Tải bản đầy đủ (.pdf) (23 trang)

vấn đề 1 thực hiện công việc không có ủy quyền

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.4 MB, 23 trang )

<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">

<b>Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí MinhKhoa: Quản trị </b>

<b>Lớp: 131 - QTL46A</b>

<b>BUỔI THẢO LUẬN THỨ NHẤT: NGHĨA VỤ</b>

<b> Bộ môn: Hợp đồng Dân sự và trách nhiệm bồi thường</b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2">

<b>MỤC LỤC</b>

<b>DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT...3Vấn đề 1: Thực hiện công việc không có ủy quyền...4</b>

<small>1.1. Thế nào là thực hiện cơng việc khơng có ủy quyền?4</small>

<small>1.2. Vì sao thực hiện cơng việc khơng có ủy quyền là căn cứ phát sinh nghĩa vụ? 4</small>

<small>1.3. Cho biết điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về chế định “thực hiện công việc khơng có ủy quyền". 5</small>

<small>1.4. Các điều kiện để áp dụng chế định “thực hiện cơng việc khơng có ủy quyền" theo BLDS 2015? Phân tíchtừng điều kiện.6</small>

<small>1.5. Trong tình huống trên, sau khi xây dựng xong cơng trình, nhà thầu C có thể yêu cầu chủ đầu tư A thực hiện những nghĩa vụ trên cơ sở các quy định của chế định “thực hiện cơng việc khơng có ủy quyền” trong BLDS 2015 khơng? Vì sao? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.6</small>

<b>Vấn đề 2: Thực hiện nghĩa vụ (thanh tốn một khoản tiền)...7</b>

<small>Tóm tắt Quyết định số 15/2018/DS-GĐT ngày 15/3/2018 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội về vấn đề “Tranh chấp nghĩa vụ trả tiền trong hợp đồng chuyển nhượng nhà và quyền sử dụng đất”. 7</small>

<small>2.1. Thông tư trên cho phép tính lại giá trị khoản tiền phải thanh tốn như thế nào? Qua trung gian là tài sản gì?8</small>

<small>2.2. Đối với tình huống thứ nhất, thực tế ơng Quới sẽ phải trả cho bà Cô khoản tiền cụ thể là bao nhiêu? Nêu rõ cơ sở pháp lý khi trả lời.8</small>

<small>2.3. Thơng tư trên có điều chỉnh việc thanh tốn tiền trong hợp đồng chuyển nhượng bất động sản như trong Quyết định số 15/2018/DS-GĐT khơng? Vì sao?9</small>

<small>2.4. Đối với tình huống trong Quyết định số 15/2018/DS-GĐT, nếu giá trị nhà đất được xác định là 1.697.760.000đ như Tòa án cấp sơ thẩm đã làm thì, theo Tịa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, khoản tiền bà Hường phải thanh toán cho cụ Bảng cụ thể là bao nhiêu? Vì sao?9</small>

<small>2.5. Hướng như trên của Tịa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội có tiền lệ chưa? Nêu một tiền lệ (nếu có)?9</small>

<b>Vấn đề 3: Chuyển giao nghĩa vụ theo thỏa thuận...10</b>

<small>Tóm tắt Bản án số 148/2007/DSST ngày 26/09/2007 của Tòa án nhân dân thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang vềvấn đề “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. 11</small>

<small>3.1. Điểm giống và khác nhau cơ bản giữa chuyển giao quyền yêu cầu và chuyển giao nghĩa vụ theo thỏa thuận? 11</small>

<small>3.2. Thông tin nào của bản án cho thấy bà Phượng có nghĩa vụ thanh toán cho bà Tú?133.3. Đoạn nào của bản án cho thấy nghĩa vụ trả nợ của bà Phượng đã được chuyển sang cho bà Ngọc, bà Loan và ông Thạnh?13</small>

<small>3.4. Suy nghĩ của anh/chị về đánh giá trên của Tòa án?14</small>

<small>3.5. Nhìn từ góc độ văn bản, người có nghĩa vụ ban đầu có cịn trách nhiệm đối với người có quyền khơng khi người thế nghĩa vụ khơng thực hiện nghĩa vụ được chuyển giao? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời. 153.6. Nhìn từ góc độ quan điểm các tác giả, người có nghĩa vụ ban đầu có cịn trách nhiệm đối với người có quyền khơng khi người thế nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ được chuyển giao? Nêu rõ quan điểm của các tác giả mà anh/chị biết.15</small>

