Tải bản đầy đủ (.pdf) (50 trang)

Luận Văn “Một số vấn đề về Chính sách tiền tệ, công cụ thực hiện và định hướng hoàn thiện ở Việt Nam” pot

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (668.79 KB, 50 trang )



1








Luận Văn
“Một số vấn đề về Chính sách tiền tệ,
công cụ thực hiện và định hướng hoàn
thiện ở Việt Nam”















2






Mục lục

Phần mở đầu 1

I. Chính sách tiền tệ và mục tiêu của chính sách tiền tệ
1.Vị trí và vai trò của chính sách tiền tệ 2
2.Mục tiêu của chính sách tiền tệ 3
2.1.Kiểm soát lạm phát, ổn định giá cả, ổn định sức mua đối nội của đồng
tiền 4
2.2.ổn định sức mua của đồng tiền 4
2.3.Tăng trưởng kinh tế 5
2.4.Tạo công ăn việc làm 6
II. Nội dung cơ bản của chính sách tiền tệ 7
1.Cung ứng và điều hoà khối tiền tệ 7
2.Chính sách tín dụng cho nền kinh tế 10
3.Chính sách ngoại hối 11
4.Chính sách đối với ngân sách nhà nước 14
III. Các công cụ thực hiện chính sách tiền tệ 15
1.Nghiệp vụ thị trường mở 15
2.Chính sách chiết khấu 16
3.Dự trữ bắt buộc 17
4.Kiểm soát hạn mức tín dụng 17
5.Quản lý lãi suất của các ngân hàng thương mại 18
IV.Chính sách tiền tệ ở Việt nam 20



3

1.Chính sách tiền tệ với công cuộc cải cách và phát triển kinh tế ở Việt
nam 20
2.Các công cụ gián tiếp được sử dụng trong thời gian vừa qua tại Việt
Nam
22
3.Các công cụ trực tiếp được sử dụng thời gian qua 25
V.Định hướng và giải pháp hoàn thiện chính sách tiền tệ ở Việt Nam 27
1.Định hướng 27
2 Giải pháp 28
Kết luận 30

Tài liệu tham khảo 31






Phần mở đầu


Bước vào thế kỷ 21, cả nhân loại trong xu hướng toàn cầu hoá các nền
kinh tế của các thể chế khác nhau đang trên con đường hội nhập chung vào
các hoạt động kinh tế đầy sôi động. Loài người đang nỗ lực thúc đẩy thế giới
tiến lên trong văn minh với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế. Vậy
đáp số của bài toán phát triển kinh tế ở đâu?




4

Nếu ta coi nền kinh tế là một cơ thể sống thì đồng tiền là dòng máu này
chảy đến từng tế bào của nền kinh tế thúc đẩy sự phát triển, tăng trưởng
mạnh. Nếu thiếu tiền nền kinh tế sẽ thiếu cầu, kiệt quệ, tăng trưởng chậm và
hàng loạt các căn bệnh khác của một nền kinh tế “thiếu sự sống”.

Ngược lại nếu quá dư thừa tiền thì sao? Khi lượng tiền tăng quá nhanh
gây ra lạm phát, thất nghiệp và nền kinh tế mất ổn định, suy thoái nghiêm
trọng. Sự dư thừa này kéo theo nó hàng loạt các vấn đề có tác hại đến sự
phát triển và tăng trưởng cuả nền kinh tế.

Vấn đề đặt ra là làm sao điều tiết được tiền, một phương tiện mạnh nhất
cũng là điểm yếu nhất của nền kinh tế khi khủng hoảng tiền tệ?. ở tầm quản
lý vĩ mô, Chính phủ thường sử dụng chính sách tiền tệ thông qua ngân
hàng(NHTW) để điều tiết lượng tiền đảm bảo sự phát triển của nền kinh tế,
đạt được các mục tiêu trong tương lai. Và riêng Việt Nam với hơn 10 năm
đổi mới theo cơ chế thị trường, có rất nhiều vấn đề đặt ra. Chính vì vậy trong
khuôn khổ môn học Lý thuyết tài chính tiền tệ em đã nghiên cứu đề tài “Một
số vấn đề về Chính sách tiền tệ, công cụ thực hiện và định hướng hoàn
thiện ở Việt Nam”.











5






I. Chính sách tiền tệ và mục tiêu của chính sách tiền tệ

1.Vị trí và vai trò của chính sách tiền tệ

Hiện nay trên thế giới bất cứ Chính phủ nào cũng phải đối mặt với sự
mất ổn định của nền kinh tế đó là lạm phát, thất nghiệp, là khủng hoảng,
sự trì trệ của nền kinh tế. Bên cạnh các chính sách khác của Chính phủ thì
chính sách tiền tệ là một công cụ hữu hiệu để giải quyết sự mất ổn định
trên; chính sách tiền tệ chủ yếu tác động đến đầu tư tư nhân, hướng nền
kinh tế tới mức sản lượng và việc làm mong muốn, đem lại sự tăng
trưởng ổn định nền kinh tế.

