Tải bản đầy đủ (.docx) (30 trang)

Tiểu luận ql nguồn nhân lực xu hướng tạo việc làm cho nguồn nhân lực tại tỉnh bắc ninh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (175.2 KB, 30 trang )

TIỂU LUẬN
MÔN: QUẢN LÝ NGUỒN NHÂN LỰC XÃ HỘI
ĐỀ TÀI: XU HƯỚNG TẠO VIỆC LÀM CHO NGUỒN NHÂN LỰC

TẠI TỈNH BẮC NINH

1

Mục lục

LỜI MỞ ĐẦU............................................................................................................................................3
I.CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGUỒN NHÂN LỰC.......................................................................................5

1.Một số khái niệm cơ bản....................................................................................................................5
1.1.Nguồn nhân lực xã hội.................................................................................................................5
1.2.Sử dụng nguồn nhân lực..............................................................................................................6

2.Những nhân tố ảnh hưởng đến giải quyết việc làm của nguồn nhân lực........................................7
2.1.Điều kiện tự nhiên, vốn và công nghệ.........................................................................................7
2.2.Dân số, chất lượng sức lao động.................................................................................................9
2.3.Thị trường lao động.....................................................................................................................9
2.4.Cơ chế, chính sách kinh tế-xã hội.............................................................................................10

3. Xu hướng tạo việc làm cho nguồn lao động hiện nay....................................................................11
II. THỰC TRẠNG VÀ XU HƯỚNG TẠO VIỆC LÀM CHO NGUỒN NHÂN LỰC Ở BẮC NINH
HIỆN NAY...............................................................................................................................................12

1.Thực trạng nguồn nhân lực tại tỉnh Bắc Ninh................................................................................12
1.1.Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của Bắc Ninh...................................................................12
1.2.Chất lượng nguồn nhân lực tỉnh Bắc Ninh..............................................................................14
1.3. Thực trạng sử dụng, phát triển nguồn nhân lực.....................................................................17



2.Xu hướng giải quyết việc làm ở tỉnh Bắc Ninh...............................................................................20
2.1. Công tác đào tạo nghề..............................................................................................................20
2.2.Công tác giải quyết việc làm.....................................................................................................21
2.3. Sử dụng nguồn lao động trên các lĩnh vực cụ thể...................................................................22

3. Đánh giá chung về xu hướng giải quyết việc làm..........................................................................24
3.1. Thành tựu và hạn chế...............................................................................................................24
3.2.Nguyên nhân của những hạn chế..............................................................................................27

III. GIẢI PHÁP TẠO VIỆC LÀM VÀ SỬ DỤNG NGUỒN NHÂN LỰC HỢP LÝ CHO BẮC
NINH TRONG THỜI GIAN TỚI..........................................................................................................28
KẾT LUẬN..............................................................................................................................................31

2

LỜI MỞ ĐẦU

Thế giới đang trong thời kỳ hội nhập, công nghiệp hoá - hiện đại hoá đều
phát triển vượt bậc. Với những thành tựu to lớn đã đạt được, Việt Nam cũng đang
bước vào giai đoạn phát triển mới, hội nhập sâu rộng và mạnh mẽ với thế giới. Để
nắm bắt thời cơ và khả năng hội nhập cần đánh thức khai thông các nguồn lực
phục vụ một cách hiệu quả nhất cho mục đích đưa đất nước phát triển. Vì thế phát
triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao
là một trong những yếu tố quyết định sự phát nhanh, bền vững đất nước. “Hiền tài
là nguyên khí quốc gia” con người là yếu tố số một của lực lượng sản xuất, mọi thứ
đều có thể mất dần nhưng chỉ có trí tuệ của con người thì khi sử dụng khơng những
khơng mất đi mà còn lớn lên. Nguồn nhân lực với yếu tố hàng đầu là trí tuệ, chất
xám có ưu thế nổi bật là không bị cạn kiệt nếu biết bồi dưỡng, khai thác và sử dụng
hợp lý; còn các nguồn lực khác dù nhiều đến đâu cũng chỉ là yếu tố hữu hạn và chỉ

phát huy được tác dụng khi kết hợp với nguồn nhân lực một cách có hiệu quả.
Kinh tế của một quốc gia có thể tăng trưởng nhanh và phát triển bền vững nếu
quốc gia đó biết đề ra đường lối kinh tế đúng đắn, biết tổ chức thực hiện thắng lợi
đường lối đó; với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, đội ngũ trí thức xứng tầm; lực
lượng công nhân kỹ thuật tay nghề cao.

Quan điểm của Đảng ta về tầm quan trọng của nguồn nhân lực đã được đề ra
từ rất sớm, nhất là trong thời kỳ đổi mới, quan điểm chỉ đạo cơ bản của Đảng ta là
đặt con người vào vị trí trung tâm của quá trình phát triển, coi con người vừa là
mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ
rõ: “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng
người” Đi cùng với phát triển nguồn nhân lực chất lượng, có chun mơn cao, vấn
đề việc làm cho nguồn nhân lực cũng được Đảng và nhà nước quan tâm. Phát triển

3

nguồn nhân lực cũng như tạo việc làm là một trong những vấn đề xã hội có tính
chất tồn cầu và rất quan trọng đối với mỗi quốc gia, một mặt là điều kiện để phát
huy được tiềm năng lao động, nguồn nội lực to lớn nhất ở nước ta cho sự phát triển
kinh tế - xã hội, cải thiện đời sống. Mặt khác, cũng là hướng cơ bản để xóa đói
giảm nghèo bền vững. Việc ưu tiên hàng đầu cho đầu tư phát triển và sử dụng có
hiệu quả nguồn lực con người là đầu tư có hiệu quả nhất để tăng trưởng và phát
triển kinh tế, chống nguy cơ tụt hậu và chủ động tham gia vào quá trình phân cơng
lao động quốc tế.

Để tìm hiểu và nghiên cứu vấn đề giải quyết nguồn lao động và việc làm cho
nguồn lao động một cách kỹ càng, đánh giá đúng thực trạng nguồn nhân lực hiện
nay, em xin chọn đề tài Xu hướng tạo việc làm cho nguồn nhân lực tại Bắc Ninh
cho tiểu luận này.


