Tải bản đầy đủ (.pdf) (38 trang)

THÀNH TỰU VÀ HẠN CHẾ TRONG CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM SÁT VÀ KỶ LUẬT CỦA ĐẢNG GIAI ĐOẠN 1986 ĐẾN NAY

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (841.03 KB, 38 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA LỊCH SỬ

TIỂU LUẬN CUỐI KỲ
MÔN: LỊCH SỬ XÂY DỰNG ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
ĐỀ TÀI: THÀNH TỰU VÀ HẠN CHẾ TRONG CÔNG TÁC
KIỂM TRA, GIÁM SÁT VÀ KỶ LUẬT CỦA ĐẢNG GIAI
ĐOẠN 1986 ĐẾN NAY
Giảng viên: Tạ Châu Phú
Sinh viên thực hiện:
Phạm Trường Quy-2156110114
Lớp: Lịch Sử Đảng K47

TPHCM, tháng 12 năm 2023


LỜI CẢM ƠN
Mở đầu bài tiểu luận này, em xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc và chân
thành nhất đến thầy Tạ Châu Phú - đã hướng dẫn một cách tận tình,
truyền đạt cho em những kiến thức liên quan đến Lịch sử xây dựng Đảng
Cộng sản Việt Nam. Chính những bài giảng của thầy đã giúp em tích lũy
thêm nhiều kiến thức về Đảng nói chung và lịch sử xây dựng cũng như
công tác xây dựng Đảng qua từng thời kỳ nói riêng. Đó là những tiền đề
để giúp em có thể hồn thành tốt bài tiểu luận cuối kỳ này.
Mặc dù vậy, kiến thức là vô tận và khả năng tìm hiểu vấn đề của bản
thân em cịn hạn chế. Vì thế, trong thời gian hồn thiện bài tiểu luận cuối
kỳ này, chắc chắn không thể không tránh khỏi những thiếu sót. Bản thân
em rất mong muốn nhận được những góp ý và xem xét từ thầy để bài tiểu
luận cuối kỳ này trở nên tốt hơn. Hơn thế nữa, còn là kinh nghiệm cho em
trong những bài tiểu luận ở các môn học sau này.


Sau cùng, em kính chúc thầy sức khỏe, hạnh phúc và đặc biệt hơn sẽ
thành công trên con đường sự nghiệp giảng dạy của mình.

1


MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU

3

PHẦN NỘI DUNG

8

Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM
SÁT VÀ KỶ LUẬT CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

8

1.1.

Khái niệm công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng

8

1.1.1.

Khái niệm công tác kiểm tra của Đảng


8

1.1.2.

Khái niệm công tác giám sát của Đảng

8

1.1.3.

Khái niệm kỷ luật Đảng

19
10

1.2.1.

Nội dung và mối quan hệ công tác kiểm tra, giám sát và kỷ
luật của Đảng
Nội dung công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng

1.2.2.

Mối quan hệ giữa công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng

15

1.2.

Chương 2. THÀNH TỰU, HẠN CHẾ TRONG CÔNG TÁC KIỂM

TRA, GIÁM SÁT VÀ KỶ LUẬT CỦA ĐẢNG GIAI ĐOẠN
1986 ĐẾN NAY - THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ
MỘT SỐ KINH NGHIỆM
2.1.
Tình hình phát triển cơng tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật
của Đảng từ năm 1986 đến nay

10

16

16

Thực trạng, nguyên nhân thành tựu hạn chế và một số kinh
nghiệm của công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng
giai đoạn 1986 đến nay
2.2.1.
Thực trạng
2.2.2.
Nguyên nhân thành tựu hạn chế
2.2.3.
Một số kinh nghiệm
Chương 3. PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG TRONG
CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM SÁT VÀ KỶ LUẬT CỦA
ĐẢNG HIỆN NAY
3.1.
Về phương hướng tăng cường trong thời gian tới

1
18


3.2.
Về giải pháp tăng cường trong thời gian tới
PHẦN KẾT LUẬN

31
34

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

35
1

2.2.

2

18
24
28
29
29


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Có thể khẳng định rằng, kiểm tra, giám sát là hoạt động thuộc chức
năng lãnh đạo của Đảng. Hoạt động này luôn được Đảng quan tâm, là
khâu quan trọng trong công tác lãnh đạo và cũng là nội dung của công tác
xây dựng Đảng, góp phần xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư

