Tải bản đầy đủ (.pdf) (15 trang)

Hiệp định thương mại tự do Việt Nam -EU(AFVTA) tác động tới việc hoàn thiện pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam / Nguyễn Ngọc Anh Đào

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.11 MB, 15 trang )

<span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2">

KỶ YẾU

HỘI THẢO KHOA HỌC

TÁC ĐỘNG CỦA HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI VÀHIỆP ĐỊNH BẢO HỘ ĐẦU TƯ SONG PHƯƠNG

VIỆT NAM - LIÊN MINH CHÂU ÂUĐẾN PHÁP LUẬT VIỆT NAM

NHÀ XUẤT BẢN TÀI CHÍNHNĂM 2021

</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3">

Hội thảo Khoa học ngành Luật

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU ... 1THE REQUIREMENTS OF FUNDAMENTAL BREACH IN THE BUYER’S RIGHT TO AVOIDTHE CONTRACT UNDER CONTRACTS FOR INTERNATIONAL SALE OF GOODS 1980(CISG) AND INTERPRETATIONS FROM THE COURTS.

LLM. Pho Hung Binh, PhD. Trần Duy Thi, PhD. Pham Kim Anh... 4THE ESTABLISHMENT OF PROTECTION MECHANISM FOR SCENT MARKS IN

VIETNAM IN THE CONTEXT OF INTERNATIONAL INTEGRATION

LLM. Bui Thi Hong Ninh*, PhD. Nguyễn Bá Sơn*, LLB. Nguyen Thi Duyen*, LLB. Ho ThienKhiem* ... 16ELIMINATING FORCED LABOUR IN VIETNAM TO OBTAIN CONCREATE

DEVELOPMENT IN THE SCOPE OF EVFTA

Nguyễn Hoàng Phương Nguyên... 22AN URGE TO PERFECT VIETNAM LEGAL SYSTEM TO ENSURE EFFECTIVE

IMPLEMENTATION OF INVESTOR – STATE DISPUTE SETTLEMENT PROCEEDINGUNDER EUROPEAN VIETNAM INVESTMENT PROTECTION AGREEMENT

LLM. Nguyễn Nam Trung, PhD. Trần Duy Thi, PhD, PhD. Phạm Kim Anh ... 28TRANH CHẤP VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP GIỮA NHÀ ĐẦU TƯ VỚI CHÍNH PHỦTRONG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ THEO HIỆP ĐỊNH BẢO HỘ ĐẦU TƯ ĐƯỢC KÝ KẾT GIỮAVIỆT NAM VỚI LIÊN MINH CHÂU ÂU (EVIPA)

Lương Khải Ân... 36QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ BẢO HỘ CHỈ DẪN ĐỊA LÝ TRONG MỐI TƯƠNG QUAN VỚIHIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI VIỆT NAM VÀ LIÊN MINH CHÂU ÂU (EVFTA)

PGS. TS. Bành Quốc Tuấn, ThS. Nguyễn Viết Tú,ThS. Trịnh Tuấn Anh... 42HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO VIỆT NAM - EU (EVFTA) TÁC ĐỘNG TỚI VIỆC HỒNTHIỆN PHÁP LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ VIỆT NAM

TS. Nguyễn Ngọc Anh Đào... 47ĐỐI SÁNH MỘT SỐ KHÁC BIỆT PHÁP LÝ KHI VIỆT NAM THỰC THI HIỆP ĐỊNH EVFTA

ThS. Vũ Anh Sao, TS. Nguyễn Bá Sơn, TS. Trần Thanh Hương ... 55MẬU DỊCH BIÊN GIỚI VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNGTẦM TỪ HÌNH THỨC TIỂU NGẠCH LÊN CHÍNH NGẠCH ĐỂ HÀNG VIỆT NAM THÂMNHẬP VÀO THỊ TRƯỜNG TRUNG QUỐC

PGS. TS. Bành Quốc Tuấn, ThS. Nguyễn Viết Tú, ThS. Trịnh Tuấn Anh... 61THÁCH THỨC ĐỐI VỚI TIẾN TRÌNH NỘI LUẬT CÁC QUY ĐỊNH VỀ LAO ĐỘNG TRONGCÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO TẠI VIỆT NAM