I.CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGUỒN NHÂN LỰC
1.Một số khái niệm cơ bản
1.1.Nguồn nhân lực xã hội

Nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm
có thể lực, trí lực và gồm cả tinh thần. Nguồn nhân lực xã hội là nguồn lực con
người có quan hệ chặt chẽ với dân số, là bộ phận quan trọng trong dân số, đóng vai
trị tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội. Trong lý thuyết về tăng trưởng
kinh tế, con người được coi là một phương tiện hữu hiệu cho việc bảo đảm tốc độ
tăng trưởng kinh tế bền vững, thậm chí con người được coi là một nguồn vốn đặc
biệt cho sự phát triển - vốn nhân lực.

Ở nước ta, khái niệm nguồn nhân lực xã hội được sử dụng rộng rãi từ khi bắt
đầu công cuộc đổi mới. Tùy theo cách tiếp cận khái niệm nguồn nhân lực xã hội có
thể khác nhau, do đó, quy mơ nguồn nhân lực xã hội cũng khác nhau. Nguồn nhân
lực xã hội là khái niệm phát triển mới theo nghĩa nhấn mạnh, đề cao hơn yếu tố

4

chất lượng. Khơng tách rời máy móc giữa số lượng và chất lượng, song rõ ràng để
đáp ứng yêu cầu của kỷ nguyên kinh tế tri thức, yếu tố chất lượng ngày càng quan
trọng. Trước hết là chất lượng của từng cá nhân người lao động và lực lượng lao
động, cơ cấu lao động phải phù hợp, chất lượng tương tác, phối hợp, tổ chức người
lao động đón đầu sự phát triển kinh tế - xã hội và tạo điều kiện cho chính q trình
phát triển đó.

Có thể hiểu nguồn nhân lực xã hội là tổng thể tiềm năng lao động có khả
năng huy động tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã
hội trong hiện tại cũng như trong tương lai. Sức mạnh và khả năng của nguồn nhân
lực xã hội được xác định bằng số lượng và chất lượng của bộ phận dân số có thể

tham gia vào hoạt động kinh tế - xã hội. Số lượng nguồn nhân lực xã hội được thể
hiện thông qua các chỉ tiêu về quy mô và tốc độ phát triển của nó. Chất lượng
nguồn nhân lực xã hội được thể hiện bằng các chỉ tiêu về tình trạng phát triển thể
lực, trình độ kiến thức, tay nghề, tác phong nghề nghiệp; cơ cấu nguồn nhân lực xã
hội về độ tuổi, giới tính, thiên hướng ngành nghề, phân bố theo lãnh thổ, khu vực.

Nguồn nhân lực với tư cách là một yếu tố của sự phát triển kinh tế - xã hội là
khả năng lao động của xã hội được hiểu theo nghĩa hẹp hơn bao gồm nhóm dân cư
trong độ tuổi lao động có khả năng lao động. Với cách hiệu này Nguồn nhân lực
tương đương với Nguồn lao động. Nguồn nhân lực cịn có thể hiểu là tổng hợp cả
nhân những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu
tố về thể chất và tinh thần được huy động vào quá trình lao động. Với cách hiểu
này nguồn nhân lực bao gồm những người từ giới hạn dưới độ tuổi lao động trở lên
(ở nước ta là tròn 15 tuổi).
1.2.Sử dụng nguồn nhân lực

Theo nghĩa rộng, sử dụng nguồn nhân lực xã hội là quá trình thu hút và phát
huy lực lượng lao động vào hoạt động lao động xã hội nhằm tạo ra của cải vật chất
và tinh thần, đáp ứng nhu cầu của mỗi cá nhân và của xã hội. Thước đo chung

5

nhất, biểu hiện trình độ sử dụng nguồn nhân lực xã hội là tỷ lệ người có việc làm
và ngược lại là tỷ lệ người thất nghiệp trong nguồn nhân lực so với lực lượng lao
động xã hội. Do vậy, nói đến trấn đề sử dụng nguồn nhân lực xã hội là đề cập đến
tình trạng có việc làm và thất nghiệp trong xã hội.

Theo nghĩa hẹp, sử dụng nguồn nhân lực xã hội là quá trình kết hợp sức lao
động với tư liệu lao động (máy móc, thiết bị, cơng cụ) và đối tượng lao động
(nguyên liệu, vật liệu, đất đai) nhằm tạo ra sản phẩm, dịch vụ có ích được xác định

trước. Với nghĩa này, việc sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực xã hội được biểu
thị bởi các chỉ tiêu chủ yếu như mức độ sử dụng thời gian lao động trong q trình
làm việc (định tính và định lượng) và mức tăng năng suất lao động cá nhân (năng
suất lao động mà mỗi cá nhân có thể và thực tế tạo ra). Tức là, đề cập đến việc sử
dụng và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực của các đơn vị sử dụng lao động
(doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức) tại những nơi làm việc cụ thể.

2.Những nhân tố ảnh hưởng đến giải quyết việc làm của nguồn nhân lực
2.1.Điều kiện tự nhiên, vốn và công nghệ
2.1.1.Điều kiện tự nhiên

Điều kiện tự nhiên của một quốc gia, một vùng, một địa phương được hình
thành một cách tự nhiên, ngồi ý muốn chủ quan của con người. Vị trí địa lý thuận
lợi, khí hậu điều hồ sẽ tạo điều kiện để tạo nhiều việc làm và nâng cao năng suất
lao động xã hội. Ngược lại, khi vị trí địa lý khơng thuận lợi, khí hậu khắc nghiệt sẽ
gây ra những hạn chế nhất định cho sự phát triển, ảnh hưởng xấu đến vấn đề tạo
việc làm. Đất đai càng rộng, càng màu mỡ, tài nguyên càng phong phú, đa dạng,
vấn đề tạo việc làm càng thuận lợi.Đất đai là một yếu tố của q trình sản xuất, có
vai trị đặc biệt khơng chỉ đối với nơng nghiệp mà cịn đối với công nghiệp, dịch vụ
phi nông nghiệp...Do yêu cầu của quá trình đơ thị hóa, diện tích đất nơng nghiệp
ngày bị mất dần, nhất là ở những vùng nông thôn ven đô thị lớn, thị xã, thị trấn, hai