tưởng và tổ chức từ trước đến nay. Việc tiến hành tốt công tác kiểm tra,
giám sát ở tổ chức cơ sở đảng như một biện pháp quan trọng nhằm ngăn
chặn và khắc phục các hiện tượng suy thoái trong tư tưởng chính trị, đạo
đức, lối sống của một bộ phận đội ngũ cán bộ, đảng viên; đồng thời còn
phát hiện kịp thời những khuyết điểm để chấn chỉnh, góp phần nâng cao
sức chiến đấu và nặng lực lãnh đạo của tổ chức đảng và chất lượng đội
ngũ cán bộ, đảng viên trong Đảng.
Xuất phát từ những gì đã đạt được trong công tác xây dựng Đảng
trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ và từ việc đòi hỏi khách
quan của công tác xây dựng Đảng cũng như yêu cầu nhiệm vụ trong thời
kỳ mới, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã
chỉ rõ: “Các cấp ủy, tổ chức đảng phải nâng cao tinh thần trách nhiệm,
thực hiện tốt hơn nhiệm vụ kiểm tra, giám sát theo Điều lệ Đảng” [1, tr.
262]. Nếu như ví tồn thể sức chiến đấu của Đảng phải được thể hiện ở
sức chiến đấu của đảng viên, ở sức mạnh của chi bộ, thì với cơng tác
kiểm tra, giám sát cũng giống như các công tác khác của Đảng, trước hết
phải được thực hiện ở các tổ chức đảng. Công tác kiểm tra, giám sát
muốn đạt được mục đích ban đầu là kịp thời cổ vũ, động viên, phát huy
những ưu điểm, mặt tích cực, ngăn ngừa khắc phục những hạn chế,
khuyết điểm của từng cán bộ, đảng viên, giúp cho từng cán bộ, đảng viên
trong nội bộ Đảng tiến bộ, trưởng thành và hoàn thành tốt nhiệm vụ, thì

3


trước hết phải làm tốt, có sự chủ động, tích cực và đặc biệt thường xuyên
ở các tổ chức đảng.
Sau khoảng thời gian dài thực hiện đường lối đổi mới do Đảng ta
khởi xướng và lãnh đạo, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đã đạt được
những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đã đưa kinh tế nước nhà thốt

ra khỏi khủng hoảng và có sự tăng trưởng khá nhanh, sự nghiệp cơng
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển nền kinh tế thị trường theo
định hướng xã hội chủ nghĩa đang được đẩy mạnh mẽ. Đời sống nhân dân
được cải thiện. Thêm vào đó, hệ thống chính trị và khối đại đồn kết tồn
dân tộc được củng cố và tăng cường. Chính trị - xã hội ổn định; quốc
phòng và an ninh được giữ vững và tăng cường. Vị thế của nước ta trên
trường quốc tế không ngừng được nâng cao hơn so với trước đây, tạo ra
thế và lực mới cho đất nước tiếp tục đi lên với triển vọng tốt đẹp và hi
vọng đạt được những thành tựu lớn hơn trong tương lai. Từ những điều
trên đã một lần nữa khẳng định đường lối đúng đắn và sự lãnh đạo sáng
suốt của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt
Nam; đồng thời, Đảng cũng đã thể hiện năng lực cầm quyền, lãnh đạo và
sức chiến đấu bên trong ngày càng được nâng lên, hoàn toàn đáp ứng
được mọi yêu cầu, nhiệm vụ chính trị với từng giai đoạn khác nhau của
cách mạng.
Mặc dù vậy, vấn đề nào cũng có những tồn đọng riêng của nó.
Trong q trình phát triển của đất nước, không phải lúc nào tất cả các tổ
chức đảng và đảng viên đều giữ được bản chất chính trị, nghiêm chỉnh
đạo đức và lối sống trong sạch, nêu cao lý tưởng của Đảng và bảo đảm
được năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu. Đại hội XII của Đảng diễn ra
vào năm 2015 đã đưa ra vấn đề và thẳng thắn thừa nhận rằng: “Năng lực
lãnh đạo và sức chiến đấu của khơng ít tổ chức đảng cịn thấp, thậm chí
có nơi mất sức chiến đấu” [2, tr. 192]. Một trong những nguyên nhân dẫn
đến tình trạng trên là: “Chất lượng, hiệu quả cơng tác kiểm tra, giám sát
4


và xử lý tổ chức đảng và đảng viên vi phạm chưa cao, chưa đủ sức góp
phần ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong nội bộ
Đảng. Nhiều khuyết điểm, sai phạm của tổ chức đảng, đảng viên chậm

được phát hiện, kiểm tra, xử lý, hoặc xử lý kéo dài, nên kỷ cương, kỷ luật
ở một số nơi chưa nghiêm; chưa phát huy đầy đủ vai trò, trách nhiệm của
các tổ chức trong hệ thống chính trị và của nhân dân trong công tác kiểm
tra, giám sát”. [3, tr. 195 – 196]
Từ những gì đã diễn ra trước đây cũng như tình hình thực tiễn đặt
ra trong giai đoạn hiện nay, việc tìm hiểu cơng tác kiểm tra, giám sát và
kỷ luật của Đảng là vô cùng cần thiết. Từ đó, có thể đưa ra nhiều giải
pháp nhằm tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng
trong tình hình mới. Đó là lý do em chọn đề tài: “Thành tựu và hạn chế
trong công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng giai đoạn 1986
đến nay”, làm đề tài nghiên cứu trong bài tiểu luận cuối kỳ này
Do kiến thức của bản thân có hạn nên bài tiểu luận này cịn nhiều
hạn chế kính mong thầy có những nhận xét, góp ý để giúp bài tiểu luận
trở nên hoàn thiện hơn
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1.

Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài này là nhằm nâng cao trong việc

tìm hiểu cơng tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng. Đồng thời, đưa
ra được những thực trạng trong công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của
Đảng giai đoạn 1986 đến nay (giai đoạn đổi mới của nước ta). Từ đó đưa
ra các kiến nghị, một số giải pháp để có thể đáp ứng nhu cầu mà thực tiễn
đặt ra trong tình hình mới hiện nay của nước nhà.
2.2.

Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài này bao gồm 03 nhiệm vụ cơ bản


sau:

5


+ Thứ nhất, làm rõ được cơ sở lý luận về công tác kiểm tra, giám
sát và kỷ luật của Đảng Cộng sản Việt Nam.
+ Thứ hai, tiến hành phân tích tình hình, đánh giá thực trạng, tìm ra
những ngun nhân tác động đến công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật
của Đảng Cộng sản Việt Nam trong giai đoạn 1986 đến nay.
+ Thứ ba, từ tình hình thực tiễn đặt ra, kiến nghị, đề xuất những
phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao, tăng cường hơn nữa trong
công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong giai đoạn hiện nay.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.

Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu được đề tài hướng đến là thành tựu và hạn

chế trong công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng giai đoạn 1986
đến nay.
3.2.

Phạm vi nghiên cứu
- Về phạm vi nghiên cứu: phạm vi nghiên cứu mà đề tài được giới

hạn chỉ tập trung đề cập đến những nội dung trong công tác kiểm tra,
giám sát và kỷ luật của.
- Về không gian và thời gian: Đề tài nghiên cứu từ năm 1986 đến
nay. Đây là giai đoạn nước ta bước vào q trình chuyển đổi nền kinh tế

theo cơng nghiệp hóa - hiện đại hóa, chủ trương thay đổi toàn diện.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1.

Cơ sở lý luận
Cơ sở lý luận của đề tài chủ yếu là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng

Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng Sản Việt Nam về tư tưởng Hồ
Chí Minh về thành tựu và hạn chế trong công tác kiểm tra, giám sát và kỷ
luật của Đảng giai đoạn 1986 đến nay.
4.2.

Phương pháp nghiên cứu

6


Đề tài sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cơ bản đồng thời
có sự phối hợp giữa các phương pháp khi tiến hành nghiên cứu, đó là các
phương pháp: Phương pháp phân tích; lịch sử, so sánh; tổng hợp và khảo
cứu tài liệu.
5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Tiểu luận có thể làm tài liệu tham khảo phục vụ việc nghiên cứu
của sinh viên của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn nói
riêng và các sinh viên của các Trường Đại học có tìm hiểu về vấn đề Lịch
sử Xây dựng Đảng nói chung; cũng có thể phục vụ mục đích giảng dạy
các vấn đề trong công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng. Ngoài
ra, bài tiểu luận này cũng có thể làm tài liệu phục vụ cho các đội ngũ cán
bộ công tác về lĩnh vực kiểm tra của Uỷ ban kiểm tra và cơ quan Uỷ ban
kiểm tra các cấp của Đảng. Tuy khoảng thời gian là 1986 nhưng đây là

thời gian quan trọng trong Lịch sử xây dựng Đảng, là khoảng thời gian
mà nước ta bắt đầu đổi mới, công tác xây dựng Đảng cũng được quan tâm.
6. Kết cấu của đề tài
Bài tiểu luận gồm ba mục lớn: phần mở đầu, phần nội dung, phần
kết luận, ngồi ra cịn bao gồm danh mục tài liệu tham khảo với nhiều
những thông tin về Lịch sử xây dựng Đảng và công tác kiểm tra, giám sát,
kỷ luật Đảng từ 1986 đến nay
Phần mở đầu gồm: Lý do chọn đề tài; mục đích và nhiệm vụ
nghiên cứu; đối tượng và phạm vi nghiên cứu; cơ sở lý luận và phương
pháp nghiên cứu; Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài; kết cấu của tiểu
luận.
Phần nội dung gồm ba phần, cụ thể:
- Chương 1. Cơ sở lý luận về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật
của Đảng Cộng sản Việt Nam;

7


- Chương 2. Thành tựu và hạn chế trong công tác kiểm tra, giám sát
và kỷ luật của Đảng giai đoạn 1986 đến nay - Thực trạng, nguyên
nhân và một số kinh nghiệm;
- Chương 3. Phương hướng và giải pháp tăng cường trong công tác
kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng hiện nay.
Phần kết luận là những đánh giá, nhận xét, khẳng định vai trò, ý
nghĩa, tầm quan trọng của công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật Đảng.

