Tải bản đầy đủ (.docx) (31 trang)

Phân tầng xã hội ở nước ta và thành phố hồ chính minh trong tương lai xu hướng dịch chuyển và yếu tố tác động

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (516.77 KB, 31 trang )

<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">

<b>PHÂN TẦNG XÃ HỘI Ở NƯỚC TA VÀ THÀNHPHỐ HỒ CHÍNH MINH TRONG TƯƠNG LAI - XU</b>

<b>HƯỚNG DỊCH CHUYỂN VÀ YẾU TỐ TÁC ĐỘNG</b>

<b>Họ tên SV : Phạm Huỳnh Kim NgânMSSV : 202052699</b>

<b>Lớp ngày : chiều thứ ba</b>

<b>TP. Hồ Chí Minh , tháng 06 năm 2021</b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2">

<b>PHẦN CHẤM ĐIỂM VÀ NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN</b>

<i><b>Giảng viên chấm vòng 1Giảng viên chấm vòng 2</b></i>

</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3">

<b>MỤC LỤC</b>

<b>Chương 1 : PHẦN MỞ ĐẦU ______________________________________ 1</b>

1.1.Lý do chọn đề tài ___________________________________________ 1 1.2.Mục đích nghiên cứu ________________________________________ 2 1.3.Nhiệm vụ nghiên cứu________________________________________ 2 1.4.Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu _______________________ 2 1.4.1.Đối tượng nghiên cứu __________________________________ 2 1.4.2.Khách thể nghiên cứu __________________________________ 2 1.4.3.Phạm vi nghiên cứu ___________________________________ 3 1.5.Câu hỏi nghiên cứu _________________________________________ 3 1.6.Phương pháp nghiên cứu ____________________________________ 3 1.7.Kết cấu của tiểu luận ________________________________________ 3

<b>Chương 2 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TẦNG XÃ HỘI______________ 4</b>

2.1.Tổng quan tình hình nghiên cứu về phân tầng xã hội _______________ 4 2.1.1.Tình hình nghiên cứu về phân tầng xã hội trên thế giới __________ 4 2.1.2.Tình hình nghiên cứu về phân tầng xã hội ở Việt Nam___________ 6 2.2.Khái niệm phân tầng xã hộ ___________________________________ 8 2.3.Một số mơ hình tháp phân tầng ________________________________ 9 2.4.Cấu trúc phân tầng xã hội ở nước ta và Thành phố Hồ Chí Minh _____ 10

<b>Chương 3 : NỘI DUNG CHÍNH ___________________________________ 14 3.1.Xu hướng dịch chuyển cấu trúc phân tầng xã hội trong tương lai ở </b>

nước ta và Thành phố Hồ Chí Minh _________________________________ 14 3.2.Những yếu tố tác động đến xu hướng dịch chuyển mô hình phân tầng xã hội ở nước ta và Thành phố Hồ Chí Minh __________________________ 17 3.2.1.Yếu tố về kinh tế thị trường _______________________________ 17 3.2.2.Yếu tố chủ trương , chính sách ____________________________ 17 3.2.3.Yếu tố thuộc về đặc trưng cá nhân người lao động _____________ 18 3.3.Một số giải pháp thúc đẩy quá trình dịch chuyển mơ hình phân tầng xã hội ở nước ta và Thành phố Hồ Chí Minh _____________________________ 21

<b>Chương 4 : KẾT LUẬN _________________________________________ 24Tài liệu tham khảo ______________________________________________ 26</b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4">

<b>TÊN ĐỀ TÀI :</b>

<b>Phân tầng xã hội ở nước ta và thành phố Hồ Chí Minh trong tương lai -xu hướng dịch chuyển và yếu tố tác động</b>

<b>Chương 1 : PHẦN MỞ ĐẦU</b>

<b>1. Lý do chọn đề tài :</b>

Việt Nam ta kể từ lúc đổi mới kinh tế và chính trị năm 1986 đến nay nền kinh tế đã không ngừng phát triển , nhanh chóng đưa Việt Nam từ một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới trở thành quốc gia có thu nhập trung bình thấp . Sự phát triển của Việt Nam trong hơn 30 năm qua là rất đáng ghi nhận . Nước ta đã thực hiện chuyển đổi từ nền kinh tế vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung , bao cấp , khép kín sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần , vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa , đẩy mạnh hội nhập khu vực và quốc tế . Q trình đó , một mặt đã giúp cho nền kinh tế nước ta phát triển nhanh , góp phần cải thiện , nâng cao mức sống của nhân dân , thực hiện hiệu quả công cuộc xóa đói , giảm nghèo được thế giới ghi nhận và đánh giá cao , đồng thời qua đó đã nâng cao vị thế cũng như uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế . Tuy nhiên mặt khác việc này cũng bộc lộ những mặt trái , những hệ quả xã hội không mong muốn và cần phải tập trung giải quyết chúng . Một trong những hệ quả đó chính là vấn đề phân tầng xã hội , gắn với nó là bất bình đẳng xã hội , phân hóa giàu nghèo và những hiện tượng tiêu cực khác đe dọa đến sự ổn định xã hội , ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của đất nước .

Sự phân tầng xã hội dù muốn hay khơng thì nó cũng đã tồn tại từ xưa đến nay , từ Đơng sang Tây , nó suất hiện trên tồn thế giới và khơng loại trừ một quốc gia nào và Việt Nam cũng sẽ không ngoại lệ . Sự bất bình đẳng hay khơng ngang bằng giữa các cá nhân trong xã hội về mọi lĩnh vực như năng lực , thể chất , trí tuệ , ... dẫn đến cơ hội và lợi ích của các cá nhân khơng giống nhau , từ đó dẫn đến việc các cá nhân hay các nhóm xã hội có cùng chung lợi ích với nhau sẽ tập hợp lại thành một nhóm . Nhiều nhóm có cơ hội và lợi ích khác nhau ra đời . Có nhóm lợi ích và cơ hội nhiều nhưng cũng có nhóm thì ít cơ hội và lợi ích hơn , từ đó dẫn đến sự phân tầng xã hội .