6

bên trục đường giao thơng… Cùng với q trình đơ thị hóa đang diễn ra khá mạnh,
lao động nơng thơn đang có xu hướng tăng lên. Tình hình trên dẫn đến bình qn
diện tích đất canh tác trên một lao động ở nông thôn Việt Nam vào loại thấp nhất
thế giới và do đó thời gian sử dụng ngày cơng nơng nghiệp rất thấp. Do đó điều
quan trọng là làm thế nào để các điều kiện sẵn có của mỗi vùng, mỗi quốc gia và
địa phương đều trở thành các nguyên liệu, nhiên liệu phục vụ cho sản xuất và đời

sống con người và trở thành có ích cho cuộc sống

2.1.2. Vốn và công nghệ
Để biến các điều kiện tự nhiên sẵn có của quốc gia thành tài sản có ích thì

phải có vốn để mua công nghệ kỹ thuật hiện đại, dây chuyền cơng nghệ, máy móc
thiết bị phục vụ sản xuất, chế biến. Trong thực tế, có những nước rất nghèo tài
ngun như Nhật Bản nhưng có cơng nghệ hiện đại, máy móc tiên tiến, có phương
pháp quản lý hiện đại đã tạo ra được nhiều việc làm và việc làm bền vững, nâng
cao đời sống của nhân dân. Đặc biệt, yếu tố sức lao động liên quan đến thể lực, trí
lực, kinh nghiệm quản lý và sản xuất, cơ chế, chính sách của mỗi quốc gia, của
chính quyền địa phương và những quy định cụ thể của người sản xuất, kinh doanh
là những nhân tố ảnh hưởng đến tạo việc làm cho người lao động.

Cơng nghiệp hố, hiện đại hố ở nước ta hiện nay được coi là sự nghiệp của
toàn dân, của mọi thành phần kinh tế. Chiến lược phát triển kinh tế, xã hội 2001 -
2010 mà Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã thông qua: "Chiến lược đẩy mạnh
cơng nghiệp hố, hiện đại hố theo định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền
tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp" Cơng
nghiệp hố, hiện đại hố là q trình đổi mới trang thiết bị hiện đại phục vụ cho
quá trình sản xuất, nhằm đạt năng suất, chất lượng và hiệu quả cao trên phương
pháp sản xuất công nghiệp. Đồng thời, phát triển các ngành cơng nghệ cao. Đó là
những cơng nghệ dựa vào những thành tựu mới nhất của khoa học hiện đại như

7

công nghệ tin học, công nghệ sinh học, vật liệu mới, cơng nghệ gia cơng chính xác
trong chế tạo máy, tự động hóa, năng lượng mới.

2.2.Dân số, chất lượng sức lao động

Dân số, lao động và việc làm là những vấn đề có quan hệ chặt chẽ với nhau.

Mức gia tăng dân số càng nhanh thì nguồn lao động trong tương lai tăng cũng càng
nhanh, đồng thời nó sẽ tạo áp lực lớn đến giải quyết việc làm dưới nhiều chiều
cạnh khác nhau. Gia tăng dân số nhanh sẽ buộc xã hội phải chi tiêu nhiều hơn cho
các mục đích tiêu dùng, ít đầu tư cho sản xuất, phát triển, nhất là cho phát triển
nguồn nhân lực. Quy mô nguồn lao động lớn, cơ hội việc làm ở nơng thơn ít, dẫn
đến tình trạng di dân từ nơng thơn ra đơ thị vì mục đích mưu sinh kiếm sống. Cơ
chế tạo việc làm địi hỏi sự kết hợp chặt chẽ từ ba phía: người sử dụng lao động,
người lao động và Nhà nước. Do đó, nhân tố có ảnh hưởng quyết định đến tạo việc
làm cho người lao động là sức lao động trên cả hai phương diện số lượng và chất
lượng. Nhân tố này gồm những đòi hỏi mà người lao động cần phải có để đáp ứng
được yêu cầu của người sử dụng lao động.

Thực tiễn ở Việt Nam, một nước đang phát triển thì vấn đề quan trọng nhất
là chất lượng sức lao động. Người lao động muốn tìm được việc làm, nhất là việc
làm có thu nhập cao phù hợp với năng lực, trình độ, cần có các thơng tin thị trường
lao động, biết các cơ hội việc làm và đặc biệt phải đầu tư cho sức lao động của
mình, tức là đầu tư vào vốn con người cả về thể lực và trí lực. Mỗi người lao động,
tùy thuộc vào điều kiện và hồn cảnh cụ thể của mình, tranh thủ các nguồn tài trợ
để tham gia giáo dục, đào tạo, phát triển sức lao động của mình. Đây cũng chính là
điều kiện cần thiết để duy trì việc làm, tạo cơ hội việc làm có thu nhập và nâng cao
vị thế của bản thân mỗi người lao động.

8

2.3.Thị trường lao động
Thị trường hàng hóa sức lao động là tồn bộ các quan hệ kinh tế hình thành

trong lĩnh vực thuê mướn lao động. Đối tượng tham gia thị trường lao động bao

gồm những người cần thuê và đang sử dụng sức lao động của người khác và những
người có nhu cầu đi làm thuê hoặc đang làm việc cho người khác bằng sức lao
động của mình để được nhận một khoản tiền cơng. Trong khi đang có xu hướng
đẩy lao động ra ở một số lĩnh vực, đồng thời lại xuất hiện một số lĩnh vực và hình
thức khác đang có khả năng thu hút thêm lao động như kinh tế hộ gia đình, khu
vực phi kết cấu, doanh nghiệp nhỏ, nhưng lại chưa có chính sách khuyến khích
thỏa đáng. Đặc biệt là thiếu một đội ngũ lao động trình độ cao để làm việc trong
một số lĩnh vực áp dụng công nghệ mới hoặc trong các khu chế xuất, các đơn vị
kinh tế có vốn đầu tư nước ngồi…

2.4.Cơ chế, chính sách kinh tế-xã hội
Cơ chế, chính sách của quốc gia, của địa phương, các quy định của đơn vị sử

dụng lao động là nhóm nhân tố rất quan trọng tạo việc làm cho người lao động.
Trong mỗi thời kỳ khác nhau. Chính sách và cơ chế của Nhà nước cũng trực tiếp
hoặc gián tiếp khuyến khích các người sử dụng lao động thu hút lao động đặc thù
hay sa thải họ. Có thể nói rằng nhóm nhân tố này rất đa dạng, như các chính sách
kinh tế vĩ mơ, vi mơ của Nhà nước chung hoặc theo ngành, theo lĩnh vực, theo
vùng…. và có ảnh hưởng lớn đến tạo việc làm cho người lao động. Cơ chế, chính
sách của quốc gia, của địa phương và việc áp dụng cơ chế, chính sách vào thực tiễn
có tác động mạnh mẽ đến “cầu” lao động của các đơn vị sử dụng lao động, của thị
trường lao động. Đến lượt nó trực tiếp tác động đến thái độ, hành vi, cách ứng xử
của người sử dụng lao động trong việc thu hút lao động.