Chính sách tiền tệ ngày càng trở nên vô cùng quan trọng đặc biệt là
với các quốc gia có nền kinh tế mở, tỷ giá linh hoạt, vốn chuyển động tự
do hoàn toàn. Xu hướng chung của chính sách tiền tệ lúc này là nó sẽ đưa
tỷ giá của đồng nội địa giảm, làm tăng khả năng cạnh tranh của nền kinh
tế trong nước và nước ngoài, xuất khẩu tăng lên lãi suất trở về lãi suất
cân bằng của thế giới, thất nghiệp giảm, kinh tế tăng trưởng mạnh,

Chính sách tiền tệ là một công cụ để đẩy lùi lạm phát và kiềm chế ở
mức thấp đưa lạm phát trở thành một công cụ kích thích tăng trưởng của

kinh tế, giải thoát cho nền kinh tế khỏi nguy cơ tụt hậu trầm trọng. Chính


6

sách tiền tệ góp phần làm ổn định tiền tệ, giúp cho Chính phủ nhanh
chóng xây dựng một hệ thống tài chính - tiền tệ và tín dụng phát triển góp
phần thúc đẩy tăng trưởng, phục vụ phát triển cho nền kinh tế.

Chính sách tiền tệ là một bộ phận chính sách kinh tế - xã hội của Nhà
nước. Nó là một công cụ của quản lý vĩ mô của Nhà nước về tiền tệ do
NHTW khởi thảo và thực thi nhằm ổn định giá trị đối nội và đối ngoại
của đồng tiền, ổn định và tăng trưởng kinh tế.

Chính sách tiền tệ không chỉ điều chỉnh lượng tiền cung ứng thêm
cho một thời gian nhất định thông qua việc cấp tín dụng cho nền kinh tế,
mua ngoại tệ, tạm ứng ngân sách mà còn điều chỉnh khối lượng tiền tệ có
sẵn trong lưu thông. Đây là quá trình kiểm soát tiền tệ làm sao cho phù
hợp giữa khối lượng tiền tệ với mức tăng tổng sản phẩm quốc dân danh
nghĩa(GNPn), giữa tổng cung và tổng cầu tiền tệ, giữa tiền và hàng nói
chung không gây thừa hoặc thiếu tiền so với nhu cầu lưu thông.

Chính sách tiền tệ phải hướng vào việc khống chế nguồn gốc làm
tăng hoặc giảm lượng tiền cung ứng, làm tăng hoặc giảm khối lượng tiền
tệ nói chung chứ không phải khống chế tiền mặt.

Chính sách tiền tệ có vai trò quyết định trong việc điều hành toàn bộ
hệ thống ngân hàng từ NHTW đến ngân hàng thương mại và các định chế
tài chính. Nó cho phép kiểm soát hệ thống tiền tệ, kiềm chế và đẩy lùi
lạm phát, không những thế nó ổn định sức mua của đồng tiền, thúc đẩy

tăng trưởng kinh tế, là công cụ để kiểm soát toàn bộ hệ thống kinh doanh
tiền tệ làm cho hệ thống ngân hàng và tổ chức tín dụng được lành mạnh


7

an toàn và có hiệu quả trước sóng gió của thị trường. Nó cho phép dự báo
tình hình báo động các diễn biến thuận lợi và bất lợi của lưu thông tiền tệ,
phân tích và đưa ra các giải pháp cần áp dụng, các công cụ cần vận hành
để hệ thống tiền tệ được lành mạnh. Một chính sách tiền tệ thích hợp sẽ là
tác nhân mạnh mẽ để ổn định và kích thích tăng trưởng kinh tế và ngược
lại sẽ gây mất ổn định, sự phát triển kinh tế chậm lại thậm chí lâm vào
đình trệ, suy thoái và khủng hoảng. Sự phát triển kinh tế và lành mạnh về
tài chính-tiền tệ là tỷ lệ thuận với nhau. Vì vậy nếu xây dựng chính sách
tiền tệ phù hợp vào các điều kiện của một nền kinh tế là một vấn đề chiến
lược.

Trong một quãng thời gian cụ thể nào đó chính sách tiền tệ quốc gia
có thể được xác định theo hai hướng:

- Chính sách tiền tệ mở rộng: là chính sách nới lỏng tiền tệ ( tăng
cung ứng tiền tệ trong lưu thông ) nhằm khuyến khích đầu tư, mở
rộng sản xuất, trong trường hợp này chính sách tiền tệ nhằm vào
chống suy thoái và kích thích tăng trưởng kinh tế.
- Chính sách tiền tệ thắt chặt: chính sách tiền tệ này thu hẹp lượng
tiền trong lưu thông nhằm hạn chế đầu tư, kìm hãm sự phát triển
quá nóng của nền kinh tế, lúc này chính sách tiền tệ nhằm vào
chống lạm phát.

Việc sử dụng chính sách tiền tệ tuỳ theo thực trạng nền kinh tếthông qua

nhiều công cụ khác. Tuỳ từng lúc nhấn mạnh cái gì theo từng mục tiêu và đó
thực sự là một nghệ thuật của nhà vạch chính sách.