Thời gian gần đây sự phân tầng xã hội , phân hóa giàu nghèo cũng như bất bình đẳng trong xã hội đã trở thành những vấn đề vô cùng bức thiết được Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm và tìm hướng giải quyết . Nước ta đang xây dựng và phát triển một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý bởi nhà nước pháp quyền của dân , do dân và vì dân . Việt Nam đang hết sức tích cực đổi mới thể chế chính sách , giảm thiểu các thủ tục hành chính , minh bạch hóa nền kinh tế, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế nhằm quyết

</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5">

tâm thực hiện công bằng xã hội . Đặc biệt thành phố Hồ Chí Minh là thành phố lớn và phát triển bậc nhất nước ta khơng những thế nó cịn là trung tâm kinh tế , chính trị , văn hóa , giáo dục trọng điểm của cả nước . Tuy nhiên , sự phát triển vượt bậc trên linh vực kinh tế - xã hội ở thành phố đã mang lại những hệ quả khơng mong muốn đó chính là sự phân tầng xã hội , phân hóa giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ và phúc tạp . Để giải quyết vấn đề này Đảng và Nhà nước cũng như các cấp chính quyền đề ra những chủ trương , chính sách , giải pháp nhằm tạo điều kiện cho phân tầng xã hội hợp thức phát triển và hạn chế các mặt tiêu cực của phân tầng xã hội không hợp thức . Chúng ta cần phải nhìn nhận rõ về xu hướng dịch chuyển của cấu trúc phân tầng xã hội cũng như các yếu tố tác động đến xu hướng dịch chuyển từ đó đề ra được những giải pháp thích hợp để thực hiện cơng bằng xã hội . Cũng chính vì lý do này nên tơi đã lựa chọn đề tài nghiên cứu về : “ Phân tầng xã hội ở nước ta và thành phố Hồ Chí Minh trong tương lai -xu hướng dịch chuyển và yếu tố tác động” .

<b>2. Mục đích nghiên cứu :</b>

Xác định được xu hướng dịch chuyển của cấu trúc phân tầng xã hội nghề nghiệp trong tương lai ở nước ta và Thành phố Hồ Chí Minh . Nhận diện các yếu tố tác động đến sự dịch chuyển cơ cấu địa vị nghề nghiệp trong mơ hình phân tầng xã hội của cả nước và Thành phố Hồ Chí Minh từ đó đề ra các nhóm các giải pháp mang hàm ý chính sách sách nhằm thúc đẩy q trình dịch chuyển đó .

<b>3. Nhiệm vụ nghiên cứu :</b>

- Làm rõ cơ sở lý luận, căn cứ khoa học và các khái niệm cơ bản về phân tầng xã hội.

- Tìm hiểu thực trạng phân tầng xã hội , dựa vào mơ hình phân tầng xã hội chỉ ra xu hướng dịch chuyển cơ cấu nghề nghiệp giữa các tầng của cả nước ta và Thành phố Hồ Chí Minh . Phân tích ý nghĩa của q trình dịch chuyển đó .

- Nêu được các nhóm yếu tố tác động đến sự dịch chuyển cơ cấu trong mơ hình phân tầng xã hội của cả nước và thành phố Hồ Chí Minh .

- Nêu được nhóm các giải pháp mang hàm ý chính sách nhằm thúc đẩy và quản lý q trình dịch chuyển mơ hình phân tầng xã hội của cả nước và thành phố Hồ Chí Minh .

<b>4. Đối tượng , khách thể , phạm vi nghiên cứu :</b>

<b>4.1. Đối tượng nghiên cứu : Phân tầng xã hội ở nước ta và thành phố</b>

Hồ Chí Minh trong tương lai - xu hướng dịch chuyển và yếu tố tác động .

<b>4.2. Khách thể nghiên cứu : các cá nhân hay nhóm xã hội bao gồm</b>

những người lao động đủ 15 tuổi đến trên 60 tuổi đang có nghề nghiệp ( loại trừ đi những người còn đi học ) trên cả nước nói chung và Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng .

</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">

<b>4.3. Phạm vi nghiên cứu :</b>

<b>- Không gian : sự phân tầng xã hội trên cả nước và thành phố Hồ Chí Minh trong</b>

tương lai .

<b>5. Câu hỏi nghiên cứu : </b>

- Câu hỏi 1: Thực trạng phân tầng xã hội ở Việt Nam và Thành phố Hồ Chí Minh thể hiện như thế nào trên phương diện kinh tế?

- Câu hỏi 2: Những yếu tố nào của đặc điểm cá nhân ảnh hưởng đến thực trạng phân tầng xã hội ở Việt Nam và Thành phố Hồ Chí Minh ?

- Câu hỏi 3: Xu hướng biến đổi của hiện tượng phân tầng xã hội trong tương lai ?

<b>6. Phương pháp nghiên cứu : </b>

Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử đóng vai trò nền tảng , cơ sở phương pháp luận của tồn bộ q trình nghiên cứu . Ngun tắc lịch sử cụ thể , khách quan , tồn diện ln được quan tâm vận dụng và tuân thủ một cách chặt chẽ . Vận dụng phương pháp luận trong đề tài này đặt trong tiến trình ảnh hưởng của bối cảnh đất nước chuyển từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường đến những biến đổi quy mô , cấu trúc phân tầng xã hội ở nước ta và Thành phố Hồ Chí Minh .