Đảng và Nhà nước đã thực hiện đường lối đổi mới và bằng hệ thống các
chính sách và cơ chế quản lý cho sự phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần,

9

đã tạo ra nhiều điều kiện thuận lợi và nhân tố mới đa dạng để các ngành, các hình

thức kinh tế, các vùng phát triển, tạo nhiều việc làm mới, đáp ứng một bước yêu
cầu việc làm và đời sống của người lao động, góp phần ổn định tình hình kinh tế -
xã hội. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã khẳng định: "Khuyến
khích mọi thành phần kinh tế, mọi công dân, mọi nhà đầu tư mở mang ngành nghề,
tạo nhiều việc làm cho người lao động. Mọi công dân đều được tự do hành nghề,
thuê mướn nhân công theo pháp luật. Phát triển dịch vụ việc làm. Tiếp tục phân bố
lại dân cư và lao động trên địa bàn cả nước, tăng dân cư trên các địa bàn có tính
chiến lược về kinh tế, an ninh quốc phòng. Mở rộng kinh tế đối ngoại, đẩy mạnh
xuất khẩu. Giảm đáng kể tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị và thiếu việc làm ở nông
thôn”

3. Xu hướng tạo việc làm cho nguồn lao động hiện nay
Ngày 09/6/2014, Chính phủ đã ban hành Quyết định số 879/QĐ-TTg phê

duyệt Chiến lược phát triển công nghiệp Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến
năm 2035 và Quyết định số 880/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển
các ngành công nghiệp Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.

Chiến lược phát triển công nghiệp Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến
năm 2035 nhằm huy động hiệu quả mọi nguồn lực từ các thành phần kinh tế trong
nước và từ bên ngoài để phát triển, tái cơ cấu ngành công nghiệp theo hướng hiện
đại; Chú trọng đào tạo nguồn nhân lực công nghiệp có kỹ năng, có kỉ luật, có năng
lực sáng tạo; Ưu tiên phát triển và chuyển giao công nghệ đối với các ngành, các
lĩnh vực có lợi thế cạnh tranh và công nghệ hiện đại, tiên tiến ở một số lĩnh vực chế
biến nông, lâm, thủy sản, điện tử, viễn thơng, năng lượng mới và tái tạo, cơ khí chế
tạo và hóa dược; Điều chỉnh phân bố khơng gian cơng nghiệp hợp lý nhằm phát
huy sức mạnh liên kết giữa các ngành, vùng, địa phương để tham gia sâu vào chuỗi
giá trị tồn cầu. Trong Chiến lược phát triển cơng nghiệp Việt Nam đến năm 2025,

10


tầm nhìn đến năm 2035 Chính phủ đã xác định 3 nhóm ngành cơng nghiệp lựa
chọn ưu tiên phát triển, gồm: Công nghiệp chế biến chế tạo, Ngành Điện tử và viễn
thông, Năng lượng mới và năng lượng tái tạo. Quy hoạch đề ra mục tiêu, định
hướng đến năm 2020, tầm nhìn đến 2030. Quy hoạch tập trung vào 10 ngành cơng
nghiệp chủ yếu như: ngành cơ khí - luyện kim; ngành hóa chất; ngành điện tử,
cơng nghệ thơng tin; ngành dệt may-da giày; ngành chế biến nông lâm thủy sản,
thực phẩm, đồ uống; ngành sản xuất vật liệu xây dựng; ngành khai thác và chế biến
khoáng sản; ngành điện; ngành than; ngành dầu khí.

Năm 2020, 2021 đại dịch COVID-19 đã gây nên những gián đoạn chưa từng
có trên tồn thế giới với những tác động khủng khiếp đối với sức khỏe cộng đồng,
việc làm và sinh kế. Các chính phủ, các tổ chức của người lao động và người sử
dụng lao động đã triển khai những biện pháp tức thì, ở phạm vi và mức độ phổ cập
khác nhau, nhằm ứng phó khủng hoảng, duy trì việc làm và bảo vệ thu nhập. Mặc
dù những biện pháp như vậy là rất cần thiết nhằm giảm thiểu tác động của khủng
hoảng, tất cả các quốc gia đều phải gánh chịu mức sụt giảm việc làm và thu nhập
quốc dân nghiêm trọng, làm gia tăng bất bình đẳng hiện hữu.

II. THỰC TRẠNG VÀ XU HƯỚNG TẠO VIỆC LÀM CHO NGUỒN NHÂN
LỰC Ở BẮC NINH HIỆN NAY
1.Thực trạng nguồn nhân lực tại tỉnh Bắc Ninh
1.1.Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của Bắc Ninh

Bắc Ninh là một tỉnh mới tái lập năm 1997 từ tỉnh Hà Bắc cũ. Nằm trong
châu thổ sông Hồng, Bắc Ninh tiếp giáp với tỉnh Bắc Giang ở phía Bắc, tỉnh Hải
Dương ở phía Đơng, thành phố Hà Nội ở phía Nam và Tây. Bắc Ninh nằm sát ven
dải hành lang đường 18 và nằm trong vùng kinh tế trọng điểm tam giác tăng
trưởng Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh - Khu vực có tăng trưởng kinh tế cao,


11

giao lưu kinh tế mạnh. Trung tâm của tỉnh là thị xã Bắc Ninh, cách Hà Nội 40
km2. Tỉnh có 1 thị xã, 7 huyện, 5 phường, 6 thị trấn và 112 xã.