8

2.Mục tiêu của chính sách tiền tệ

Chính sách tiền tệ là một bộ phận trong chính sách kinh tế xã hội của
Nhà nước, nó là một công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước về tiền tệ do
NHTW khởi thảo và thực thi nhằm ổn định giá trị đối nội và dối ngoại của
đồng tiền, ổn định và tăng trưởng kinh tế. Chính sách tiền tệ không chỉ điều
chỉnh khối lượng tiền tệ cung ứng thêm cho một thời gian nhất định thông
qua việc cấp tín dụng cho nền kinh tế, mua ngoại tệ, tạm ứng ngân sách mà
còn điều chỉnh khối tiền tệ có sẵn trong lưu thông. Đây là quá trình kiểm
soát tiền tệ làm sao cho phù hợp giữa khối lượng tiền với mức tăng tổng sản
phẩm quốc dân danh nghĩa, giữa tổng cung và tổng cầu tiền tệ, giữa tiền và
hàng nói chung, không gây thừa hoặc thiếu tiền so với nhu cầu lưu thông.
Chính sách tiền tệ phải hướng vào việc khống chế nguồn gốc làm tăng hoặc
giảm khối lượng tiền tệ nói chung chứ không phải khống chế tiền mặt. Và
bằng các công cụ điều hành chính sách tiền tệ mà NHTW đưa ra đó là: dự
trữ bắt buộc, chính sách lãi suất, hạn mức tín dụng, nghiệp vụ thị trường mở,
chính sách tỷ giá, tái cấp vốn Các công cụ nêu trên đã góp phần ổn định
tiền tệ, kiểm soát được lạm phát và tăng trưởng kinh tế đồng thời tạo điều
kiện cho các NHTM huy động vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế, vay từ nước
ngoài để đầu tư tín dụng tăng năng lực sản xuất.

Chính vì lẽ đó, chính sách tiền tệ theo đuổi 4 mục đích cơ bản sau đây:


2.1. Kiểm soát lạm phát, ổn định giá cả, ổn định sức mua dối nội của đồng
tiền



9

Trong điều kiện lưu thông các dấu hiệu giá trị thì lạm phát luôn là khả
năng tiềm tàng thậm chí khó tránh khỏi khi mà hệ thống kim bản vị cũng
như tiền tín dụng chuyển đổi ra vàng không còn nữa thì NHTW luôn coi
việc kiểm soát lạm phát, ổn định tiền tệ là mục tiêu hàng đầu của chính sách
tiền tệ của mình, Kiểm soát lạm phát nhằm ổn định giá cả hàng hoá là tiền
đề cho nền kinh tế phát triển bình thường đảm bảo đời sống người lao động.
Giá trị đối nội của đồng tiền là sức mua của nó đối với hàng hoá và dịch vụ
trong nước. Sức mua của đồng tiền biến đổi tỷ lệ nghịch với giá cả hàng hoá
và dịch vụ. ổn định sức mua đồng tiền là một đại lượng tương đối. Nó biến
động xung quanh một biên độ cho phép; ở nước ta hiện nay đang phấn đấu
giữ cho tỷ lệ lạm phát ở mức độ một con số (tức là dưới 10%).

2.2. ổn định sức mua của đồng tiền

Giá trị đối nội và đối ngoại của đồng tiềnđược đo bằng tỷ giá hối đoái
thả nổi. Tỷ giá hối đoái là một đại lượng so sánh giá trị giữa nội tệ và ngoại
tệ, vì vậy tỷ giá hối đoái có liên quan đến hàng loạt các yếu tố:

- Giá thành nhập và xuất khẩu.

- Tỷ lệ lạm phát làm thay đổi sức mua đồng tiền trong nước.

- Tình trạng cán cân thương mại và cán cân thanh toán quốc tế làm

biến đổi quan hệ cung cầu ngoại tệ.

- Yếu tố tâm lý.



10

- Chính sách can thiệp tỷ giá của Nhà nước.

Tỷ giá hối đoái là một yếu tố, một tín hiệu kinh tế hết sức nhạy cảm. Tỷ
giá bị nâng lên quá sức mua thực tế của đồng tiền trong nước đều kéo theo
những hệ quả tích cực hoặc tiêu cực khó lường cho nền kinh tế. Cho nên
đường lối kinh tế xuyên suốt trong điều hành chính sách tiền tệ là ổn định
(không phải cố định) tỷ giá hối đoái.

Như vậy, giá trị đối nội và đối ngoại của đồng tiền có mối liên quan tác
động qua lại với nhau.

Muốn ổn định tiền tệ và kinh tế trong nước phải có biện pháp ổn định giá
cả hàng hoá, dịch vụ và tỷ giá hối đoái.

2.3. Tăng trưởng kinh tế.

Về đại thể, khi tỷ lệ tăng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) lớn hơn nhịp độ
tăng dân số sẽ có tăng trưởng kinh tế. Việc tăng trưởng khối lượng tiền tệ có
ảnh hưởng rất lớn đến thực trạng kinh tế.

- Khi khối lượng tiền tệ tăng lên, lãi suất tín dụng thường giảm
xuống, đồng tiền “rẻ” đi sẽ kích thích đầu tư, tăng tổng sản phẩm

quốc nội (GDP). Mặt khác tăng khối lượng tiền tệ làm tăng tổng
cầu, hàng tồn đọng giảm, khích lệ gia tăng sản xuất.

- Ngược lại khi khối lượng tiền tệ giảm, lãi suất sẽ tăng làm cho đầu
tư giảm, giảm theo tổng sản phẩm quốc dân(GNP).