PHẦN NỘI DUNG
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM
SÁT VÀ KỶ LUẬT CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
1.1. Khái niệm công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng

1.1.1. Khái niệm công tác kiểm tra của Đảng
Theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp
hành Trung ương ban hành hướng dẫn về việc thực hiện quy định về công
tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng: “Kiểm tra của Đảng là một
trong những chức năng lãnh đạo của Đảng, là việc các tổ chức đảng xem
xét, đánh giá, kết luận về ưu điểm, khuyết điểm hoặc vi phạm của cấp uỷ,
tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên trong việc chấp hành Cương lĩnh
chính trị, Điều lệ Đảng, chủ trương, nghị quyết, chỉ thị của Đảng và pháp
luật của Nhà nước”. [4]
Từ đó có thể thấy rằng, tổ chức đảng và đảng viên phải thường
xuyên tự kiểm tra, kiểm tra. Tổ chức đảng, cấp trên cũng phải thường
xuyên tiến hành kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên.
1.1.2. Khái niệm công tác giám sát của Đảng

8


Cũng như cơng tác giám sát thì theo Quyết định số 46-QĐ/TW
ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương ban hành hướng dẫn về
việc thực hiện quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của
Đảng: “Giám sát của Đảng là việc các tổ chức đảng theo dõi, xem xét,
đánh giá hoạt động nhằm kịp thời tác động để cấp uỷ, tổ chức đảng cấp
dưới và đảng viên được giám sát chấp hành nghiêm chỉnh Cương lĩnh
chính trị, Điều lệ Đảng, chủ trương, nghị quyết, chỉ thị, quy định của
Đảng”. [5]
Công tác giám sát phải được tiến hành từ trên xuống dưới. Tổ chức
đảng cấp trên giám sát tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên. Đảng viên
cũng phải thực hiện việc giám sát theo sự phân cơng của tổ chức đảng có
thẩm quyền. Giám sát của Đảng bao gồm: giám sát trực tiếp, giám sát
gián tiếp, giám sát theo chuyên đề và giám sát thường xuyên.

1.1.3. Khái niệm kỷ luật của Đảng
Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng cầm quyền lãnh đạo cả hệ thống
chính trị của đất nước Việt Nam, có một tổ chức chặt chẽ, do đó cũng cần
có những quy định chung để lãnh đạo. Những quy định chung của Đảng
là: Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, các nghị quyết, chỉ thị của Đảng...
và những quy định cụ thể như: Quy định thi hành Điều lệ Đảng; Quy định
về những điều đảng viên không được làm...
Từ những quy định chung và những quy định cụ thể trên ta có khái
niệm về kỷ luật của Đảng như sau: “Kỷ luật của Đảng là tổng thể những
điều đã được quy định trong Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, các nghị
quyết, chỉ thị của Đảng; những quy định cụ thể trong Đảng, có tính chất
bắt buộc đối với hoạt động của mọi tổ chức đảng và đảng viên, nhằm bảo
đảm sự thống nhất về chính trị, tư tưởng, tổ chức trong tồn Đảng”. [16]
Tóm lại, Công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng nhằm
giúp tổ chức đảng được đổi mới hơn, tăng cường công tác kiểm tra, giám

9


sát và kỷ luật của Đảng và nâng cao hiểu quả, chất lượng trong việc thực
hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng. Đây được xem là yêu
cầu đầu tiên về phát triển lý luận và thực tiễn của công tác kiểm tra, giám
sát, kỷ luật của Đảng.
1.2. Nội dung và mối quan hệ công tác kiểm tra, giám sát và kỷ
luật của Đảng
1.2.1. Nội dung công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng
1.2.1.1. Nội dung công tác kiểm tra của Đảng
Nội dung của công tác kiểm tra chủ yếu là tiến hành kiểm tra “việc”
và kiểm tra “người”. Đây được xem là hai khâu quan trọng trong vấn đề
xây dựng Đảng vững mạnh. Kiểm tra “việc” nghĩa là kiểm tra công việc

của Đảng, kiểm tra thực hiện nhiệm vụ chính trị. Việc kiểm tra như vậy
có nghĩa là ngay bản thân những đường lối, nghị quyết, các chỉ thị, chính
sách, quyết định, mục tiêu đã đề ra phải rõ ràng, chính xác và khẳng định
được cái đúng, cái sai trong công việc thực hiện để có biện pháp xử lý
phù hợp, để từ đó nâng cao được chất lượng lãnh đạo của Đảng.
Kiểm tra “người” có nghĩa là kiểm tra hệ thống cán bộ, đảng viên,
kể cả những cấp uỷ viên cùng cấp và các đảng viên là cán bộ do cấp uỷ
quản lý. Việc kiểm tra nhằm mục đích theo dõi việc thực hiện đúng tiêu
chuẩn đảng viên, tiêu chuẩn cấp uỷ viên và nhiệm vụ đảng viên. Bởi bất
kỳ một cán bộ, đảng viên nào cũng đều sinh hoạt trong tổ chức Đảng,
hoạt động theo sự lãnh đạo của Đảng. Vì vậy, cần phải kiểm tra nghiêm
túc việc chấp hành kỷ luật đảng, bảo đảm thực hiện nhiệm vụ của cá nhân
để hoàn thành nhiệm vụ chung của tập thể.
Theo Hướng dẫn trong thực hiện các quy định về công tác kiểm tra,
giám sát và kỷ luật của Đảng tại chương VII-VIII Điều lệ Đảng khoá XI
(được ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW, ngày 01-11-2011