Diện tích tự nhiên của tỉnh là 803,87 km2 bằng 0,24% diện tích cả nước.
Đất nơng - lâm nghiệp chiếm 65,4% diện tích tự nhiên, đất chưa sử dụng chiếm
11,1%. Khí hậu nhiệt đới gió mùa với các thơng số trung bình về nhiệt độ, lượng
mưa, độ ẩm đều cao, thích hợp cho sự phát triển một nền nông nghiệp đa dạng.
Bắc Ninh cũng nằm trên các tuyến trục giao thông quan trọng nối liền các trung
tâm kinh tế văn hóa và thương mại của phía Bắc. Bắc Ninh là một tỉnh nghèo về
tài ngun khống sản, chủ yếu chỉ có vật liệu xây dựng: đất sét làm gạch, ngói,
gốm với trữ liệu không nhiều.

Bắc Ninh có một dân số trẻ với nhóm tuổi lao động từ 15 đến 60 là 665.236
người, chiếm 64,93% tổng dân số. Nhóm tuổi dưới 15 có 258.780 người, chiếm
25,26% tổng dân số cịn nhóm người trên 60 tuổi có 100.456 người, tức chiếm
9,8%. Tỷ lệ đơ thị hóa tính đến năm 2020 đạt 38% với khoảng 520.000 người sống
tại các đô thị và 62% với khoảng 740.000 người sống tại các xã ngồi đơ thị. Cơng
nghiệp và cơng nghệ thông tin là động lực quan trọng nhất trong sự phát triển kinh
tế của Bắc Ninh trong những năm vừa qua. Khi tách tỉnh, Bắc Ninh là một tỉnh
thuần nông với nền công nghiệp không đáng kể đa phần là làng nghề. Tuy nhiên
hết năm 2012, Bắc Ninh là tỉnh có quy mơ cơng nghiệp lớn thứ 5 cả nước, thứ 2
miền Bắc và ln duy trì tốc độ tăng trưởng cao nhất cả nước trong nhiều năm qua.
Năm 2012, giá trị sản xuất công nghiệp đạt 84.884 tỷ đồng (CĐ 1994).Động lực
cho tăng trưởng công nghiệp của Bắc Ninh tập trung ở các doanh nghiệp công
nghệ cao như Samsung, Canon, Nokia.

Chương trình xây dựng nơng thơn mới được đẩy mạnh; các tiêu chí tiếp tục
gia tăng, đời sống của nhân dân ở khu vực nông thôn được cải thiện rõ rệt; bình

qn số tiêu chí đạt chuẩn là 18,14 tiêu chí/xã, tăng 0,94 tiêu chí. Dự kiến hết năm

12

2017, có tổng số 70 xã đạt chuẩn nơng thơn mới, chiếm 72,1% số xã, tăng 12 xã so
với năm 2016, có 02 đơn vị là huyện Tiên Du và thị xã Từ Sơn được công nhận
huyện đạt chuẩn nông thơn mới và thị xã hồn thành nhiệm vụ xây dựng nơng thơn
mới. Các lĩnh vực văn hóa, xã hội được phát triển toàn diện. Bắc Ninh là một trong
những tỉnh đi đầu cả nước về chính sách an sinh, phúc lợi xã hội. Công tác giáo
dục, dạy nghề, giải quyết việc làm, nâng cao đời sống được quan tâm, tỷ lệ hộ
nghèo giảm dần qua các năm, năm 2017 giảm hộ nghèo xuống còn 2,5%.

1.2.Chất lượng nguồn nhân lực tỉnh Bắc Ninh

1.2.1. Tình hình chung về nguồn nhân lực

Bắc Ninh là tỉnh có tốc độ tăng dân số tương đối thấp so với cả nước (1,2%
năm 2000). Tuy diện tích tương đối nhỏ nhưng mật độ dân số của tỉnh lại quá cao:
1.184 người /km2 (gấp hơn 2 lần mật độ dân cư cả nước).

Về số lượng: do có sự chuyển đổi mạnh mẽ từ nông nghiệp sang công
nghiệp và dịch vụ nên tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh Bắc Ninh luôn ở mức cao
hơn bình quân chung từ 2 đến 2,5 lần, thu nhập bình quân đầu người gấp trên 3 lần
mức bình quân cả nước. Bắc Ninh là địa phương dẫn đầu cả nước về thu hút vốn
đầu tư, nhất là đầu tư FDI góp phần tạo lực hút lớn đối với lao động nhập cư từ các
địa phương khác nên nguồn nhân lực rất dồi dào. Toàn tỉnh hiện có trên 1,15 triệu
người với gần 738 nghìn người trong độ tuổi lao động, chiếm 63,9% dân số, dấu
hiệu này cho thấy dân số Bắc Ninh đang trong giai đoạn “dân số vàng”. Nguồn lao
động của tỉnh có tốc độ tăng trưởng trung bình khoảng 2,5%/năm và tăng dần qua
các năm. Năm 2015, tổng nguồn lao động (bao gồm những người trong độ tuổi lao

động và những người ngoài độ tuổi lao động vẫn có khả năng lao động) có 822,1
nghìn người, chiếm tỉ lệ 71,2% dân số, trong đó lao động đang làm việc trên
648,51 nghìn người, chiếm tỉ lệ 78,88% so với tổng nguồn lao động. Bên cạnh đó,
nguồn nhân lực có cơ cấu trẻ rất cao, số lao động trong độ tuổi từ 20 - 44 chiếm

13

66,5% trong các nhóm tuổi tham gia lao động, nhóm tuổi từ 20 - 24 chiếm trên
11,45%, nhóm tuổi từ 25 - 29 chiếm 14,5%, nhóm từ 30 - 34 tuổi chiếm 13,05%.
Đây là lợi thế lớn cho tỉnh Bắc Ninh trong quá trình thu hút đầu tư trong và ngoài
nước.

Ngoài hai yếu tố tăng tự nhiên của dân số và sự tham gia của những người
ngoài tuổi lao động, nguồn lao động Bắc Ninh cịn được bổ sung bằng một số
nguồn có tính chất cơ học như: số bộ đội giải ngũ, số học sinh, sinh viên tốt nghiệp
ra trường, số người dôi dư do sắp xếp lại lao động trong các DNNN.