11


Trong thời kỳ đầu khi các cơ chế tác động của nền kinh tế thị trường
chưa nhạy cảm thì người ta thường sử dụng phương pháp ấn định và điều
chỉnh lượng cung tiền tệ trực tiếp, chủ yếu bằng hạn mức tín dụng nhưng
khi các cơ chế kinh tế thị trường đã thuần thục, tinh vi và nhạy cảm thì
người ta chuyển sang sử dụng chủ yếu các chính sách và công cụ quản lý vĩ
mô gián tiếp để thực hiện ý đồ thắt chặt hay mở rộng khối tiền tệ cung ứng.

Mục tiêu tăng truởng kinh tế vững chắc quan hệ chặt chẽ với mục tiêu
việc làm cao bởi vì nhf kinh doanh muốn đầu tư nhiều hơn vào tư liệu sản
xuất để nâng cao năng suất lao động và tăng trưởng kinh tế khi mức thất
nghiệp thấp.Ngược lại khi thất nghiệp cao và các xí nghiệp nhàn rỗi thì
không có lợi để cho một hãng đầu tư thêm các nhà máy và thiết bị. Mặc dù
hai mục tiêu này quan hệ chặt chẽ với nhau nhưng các chính sách có thể đặc
biệt nhằm vào việc khuyến khích tăng trưởng kinh tế bằng cách trực tiếp
khuyến khích các hãng đầu tư hoặc khuyến khích nhân dân tiết kiệm để có
thêm nhiều vốn cho các hãng đưa vào đấu tư.

2.4. Tạo công ăn việc làm:

Cùng với mục tiêu tăng trưởng kinh tế, chính sách tiền tệ hướng vào mục

tiêu tạo công ăn việc làm cho mỗi người, nhất là đối với các quốc gia chưa
phát triển, nơi nào sức lao động là hàng hoá thì nơi đó thất nghiệp là một căn
bệnh kinh niên. Chính sách tiền tệ chỉ có thể hướng vào việc tạo công ăn
việc làm nhiều hơn thông qua các tác động để mở rộng đầu tư, mở rộng hoạt
động kinh tế. Chống thất nghiệp, tạo công ăn việc làm chỉ có thể đạt tới mức
nhân dụng cao nhất, khó có thể toàn dụng được. Muốn đạt được mục tiêu về


12

công ăn việc làm phải chống suy thoái nhất là suy thaói chu kỳ, đạt được
mức tăng trưởng kinh tế ổn định.

Nhìn tổng quát giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế và công ăn việc làm
có mâu thuẫn đối nghịch nhau. Thông thường khi kiềm chế được lạm phát
thì có nguy cơ tăng trưởng kinh tế giảm, dễ dẫn đến suy thoái và thất nghiệp.
Ngược lại, khi mở rộng đầu tư khắc phục suy thoái, tạo tăng trưởng kinh tế
và công ăn việc làm thì rất khó kiềm chế lạm phát.

Có nhiều ý kiến khác nhau về xử lý mâu thuẫn và tìm đến dung hoà giữa
các xu hướng nói trên:

- Có nhà kinh tế hiện đại chủ trương đưa mục tiêu chống lạm phát
lên hàng đầu, tất cả phải phục tùng yêu cầu chống lạm phát, kể cả
tăng trưởng kinh tế và công ăn việc làm nhưng nếu ổn định mà để
ổn định thì thực chất là tụt hậu, khó khăn sẽ phát sinh và có nguy
cơ tái phát.

- Một số nhà kinh tế khác chủ trương phải “mua” bằng một tỷ lệ lạm
phát thấp để đạt được mức độ tăng trưởng kinh tế vừa phải và một

tỷ lệ thất nghiệp có thể chấp nhận được. Nó tạo được tình thế ổn
định hơn, tránh được các cơn sốc lạm phát, khủng hoảng kinh tế và
thất nghiệp.

- Có người cho rằng chấp nhận một mức lạm phát nhự nhàng đôi khi
là liều thuốc bổ quan trọng để kích thích phát triển sản xuất, có thể


13

tìm ra một phần chân lý ở luận điểm này. Nhưng nếu lấy lạm phát
làm chất xúc tác cho tăng trưởng thì quả là một trò đi trên dây.

Vì vậy vấn đề đặt ra là chính sách tiền tệ phải tìm được giải pháp để
dung hoà được 4 mục tiêu trong từng giai đoạn cụ thể, để vừa kìm chế
đượclạm phát vừa tăng trưởng được nền kinh tế và đạt mức nhân dụng cao.

II. Nội dung cơ bản của chính sách tiền tệ.

Chính sách tiền tệ là một bộ phận cấu thành trong chính sách vĩ mô của
Nhà nước. Về thực chất điều chỉnh quan hệ giữa tổng cung và tổng cầu tiền
tệ, giữa tiền và hàng trên 4 lĩnh vực quan trọng nhất.

- Khối lượng cung ứng tiền

- Kiểm soát hoạt động tín dụng trong nền kinh tế.

- Kiểm soát ngoại hối.

- Kiểm soát việc tạm ứng cho ngân sách Nhà nước.


1.Cung ứng và điều hoà khối tiền tệ

a.Lượng tiền cung ứng.