<small>3.7. Đoạn nào của bản án cho thấy Tịa án theo hướng người có nghĩa vụ ban đầu khơng cịn trách nhiệm đối với người có quyền?17</small>

<small>3.8. Suy nghĩ của anh chị về hướng giải quyết trên của Tòa án. 17</small>

<small>3.9. Trong trường hợp nghĩa vụ của bà Phượng đối với bà Tú có biện pháp bảo lãnh của người thứ ba thì, khi nghĩa vụ được chuyển giao, biện pháp bảo lãnh có chấm dứt khơng? Nêu rõ cơ sở pháp lý khi trả lời.</small>

<b>DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO...19</b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3">

<b>DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT</b>

BLDS Bộ Luật Dân sự

</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4">

<b>Vấn đề 1: Thực hiện cơng việc khơng có ủy quyền</b>

Tình huống: Chủ đầu tư A lập Ban quản lý dự án B để tiến hành xây dựng một cơng trình công cộng. Khi triển khai, B đã ký hợp đồng với nhà thầu C mà không nêu rõ trong hợp đồng B đại diện A và cũng khơng có ủy quyền của A trong khi đó, theo quy định, B khơng được tự ký hợp đồng với C vì đây là công việc của chủ đầu tư A (thực tế Ban quản lý dự án B khơng có nhiều tài sản để thanh toán cho C).

<b>1.1. Thế nào là thực hiện cơng việc khơng có ủy quyền?</b>

Căn cứ theo quy định tại Điều 574 BLDS năm 2015 thì thực hiện cơng việc khơng có ủy quyền là việc một người khơng có nghĩa vụ thực hiện cơng việc nhưng đã tự nguyện thực hiện cơng việc đó vì lợi ích của người có cơng việc được thực hiện khi người này không biết hoặc biết mà không phản đối. Theo đó, việc thực hiện cơng việc khơng có ủy quyền là việc thực hiện cơng việc hồn tồn khơng phải là nghĩa vụ do các bên thỏa thuận hoặc do pháp luật quy định đối với người thực hiện cơng việc khơng có ủy quyền. Việc thực hiện cơng việc đó xuất phát từ lợi ích của người có cơng việc được thực hiện và người có cơng việc được thực hiện khơng biết việc có người khác đang thực hiện cơng việc cho mình hoặc biết nhưng khơng phản đối việc thực hiện cơng việc đó.

<b>1.2. Vì sao thực hiện cơng việc khơng có ủy quyền là căn cứphát sinh nghĩa vụ?</b>

Việc thực hiện cơng việc khơng có uỷ quyền là căn cứ phát sinh nghĩa vụ vì nó được hình thành dựa trên các yếu tố làm căn cứ để phát sinh quan hệ nghĩa vụ. Cụ thể, đầu tiên đó phải là sự kiện xảy ra trong thực tế, việc thực hiện cơng việc khơng có ủy quyền xuất phát từ sự tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống. Đó là những sự kiện xảy ra trong thực tế dựa trên nguyên tắc tự nguyện thực hiện công việc của người khác mà không cần đến cơ sở là hợp đồng thực hiện công việc đó hoặc do pháp luật quy định phải thực hiện. Những sự kiện này xảy ra phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh thực tế và được pháp luật dân sự dự liệu, thừa nhận là

<b>Too long to read onyour phone? Save</b>

to read later on your computer

Save to a Studylist

</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5">

có giá trị pháp lý làm phát sinh quan hệ nghĩa vụ giữa 2 bên chủ thể là người thực hiện cơng việc khơng có ủy quyền và người có cơng việc được thực hiện.

Hơn nữa, thực hiện cơng việc khơng có ủy quyền làm phát sinh nghĩa vụ giữa các bên: việc thực hiện công việc khơng có ủy quyền khơng phát sinh từ sự thỏa thuận giữa các bên nhưng để đảm bảo quyền lợi và nâng cao tinh thần trách nhiệm của người thực hiện công việc nên pháp luật dân sự đã quy định nghĩa vụ cho cả hai bên chủ thể lần lượt tại Điều 575, Điều 576, Điều 577 BLDS năm 2015.