TS. Nguyễn Đức Vinh, PGS. TS. Ngô Quốc Chiến... 65MỘT SỐ BẤT CẤP CỦA PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN TỰ DOLIÊN KẾT VÀ THƯƠNG LƯỢNG TẬP THỂ CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG DƯỚI SỰ TÁC ĐỘNGCỦA HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI SONG PHƯƠNG VIỆT NAM – LIÊN MINH CHÂU ÂU

ThS. Đồn Thanh Vũ, ThS. Nguyễn Thị Dung... 73HỒN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ UỶ THÁC TƯ PHÁP RA NƯỚC NGOÀI

PGS. TS. Bành Quốc Tuấn* ThS. Chu Thị Thơm** ... 79

</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4">

Trường Đại học Kinh tế - Tài chính thành phố Hồ Chí Minh

BẢO HỘ CHỈ DẪN ĐỊA LÝ CHO NÔNG SẢN TRONG KHUÔN KHỔ HIỆP ĐỊNH THƯƠNGMẠI TỰ DO VIỆT NAM- EU (EVFTA)

TS. Bùi Thị Hằng Nga*... 89CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP LẦN THỨ TƯ CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI NGÀNHCƠNG NGHIỆP TP. HỒ CHÍ MINH

NCS. Nguyễn Văn Đắng ... 99PHÁP LUẬT VỀ QUAN HỆ LAO ĐỘNG TRONG KỶ NGUYÊN KINH TẾ SỐ

TS. Đào Mộng Điệp, Trương Thị Bích Hạnh... 109ÁP DỤNG ÁN LỆ CỦA CISG ĐỂ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠIQUỐC TẾ TẠI CÁC TRUNG TÂM TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM

ThS. Phan Trí Dũng... 117PHÁP LUẬT BẢO VỆ MƠI TRƯỜNG TRONG GIAI ĐOẠN HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC KHUCÔNG NGHIỆP: THỰC TRẠNG VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN

LS. Nguyễn Thị Mỹ Dung, TS. Nguyễn Sơn Hà... 124TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP VÀ QUYỀN TIẾP NHẬN THÔNG TIN CỦANGƯƠI TIÊU DÙNG TRONG HỘI NHẬP QUỐC TẾ

TS. Nguyễn Thị Thu Trang ... 131CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG HIỆP ĐỊNH BẢO HỘ ĐẦU TƯ GIỮA VIỆTNAM VÀ LIÊN MINH CHÂU ÂU (EVIPA)

Nguyễn Đình Huy, Giản Thị Lê Na ... 141PHƯƠNG PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HỌC TẬP MÔN PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG

ThS. Vũ Anh Sao, ThS. Nguyễn Nam Trung... 148

</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5">

Trường Đại học Kinh tế - Tài chính thành phố Hồ Chí Minh

HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO VIỆT NAM - EU (EVFTA) TÁC ĐỘNG TỚI VIỆC HỒNTHIỆN PHÁP LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ VIỆT NAM

Tóm tắt: Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA) cónhững quy định mới, khắt khe về bảo hộ sở hữu trí tuệ, góp phần giải quyết những lo ngại về việcthực thi quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam từ phía các doanh nghiệp châu Âu; đồng thời, đặt ra chocác doanh nghiệp Việt Nam u cầu phải tìm hiểu rõ, có những phương án chuẩn bị tốt nhất để cóthể tận dụng các lợi thế và hạn chế các tác động tiêu cực mà các quy định đó mang lại. Trong phạmvi bài viết tác giả trình bày một số nội dung chủ yếu của EVFTA liên quan tới thực thi quyền sở hữutrí tuệ; thực trạng pháp luật và thực thi pháp luật sở hữu túi tuệ ở Việt Nam; giải pháp hồn thiện pháp luậtsở hữu trí tuệ khi Việt Nam ký kết Hiệp định EVFTA

Từ khóa: Sở hữu trí tuệ; Hiệp định EVFTA1. Đặt vấn đề

Hiệp định EVFTA sẽ là cơ hội để Việt Nam tiếp tục cải cách thể chế - pháp luật theo hướng tiệmcận với chuẩn mực quốc tế, hồn thiện mơi trường kinh doanh theo hướng thơng thống, minh bạch và dễdự đốn hơn, từ đó thúc đẩy cả đầu tư trong nước lẫn đầu tư nước ngoài cũng như các hoạt động kinh doanhkhác, bao gồm các giao dịch xuyên quốc gia, các loại hình dịch vụ cung cấp qua biên giới…