Trong khi đó khả năng giải quyết việc làm của tỉnh còn rất hạn chế. Số
người khơng có việc làm và thiếu việc làm ở cả thành thị và nông thôn năm 1998
là 21.600 người, năm 1999: 19.900 người, năm 2000: 17.000 người. Vì vậy, mâu
thuẫn cung - cầu về lao động khá lớn, gây sức ép ngày càng nặng nề trong giải
quyết việc làm của tỉnh. Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng di
dân tự do, gây xáo trộn về xã hội, môi trường, tác động nhiều đến cơ cấu vùng của
nguồn lao động. Dân số Bắc Ninh chủ yếu là ở nông thôn, chiếm 90,6% so với
tổng dân số của tỉnh. Ninh khi chuyển sang giai đoạn cơng nghiệp hóa nền kinh tế
tỉnh.

Theo thống kê, đến nay, toàn tỉnh Bắc Ninh có 735,2 nghìn lao động đang
làm việc trong các ngành kinh tế, tăng 2,6% so với năm ngoái Trong đó khu vực
cơng nghiệp- xây dựng có 373,7 nghìn lao động, tăng 3%; khu vực dịch vụ có

240,1 nghìn lao động, tăng 3,4%; lao động trong lĩnh vực nông lâm thủy sản tiếp
tục giảm (-3%)…Riêng 9 tháng năm 2020, toàn tỉnh Bắc Ninh giải quyết việc làm
mới cho 21.350 lao động, đạt 76% kế hoạch năm và tăng 2,6% so với cùng kỳ năm
trước. Bình qn mỗi năm, tồn tỉnh có khoảng 27.000 lao động được giải quyết
việc làm. Thơng qua các chương trình giải quyết việc làm đã góp phần giảm tỷ lệ
lao động thất nghiệp ở khu vực thành thị, tăng tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở
khu vực nông thôn; cơ cấu lao động chuyển dịch theo hướng tích cực.Hiện nay, tỷ

14

lệ lao động trong lĩnh vực công nghiệp và xây dựng chiếm tới 51,9%; dịch vụ là
32,1%; nông, lâm nghiệp và thủy sản là 16%.

Để đón bắt những cơ hội đầu tư ngày càng lớn từ bên ngoài, tỉnh đã quy
hoạch và được đề nghị mở rộng 17 khu công nghiệp tập trung và đơ thị có diện
tích: 11000ha; 43 cụm cơng nghiệp nhỏ và vừa, cụm công nghiệp làng nghề với
1310 ha. Dự kiến sẽ có hàng nghìn tập đồn, doanh nghiệp đầu tư vào Bắc Ninh.

Kết quả khảo sát tại 31/125 doanh nghiệp tại KCN Bắc Ninh cho thấy, các
doanh nghiệp đang sử dụng 4.391 nhân lực, trong đó nhân lực có chun mơn,
nghiệp vụ ở trình độ đại học, cao đẳng chiếm 12,7%; có tay nghề (đã qua đào tạo
trước khi tuyển dụng) chiếm 43,6%; còn lại 43,7% là chưa qua đào tạo. Song, số
nhân lực đã qua đào tạo cũng chưa đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp và đạt
chuẩn "nhân lực có chất lượng". Hiện nay, các doanh nghiệp, các tập đồn lớn hoạt
động tại các KCN Bắc Ninh có nhu cầu rất lớn về đội ngũ công nhân lành nghề,
nguồn nhân lực có chất lượng cao, đặc biệt là nguồn nhân lực cao cấp có chun
mơn kỹ thuật và trình độ ngoại ngữ tốt. Tuy nhiên, nguồn nhân lực trên địa bàn
Tỉnh chỉ đáp ứng được khoảng 10% nhu cầu, cịn lại phải tuyển dụng từ các tỉnh
ngồi về, nhưng cũng chỉ đáp ứng được khoảng 30-40% so với nhu cầu. Trước
thực tế này, các doanh nghiệp đã phải chọn giải pháp ‘nhập khẩu" nhân lực có chất

lượng cao từ nước ngồi với chi phí cao.

1.2.2. Về mặt thể lực và trí lực
Số người biết đọc, biết viết tăng dần. Chất lượng nguồn lao động của Bắc

Ninh nhìn chung cịn thấp. Trong toàn tỉnh, tỷ lệ lao động qua đào tạo mới chỉ đạt
34,5%, trong đó có 23,5% được đào tạo nghề. Con số trên còn một khoảng cách
khá xa so với nhu cầu lao động hiện nay. Công tác đào tạo nghề mới chỉ tập trung
đào tạo đại trà, chưa có đào tạo chuyên sâu, do vậy chưa đáp ứng được yêu cầu của
thị trường. Tỷ lệ lao động chưa biết chữ và chưa tốt nghiệp cấp I ngày càng giảm

15

xuống tương xứng. Xu hướng trình độ học vấn của người lao động ngày càng cao
cho thấy khả năng học nghề, đào tạo nghề và nâng cao tay nghề của lực lượng lao
động ở Bắc Ninh vào loại khá. Đây là một tiền đề quan trọng của sự phát triển
nguồn nhân lực của tỉnh. Tuy nhiên, tỷ lệ người tốt nghiệp cấp II và cấp III trong
lực lượng lao động của tỉnh còn thấp chỉ khoảng 60%.

Chất lượng lao động chuyên môn kỹ thuật của tỉnh cịn nhiều bất cập. Lao
động khơng đáp ứng được yêu cầu của công việc. Chưa được đào tạo đủ trình độ
quy định, năng lực thích ứng với việc làm trong nền kinh tế chuyển đổi còn yếu.
Tỷ lệ lao động chun mơn kỹ thuật có trình độ cao thấp, cơ cấu bậc đào tạo mất
cân đối với nhu cầu sử dụng.