Phương pháp luận : Vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác- Lênin , tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách , pháp luật của Nhà nước ; Tiếp cận quan điểm của một số nhà xã hội học trên thế giới và Việt Nam về phân tầng xã hội , công bằng xã hội, tiến bộ xã hội và những vấn đề liên quan.Vận dụng các lý thuyết của Karl Marx , Max Weber và của các nhà xã hội học hiện đại để mô tả xu hướng dịch chuyển của phân tầng xã hội .

Phương pháp phân tích tài liệu : phương pháp này được sử dụng trong suốt quá trình nghiên cứu, tuy nhiên sử dụng nhiều nhất trong giai đoạn đầu khi tìm hiểu tổng quan về vấn đề nghiên cứu . Tìm hiểu về cách tiếp cận của các nhà xã hội học trong và ngoài nước về vấn đề phân tầng xã hội .

<b>7. Kết cấu của tiểu luận :</b>

Chương 1 : Phần mở đầu

Chương 2 : cở lý luận về phân tầng xã hội Chương 3 : nội dung chính

Chương 4 : kết luận

</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">

<b>Chương 2 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TẦNG XÃ HỘI</b>

<b>2.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về phân tầng xã hội :</b>

<b>2.1.1.Tình hình nghiên cứu về phân tầng xã hội trên thế giới :</b>

Phân tầng xã hội là một hiện tượng xã hội xuất hiện từ khi nền công xã nguyên thủy tan rã , chế độ tư hữu xuất hiện , dẫn đến sự phân chia giai cấp . Tuy nhiên , hiện tượng xã hội này chỉ được quan tâm nghiên cứu nhiều từ thế kỷ XIX đến nay .

Karl Marx được xem là người cung cấp cho xã hội học hiện đại những luận điểm gốc và cơ bản về phân tầng xã hội . Tuy ông không đề cập trực tiếp đến khái niệm phân tầng xã hội hay các yếu tố tác động đến PTXH nhưng qua các tác phẩm tiêu biểu của mình từ ản thảo Kinh tế - Triết học (1844), Tuyên ngôn của Đảng cộng sản (1848), Góp phần phê phán kinh tế học chính trị (1859) đến bộ Tư ản đồ sộ (từ 1867 đến sau khi Mark qua đời) và nhiều tác phẩm khác , đã cho ta thấy khi phân tích vấn đề liên quan đến phân tầng xã hội , Karl Marx đã nhấn mạnh tới sự khác nhau về tư hữu đối với các tư liệu sản xuất trong xã hội , ông coi sự khác biệt về lợi ích kinh tế, quyền lực chính trị và uy tín của xã hội, tất cả đều bắt nguồn từ phân chia giai cấp. Theo Marx , quyền sở hữu tư liệu sản xuất là nhân tố giữ vai trò quyết định trong phân tầng xã hội . Trong lý luận của mình, Marx cũng chú ý tới nhân tố phân công lao động xã hội , nhưng ông khẳng định rằng : phân tầng xã hội là do quyết định của nhân tố kinh tế - quyền sở hữu tư liệu sản xuất .

Cùng với Karl Marx , Max Weber là người có nhiều đóng góp quan trọng trong việc phân tích và lý giải hiện tượng phân tầng xã hội . Ơng khơng chỉ xoay quanh nhân tố là kinh tế như K.Marx mà ông đã bổ sung vào quan điểm này bằng hai nhóm yếu tố cơ bản: Các yếu tố kinh tế (vốn, tư liệu sản xuất, thị trường…) và các yếu tố phi kinh tế (vị thế xã hội, năng lực, cơ may, quyền lực...) . Đóng góp của Weber khơng nhấn mạnh vào quyền sở hữu tài sản như K.Mark, ông nhấn mạnh nhiều hơn tới cơ may, cơ hội mà cá nhân hay nhóm xã hội có thể đạt được việc chiếm hữu được tài sản . Đó là cơ may thị trường hay cơ may cuộc đời . Có thể thấy , nhấn mạnh này của Weber về cơ may cuộc đời tạo ra một sự đánh giá linh hoạt hơn K. Marx đối với khả năng phân tầng trong xã hội .

Trên cơ sở lý luận nền tảng được thiết lập trước đó , từ những năm 40 của thế kỷ XX đến nay , thuật ngữ “ phân tầng xã hội” đã được sử dụng khá rộng rãi ở rất nhiều nước trên Thế giới . Từ đây cũng có nhiều cơng trình nghiên cứu đi sâu vào khảo sát và lý giải hiện tượng phân tầng xã hội diễn ra trong xã hội .

Nhà xã hội học người Mỹ Erik Olin Wright đã dựa trên quan điểm của Karl Marx và Max Weber đã phát triển lý thuyết về giai cấp . Ông cho rằng , trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa hiện đại , vị trí của một cá nhân được xác lập dựa trên ba khía cạnh trong kiểm sốt các nguồn lực kinh tế , đó là : sự kiểm sốt đối với đầu tư

</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">

hay vốn tiền tệ , kiểm soát các tư liệu sản xuất vật chất ( ruộng đất hay cơng xưởng và cơng sở văn phịng )và sự kiểm soát đối với sức lao động . Đây là những khía cạnh cho phép nhận diện các giai cấp chủ yếu . Đến năm 1982 Wright và một số tác giả khác bổ sung thêm ba chỉ báo để phân chia giai cấp xã hội , đó là : mức độ tham gia khi quyết định , quyền uy đối với những người khác khi làm việc , mức độ độc lập và tự định hướng mà con người có trong cơng việc của họ. Dựa trên những chỉ báo này , họ phân ra các giai cấp tầng lớp như sau :nhà tư bản , người quản lý , công nhân và tư sản nhỏ .