<b>1.3. Cho biết điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 vềchế định “thực hiện công việc không có ủy quyền".</b>

<b>Về khái niệm: </b>

Điều 594 BLDS năm 2005 quy định:

. Khi so sánh với quy định

trong BLDS năm 2005 thì Điều 574 BLDS năm 2015 đã bỏ đi từ . Thay đổi trên là hợp lý vì trong thực tế, có nhiều trường hợp một người thực hiện cơng việc khơng có ủy quyền khơng chỉ hồn tồn vì lợi ích của người có cơng việc được thực hiện mà cịn để đảm bảo cho lợi ích của bản thân.

<b>Về chủ thể:</b>

BLDS năm 2005 quy định chủ thể là người có cơng việc được thực hiện chỉ có cá nhân, trong khi đó khoản 4 Điều 578 BLDS năm 2015 quy định về chấm dứt thực hiện công việc không có ủy quyền:

, so sánh với quy định tại khoản 4 Điều 598 BLDS năm 2005:

, có thể suy ra rằng chủ thể thực hiện cơng việc khơng có ủy quyền được quy định trong BLDS năm 2015 cịn có thể là pháp nhân, đây là điểm khác biệt về chủ thể so với BLDS năm 2005 và cho thấy BLDS năm 2015 có sự điều chỉnh về phạm vi chủ thể.

<b>Về chấm dứt thực hiện cơng việc khơng có ủy quyền: </b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">

Khoản 4 Điều 578 BLDS năm 2015 quy định rõ ràng một trong các trường hợp chấm dứt thực hiện cơng việc khơng có ủy quyền là

” trong khi khoản 4 Điều 598 BLDS năm 2005 chỉ quy định: “

. Sự thay đổi này hoàn toàn hợp lý vì có bổ sung thêm quy định đối với pháp nhân. Theo đó, đối với một pháp nhân thì khơng có khái niệm chết mà chỉ có chấm dứt tồn tại.

<b>Về nghĩa vụ thực hiện cơng việc khơng có ủy quyền: </b>

Khoản 3 Điều 575 BLDS năm 2015 quy định các trường hợp người thực hiện công việc không có ủy quyền khơng cần phải báo cho người có cơng việc được thực hiện về q trình và kết quả thực hiện công việc bao gồm cả và khơng biết trụ sở của người có cơng việc được thực hiện. Còn khoản 3 Điều 595 BLDS năm 2005 thì chỉ quy định về . Sự bổ sung trên là hồn tồn hợp lý vì chủ thể của luật dân sự ngồi cá nhân thì cịn có pháp nhân. Theo đó, với một pháp nhân thì lại không tồn tại khái niệm mà lại là khái niệm , tức nơi đặt cơ quan điều hành của pháp nhân đó.

<b>1.4. Các điều kiện để áp dụng chế định “thực hiện cơngviệc khơng có ủy quyền" theo BLDS 2015? Phân tích từngđiều kiện.</b>

Các điều kiện để áp dụng chế định “thực hiện cơng việc khơng có ủy quyền” theo quy định tại Điều 574 BLDS năm 2015:

Thứ nhất, việc thực hiện cơng việc phải hồn tồn do người khơng có nghĩa vụ thực hiện một cách hồn tồn tự nguyện. Việc thực hiện cơng việc khơng phải là nghĩa vụ do các bên thỏa thuận hay do pháp luật quy định đối với người thực hiện công việc khơng có ủy quyền mà hồn tồn dựa vào ý chí tự nguyện của người đó. Khơng ai có quyền bắt ép người khác thực hiện công việc không có ủy quyền.

Thứ hai, việc thực hiện cơng việc đó phải vì lợi ích của người có cơng việc được thực hiện. Điều này có nghĩa là, người thực hiện cơng việc phải thể hiện ý chí thực hiện cơng việc nhằm mang lại

</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">

lợi ích hoặc ngăn chặn thiệt hại cho người được thực hiện công việc. Nếu hành vi thực hiện công việc của người này là nhằm mục đích xâm hại đến lợi ích của người có cơng việc được thực hiện thì sẽ không thỏa điều kiện áp dụng chế định “thực hiện cơng việc khơng có ủy quyền”.