Ngân hàng TW phải có giải pháp duy trì được tương quan giữa tổng
cung và tổng cầu, giữa tiền và hàng bằng cách giữ nguyên hoặc tăng


14

hay giảm khối lượng tiền tệ. Vì vậy việc kiểm soát lượng tiền cung
ứng tăng thêm là rất quan trọng. Nó phụ thuộc vào:

- Nền kinh tế hàng năm tăng trưởng thì khối lượng tiền tệ cần tăng
thêm bằng mứctăng trưởng kinh tế.

- Nếu lạm phát mà chưa kìm được thì khối tiền tệ cung ứng còn phải
được tăng thêm bằng tỷ lệ lạm phát ( đã được kìm chế ).

Khi kiểm soát khối tiền tệ còn phải tính đến tốc độ luân chuyển của
đồng tiền và nó phụ thuộc vào các yếu tố:

- Tốc độ chu chuyển vật tư hàng hoá

- Lòng tin của dân cư vào giá trị đồng tiền

- Sự tiên liệu của dân cư vào thời cơ và vận hội làm ăn sinh lời
- Khuynh hướng chỉ tiêu của dân chúng


- Chính sách kinh tế tài chính của Nhà nước

- Trình độ kỹ thuật và khả năng tổ chức thanh toán của ngân hàng.

Tóm lại qua việc hoạch định và thực thi chính sách tiền tệ phải khống
chế sao cho khối lượng tiền tệ cung ứng trong một thời kỳ nhất định phải
cân đối với mức tăng tổng sản phẩm quốc dân danh nghĩa và vòng quay tiền
tệ từng thời kỳ.


15


b.Làm cho thành phần khối tiền tệ (M) đa dạng lên cùng với quá trình
phát triển công nghệ ngân hàng, gồm:

- Tiền mặt lưu thông ngoài ngân hàng và tiền gửi không kỳ hạn tại
ngân hàng là M
1


- M
1
và các khoản tiền tiết kiệm (có kỳ hạn) và tiền gửi có kỳ hạn tại
các ngân hàng thương mại là M
2


- M
2

và các loại tiền huy động tại các định chế tài chính khác là lhối
lượng tiền tệ M
3


Khối lượng tiền tệ cung ứng tăng thêm hàng năm về một phía nhằm đáp
ứng đủ phương tiện thanh toán, gồm tiền mặt và các loại tiền gửi ở ngân
hàng. Và phía khác nhằm dành cho các nhu cầu tín dụng ngắn hạn đối với
nền kinh tế, tăng dự trữ ngoại hối và tạm ứng cho ngân sách Nhà nước.

c.Điều hoà khối lượng tiền tệ tăng giảm theo tín hiệu thị trường.

Khối lượng tiền tệ tăng thêm chỉ là chỉ tiêu định hướng. Điều quan trọng
là ngân hàng trung ương phải theo dõi diễn biến:

- Của hoạt động kinh tế

- Của giá cả



16

- Của tỷ giá hối đoái.

Từ đó NHTW điều chỉnh kịp thời việc cung ứng tiền sao cho khối lượng
tiền tệ tăng thêm hay giảm đi không làm tăng giá cả hoặc tắc nghẽn lưu
thông vì thiếu phương tiện thanh toán.

Hai yếu tố đồng nhất của tín hiệu thị trường là giá cả và tỷ giá hối đoái.

Còn tốc độ tăng trưởng và vòng quay đồng tiền đều biến động, khó biết
trước chính xác. Việc điều chỉnh khối lượng tiền cung ứng phải thực hiện từ
gốc, qua các nhu cầu đối ứng đặt ra trong các lĩnh vực tạo tiền bằng các
chính sách tín dụng và ngoại hối trong những điều kiện khác nhau không
đổi, có thể điều hoà lượng tiền cung ứng giữa ba kênh nói trên nhưng tổng
số phải bằng tổng lượng tiền cung ứng đã xác định.

d.Cách nhìn nhận đối với tiền mặt

Để kiểm soát lạm phát, người ta quản lý từ gốc chứ không phải nhằm
vào cái ngọn của nó là khống chế tiền mặt. Vì lúc này đã quá muộn, chỉ làm
giảm lòng tin của nhân dân đối với hệ thống ngân hàng. Nhu cầu tiền mặt
thường phụ thuộc vào:

- Thói quen của dân chúng mỗi nước đối với tiền mặt hay thanh toán
không dùng tiền mặt

- Trình độ phát triển của hệ thống thanh toán ngân hàng

- Lòng tin của dân chúng đối với ngân hàng và Nhà nước.


17


e.Thanh toán không dùng tiền mặt - một công cụ điều tiết khối tiền tệ

Về nội dung kinh tế, tổ chức thanh toán không dùng tiền mặt tốt hay
không sẽ không ảnh hưởng trực tiếp mà tác động gián tiếp đến khối lượng
tiền do làm tăng hay giảm vòng quay của nó. Tuy chỉ ảnh hưởng gián tiếp

nhưng nếu tổ chức tốt công tác thanh toán không dùng tiền mặt sẽ không chỉ
góp phần thúc đẩy lưu thông hàng hoá mà còn có ý nghĩa góp phần kìm chế
lạm phát.