Gilbert Kahl đưa ra mơ hình cấu trúc tầng lớp của Mỹ được chia thành 6 tầng lớp , mỗi tầng lớp được nhận diện bởi hai tiêu chí là nghề nghiệp và mức thu nhập . Tầng lớp trên đỉnh là các nhà tư bản chiếm khoảng 1% dân số, gồm các nhà đầu tư, những người thừa kế tài sản lớn, các nhà quản trị. Mức thu nhập của tầng lớp này là khoảng 2 triệu USD/năm; tầng lớp thứ 2 là tầng lớp trung lưu trên, họ là các nhà quản lý cao cấp, những người có chuyên môn và là chủ sở hữu các doanh nghiệp cỡ trung bình. Tầng lớp này chiếm khoảng 14% dân số với mức thu nhập một năm khoảng 120.000USD; tầng lớp thứ 3 là tầng lớp trung lưu, tầng lớp này chiếm khoảng 30% dân số với mức thu nhập một năm khoảng 55.000USD. Họ là những người quản lý cấp thấp hơn, những người bán chuyên nghiệp, thợ thủ công, quản đốc, đốc công và những người buôn bán; tầng lớp thứ 4 18 là tầng lớp lao động, họ là những người lao động chân tay kỹ năng thấp, với cơng việc văn phịng và bn bán lẻ. Tầng lớp này chiếm khoảng 30% dân số, thu nhập 35.000USD/năm; tầng lớp thứ 5 là tầng lớp lao động nghèo, thu nhập một năm khoảng 22.000USD. Họ là những người lao động chân tay được trả lương thấp, công việc văn phòng và những người bán lẻ; tầng lớp thứ 6 là tầng lớp dưới đáy bao gồm những người thất nghiệp, những người giúp việc gia đình bán thời gian, những người nhận trợ cấp xã hội. Thu nhập của tầng lớp này vào khoảng 12.000USD/năm .

Chong Pil Choe , trong nghiên cứu hệ thống phân tầng xã hội của Hàn Quốc, xem xét và xác định theo các tiêu chuẩn về : uy tín, của cải (tài sản), quyền lực và địa vị xã hội. Xã hội Hàn Quốc truyền thống được chia thành 4 tầng lớp lớn: Đứng đầu là tầng lớp quý tộc (Yangban), tiếp đến là tầng lớp trung lưu (Chung - in), sau đó là tầng lớp thường dân (Sang - in) và cuối cùng là một đẳng cấp riêng biệt thuộc giai cấp cùng đinh (Chon - in). Trong bài viết này, Chong Pil Choe đã chỉ ra xu hướng mới của hệ thống phân tầng xã hội trong giai đoạn đầu của hiện đại hóa và sau chiến tranh Triều Tiên . Đó là sự xuất hiện tầng lớp xã hội mới (giai cấp trung lưu) bổ sung vào hệ thống phân tầng và sự “di động xã hội” được hiểu là sự di chuyển của các cá nhân, nhóm xã hội từ tầng xã hội này sang tầng xã hội khác chủ yếu là di động dọc, di động xã hội từ dưới lên trên, từ tầng lớp xã hội có địa vị thấp lên tầng lớp xã hội có địa vị cao hơn và ngược lại . Đây là quan điểm về phân tầng xã hội gần với quan điểm các nhà xã hội học Việt Nam đưa ra.

</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">

Tóm lại, qua các cơng trình nghiên cứu trên thế giới cho thấy thực trạng vấn đề về mơ hình phân tầng xã hội , sự phân chia các giai cấp và tầng lớp xã hội , sự khác nhau về phân tầng xã hội qua các nền văn hóa . Các nghiên cứu về phân tầng xã hội ở các nước này cho thấy sự quan tâm của các tác giả tới nghề nghiệp, giáo dục, y tế,… Khi phân tích phân tầng xã hội các tác giả trên thế giới đều nhấn mạnh tới bất bình đẳng xã hội, các giai tầng xã hội, sự phản kháng xã hội … Việc nghiên cứu các tài liệu trên giúp tiểu luận có thể so sánh với phân tầng xã hội đang diễn ra ở Việt Nam, đồng thời có cách nhìn rộng mở trong nghiên cứu của mình .

<b>2.1.2. Tình hình nghiên cứu về phân tầng xã hội ở Việt Nam : </b>

Mơ hình phân tầng xã hội diễn ra phổ biến ở Việt Nam kể từ khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường . Quá trình xã hội này đã và đang diễn ra theo xu hướng ngày càng gay gắt và có sự tác động phức tạp ( ảnh hưởng vừa tích cực vừa tiêu cực ) lên nhiều mặt trong đời sống xã hội . Vì lý do đó, từ đầu những năm 1990 đến nay , đã có nhiều tổ chức , cá nhân quan tâm nghiên cứu , lý giải vấn đề này trên cả phương diện lý luận và thực tiễn . Tính đến nay, các nghiên cứu về phân tầng xã hội ở Việt Nam tập trung vào các hướng sau :

<i> Nghiên cứu lý luận về phân tầng xã hội : trên cơ sở phân tích , đánh giá và</i>

tiếp thu có chọn lọc các quan điểm về phân tầng xã hội của các nhà khoa học trên thế giới , đến nay các nhà nghiên cứu Việt Nam đã và đang góp phần làm rõ cơ sở lý luận nghiên cứu về phân tầng xã hội , từ hệ khái niệm đến quan điểm tiếp cận , hệ thống các tiêu chí đánh giá phân tầng ....