10


của BCH Trung ương Đảng), kiểm tra chấp hành bao gồm những nội
dung cụ thể sau:
- Thứ nhất, Việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng,
chủ trương, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, của cấp uỷ cấp trên và cấp mình;
pháp luật của Nhà nước.
- Thứ hai, Việc chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ, quy chế
làm việc, chế độ công tác, thực hiện dân chủ trong Đảng, giữ gìn đồn kết
nội bộ.
- Thứ ba, Việc lãnh đạo, chỉ đạo thực hành tiết kiệm; phòng, chống
tham nhũng, lãng phí; rèn luyện phẩm chất, đạo đức, lối sống của cán bộ,

đảng viên.
- Thứ tư, Việc lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện cải cách hành
chính, cải cách tư pháp.
- Thứ năm, Việc lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan bảo vệ pháp luật
trong công tác điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án.
- Thứ sáu, Việc tuyển dụng, quy hoạch, luân chuyển, đào tạo, đề
bạt, bố trí, sử dụng cán bộ.
- Thứ bảy, Việc lãnh đạo, chỉ đạo và giải quyết khiếu nại, tố cáo
của đảng viên và nhân dân.
- Thứ tám, Việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao của
người đứng đầu cấp uỷ, tổ chức đảng, nhà nước, mặt trận và các đồn thể
nhân dân các cấp. [17]
Căn cứ vào cơng tác xây dựng Đảng, u cầu nhiệm vụ chính trị và
tình hình thực tế của Đảng bộ trong từng thời gian mà cấp uỷ và ban
thường vụ cấp uỷ tiến hành việc xác định và quyết định nội dung kiểm tra
cho phù hợp. Cấp uỷ lãnh đạo đến đâu thì tiến hành kiểm tra đến đó.
1.2.1.2. Nội dung giám sát của Đảng

11


Quy chế giám sát trong Đảng (được ban hành kèm theo Quyết định
số 68-QĐ/TW ngày 21-3-2012 của Bộ Chính trị) đã quy định nội dung
giám sát bao gồm:
Một là, BCH Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư cùng cấp
uỷ các cấp và ban thường vụ cấp uỷ từ cấp trên cơ sở trở lên giám sát.
- Đối với tổ chức Đảng: Việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều
lệ Đảng, chủ trương, nghị quyết, chỉ thị, quy định, kết luận của Đảng, của
cấp uỷ cấp trên và cấp mình, pháp luật của Nhà nước; việc thực hiện các
nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Đảng và việc bảo đảm quyền của đảng

viên; việc giữ gìn đồn kết nội bộ, quản lý đảng viên, chỉ đạo thực hiện
quy định về những điều cán bộ, đảng viên không được làm và giữ mối
liên hệ với quần chúng. [18]
- Đối với đảng viên: Việc thực hiện nhiệm vụ đảng viên.
Hai là, Uỷ ban kiểm tra các cấp giám sát.
- Đối với tổ chức đảng: Việc lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện
Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, chủ trương, nghị quyết, chỉ thị, quy
định, quyết định, quy chế, kết luận của Đảng, của cấp uỷ cấp trên và cấp
mình, pháp luật của Nhà nước; việc thực hiện chương trình, kế hoạch
cơng tác tồn khố hằng năm của cấp uỷ, tổ chức đảng trên các lĩnh vực.
[19]
- Đối với cấp uỷ viên và cán bộ diện cấp uỷ cùng cấp quản lý; Việc
Chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, chủ trương, nghị quyết,
chỉ thị, quy định, quyết định, quy chế, kết luận của Đảng, của cấp uỷ cấp
trên và cấp mình, pháp luật của Nhà nước; việc giữ gìn đạo đức, lối sống;
về tiêu chuẩn đảng viên, tiêu chuẩn cấp uỷ viên và trong việc thực hiện
nhiệm vụ đảng viên; việc thực hiện chế độ kê khai và công khai tài sản
của cán bộ, đảng viên theo quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước.
[19]

12


Ba là, các cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp uỷ các cấp giám
sát.
- Đối với tổ chức đảng: Việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều
lệ Đảng, chủ trương, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, pháp luật của Nhà
nước; việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn thuộc lĩnh vực phụ
trách và những nội dung do cấp uỷ giao. [19]
- Đối với đảng viên: Việc thực hiện nhiệm vụ đảng viên.

Bốn là, chi bộ giám sát mọi đảng viên thuộc chi bộ trong việc thực
hiện nhiệm vụ đảng viên.
Đối với đảng viên là cấp uỷ viên các cấp, đảng viên thuộc diện cấp
uỷ cấp trên quản lý, chi bộ giám sát cả về phẩm chất chính trị, đạo đức,
lối sống và việc thực hiện nghị quyết của chi bộ. [19]
1.2.1.3. Nội dung của kỷ luật Đảng
Trong điều kiện Đảng cầm quyền, nội dung kỷ luật của Đảng bao
gồm những vấn đề gồm: Kỷ luật nội bộ Đảng, Kỷ luật về mặt Nhà nước,
Kỷ luật của đoàn thể chính trị - xã hội.

