặc sản xuất bã nhờn hoặc cả hai.
Ngoài ra một số nghiên cứu đã cho thấy giảm đáng kể số lượng nấm men sau khi sử
dụng ZPT, nó là một tác nhân kháng nấm và kháng khuẩn. Một nghiên cứu của
Warner cho thấy giảm đáng kể các cấu trúc bất thường được tìm thấy trong gàu khi
sử dụng ZPT
Steroid
Corticosteroid có tác dụng chống viêm và chống tăng sinh tế bào.
Selenium sulfid


Selenium sulfid
Selenium sulfid chủ yếu chống Malassezia chứ không phải là do tác động tăng sinh tế
bào của nó, mặc dù nó có tác dụng trong việc giảm tế bào. Nó có đặc tính chống tiết
bã cũng như tác dụng kìm chế sự tăng các tế bào của biểu bì và biểu mô nang.
Các thuốc chống naám imidazol
N

N
O
O
N
H3C

N

O

O
Cl

Printed with FinePrint trial version - purchase at www.fineprint.com

Cl


17

Các thuốc chống nấm imidazol như ketoconazol tác dụng bằng cách ngăn chặn sự
sinh tổng hợp ergosterol, dẫn xuất sterol chính của màng tế bào nấm. Thay đổi tính
thấm của màng tế gây ra bởi sự suy giảm ergosterol không phù hợp với sự phát triển

nấm
Ketoconazol có phổ rộng, đã trở thành ứng cử viên hàng đầu trong số các lựa chọn
điều trị bởi vì hiệu quả của nó trong điều trị viêm da tiết bã.
CH3
Hydroxypyridon
O

OH
N

Ciclopirox

CH3

Khác với Các thuốc chống nấm imidazol, hydroxypyridon đó không ảnh hưởng đến
sinh tổng hợp sterol, thay vào đó can thiệp với các hoạt động vận chuyển các đại phân
tử cần thiết cho tạo màng tế bào và quá trình hô hấp của tế bào. Cơ chế chưa rõ
nhưng nhiều nghiên cứu đã chứng minh tác dụng trên AND. Ciclopirox hiện được sử
dụng rộng rãi
8. Một số thuốc chống rụng tóc
ACID AZELAIC
O
HO

O
OH

P.t.l: 188,22
C9H16O4
Acid azelaic là một acid dicarboxylic no có trong tự nhiên được tìm thấy trong lúa mì,

lúa mạch và mạch nha. Và được tạo ra từ Malassezia furfur ( hay Pityrosporum
ovale), một men có trên da bình thường có hiệu quả chống lại một số bệnh da, như
mụn nhọt, dùng dạng cream 20%. Azelaic acid có tác dụng kích thích mọc tóc.
Tổng hợp từ các acid béo mạch dài:
O3
Acid linoleic, ricinoleic
Acid azelaic
Tác dụng
Azelaic acid làm: giảm tốc độ tăng trưởng của vi khuẩn Propionibacterium acnes và
Staphylococcus epidermidis ở folicle
Tróc da và tẩy mụn trứng cá
Scavenger của gốc tự do, và giảm viêm.
Làm giảm sác tố: nó là đặc biệt hữu ích cho bệnh nhân bị nám da. Nhưng cũng cần
lưu ý hiện tượng mất sắc tố da khi dùng acid azelaic.

Printed with FinePrint trial version - purchase at www.fineprint.com


18
Azelaic acid có tác dụng kích thích mọc tóc. Một báo cáo nghiên cứu do Stamatiadis
năm 1988 đã đề xuất rằng azelaic axit (và kết hợp của nó, với kẽm và vitamin B6) ức
chế mạnh 5-alpha reductase (5-AR), enzym 5-AR, chuyển đổi testosteron thành
dihydrotestosteron (DHT). DHT gây hại follicle tóc.
Không độc hại, và thích hợp với hầu hết bệnh nhân.
5-alpha reductase
testosteron
dihydrotestosteron (DHT).
Azelaic acid không kết quả trong
Vi khuẩn kháng thuốc kháng sinh.
Nhạy cảm ánh sáng

Acid azelaic 20% có thể gây kích ứng da, nên cần được sử dụng theo chỉ dẫn của bác
só.
Chỉ định
Azelaic acid được dùng để trị mụn trứng cá và mụn viêm. Tác dụng của nó là ngăn
chặn sự tăng trưởng của vi khuẩn gây ra mụn da, và bằng cách giữ cho lỗ chân lông rõ
ràng
Azelaic acid này cũng được sử dụng dạng gel để giảm viêm.
Kích thích mọc tóc..
Biệt dược: Azelex, Finacea, Finevin, Skinoren (Anh)
MINOXIDIL
N