Bài viết của tác giả Mai Huy Bích “ Lý thuyết phân tầng xã hội và những phát triển gần đây ở Phương Tây” đã phân tích các lý thuyết về giai cấp và phân tầng . Theo tác giả , các nhà xã hội học phương Tây cho rằng các giai cấp khác nhau về vốn văn hóa , mạng lưới xã hội - vốn xã hội và ở mức độ nhất định cũng ảnh hưởng đến sự phân tầng . Trong khi phân tích vị trí giai cấp , tác giả chỉ ra rằng ngoài các yếu tố đánh giá vị trí giai cấp của cá nhân khơng chỉ dưới góc độ kinh tế học cùng với cơng việc làm mà cả các nhân tố văn hóa như phong cách sống , mơ hình tiêu dùng . Theo tác giả sự phát triển về lý luận ở phương Tây gợi ra nhiều điều đáng nắm suy ngẫm cho xã hội học Việt Nam khi tìm hiều về mơ hình phân tầng đang diễn ra ở nước ta hiện nay.

Phạm Xuân Hảo với bài viết: “Tư tưởng của C.Mác về Phân tầng xã hội” đã chỉ ra rằng sự phân tầng xã hội dễ nhận thấy và được chú ý khai thác nhiều nhất trong học thuyết của Mác là sự phân chia xã hội thành các giai cấp đối kháng , đấu tranh giai cấp giữa giai cấp thống trị và giai cấp bị trị thường xuyên diễn ra và kết thúc bằng một cuộc cải tạo cách mạng toàn bộ xã hội. Tác giả chỉ ra, thứ nhất, đánh giá phân tầng xã hội phải khách quan, toàn diện, lịch sử, cụ thể và phát triển. Muốn vậy, phải tiến hành điều tra, nghiên cứu thực tế bằng phương pháp khoa học , phải thu thập đầy đủ chứng cứ xác thực chứ không thể mô tả theo cảm tính , suy luận một

</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">

cách chung chung. Thứ hai, nghiên cứu về phân tầng xã hội phải đi từ sản xuất vật chất và những con người sống để tìm hiểu và khám phá các vấn đề xã hội. Thứ ba, nghiên cứu phan tầng xã hội phải làm rõ sự khác biệt xã hội , cấu trúc địa vị xã hội , phải xem xét tính chất bất bình đẳng xã hội .

<i> Nghiên cứu phân tầng xã hội gắn với cơ cấu xã hội : Đây là hướng nghiên</i>

cứu xuyên suốt trong thời gian qua khi các nhà nghiên cứu hướng tới việc giải thích sự biến đổi các cơ cấu xã hội, từ đó phân tách sự phân chia xã hội theo các tầng lớp. Hoàng Bá Thịnh có bài viết về phân tầng xã hội và sự hình thành tầng lớp trung lưu , trong đó tác giả giải thích sự hình thành tầng lớp trung lưu cũ và mới ở các nước trên thế giới , từ đó đưa ra các tiêu chí phân loại và xác định tầng lớp trung lưu hiện nay ở Việt Nam. Tác giả chỉ ra sự hình thành tầng lớp trung lưu ở Việt Nam từ những kết quả khảo sát mức sống dân cư , nghiên cứu giúp hình dung một cách tương đối về tầng lớp trung lưu mới ở Việt Nam, trung lưu bậc thấp và trung lưu bậc cao . Trong cơng trình nghiên cứu “Sự phát triển tư duy lý luận của Đảng và Nhà nước Việt Nam về phân tầng xã hội trong thời kỳ đổi mới” tác giả chỉ ra cơ cấu kinh tế chính là tác nhân vật chất, là cái giá đỡ vật chất làm hình thành cơ cấu xã hội và nhận thức lý luận về phân tầng xã hội , cơ cấu xã hội thể hiện một phần tư duy xã hội học … Tác giả nhận định phân tầng xã hội là dấu hiệu của sự phát triển xã hội , là hệ quả hợp logic của sự phát triển kinh tế xã hội và dân chủ hóa đời sống xã hội . Sự phân tầng xã hội một mặt dựa trên cơ cấu kinh tế và mặt khác bị điều chỉnh bởi chính sách của nhà nước .

Phạm Xuân Hảo với “ Tìm hiểu khái niệm : Bảo đảm cơ cấu giai tầng xã hội , dân cư , ngành nghề hợp lý” , nghiên cứu chỉ ra để thực hiện nhiệm vụ xây dựng con người mới đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của thời kỳ cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế đòi hỏi phải bảo đảm cơ cấu về giới tính, về độ tuổi hợp lý, tạo điều kiện thuận lợi cho việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực , chất lượng sống , bảo đảm an sinh xã hội, an ninh con người . Phân tích sự biến đổi về cơ cấu xã hội là cơ sở cho việc quản lý sự biến đổi cơ cấu xã hội, nhằm đảm bảo cơ cấu xã hội hợp lý, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tương lai .

<i>Nghiên cứu phân tần xã hội theo khia cạnh kinh tế , nghề nghiệp ở Việt Nam:</i>

Tác giả Nguyễn Thị Hằng , Lê Duy Đồng “ Phân phối và phân hóa giàu nghèo sau 20 năm đổi mới” đã làm rõ những tác động của sự hình thành và phát triển của kinh tế thị trường đến quan hệ phân phối thu nhập giữa các bộ phận, tầng lớp xã hội ở nước ta. Từ đó phân tích và đánh giá về sự hình thành, phát triển các loại thị trường, nền kinh tế nhiều thành phần, cũng như những tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế , tác động đến thu nhập và đời sống của người lao động. Nghiên cứu cũng trình bày thực trạng phân hóa giàu nghèo ở nước ta và xác định những căn cứ để đánh giá hiện trạng sự phân hóa giàu nghèo, sự khác biệt giữa hộ giàu và hộ

</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11">

nghèo. Các tác giả khái quát bức tranh về thực trạng phân tầng xã hội ở nước ta thơng qua những tiêu chí về thu nhập và mức sống cũng như sự phân tích quá trình đổi mới tư duy của Đảng về phân tầng xã hội .