• Kỷ luật nội bộ Đảng:
- Vấn đề kỷ luật nội bộ Đảng được thể hiện rõ trong Cương lĩnh
chính trị của Đảng. Cương lĩnh chính trị của Đảng định hướng rõ ràng về
đường lối, những quan điểm, chính sách, hệ thống chính trị xây dựng đất
nước và đặc biệt là vai trò lãnh đạo của Đảng để xây dựng đất nước trong
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Mọi tổ chức Đảng và các đảng viên
phải chấp hành nghiêm chỉnh những nội dung trong Cương lĩnh chính trị
của Đảng. Làm trái Cương lĩnh chính trị là vi phạm kỷ luật đảng.
- Điều lệ Đảng là “bộ luật” chung của toàn Đảng. Điều lệ này quy
định những mục đích của Đảng; các nguyên tắc cơ bản trong việc xây
dựng Đảng; hệ thống và nguyên tắc tổ chức của Đảng; nhiệm vụ, quyền
hạn của các tổ chức đảng và đảng viên; sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà
nước, Mặt trận Tổ quốc và các đồn thể chính trị - xã hội; việc khen
13


thưởng và kỷ luật đảng, v.v... Tồn bộ cơng tác lãnh đạo của Đảng, công
tác xây dựng Đảng phải được tiến hành trên cơ sở các quy định của Điều
lệ Đảng. Vi phạm Điều lệ Đảng là vi phạm kỷ luật đảng.
- Ngồi ra, cương lĩnh chính trị và Điều lệ Đảng còn được thể hiện

và quán triệt trong các nghị quyết đại hội đảng ở các cấp, được cụ thể hoá
thành nghị quyết, chỉ thị, quy định, quy chế, quyết định, kết luận của các
tổ chức đảng. Mọi tổ chức đảng nói chung và đảng viên nói riêng phải
chấp hành nghiêm chỉnh nghị quyết, chỉ thị, quy định, quy chế, quyết
định, hướng dẫn của Đảng; vi phạm trong việc chấp hành nghị quyết, chỉ
thị quy định, quy chế, quyết định, hướng dẫn của Đảng là vi phạm kỷ luật
đảng.

• Kỷ luật về mặt Nhà nước:
Trong điều kiện Đảng cầm quyền và những đường lối, quan điểm,
chính sách, nghị quyết và các chỉ thị của Đảng được thể chế hoá thành
Hiến pháp, nghị định, quyết định... của Nhà nước. Các tổ chức Đảng và
đảng viên phải “hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật” [5,
tr. 5]. Nếu vi phạm Hiến pháp và pháp luật thì tính là vi phạm kỷ luật
đảng. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu đảng viên chẳng những
phải giữ gìn kỷ luật của Đảng mà cịn “phải giữ gìn kỷ luật của chính
quyền, của cơ quan, đồn thể cách mạng, của nhân dân” [20]; bởi có
người họ “tưởng là đảng viên thì muốn làm trời làm đất thì làm” [6, tr.
31]. Các đảng viên, cán bộ đó “khơng biết kỷ luật của chính quyền, của
đồn thể, nhân dân và Đảng cũng là một”. [21]

• Kỷ luật của đồn thể chính trị - xã hội:
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, các đoàn thể chính trị-xã hội được
lập ra nhằm thực hiện thắng lợi những đường lối, chủ trương, chính
sách của Đảng trong phạm vi tổ chức của mình. Để hình thành, phát
triển, tồn tại và thực hiện được chức năng, nhiệm vụ của mình, mỗi
đồn thể chính trị - xã hội đều có điều lệ, kỷ luật riêng. "Mỗi đảng viên
14



cần phải làm kiểu mẫu phục tùng kỷ luật, chẳng những kỷ luật của Đảng
mà cả kỷ luật của các đồn thể nhân dân và của cơ quan chính quyền
cách mạng” [7, tr. 31]. Đảng viên sinh hoạt và hoạt động trong các đồn
thể chính trị - xã hội phải chấp hành nghiêm chỉnh kỷ luật của đồn thể
chính trị - xã hội mà mình tham gia. Vi phạm kỷ luật đồn thể chính trị - xã
hội mà mình tham gia cũng là vi phạm kỷ luật đảng. [22]
1.2.2. Mối quan hệ giữa công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật
của Đảng
Mối quan hệ giữa công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng
là thống nhất biện chứng, nhưng khơng đồng nhất vì:
- Đầu tiên, Kiểm tra là một trong những chức năng lãnh đạo của tổ
chức cơ sở đảng; còn kỷ luật đảng là bảo đảm kỷ cương, kỷ luật đảng
được nghiêm minh trong tổ chức thực hiện.
- Thứ hai, Đảng ủy cơ sở là đơn vị quyết định khiển trách, cảnh cáo
đảng viên trong đảng bộ, cách chức cấp ủy viên cấp dưới (cách chức bí
thư, phó bí thư, cấp ủy viên của chi bộ hoặc đảng ủy bộ phận trực thuộc
nhưng không phải là cấp ủy viên cùng cấp hoặc cán bộ thuộc diện cấp ủy
cấp trên quản lý).
- Thứ ba, Đối với các cấp ủy viên cấp trên trực tiếp trở lên và cán
bộ thuộc diện cấp ủy cấp trên quản lý sinh hoạt tại đảng bộ, nếu vi phạm
đến mức phải kỷ luật thì đảng ủy cơ sở đề nghị cấp có thẩm quyền xem
xét, quyết định.
Sau khi tiến hành xem xét, kết luận về vi phạm, tổ chức đảng phải
thực hiện biểu quyết bằng phiếu kín việc có kỷ luật hay khơng kỷ luật.
Nếu kết quả biểu quyết kín khơng kỷ luật thì phải báo cáo tổ chức đảng
cấp trên. Trong trường hợp kết quả biểu quyết kín đến mức phải kỷ luật
thì bỏ phiếu quyết định hình thức kỷ luật cụ thể. Trường hợp biểu quyết
khơng có hình thức kỷ luật nào có đủ đa số phiếu theo quy định thì báo