2. Chính sách tín dụng cho nền kinh tế

Ta biết rằng khối lượng tín dụng mà ngân hàng cung ứng cho các doanh
nghiệp từ hai nguồn:

- Huy động tiền vốn sẵn có trong lưu thông để cho vay
- Sử dụng tiền trung ương có được qua quá trình tái cấp vốn của
ngân hàng trung ương.

Sau khi các ngân hàng thương mại cho vay sẽ diễn ra chu trình tạo tiền
gửi và phát sinh bội số tín dụng rất phức tạp. ở các nước công nghiệp có hệ
thống ngân hàng đã phát triển cao, thị trường tiền tệ nhạy cảm thì người ta
năng sử dụng về các công cụ tác động vĩ mô gián tiếp ( như lãi suất, thị
trường mở ) để điều tiết tín dụng và mức tăng giảm khối tiền tệ. Từ khối
lượng tiền tệ cung ứng có thể cung ứng thêm, NHTW sẽ dành chủ yếu cho
hoạt động tín dụng ngắn hạn, phù hợp mức tăng trưởng kinh tế, có tính đến
mức lạm phát đã được khống chế trong một thời kỳ nhất định. Khối lượng


18

tiền tệ tăng thêm qua tín dụng sẽ không được “rót” từ NHTW xuống, bất
chấp thực trạng về vốn, chất lượng tín dụng của các ngân hàng trung gian
mà được hình thành trước hết từ nhu cầu thực sự của thị trường tiền tệ, quan
hệ vay vốn giữa các doanh nghiệp và các ngân hàng trung gian. Khi các
ngân hàng trung gian thiếu phương tiện thanh toán thì họ mới đến NHTW

xin tái cấp ( tái chiết khấu ) tiền trung ương. ở đây phải đảo ngược chu trình
cấp vốn, NHTW luôn là người cho vay cuối cùng, đóng vai trò chủ nợ nhằm
kiểm soát được chất lượng và số lượng tín dụng, các nguồn tiền gửi của các
ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng theo các định hướng chính sách
cụ thể sau:

a.Để tăng tầm kiểm soát của NHTW, tích cực kìm chế lạm phát, tăng
nguồn tín dụng, người ta thực hiện chính sách đa dạng hoá các thành phần
của khối tiền tệ: NHTW thúc đẩy các NHTM thu hút tất cả các nguồn tiền
gửi của mọi doanh nghiệp và dân cư bằng cách mở tài khoản và thanh
toán qua ngân hàng. Từ đó phát triển các thành phần kinh tế của khối tiền
tệ và các công cụ lưu thông tín dụng khác bên cạnh tiền mặt nhằm tăng
nguồn vốn tín dụng của các NHTM và khả năng chi phối của NHTW đối
với khối tiền tệ.

b.Thay lãi suất thực (-) bằng lãi suất thực (+) để thay chính sách tiền tệ
làm xói mòn nguôn vốn bằng chính sách tiền tệ mở rộng nguồn vốn với một
lãi suất (+) vừa phải sẽ làm cho dân cư chuyển từ dạng tiết kiệm phi tài
chính (dự trữ vàng, ngoại tệ, bất động sản ) qua dạng tiết kiệm tài chính,
tăng tiền gửi ngân hàng, cần khuyến khích các ngân hàng trung gian thực
hiện chính sách tiền tệ “ mở rộng nguồn vốn” bằng việc áp dụng lão suất (+),


19

thực hiện triệt để nguyên tắc “vay để cho vay”. Các NHTM chỉ tìm đến
nguồn tiền trung ương trong trường hợp phải tái chiết khấu.

c.Thay chính sách tiền tệ thụ động phục vụ bằng chính sách tiền tệ chủ
động điều khiển


Tín dụng và lãi suất không phải là những công cụ “phục vụ” đơn giản và
thụ động đối với các doanh nghiệp với bất cứ giá nào như một thứ cấp phát
ngân sách, trên thị trường tiền tệ, không được toàn quyền lựa chọn ngân
hàng. Nhưng đến lượt mình, ngân hàng có quyền chủ động lựa chọn khách
hàng làm ăn có hiệu quả để đầu tư, không phân biệt thành phần kinh tế.
Nghĩa là phải chuyển từ một chính sách tiền tệ thụ động sang một chính sách
tiền tệ tích cực trong đó ngân hàng được chủ động điều tiết.

d.Tổ chức thị trường vốn: tỷ lệ giữa “tiêu động sản” (M
3
)/GNP gọi là “
độ sâu tài chính ”. Độ sâu tài chính càng lớn mức huy động vốn càng cao
dẫn đến thị trường vốn trung hạn và dài hạn phong phú, tạo tiền đề cho thị
trường chứng khoán sơ cấp ra đời.