Lê Hoàng Lan , Lê Ngọc Hùng với bài viết: “Phân tầng xã hội về việc làm ở Việt Nam : một số đặc điểm và yếu tố tác động”, nghiên cứu chỉ ra rằng so với một số nước khác , cấu trúc xã hội - việc làm của Việt Nam vẫn nặng về lao động giản đơn với mức lương trung bình thấp . Tuy nhiên , trong thời kỳ đổi mới kinh tế xã hội ở Việt Nam vừa qua cấu trúc xã hội việc làm đã phân hóa và phân tầng mạnh mẽ . Điều này thể hiện đặc biệt rõ qua cấu trúc phân tầng xã hội - việc làm về mức thu nhập, mức tiền công, tiền lương. Sự phân tầng xã hội - việc làm phụ thuộc vào nhiều yếu tố trình độ chuyên môn kỹ thuật của người lao động và khu vực thành thị hay nơng thơn mà người đó làm việc. Quy luật chung ở đây là người lao động có trình độ chun mơn cao từ đại học trở lên mà khơng làm lao động giản đơn thì thường có mức tiền lương cao nhất. Khuyến nghịrút ra từ nghiên cứu là cần nâng cao trình độ chun mơn kỹ thuật đến bậc đại học trở lên để thực sự cải thiện mức lương của người lao động.

Tóm lại , qua việc phân tích làm rõ các cách tiếp cận của các nhà khoa học dày công nghiên cứu đã cho tôi hiểu sâu sắc và thấu đáo hơn lý luận và thực tiễn về phân tầng xã hội từ đó tiếp thu và đi sâu phân tích, làm rõ hơn, phong phú hơn nhằm phát triển chủ thuyết này và ứng dụng linh hoạt trong bối cảnh của Việt Nam.

<b>2.2. Khái niệm phân tầng xã hội :</b>

Phân tầng xã hội là một trong những khái niệm cơ bản của xã hội học và được các nhà xã hội học vô cùng quan tâm , nghiên cứu . Có rất nhiều quan điểm khác nhau nói về phân tầng xã hội , có một số quan điểm tiêu biểu như :

Karl Marx nhà triết học và kinh tế học Đức chú ý đến phân tầng xã hội dưới khía cạnh giai cấp xã hội . Những luận điểm của ông về giai cấp và quan hệ sản xuất trong xã hội có giai cấp là cơ sở lý luận quan trọng để nghiên cứu về phân tầng xã hội . Theo ông , sở hữu tư liệu sản xuất hay quyền sở hữu tài sản là nhân tố giữ vai trò quyết định trong phân chia xã hội thành các giai cấp, các tầng lớp khác nhau . Ông đặc biệt chú ý tới nhân tố phân công lao động xã hội, nhưng ông khẳng định rằng: phân tầng xã hội là do quyết định của nhân tố kinh tế - quyền sở hữu tư liệu sản xuất.

Marx Weber nhà xã hội học người Đức đã có những cống hiến to lớn trong việc đưa ra lý thuyết về phân tầng xã hội và cũng là người đầu tiên nói tới khái niệm phân tầng xã hội . Ông coi khái niệm phân tầng xã hội bao hàm cả việc phân chia xã hội thành các giai cấp, bên cạnh đó ơng khơng chỉ nhấn mạnh vào tiêu chí kinh tế , sở hữu mà cịn sử dụng đồng thời các tiêu chí về chính trị (quyền lực) và tiêu chí văn hóa (uy tín) để định nghĩa phân tầng xã hội .

</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12">

Talcott Parsons nhà xã hội học người Mỹ, tác giả nổi tiếng của lý thuyết hệ thống xã hội , lý thuyết hành động , coi phân tầng xã hội là sự sắp xếp các cá nhân vào trong một hệ thống xã hội trên cơ sở sự phân chia những ngạch bậc và những tiêu chuẩn chung về giá trị, phân tầng là kết quả trực tiếp của sự phân công lao động xã hội và sự phân hóa của những nhóm xã hội khác nhau .

I.Robertsons thì cho rằng : “ phân tầng xã hội là sự bất bình đẳng mang tính cơ cấu của tất cả các xã hội loài người , là sự khác nhau về khả năng thăng tiến xã hội bởi địa vị của họ trong bậc thang xã hội” .

Ở Việt Nam theo tác giả Lê Ngọc Hùng : Phân tầng xã hội là sự phân hóa xã hội tạo thành các tầng xã hội khác nhau về vị thế xã hội trong cấu trúc xã hội . Phân tầng xã hội là q trình phân hóa xã hội với các đặc trưng là tạo ra các nhóm xã hội có vị thế trên dưới, cao thấp khác nhau về một hoặc một số đặc điểm , tính chất cơ bản .

Theo từ điển ách khoa toàn thư mở Wikipedia thì phân tầng xã hội “là một khái niệm để chỉ sự phân chia các cá nhân hay các nhóm xã hội thành các tầng lớp khác nhau. Mỗi tầng bao gồm các cá nhân, các nhóm xã hội có địa vị kinh tế, chính trị, uy tín giống nhau”.