15



cáo đầy đủ hồ sơ để tổ chức đảng cấp trên có thẩm quyền xem xét, quyết
định. Quyết định của cấp có thẩm quyền phải được chấp hành nghiêm
chỉnh. [17]
Thi hành kỷ luật đảng là cần thiết khách quan khi kiểm tra phát
hiện thấy sai phạm phải xử lý, bao gồm:
+ Vi phạm kỷ luật trong Đảng
+ Vi phạm kỷ luật trong cán bộ công chức
+ Vi phạm kỷ luật trong các tổ chức chính trị xã hội (nói rõ về
Đảng cầm quyền trong hệ thống chính trị)
Tức là: Kỷ luật đảng là công việc tiếp tục của công tác kiểm tra khi
phát hiện sai phạm phải xử lý.
Chương 2. THÀNH TỰU, HẠN CHẾ TRONG CÔNG TÁC KIỂM
TRA, GIÁM SÁT VÀ KỶ LUẬT CỦA ĐẢNG GIAI ĐOẠN 1986
ĐẾN NAY-THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ MỘT SỐ KINH
NGHIỆM
2.1. Tình hình phát triển công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của
Đảng từ năm 1986 đến nay
Trong công cuộc thực hiện đường lối đổi mới đất nước do Đảng
khởi xướng và lãnh đạo, một số đảng viên vẫn còn dao động, thiếu tin
tưởng, đặc biệt là xuất hiện nhiều biểu hiện tiêu cực ở các lĩnh vực khác
nhau. Đại hội VI của Đảng (tháng 12-1986) là bước chuyển mình đầu tiên
của nước nhà, mở đầu của thời kỳ đổi mới. Đại hội VI đã khẳng định các
quan điểm về công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật nhằm phù
hợp với u cầu nhiệm vụ trong cơng tác chính trị và cơng tác xây dựng
Đảng trong tình hình mới. Một số nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng
được ban hành trong Đại hội VI cũng đã đề cập việc thực hiện giám sát
của cấp ủy hoặc giao cho những ban của cấp ủy tiến hành theo dõi việc
chấp hành nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng.


16


Trong các nhiệm kỳ Đại hội lần thứ VII (tháng 6-1991), VIII
(tháng 6 đến tháng 7-1996), IX (tháng 4-2001) của Đảng, ngoài việc phát
huy những nghị quyết, chỉ thị, quy định và các quan điểm trong công tác
kiểm tra, giám sát và kỷ luật Đảng của Đại hội VI thì còn tập trung đánh
giá kết quả đạt được, chấn chỉnh những khuyết điểm, hạn chế tồn tại và
đưa ra nguyên nhân của công tác kiểm tra và kỷ luật. Trong cả ba Đại hội,
Đảng ta đều khẳng định tầm quan trọng, vị trí và vai trị của cơng tác
kiểm tra, giám sát, kỷ luật. Đồng thời cũng tiến hành sửa đổi, bổ sung
Điều lệ Đảng về công tác kiểm tra, kỷ luật đảng. Thêm vào đó, Đảng
cũng đề ra phương hướng, nhiệm vụ, biện pháp giúp tăng cường công tác
kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật nhằm phù hợp với u cầu của cơng
tác chính trị và cơng tác xây dựng Đảng trong từng nhiệm kỳ đại hội.
Đảng nhận thức đây là giai đoạn quan trọng của việc thực hiện đổi mới
đất nước, đưa nước ta tiến lên xã hội chủ nghĩa, cơng nghiệp hóa - hiện
đại hóa. Vậy nên, công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật Đảng vô cùng
quan trọng, là nhân tố ảnh hưởng đến khả năng lãnh đạo của Đảng, khả
năng dẫn dắt đất nước của Đảng.
Tiếp nối đến thế kỷ XXI, Nghị quyết Đại hội lần thứ X, XI của
Đảng tiếp tục khẳng định vai trò, tầm quan trọng đặc biệt của cơng tác
kiểm tra, giám sát. Đồng thời, Đảng đã chính thức quy định những chức
năng, nhiệm vụ giám sát của cấp ủy, tổ chức Đảng và Ủy ban Kiểm tra
các cấp trong Điều lệ Đảng; thêm vào đó cũng quy định cụ thể chủ thể,
đối tượng, nội dung của việc giám sát. Để đáp ứng mục tiêu, yêu cầu đẩy
mạnh tồn diện cơng cuộc đổi mới đất nước, đưa đất nước tiến lên chủ
nghĩa xã hội, hồn thành cơng nghiệp hóa - hiện đại hóa các mặt, Đảng ta
yêu cầu phải tăng cường và đổi mới công tác kiểm tra, giám sát với nhận