Xét trong tổng số lao động chuyên môn kỹ thuật năm của tỉnh, cơ cấu
như sau: sơ cấp chiếm 1,06%, công nhân kỹ thuật không bằng: 2,99%, cơng
nhân kỹ thuật có bằng: 2,4%, trung học chuyên nghiệp: 2,71%, cao đẳng và đại
học: 2,6%, trên đại học: 0,01%. Như vậy, số lao động có chun mơn kỹ thuật
trình độ sơ cấp và khơng bằng cấp cịn 4,05% trong tổng số lao động chuyên

môn kỹ thuật. Nguyên nhân khách quan là do 90,60% dân cư và 85,71% lực
lượng lao động ở tỉnh đang làm việc trên địa bàn nông thôn, nơi mà công việc
lao động sản xuất chưa đặt ra yêu cầu bức xúc về đào tạo nghề; chỉ có 8,05%
người lao động ở nông thôn đã trải qua đào tạo nghề nghiệp, trong khi đó con số
này ở thành thị là 33,70%.

Trong khu vực công nghiệp và dịch vụ, tỷ lệ cơng nhân kỹ thuật cịn thấp,
chỉ có dưới 5% so với toàn bộ lực lượng lao động của tỉnh. Điều đáng lưu ý là
trong đó hơn một nửa công nhân kỹ thuật tuy đã được đào tạo nhưng khơng có
bằng. Rõ ràng, đào tạo nghề đang là vấn đề bức xúc đối với lực lượng lao động
không chỉ ở nông thôn mà ở cả thành thị.

16

1.3. Thực trạng sử dụng, phát triển nguồn nhân lực

Tổng số lao động đang làm việc tồn tỉnh năm 2015 l 648,510 nghìn người
(năm 2010 là 593,1 nghìn người), lao động được phân bố trong 5 khu vực (chia
theo ngành kinh tế) là: Nơng, lâm nghiệp và thuỷ sản là 150,629 nghìn người (năm
2010 là 283,528 nghìn người); cơng nghiệp, xây dựng là 307,691 nghìn người
(năm 2010 là 197,551 nghìn người); khu vực dịch vụ là 190,190 nghìn người (năm
2010 là 112,021 nghìn người). So với năm 2010, quy mô, cơ cấu lao động đang
làm việc có sự biến đổi: Lao động trong các khu vực (theo ngành): Khu vực Nông,
lâm nghiệp và thuỷ sản bình qn mỗi năm giảm 11,88%; Khu vực-Cơng nghiệp,
bình quân mỗi năm tăng 9,2%; và Khu vực Dịch vụ bình quân mỗi năm tăng
11,2%. Tỷ trọng lao động của các khu vực trong tổng số lao động đang làm việc
của năm 2015 và chuyển dịch cơ cấu so với năm 2010 tương ứng là 25,2%, giảm
24,8%; 47,4%, tăng 15,6% và 29,3%, tăng 9,1%. Như vậy, nhân lực của các ngành
kinh tế có sự biến động khác nhau tạo ra chuyển dịch lao động giữa các ngành
trong tổng số nhân lực toàn tỉnh.


Trong những năm gần đây, đi cùng sự phát triển kinh tế xã hội của cả nước,
Bắc Ninh là một trong những tỉnh đạt được tốc độ tăng trưởng lớn, quy mô kinh tế
tiếp tục được mở rộng, vị thế ngày một nâng cấp, vươn lên nhiều tỉnh thành trong
cả nước. Năm 2017, tổng sản phẩm chiếm 3,11%GDP so với cả nước, đứng ở vị trí
thứ 4 trong tổng số 63 tỉnh thành Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm đạt khoảng
18,6% tăng gấp đôi kế hoạch đã đề ra. Có được kết quả như vậy nguyên nhân đến
từ sự phối hợp đồng bộ giữa những ban ngành ở trong tỉnh. Trong đó có sự đóng
góp khơng nhỏ của ngành Lao động – Thương binh và xã hội ở trong lĩnh vực đào
tạo nghề, giải quyết nhu cầu tìm kiếm việc làm cho người lao động.

Tồn tỉnh Bắc Ninh có hơn 1,2 triệu dân, trong đó có khoảng 0,7 triệu người
thuộc độ tuổi lao động. Hàng năm, tồn tỉnh có chừng 12 nghìn người bước vào độ
tuổi lao động, nhu cầu cần tìm việc làm tại Bắc Ninh cũng ngày một tăng lên, vi

17

ngồi nguồn lao động tại chỗ thi có một lượng lớn người lao động đến từ nhiều địa
phương khác. Đây chính là áp lực lớn cho cơng tác đào tạo nghề cũng như giải
quyết việc làm của tỉnh. Đề có thể đạt được mục tiêu duy trì tỷ lệ thất nghiệp trong
mức thấp hơn 2,4%, có nghĩa là binh quân mỗi năm tỉnh phải thu xếp thêm khoảng
27 ngàn vị trí việc làm, trong số đó, nguồn lao động ở địa phương chiếm khoảng
11.000 người. Đứng trước những thách thức đó, trong thời gian vừa qua tỉnh đã tập
trung triển khai nhiều giải pháp đồng bộ nhằm mục tiêu tạo thêm việc làm và tăng
thêm nguồn thu cho người dân lao động. Bao gồm các hoạt động như đẩy mạnh
việc đào tạo nghề cho người lao động nông thôn nâng cao chất lượng của nguồn
lao động đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu doanh nghiệp.

Các doanh nghiệp chủ yếu tuyển dụng nhiều lao động phổ thông với 4.921
chỗ việc làm, chủ yếu cho các cơng việc cơ khí, lắp ráp điện tử, trình độ đại học,

cao đẳng ít hơn, chỉ có 585 chỗ việc làm, trung cấp 176 chỗ việc làm, sơ cấp 75
chỗ sơ cấp. Các doanh nghiệp cũng có nhu cầu tuyển lao động trẻ tuổi dưới độ tuổi
25 là 5.097 người, còn lao động từ 25 tuổi đến 40 tuổi rất ít, chỉ 571 người và trên
40 tuổi là 89 người. Mức lương các doanh nghiệp đưa ra cũng tương đối hấp dẫn.
Các nhà tuyển dụng chủ yếu đưa ra yêu cầu không khắt khe, không cần kinh
nghiệm và trả mức lương từ 10-15 triệu đồng cho 5.097 chỗ việc làm (chiếm
88,5%), mức lương trên 15 triệu đồng chỉ dành cho 39 vị trí làm việc và mức lương
từ 3-5 triệu đồng dành cho 227 chỗ việc làm (chiếm tỷ lệ 1%)