Theo khái niệm của viện xã hội học - Học viện chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh : “ phân tầng xã hội là sự bất bình đẳng mang tính cơ cấu của mọi xã hội loài người , trừ những tổ chức xã hội sơ khai ( thời kỳ đầu của xã hội công xã nguyên thủy ). Phân tầng xã hội là sự phân chia , sắp xếp các thành viên trong xã hội thành các tầng xã hội khác nhau . Đó là sự khác nhau về địa vị kinh tế hay tài sản , địa vị chính trị hay quyền lực , địa vị xã hội hay uy tín , cũng như khác nhau về trình độ học vấn , loại nghề nghiệp , phong cách sinh hoạt , cách ăn mặc , kiểu nhà ở , nơi cư trú , thị hiếu nghệ thuật , trình độ tiêu dùng” .

Từ các quan điểm và định nghĩa trên cho thấy , về cơ bản phân tầng xã hội là sự phân chia các cá nhân hay các nhóm xã hội thành các tầng lớp khác nhau và được sắp xếp theo những thứ bậc trong hệ thống . Phân tầng xã hội diễn ra trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội như kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội … Phân tầng xã hội là một hiện tượng khách quan, phổ biến và khó tránh khỏi của xã hội có giai cấp. Nó là kết quả của sự phân công lao động xã hội và sự bất bình đẳng mang tính cơ cấu của tất cả mọi chế độ xã hội có giai cấp. Mỗi tầng bao gồm các cá nhân , các nhóm xã hội có địa vị kinh tế , địa vị chính trị - uy tín , nghề nghiệp - học vấn tương tự gần với nhau .

<b>2.3. Một số mô hình tháp phân tầng :</b>

Để mơ hình hóa cấu trúc phân tầng của một xã hội , người ta thường sử dụng các “ tháp phân tầng” tương tự như “ tháp dân số” . Tháp phân tầng sắp xếp các tầng theo theo hệ thống thứ tự ở dưới đáy là các tầng lớp nghèo khổ ( hạ lưu ) phía trên là các tầng lớp trung bình ( trung lưu bậc thấp và trung lưu bậc cao ) và trên cùng là

</div><span class="text_page_counter">Trang 13</span><div class="page_container" data-page="13">

tầng lớp giàu có và quyền lực nhất ( thượng lưu ) cùng với đó là tỷ lệ phần trăm mà các tầng lớp này chiếm trong cơ cấu xã hội . Có 5 mơ hình tháp phân tầng thường gặp :

Tháp hình nón : phản ánh mức độ bất bình đẳng cao của các xã hội , ở đây nhóm người giàu, có quyền lực (phần đỉnh tháp) chiếm tỷ lệ rất thấp , trong khi đó đa số người nghèo khổ (ở đáy tháp) lại chiếm tỷ lệ rất cao .

Tháp hình nón cụt : tầng lớp giàu có tăng lên , tầng lớp trung lưu chiếm tỷ trọng lớn hơn , mức độ bình đẳng cao hơn .

Tháp hình thoi (quả trám, con quay) : tháp phân tầng xã hội loại này , phần lớn là nhóm người trung lưu , cịn nhóm những người giàu có quyền lực và nghèo chiếm tỷ lệ nhỏ . So với tháp phân tầng hình chóp thì tháp phân tầng hình thoi tiến bộ hơn . Tuy nhiên , khoảng cách giữa 2 nhóm đỉnh và đáy tháp cịn khá xa .

Tháp hình trụ : tỷ lệ các nhóm giàu có , nghèo và trung lưu tương đối đồng đều . Tuỳ vào chiều cao của tháp để nói về mức độ bình đẳng xã hội .

Tháp hình “đĩa bay” (thấp dẹt) : có thể có 2 trạng thái là bình qn nghèo khổ hoặc xã hội lý tưởng , thịnh vượng toàn dân , với tuyệt đại bộ phận thành viên của xã hội có mức sống trung lưu và khá giả (xã hội trung lưu) .

<b>2.4. Cấu trúc phân tầng xã hội ở nước ta và thành phố Hồ Chí Minh hiệnnay : </b>

Việt Nam ta trên con đường đổi mới đất nước và phát triển kinh tế thị trường , phân tầng xã hội là một hiện tượng khách quan , tồn tại trên con đường phát triển xã hội này , đó là một vấn đề thời sự cấp bách và diễn ra ngày càng gay gắt .Ở Việt Nam , sự phân hóa giàu nghèo diễn ra ngay từ thời kỳ quản lý kinh tế - xã hội theo cơ chế tập trung , bao cấp. Tuy nhiên , lúc đó sự chênh lệch giàu nghèo , phân hóa thu nhập và những biểu hiện của phân tầng xã hội chưa rạch ròi , rõ nét , bị che

</div><span class="text_page_counter">Trang 14</span><div class="page_container" data-page="14">

khuất bởi chủ nghĩa bình quân và chế độ công hữu với cơ cấu giai cấp “hai giai một tầng” (giai cấp công nhân liên minh với giai cấp nơng dân và tầng lớp trí thức). Chỉ từ sau khi đất nước bước vào công cuộc đổi mới tồn diện (1986) , xóa bỏ cơ chế quản lý cũ , thực hiện phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa , thì sự chênh lệch giàu nghèo , phân tầng xã hội mới bộc lộ một cách rõ ràng và ngày càng trở nên sâu sắc .