thức và yêu cầu mới.
Trong nội dung Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII
của Đảng khẳng định rằng: “Trong những năm tới, yêu cầu, nhiệm vụ
17


nặng nề của thời kỳ phát triển mới đòi hỏi phải đẩy mạnh hơn nữa công
tác xây dựng Đảng, trọng tâm là kiên quyết, kiên trì tiếp tục thực hiện
Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI” [8, tr. 198-199]. Yêu cầu, nhiệm vụ
cấp bách đặt ra là: “Đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm
tra, giám sát, kỷ luật đảng” [9, tr. 208].
Trong nhiệm kỳ XII công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng đã
có chuyển biến tích cực, cơ bản đáp ứng được yêu cầu công tác xây dựng
Đảng và sự phát triển kinh tế - xã hội, góp phần nâng cao năng lực lãnh
đạo và sức chiến đấu của Đảng phục vụ thực hiện thắng lợi nhiệm vụ
chính trị và cơng tác xây dựng Đảng. Cấp ủy các cấp đã kiểm tra 264.201
tổ chức đảng và 1.124.146 đảng viên, trong đó có 272.556 đồng chí là cấp
ủy viên các cấp (tăng 8,42% tổ chức đảng, 4,83% đảng viên, 19% cấp ủy
viên so với nhiệm kỳ Đại hội XI). [23]
2.2. Thực trạng, nguyên nhân thành tựu hạn chế và một số kinh
nghiệm của công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng giai đoạn
1986 đến nay
2.2.1. Thực trạng
2.2.1.1. Những thành tựu đạt được trong công tác kiểm tra, giám
sát và kỷ luật của Đảng
Trong khoảng thời gian từ năm 1986 đến nay, việc nâng cao chất
lượng, hiệu quả trong công tác kiểm tra, giám sát đã được Đảng ta quan
tâm thực hiện và đạt được nhiều thành tựu cụ thể như sau:
Với công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng đã giúp giữ
vững và củng cố sự ổn định chính trị trong buổi đầu thực hiện đổi mới,

nội bộ bên trong Đảng phát triển mạnh, vững chắc. Hiến pháp năm 1992
được ban hành vừa kịp thời thể chế hóa đường lối của Đảng về xây dựng
đất nước còn tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đẩy lùi sự suy thối
trong Đảng. Ngồi ra, cơng tác kiểm tra, giám sát còn tạo sự chuyển biến
trong tổ chức và bộ máy ở các cấp. Xây dựng các cấp ủy Đảng từ Ban
18


Chấp hành Trung ương đến cấp ủy đảng cơ sở thật sự có đủ trí tuệ và
năng lực lãnh đạo phù hợp với yêu cầu của mỗi cấp.
Đã ban hành được Nghị quyết số 14 của Hội nghị Trung ương 5
( khóa X) về vấn đề tăng cường cơng tác kiểm tra, giám sát của Đảng.
Đặc biệt, công tác kiểm tra, giám sát của Đảng đã phát triển hơn từ khi
Đảng ta ban hành Nghị quyết Trung ương 4 ( khóa XI ) “Một số vấn đề
cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” và Nghị quyết Trung ương 4
( khóa XII) về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi
sự suy thối về tưởng chính trị đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự
diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, đẩy mạnh đấu tranh
phịng ,chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu.
Từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng đến nay, Ngành Kiểm tra
Đảng tiếp tục hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được Đảng giao. Ủy ban
kiểm tra Trung ương đã kịp thời tham mưu cho Ban Chấp hành Trung
ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư thực hiện ban hành hệ thống văn bản về
công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng, như: Quy định số 30QĐ/TW, ngày 26-7-2016 của Ban Chấp hành Trung ương quy định thi
hành Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng về công tác kiểm tra,
giám sát, kỷ luật của Đảng; Quy định số 86-QĐ/TW, ngày 01-6-2017 của
Bộ Chính trị về giám sát trong Đảng; Quy định số 37-QĐ/TW, ngày 287-2021 của Ban Chấp hành Trung ương quy định về công tác kiểm tra,
giám sát và thi hành kỷ luật Đảng; Quyết định số 89-QĐ/TW, ngày 0112-2022 của Ban Chấp hành Trung ương ban hành quy trình kiểm tra,
giám sát, thi hành kỷ luật đảng, giải quyết tố cáo, khiếu nại kỷ luật đảng
của cấp ủy tỉnh và tương đương đến cơ sở;...

Thực hiện Nghị quyết Đại hội XII, Nghị quyết Đại hội XIII của
Đảng và Nghị quyết Trung ương 4 khoá XI, khoá XII về xây dựng, chỉnh
đốn Đảng, UBKT Trung ương và UBKT các cấp đã khơng ngừng nỗ lực
hồn thành tốt nhiệm vụ mà mình được giao. Nhiều vấn đề, vụ việc khó,
19



×