N

NH2
N

NH2

O

Tên khác: Alopexil; Alostil; Loniten; Lonolox; Minoximen ; Normoxidil; Prexidil
p.t.l 209,25
C9H15N5O
Tên khoa học: 6-(1-Piperidinyl)-2,4-pyrimidinediamin 3-oxid
Tính chất
Kết tinh từ methanol-acetonitril. Độ tan. (mg/ml). propylen glycol 75, methanol 44,
ethanol 29, 2-propanol 67, dimethylsulfoxid 6.5
Nhiệt độ nóng chảy. 248oC , phân hủy ở 259-261oC
UV max. (ethanol) 230 , 261, 285 nm (H 2SO4 0,01 N); 232 , 280 nm (KOH 0.01 N)

231, 261,5 , 285 nm.
Tác dụng dược lực
- Tác dụng. Minoxidil dùng dạng uống là thuốc hạ huyết áp nhưng dùng ngoài để
chốmg rụng tóc, minoxidil được phát hiện 1965 nhưng đến 1979 mới được dùng làm
thuốc hạ huyết áp và đến 1988 được dùng làm thuốc chống rụng tóc.

Printed with FinePrint trial version - purchase at www.fineprint.com


19
- Cơ chế tác động. Minoxidil tác dụng trực tiếp trên cơ trơn động mạch làm giảm sự
cản trở trên mạch ngoại biên dẫn tới làm giảm áp lực máu. Minoxidil không ức chế
hệ thần kinh trung ương hay hệ adrenergic. Minoxidil làm chậm sự thủy phân AMP
vòng qua sự ức chế phosphodiesterase có thể đóng góp lên tác dụng hạ áp của thuốc .
Cơ chế chống rụng tóc hiện nay chưa rõ. Khi sử dụng trong điều trị rụng tóc không
gây hạ huyết áp. Minoxidil có thể tác dụng trực tiếp lên nang tóc hay kích thích mao
mạch nang tóc , tăng máu đi qua da đầu. Minoxidil cũng làm thay đổi sự chuyển hóa
androgen da đầu
-Tương tác thuốc. tác dụng hạ huyết áp có thể tăng mạnh khi phối hợp với các thuốc
lợi tiểu hay các thuốc hạ huyết áp khác. Cần theo dõi bệnh nhân.
Các thuốc kháng viêm nonsteroid làm giảm tác dụng của minoxidil do ức chế sinh
tổng hợp prostaglandin và giữ muối nước
-Tác dụng phụ. Giữ muối , nước, chứng rậm lông, phù ngoại biên
tăng tần số tim, hạ huyết áp thế đứng ( ít gặp ).
Chỉ định
Vì có nhiều tác dụng phụ nên chỉ dùng trị huyết áp cao nặng hay không thể dùng
những thuốc hạ huyết áp khác. Không dùng cho cao huyết áp nhẹ
Chống chỉ định
Bệnh u tế bào ưa crom, cao huyết áp phổi thứ cấp do hẹp van hai lá, nhồi máu cơ
tim.

Dạng dùng
viên 2,5 mg, 5mg, 10mg
Thuốc mỡ 2%- 5%
Liều dùng
Người lớn 5- 40mg/ ngày
Trẻ em dưới 12 tuổi 0,2m/kg/ ngày
TRETIONTN
O
OH

C20H28O2
P.t.l: 300,44
Tretinoin là dạng acid của vitamin A thường được sử dụng để chữa trị mụn. Được sử
dụng ở dạng kem hay gel
Thường phối hợp với minoxidil trong điều trị rụng tóc
Chỉ định
Khoa da liễu
Tretinoin nhất là thường dùng trị mụn. Đây là retinoid đầu tiên được dùng trên da.

Printed with FinePrint trial version - purchase at www.fineprint.com


20
Nó được sử dụng điều trị rụng tóc và cũng là một thành phần của nhiều sản phẩm
được quảng cáo là có thể làm chậm lão hóa da hoặc xoá vết nhăn. tretinoin cũng có
thể dùng để chữa trị và giảm bớt da căng bằng cách tăng sản xuất collagen trong chân
bì.
Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng tretinoin có tác dụng chống rụng tóc phối hợp với
minoxidil. Hỗn hợp này dường như là với tác dụng làm tăng sự hấp thu minoxidil.
Các phản ứng phụ

Làm khô da hay gia tăng sự nhạy cảm của da. Bệnh nhân nên cẩn thận và làm theo
chỉ định của bác só khi bắt đầu một vòng điều trị.
Sản phẩm này làm tăng nguy cơ cháy nắng cực vì thế da cần được chăm sóc (tránh
nắng hay dùng thuốc chống nắng v.v.) để bảo vệ da khỏi ánh sáng mặt trời hay tia
UV
Tretinoin có thể gây mỏng da, nên bệnh nhân đang sử dụng thuốc tránh không dùng
các chất sáp trên da. Sáp sẽ làm mỏng lớp biểu bì dẫn đến đỏ da viêm, đau da.
Dạng dùng
Gel, cream
Biệt dược
HairMedics
Aberela, Renova, Retin-A, Avita

Printed with FinePrint trial version - purchase at www.fineprint.com



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×