Trong tháng 9/2019, đã có 914 lao động đăng ký BHTN và có 922 lao động
có quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp hàng tháng. Lao động nữ có tỷ lệ mất việc
làm cao hơn nam giới ở các độ tuổi với 568 người, trong khi nam là 354 người.
Lao động làm việc trong lĩnh vực sản xuất Điện - Điện tử - Điện lạnh - Lắp ráp
điện tử - Tự động hóa thất nghiệp nhiều nhất, cịn lao động làm trong các ngành
Công nghệ thông tin - Viễn thông (0,6%) và Tài chính - Ngân hàng - Kế tốn (0,9
rơi vào tình trạng thất nghiệp ít hơn rất nhiều

18

2.Xu hướng giải quyết việc làm ở tỉnh Bắc Ninh
2.1. Công tác đào tạo nghề

Tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng dần theo các năm: Năm 2010 là 45%, năm
2014 là 57%, năm 2015 là 60%, năm 2018 ước tính 69%; Đào tạo cao đẳng nghề,
trung cấp nghề có chất lượng đảm bảo, tỷ lệ tốt nghiệp ra trường có việc làm đạt
80%. Hiện tồn tỉnh có 51 cơ sở đào tạo dạy nghề; Trong 5 năm toàn tỉnh đã đào
tạo cho 141.365 lao động, tăng 54.509 người so với giai đoạn 2006-2010. Kết quả
đào tạo nghề: Đến năm 2015, lực lượng lao động tồn tinh là 661.656 người, trong
đó khơng có trình độ chun mơn kỹ thuật là 40%; lao động qua đào tạo dạy nghề
ngắn hạn: 7,06%; Công ẩn kỹ thuật (khơng có bằng) 31,68%; trung cấp nghề:

2,36%; trung cấp chuyên nghiệp: 4,54%; cao đẳng: 2,45 %; cao đẳng nghề: 3.24;
đại học trở lên: 9,18%. Phấn đấu đến năm 2021 lực lượng lao động trong toàn tỉnh
là 720.591 người, trong đó khơng có trình độ chun mơn kỹ thuật rút xuống còn
30%; dạy nghề ngắn hạn: 7,26%; trung cấp chuyên nghiệp: 4,66%; cao đẳng: 2,52
%; cao đẳng nghề: 4,09%; đại học trở lên: 9,34%.

Đẩy mạnh cơng tác xã hội hóa dạy nghề theo hưởng khuyến khích các tổ
chức, cá nhân đầu tư thành lập cơ sở dạy nghề, các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất,
kinh doanh, dịch vụ tham gia dạy nghề. Các cơ sở dạy nghề ngồi cơng lập của
tỉnh có 37 cơ sở, chiếm tỷ lệ 55%; Cơ sở vật chất, trang thiết bị được tăng cường;
Đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên dạy nghề có nhiều kinh nghiệm và có trình độ
chun mơn, nghiệp vụ cao. Số lao động qua đào tạo được nâng lên. Trình độ cao
đẳng nghề, trung cấp nghề có chiều hướng tiếp tục tăng cao qua các năm. Đây là
những tín hiệu tốt trong việc phát triển lực lượng lao động chất lượng cao của tỉnh
trong những năm tiếp theo. Nhóm lao động có trình độ sơ cấp và lao động nơng
thơn cũng đã phát triển tốt từ năm 2011 đến năm 2020; Đào tạo nghề cho lao động
nông thôn cũng được quan tâm. Điều đó cho thấy lao động nơng thơn đang có xu

19

hướng chuyển dịch phát triển kinh tế theo hướng giảm tỷ trọng khu vực nông
nghiệp và tăng tỷ trọng khu vực dịch vụ.Thực hiện đề án dạy nghề cho lao động
nơng thơn: Hiện tồn tỉnh có 28 đơn vị tham gia dạy nghề cho lao động nông thôn
với 20 nghề phi nông nghiệp, 12 nghề nông nghiệp; Số lao động nông thôn được
hỗ trợ đào tạo nghề là khoảng 38.614 người, trong đó: nghề phi nơng nghiệp
21.030 người chiếm tỷ lệ 54,5%, nghề nông nghiệp 17.584 người chiếm tỷ lệ
45,5%.

Giai đoạn 2015-2020, toàn tỉnh đã mở được 352 lớp đào tạo nghề cho lao
động nông thôn, đào tạo cho 7.580 lao động nông thơn, với kinh phí đào tạo là

9.027.095.500 đồng; Tỷ lệ lao động có việc làm sau học nghề là 70%, đã góp phần
rất lớn trong việc chuyển đổi cơ cấu lao động, giải quyết việc làm tại chỗ, cung cấp
lao động cho các doanh nghiệp, giúp người nông dân chuyển đổi nghề, tạo thêm
nghề mới, phát triển kinh tế và tăng thu nhập cho hộ gia đình. Hiện nay, khoảng
80% lao động của tỉnh và đại bộ phận lao động nơng thơn chưa có trình độ chun
mơn kỹ thuật như mong đợi. Để đáp ứng u cầu cơng nghiệp hố, hiện đại hoá
phát triển các ngành nghề mới, nâng cao hiệu quả của các ngành nghề đang có,
thay đổi cơ cấu lao động và tính chất lao động, cần đẩy mạnh cơng tác đào tạo, bồi
dưỡng nâng cao trình độ chun mơn, văn hóa, khoa học kỹ thuật, quản lý cho
người lao động. Người lao động cần phải được đào tạo mới và tập thêm các kiến
thức mới để chuyển sang phát triển ngành nghề mới, nâng cao năng suất lao động
trong ngành nghề đang làm việc. Việc này cần phải tiến hành cho tất cả lao động,
trước mắt là lao động trẻ, lao động ở nông thôn, đồng thời sử dụng tốt lao động có
trình độ chun mơn kỹ thuật cao.

2.2.Công tác giải quyết việc làm
Trong 5 năm tỉnh đã tư vấn, giới thiệu việc làm cho 19.287 người. Tổ chức,

triển khai tốt các giải pháp nâng cao hiệu quả việc hỗ trợ tuyển dụng lao động

20


×