Thứ ba, người có cơng việc được thực hiện không biết hoặc biết nhưng không phản đối việc có người khác đang thực hiện cơng việc cho mình. Khi người có cơng việc khơng thể thực hiện được công việc hoặc việc thực hiện cơng việc có thể mang lại lợi ích cho người có cơng việc nhưng nếu họ phản đối người khác thực hiện cơng việc của mình, thì người thực hiện công việc cũng không được thực hiện. Nếu người nào vẫn cố tình thực hiện sẽ bị coi là vi phạm và phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật.

<b>1.5. Trong tình huống trên, sau khi xây dựng xong cơngtrình, nhà thầu C có thể u cầu chủ đầu tư A thực hiệnnhững nghĩa vụ trên cơ sở các quy định của chế định “thựchiện cơng việc khơng có ủy quyền” trong BLDS 2015khơng? Vì sao? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.</b>

Trong tình huống trên, sau khi xây dựng xong cơng trình, nhà thầu C khơng thể yêu cầu chủ đầu tư A thực hiện những nghĩa vụ trên cơ sở các quy định của chế định “thực hiện cơng việc khơng có ủy quyền” trong BLDS năm 2015.

Xét theo tình huống, Ban quản lý dự án B đã ký hợp đồng với nhà thầu C để xây dựng cơng trình, việc ký hợp đồng dù khơng có ủy quyền của chủ đầu tư A là nhằm thực hiện công việc của A. Như vậy, theo Điều 574 BLDS năm 2015, người thực hiện công việc khơng có ủy quyền là Ban quản lý dự án B, người có cơng việc được thực hiện là chủ đầu tư A. Cùng với đó, Ban quản lý dự án B và nhà thầu C ký kết một hợp đồng xây dựng cơng trình cơng cộng và trường hợp này khơng phải là thực hiện cơng việc khơng có ủy quyền do nhà thầu C không thực hiện việc xây dựng vì lợi ích của Ban quản lý dự án B mà do thực hiện nghĩa vụ được nêu trong hợp đồng, nên không thể cho rằng nhà thầu C thực hiện cơng việc khơng có ủy quyền cho Ban quản lý dự án B và không thể xem là

</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">

nhà thầu C thực hiện công việc khơng có ủy quyền cho chủ đầu tư A.

Do đó, khơng thể u cầu chủ đầu tư A thực hiện những nghĩa vụ trên cơ sở các quy định của chế định “thực hiện cơng việc khơng có ủy quyền” trong BLDS năm 2015.

<b>Vấn đề 2: Thực hiện nghĩa vụ (thanh tốn một khoản tiền)</b>

Tình huống: Ngày 15/11/1973, ông Quới cho bà Cô thuê nhà và nhận tiền thế chân của bà Cô 50.000đ. Nay, ông Quới yêu cầu bà Cô trả nhà. Bà Cô đồng ý trả nhà và u cầu ơng Quới hồn trả tiền thế chân (Lưu ý: giá gạo trung bình vào năm 1973 là 137đ/kg và giá gạo trung bình hiện nay theo Sở tài chính Tp. HCM là 18.000đ/kg).

<b>Tóm tắt Quyết định số 15/2018/DS-GĐT ngày 15/3/2018 củaTòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội về vấn đề “Tranh chấpnghĩa vụ trả tiền trong hợp đồng chuyển nhượng nhà vàquyền sử dụng đất”.</b>