3. Chính sách ngoại hối

Để ổn định giá trị đối ngoại của đồng tiền quốc gia, NHTW thực hiện
các nhiệm vụ giao dịch về vấn đề tài chính và tiền tệ đối ngoại trên các
phương diện sau:

- Quản lý ngoại hối



20

- Lập và theo dõi diễn biến của cán cân thanh toán quốc tế


- Thực hiện các nghiệp vụ hối đoái, tổ chức và điều tiết thị trường
liên ngân hàng ngoại tệ và thị trường hối đoái

- Xây dựng và thống nhất quản lý quỹ dự trữ ngoại hối của đất nước

- Tiến hành kinh doanh ngoại hối trên thị trường quốc tế

- Phấn đấu ổn định tỷ giá hối đoái để kiềm chế lạm phát, ổn định giá
cả trong nước

- Quan hệ với NHTW khác, với các tổ chức tài chính-tiền tệ quốc tế
nhằm tìm kiếm nguồn tài trợ nước ngoài có điều kiện ưu đãi,
khuyến khích đầu tư nước ngoài và thu hút kiều hối

- Tổ chức quản lý nợ nước ngoài.

a.Chính sách hối đoái:

Nhiều nước thực hiện chính sách độc quyền hối đoái cấm lưu thông
tiền nước ngoài trên đất nước mình, chính sách ngoại hối hướng vào việc
ngăn chặn việc tích trữ ngoại hối rải rác trong các pháp nhân và thể nhân,
quản lý mua và bán ngoại tệ, thu hút các nguồn ngoại tệ vào NHTW. Đây
là chính sách mua đứt bán đoạn chứ không phải cho phép các tổ chức dân
sự và người cư trú đưọc cất giữ ngoại tệ trên tài khoản mở ở các ngân
hàng. Bởi vì điều này chỉ có lợi cho nước phát hành số ngoại tệ đó. Nhờ


21

phát hành tiền họ đã thu về khối lượng hàng hoá và dịch vụ mà chưa bị

đòi nợnhư một khoản tín dụng tự nguyện không trả lãi suất. Về phía các
ngân hàng trong nước, nếu huy động tiền gửi không kỳ hạn hoặc ngắn hạn
thì không thể sử dụng được nhiều số ngoại tệ đó. Tất yếu họ phải đem gửi
ngân hàng nước ngoài để sẵn sàng đáp ứng nhu cầu rút ra của khách hàng
và tìm kiếm chút lãi dể bù đắp lãi suất tiền gửi đã huy động vào việc và
huy động ngoại tệ dài hạn lại là vấn đề khác.

b.Dự trữ ngoại hối: mỗi nước đều có dự trữ ngoại hối, tuỳ theo khả
năng nền kinh tế nước đó. Dự trữ ngoại hối phục vụ cho nhu cầu thanh
toán quốc tế và điều chỉnh khối lượng tiền tệ trong nuức. NHTW mua và
gia tăng dự trữ ngoại hối sẽ làm tăng khối lượng tiền tệ. Ngược lại khi
NHTW bán ngoại tệ ra, giảm dự trữ ngoại hối thì cũng đồng thời làm
giảm khối tiền tệ. Qua việc mua bán ngoại hối, NHTW thực hiện can
thiệp thị trường, chủ động tác động tỷ giá hối đoái theo chiều hướng
mong muốn.

c.Thị trường hối đoái: thị trường hối đoái là nơi mua bán ngoại tệ. Quy
mô của nó phụ thuộc vào quy mô phát triển kinh tế và cung cầu ngoại tệ
của đất nước. Trình độ tổ chức thị trường hối đoái hoàn hảo hay không
trước hết phụ thuộc vào chính sách hối đoái và điều kiện kỹ thuật cho
phép. Trước khi hình thành thị trường hối đoái hoàn chỉnh, NHTW phải
chủ trương lập một thị trường quá độ là thị trường ngoại tệ liên ngân
hàng.

d.Tỷ giá hối đoái: tỷ giá hối đoái là tương quan sức mua giữa nội tệ
với ngoại tệ. Nó vừa phản ánh sức mua của nội tệ và vừa biểu hiện của


22


quan hệ cung cầu ngoại tệ, tác động mạnh mẽ đến xuất nhập khẩu và sản
xuất kinh doanh trong nước. Chính sách tỷ giá tác động một cách nhạy
bén và hết sức công phạt đối với sản xuất, xuất nhập khẩu, tình trạng tài
chính tiền tệ, cán cân thanh toán quốc tế, thu hút vốn đầu tư, dự trữ ngoại
tệ của đất nước.

- Nếu tỷ giá hối đoái quá thấp (đối với ngoại tệ) sẽ khuyến khích
nhập khẩu, gây bất lợi cho xuất khẩu vì hàng xuất khẩu tương đối
đắt, khó bán ra nước ngoài, gây trở ngại cho ngành sản xuất hàng
xuất khẩu, bất lợi cho việc chuyển dịch ngoại tệ từ nước ngoài vào
trong nước, dự trữ ngoại tệ dễ bị xói mòn.

- Nếu tỷ giá hối đoái quá cao (đối với ngoại tệ) sẽ bất lợi cho nhập
khẩu, nhưng khuyến khích xuất khẩu vì làm cho hàng nhập khẩu rẻ
hơn, hàng xuất khẩu đắt hơn, dễ cạnh tranh trên thị trường quốc tế,
dễ tìm thị trường tiêu thụ, kích thích chuyển dịch vào trong nước,
dự trữ ngoại tệ có cơ hội gia tăng.

e.Biện pháp quản lý và ổn định tỷ giá hối đoái:

Có hai cách vận hành tỷ giá hối đoái:

- Tỷ giá cao hay thấp do NHTW ấn định
- Tỷ giá thả nổi do cung cầu ngoại tệ trên thị trường chi phối,
NHTW hoàn toàn không can thiệp.