Mơ hình phân tầng xã hội ở Việt Nam trong những năm vừa qua có hình “ kim tự tháp” . Dựa vào tiêu chuẩn nghề nghiệp và địa vị kinh tế - xã hội , ta đã phân chia và sắp xếp thành 9 tầng lớp cơ bản trong xã hội Việt Nam và có thể gộp 9 tầng lớp đó thành 3 tầng lớp xã hội lớn hơn . Đó là Tầng cao chiếm 1,2% ( bao gồm 2 tầng lớp là nhà lãnh đạo và doanh nhân ) , tầng giữa , trung lưu chiếm 38% ( gồm những tầng lớp có chun mơn bậc cao , nhân viên , công nhân và buôn bán - dịch vụ ) , cuối cùng là tầng thấp chiếm tỷ lệ cao nhất là 60% ( bao gồm tầng lớp tiểu thủ công nghiệp , lao động giản đơn và nơng dân ) . Trong đó , tầng cao chiếm hữu và kiểm soát nhiều loại nguồn lực trong xã hội hơn cả , trong khi đó tầng thấp thì lại có ít nguồn lực nhất . Mơ hình phân tầng xã hội ở Việt Nam với đa số nơng dân có mức sống thấp nằm ở phía đáy kim tự tháp với hơn nửa dân số là các tầng lớp của xã hội truyển thống ( tiểu thủ công nghiệp , nông dân ) . Các tầng lớp đại diện cho xã hội cơng nghiệp cịn nhỏ bé (doanh nhân, chuyên môn cao, nhân viên) , họ cố gắng thích ứng với các chuẩn mực ứng xử từ tầng trên đưa xuống và với hy vọng được thăng tiến về mặt xã hội . Đây là cơ sở khoa học chứng tỏ rằng , khi xem xét dưới góc nhìn về các thành phần và hình dạng của cấu trúc xã hội thì nước ta đang trong giai đoạn chuyển biến từ xã hội nông nghiệp sang xã hội công nghiệp theo hướng hiện đại tuy nhiên tiến trình diễn ra chậm . Khi trở thành một nước cơng nghiệp, thì các tầng lớp đặc trưng cho xã hội hiện đại phải thể hiện rõ và chiếm tỉ lệ đông đảo , còn các tầng lớp của xã hội truyền thống (đặc biệt là nơng dân) chỉ cịn tỉ lệ nhỏ . Trong mơ hình trên, tầng lớp lãnh đạo giữ vai trị lãnh đạo xã hội mà khơng phải là cơng nhân .

Tình trạng bất bình đẳng về mức sống giữa các tầng lớp trong xã hội ngày càng tăng . Trong đó , các tầng lớp ở nửa phía trên của kim tự tháp có sự cải thiện về mức sống nhiều hơn so với các tầng ở nửa phía dưới . Và các tầng lớp ở phía đáy lại có tỷ lệ hộ gia đình bị giảm sút mức sống nhiều hơn so với các tầng lớp ở đỉnh tháp . Tuy nhiên , sự chênh lệch về mức sống cũng ngày càng tăng , tạo nên một sự phân tầng xã hội rõ nét hơn giữa các nhóm xã hội . Mơ hình phân tầng xã hội ở nước ta được sắp xếp dựa theo 5 biến chỉ báo :

Thu nhập chi tiêu bình quân : bao gồm các yếu tố như nguồn thu nhập , mức độ ổn định , bất ổn định của thu nhập trong gia đình ; và tiền gas , điện nước hằng tháng , chi phí cho việc ăn uống , chi phí đóng học cho con , các chi tiêu cho nhu cầu văn hóa ....

</div><span class="text_page_counter">Trang 15</span><div class="page_container" data-page="15">

Sở hữu tài sản : điều kiện nhà ở như diện tích , vị trí , loại nhà , các hoạt động cải tạo nâng cấp trong nhữn năm gần đây ... ; tiện nghi trong nhà như tivi màu , máy giặt , điều hịa , máy nước nóng , oto ....

Nghề nghiệp , địa vị xã hội : phần lớn những người làm việc trong khu vực kinh tế nhà nước có mức sống nằm trong top những người giàu nhất .

Học vấn , khả năng thăng tiến : người có học vấn càng cao, càng có nhiều khả năng thuộc vào nhóm có mức sống cao . Trong những chủ hộ có học vấn đại học, cao đẳng trở lên thì 70% thuộc nhóm 20% giàu nhất, chỉ có 1,5% thuộc nhóm 20% nghèo nhất.

Thói quen , lối sơng ( văn hóa ) .

Đây là các yếu tố cơ bản để sắp xếp các tầng lớp trong xã hội . Nhiều nghiên cứu xã hội học thường sử dụng chỉ báo này như một biến số độc lập để phân tích và giải thích các biến số phụ thuộc khác . Nhìn chung , hiện trạng phân tầng xã hội ở nước ta khá đặc trưng cho thời kỳ đầu chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường . Mức chênh lệch giữa các tầng lớp chưa lớn , tốc độ tăng chênh lệch chưa cao .

Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố đi đầu trên con đường phát triển kinh tế - xã hội với quy mơ ngày càng lớn và mang vai trị vơ cùng quan trọng đối với sự tăng trưởng kinh tế của cả nước . Trong giai đoạn từ năm 2000 - 2015, thành phố có nhiều cố gắng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành với hai khu vực quan trọng là cơng nghiệp và dịch vụ , trong đó , dịch vụ là khu vực tăng trưởng nhanh nhất .

Quy mô kinh tế của thành phố ngày được nâng cao hơn, tỷ trọng đóng góp vào kinh tế chung của cả nước không ngừng tăng lên , tốc độ tăng trưởng kinh tế của thành phố liên tục tăng cao đạt mức hai con số từ năm 2000 đến năm 2007. Năm 2008, nền kinh tế thành phố chịu ảnh hưởng của biến động giá nguyên nhiên vật liệu nhập khẩu; thị trường tài chính tiền tệ biến động phức tạp, khủng hoảng kinh tế thế giới và những bất lợi về thời tiết cho sản xuất nông nghiệp đã ảnh hưởng

</div>

×