Năm 1991, cụ Bảng (nguyên đơn) thỏa thuận chuyển nhượng nhà, đất cho vợ chồng bà Hương (bị đơn), ông Thịnh với số tiền là 5.000,000 đồng. Bà Hương trả cho cụ Bảng 3.000.000 đồng, còn thiếu 2.000.000 đồng hẹn khi nào thanh toán xong sẽ làm làm thủ tục sang tên trước bạ. Ngày 16/4/1992, bà Hương trả tiếp 1.000.000 đồng, còn nợ lại 1.000.000 đồng, hẹn hết quý II sẽ thanh tốn. Ngày 28/6/1996, bà Hương chuyển nhượng tồn bộ nhà, đất trên cho vợ chồng ơng Chinh, bà Sáu. Tịa sơ thẩm và phúc thẩm quyết định buộc bà Hương phải trả cho cụ Bảng tổng số tiền 2.710.000 đồng, trong đó: Tiền nợ gốc là 1.000.000 đồng, tiền lãi 1.710.000 đồng. Tòa giám đốc thẩm nhận định bà Hương mới thanh toán được 4/5 giá trị chuyển nhượng đất cho cụ Bảng, số tiền còn nợ tương đương 1/5 giá trị nhà, đất. Do đó, bà Hương phải thanh tốn cho cụ Bảng số tiền cịn nợ tương đương 1/5 giá trị nhà, đất theo định giá tại thời điểm xét xử sơ thẩm. Tòa giám đốc thẩm quyết định hủy Bản án phúc thẩm và Bản án sơ thẩm.

<small>Tóm tắt án:- chủ thể là ai</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">

<small>- Tranh chấp về cái gì- Vì sao kéo nhau ra tịa- Tịa giải quyết ntn</small>

<b>2.1. Thơng tư trên cho phép tính lại giá trị khoản tiền phảithanh tốn như thế nào? Qua trung gian là tài sản gì?</b>

Căn cứ điểm a,b Mục 1 Chương I của Thông tư 01/ TTLT ngày 19/06/1997 thì giá trị khoản tiền phải thanh tốn được cho phép tính lại là:

Giá trị khoản tiền phải thanh toán lại qua trung gian là gạo.

<b>2.2. Đối với tình huống thứ nhất, thực tế ơng Quới sẽ phảitrả cho bà Cô khoản tiền cụ thể là bao nhiêu? Nêu rõ cơ sởpháp lý khi trả lời.</b>

Thời điểm ông Quới và bà Cô phát sinh nghĩa vụ dân sự là ngày 15/11/1973, nghĩa là trước ngày 1/7/1996. Bên cạnh đó, trong thời gian gây ra thiệt hại và phát sinh nghĩa vụ đến thời điểm xét xử sơ thẩm giá gạo đã tăng quá 20% (cụ thể chênh lệch giữa giá gạo trung bình hiện tại và giá gạo năm 1973 là 131,4%). Do đó, theo quy định tại điểm a mục 1 Chương 1 Thông tư 01/TTLT ngày 19/6/1997 hướng dẫn việc xét xử và thi hành án về tài sản., số tiền ông Quới phải trả cho bà Cơ được tính như sau: Đầu tiên, quy đổi khoản tiền thế chân theo giá gạo trung bình tại thời điểm phát sinh nghĩa vụ (năm 1973), ta tính được lượng gạo ứng với 50.000đ là: 50.000 : 137 = 365 kg. Số tiền ông Quới phải trả cho bà Cô là giá tiền của 365 kg gạo tại thời điểm hiện tại, hiện nay giá gạo trung bình là 18.000đ/kg, vậy ông Quới phải trả: 365*18.000 = 6.570.000 đồng.

</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">

Như vậy số tiền thực tế ông Quới phải trả cho bà Cô là 6.570.000 đồng.

<b>2.3. Thông tư trên có điều chỉnh việc thanh tốn tiền tronghợp đồng chuyển nhượng bất động sản như trong Quyếtđịnh số 15/2018/DS-GĐT khơng? Vì sao?</b>

Thơng tư trên khơng điều chỉnh việc thanh toán tiền trong hợp đồng chuyển nhượng bất động sản như trong Quyết định số 15/2018/DS-GĐT. Vì đối tượng tài sản do thông tư này điều chỉnh là tiền, vàng và hiện vật không bao gồm quyền sử dụng đất. Do đó, thơng tư trên chỉ điều chỉnh nghĩa vụ tài sản là các khoản tiền, vàng (là các khoản tiền bồi thường, tiền hồn trả, tiền cơng, tiền lương, tiền chia tài sản, tiền đền bù công sức, tiền cấp dưỡng, tiền vay khơng hoặc có lãi, tiền truy thu thuế, tiền truy thu do thu lợi bất chính, tiền tịch thu, tiền phạt, tiền án phí,…) và nghĩa vụ tài sản là hiện vật, chứ không đề cập đến sự điều chỉnh việc thanh toán tiền trong hợp đồng chuyển nhượng bất động sản.