23


Do tầm quan trọng của nó nên người ta hết sức quan tâm và dùng nhiều
biện pháp để ổn định tỷ giá hối đoái như:

- Thực hiện chính sách thặng dư hay tối thiểu là thăng bằng cán cân
thanh toán quốc tế bằng cách đẩy mạnh xuất khẩu, sử dụng tiết
kiệm và có hiệu quả các nguồn ngoại tệ

- Kiểm soát và hạ thấp tỷ lệ lạm phát để ổn định giá cả và nâng cao
sức mua đối nội của đồng tiền, tạo sự tác động ngược lại đối với tỷ
giá hối đoái

- Có chính sách lãi suất tín dụng thích hợp để thu hút các khoản tiết
kiệm và đầu tư kể cả bằng nguồn ngoại tệ từ ngoài vào, đồng thời
hạn chế việc săn lùng ngoại tệ và vàng bạc

- Tạo quỹ dự trữ ngoại hối để can thiệp thị trường hối đoái khi cần
thiết. Tuy nhiên, trong điều kiện lạm phát không thể khống chế
được thì tỷ giá trượt dần hơn là tung hết dự trữ ngoại tệ ra can
thiệp.

4. Chính sách đối với ngân sách Nhà nước

Chính sách tiền tệ của NHTW muốn có tác dụng mong muốn cần xử
lý mối tương quan của nó với chính sách tài chính, trước hết là chính sách
thu và chi của ngân sách. Tuỳ theo tình trạng ngân sách có cân bằng hay
không sẽ ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực với những mức độ khác nhau
đối với lưu thông tiền tệ.


24



a.Trường hợp ngân sách cân bằng:

Khi Chính phủ thu thuế tức là đã lấy ra khỏi lưu thông một lượng
tiền nào đó, chỉ số tiền ấy vào guồng máy kinh tế. Khối lượng tiền tệ
không thay đổi vì nó được tăng giảm một ngạch số như nhau. Tuy nhiên
nó có thể làm thay đổi kết cấu tiêu dùng và tiết kiệm. Trong khi đó
Chính phủ phải dùng số tiền thuế thu được để cấp phát cho những người
có thu nhập thấp thì số tiêu thụ chung lại gia tăng, số đầu tư giảm và kết
quả là có khả năng làm tăng dần giá cả. Nếu Nhà nước dùng số chi ngân
sách này để đầu tư thì số đầu tư tư nhân giảm trong khi đầu tư Nhà
nước tăng lên, đầu tư chung không đổi, cho nên:

- Nếu chính sách tiền tệ nhằm chống lạm phát, ngân sách thăng bằng
vẫn có thể tác dụng ngược lại với chính sách tiền tệ, làm tăng vật
giá.

- Trường hợp chính sách tiền tệ nhằm chống suy thoái, ngân sách
thăng bằng vẫn có thể dịch chuyển thu nhập tiền tệ theo hướng góp
phần chống suy thoái bằng cách làm tăng mức tiêu thụ.

b.Trường hợp ngân sách thiếu hụt:

Chênh lệch giữa thu và chi ngân sách sẽ có tác dụng khác nhau đến
nền kinh tế tuỳ theo cách tài trợ, số chênh lệch ấy có 4 cách để bù đắp
thiếu hụt ngân sách:




25

- Vay dân cư

- Vay ở hệ thống tín dụng và thị trường tài chính trong nước

- Vay NHTW

- Vay nước ngoài.

Vay của NHTW và vay của nước ngoài (bằng ngoại tệ) sẽ làm tăng
nhanh khối tiền tệ, gây áp lực lạm phát tiềm tàng về sau.Vay của dân cư và
của NHTM trong nước nguy cơ làm tăng khối lượng tiền tệ nhẹ hơn. áp lực
lạm phát ở các nước đang phát triển mạnh hơn so với các nước có thu nhập
cao là do các nước này chủ yếu sử dụng biện pháp vay NHTW bằng cách
phát hành trực tiếp và nợ nước ngoài. Không có sự lựa chọn nào tốt hơn là
phải phấn đấu thực hiện một ngân sách Nhà nước cân bằng bằng nguồn thu
từ thuế và tiết kiệm chi tiêu. Không nên bội chi ngân sách dể bù đắp chi phí
hành chính mà tối thiểu ngân sách phải phấn đấu thu để trang trải các nhu
cầu chi thường xuyên. Phần chi xây dựng hạ tầng cơ sở và chi phát triển nếu
thiếu thì phải được tài trợ bằng cách phát hành tín phiếu kho bạc và trái
phiếu Chính phủ để vay nhân dân, vay các NHTM trên thị trường tiền tệ
(ngắn hạn) và thị trường chứng khoán (dài hạn) hoặc vay nợ nước ngoài theo
tiêu chuẩn quốc tế, mức bội chi ngân sách phải vay mượn để bù đắp nếu
chiếm khoảng 2-3% tổng sản phẩm quốc nội là chấp nhận được. Tuy nhiên
không nên coi khoản vay của Nhà nước là nguồn thu phụ thêm mà đó chỉ là
bù đắp bội chi.

c.Trường hợp ngân sách thặng dư:

×