<b>2.4. Đối với tình huống trong Quyết định số 15/2018/DS-GĐT, nếu giá trị nhà đất được xác định là 1.697.760.000đnhư Tòa án cấp sơ thẩm đã làm thì, theo Tịa án nhân dâncấp cao tại Hà Nội, khoản tiền bà Hường phải thanh toáncho cụ Bảng cụ thể là bao nhiêu? Vì sao? </b>

Với tình huống trên, theo Tịa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, khoản tiền bà Hương phải thanh toán cho cụ Bảng cụ thể sẽ là 339.552.000đ. Vì theo Tịa án, bà Hương chỉ mới thanh tốn được 4.000.000đ trên tổng số 5.000.000đ giá trị chuyển nhượng nhà, đất và còn nợ 1.000.000đ. Như vậy, bà Hương chỉ mới thanh toán được ⅘ giá trị chuyển nhượng đất cho cụ Bảng, số tiền còn nợ tương đương với ⅕ giá trị nhà, đất. Do vậy mà bà Hương phải thanh toán cho cụ Bảng số tiền tương ứng với ⅕ giá trị nhà, đất theo định giá tại thời điểm xét xử sơ thẩm. Mà nếu giá trị nhà, đất được xác định là 1.697.760.000đ thì ⅕ giá trị nhà, đất sẽ là 1.679.760.000đ * ⅕ = 339.552.000đ.

</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11">

<b>2.5. Hướng như trên của Tịa án nhân dân cấp cao tại HàNội có tiền lệ chưa? Nêu một tiền lệ (nếu có)?</b>

Hướng giải quyết như trên của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã có tiền lệ là Quyết định Giám đốc thẩm số 09/HĐTP-DS ngày 24/02/2005 về “Vụ án tranh chấp nhà đất và địi nợ”.

Theo đó:

Năm 1994, bà Lai cho ông Xuân vay 11.500.000đ. Ngày 12/02/1996, bà Lai cho ông Xuân vay tiếp 128.954.000đ. Ngày 08/8/1996, hai bên thống nhất số tiền nợ (lẫn lãi) là 188.600.000đ, đồng thời thỏa thuận chuyển nhượng nhà cho bà Lai với giá 188.600.000đ. Do vợ chồng ơng Xn khơng thanh tốn nợ và khơng giao nhà mà vẫn quản lý ngôi nhà nên bà Lai vẫn tính lãi của số tiền 188.600.000đ.

Ngày 05/8/1997, vợ chồng ông Xuân và vợ chồng bà Lai tiếp tục chốt nợ gốc và lãi từ 188.600.000đ lên 250.000.000đ; hai bên lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với giá 250.000.000đ. Sau khi lập hợp đồng, bà Lai vẫn tính lãi số tiền 250.000.000đ trong thời gian 02 tháng thành 6.000.000đ để cộng dồn vào số tiền 44.000.000đ bà Lai đã cho ông Xuân vay vào ngày 6/11/1997 thành 50.000.000đ.

Như vậy quan hệ mua bán nhà và chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông Xuân với vợ chồng bà Lai xuất phát từ quan hệ vay nợ với lãi suất cao (khoảng 6%/tháng) khi bên vay khơng có tiền trả nợ thì hai bên có thoả thuận việc mua bán nhà, chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cho rằng: Vụ án này phải giải quyết cả quan hệ vay nợ và quan hệ mua bán nhà, đất. Do đó, phải huỷ bản án dân sự phúc thẩm và bản án dân sự sơ thẩm để giải quyết lại khoản vay nợ, tính lại lãi suất của số tiền gốc mà bà Lai đã cho vợ chồng ông Xuân vay theo đúng quy định pháp luật. Trường hợp xác định được việc mua bán, chuyển nhượng nhà đất là hợp pháp và bên mua chưa

</div>

×