Bên cạnh đó, những điều chỉnh, sửa đổi quy định pháp luật để phù hợp với Hiệp định EVFTA trongmột số lĩnh vực như sở hữu trí tuệ cũng sẽ góp phần giúp các doanh nghiệp được hưởng sự bảo hộ cao hơnđối với thành quả đầu tư cho hoạt động sáng tạo. Đây là động lực để các doanh nghiệp tiếp tục đầu tư nhiềuhơn vào hoạt động sáng tạo nhằm đổi mới công nghệ và tạo môi trường tốt cho việc thu hút chuyển giaocơng nghệ của nước ngồi để nâng cao chất lượng sản phẩm của Việt Nam.

2. Một số nội dung chủ yếu của EVFTA liên quan tới thực thi quyền sở hữu trí tuệ

Ngày 30-6-2019, EVFTA giữa Liên minh châu Âu (EU) và Việt Nam đã được ký kết tại Hà Nội,kết thúc quá trình đàm phán kéo dài và đánh dấu mốc lịch sử trong quan hệ đối tác giữa hai nền kinh tế.Hiệp định chính thức có hiệu lực từ ngày 1-8-2020, là sự kiện quan trọng, mở ra cơ hội phát triển thươngmại mới giữa Việt Nam và EU, tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa để doanh nghiệp Việt Nam tham gia thịtrường tồn cầu. Các doanh nghiệp và cơng dân của cả EU và Việt Nam sẽ không chỉ được hưởng cáckhoản giảm trừ thuế quan mà còn được hưởng nhiều khoản giảm trừ phi thuế quan trong thương mại. Quantrọng hơn, đây là một bước tiến lớn để EU bảo đảm và tăng cường quan hệ đối tác với Đông Nam Á, cũngnhư để Việt Nam tăng tốc hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu.

Trong xu hướng kinh tế quốc tế mạnh mẽ, nhiều hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mớiđược ký kết và triển khai tại nhiều quốc gia trên thế giới và Việt Nam, cùng với đó sở hữu trí tuệ trở thànhmột trong những nội dung quan trọng trong các hiệp định này. Đồng thời, sở hữu trí tuệ cũng là vấn đềđược nhiều nhà đầu tư nước ngồi quan tâm trong q trình xem xét môi trường, thể chế đầu tư của ViệtNam.

Vấn đề sở hữu trí tuệ, đặc biệt là chỉ dẫn địa lý, được đánh giá là một trong những vấn đề khó đàmphán nhất trong EVFTA và Chương 12 của Hiệp định này quy định về sở hữu trí tuệ với nhiều cam kết vềtiêu chuẩn bảo hộ sở hữu trí tuệ cũng là một trong những chương có dung lượng lớn nhất trong toàn bộ nội

</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">

Hội thảo Khoa học ngành Luật

dung của Hiệp định. Lý do bởi EU là khu vực xuất khẩu các sản phẩm trí tuệ hàng đầu thế giới, do đó cónhu cầu tăng cường bảo hộ cũng như thực thi việc bảo hộ các quyền sở hữu trí tuệ. EU cũng đồng thời cóchế độ bảo hộ đặc thù đối với chỉ dẫn địa lý và rất chú trọng việc bảo hộ loại quyền sở hữu trí tuệ. Cịn vềphía Việt Nam, thông qua Hiệp định này, các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân có thể tiếp cận các sản phẩm

Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu có những quy định mới, khắtkhe về bảo hộ sở hữu trí tuệ, góp phần giải quyết những lo ngại về việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ tạiViệt Nam từ phía các doanh nghiệp Châu Âu. Chương Sở hữu trí tuệ của EVFTA bao gồm 63 điều và 2phụ lục (Danh mục các chỉ dẫn địa lý và Danh mục nhóm sản phẩm). Nội dung chính của chương này baogồm các cam kết về các nguyên tắc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, phạm vi quyền sở hữu trí tuệ, sáng chế,

thực thi quyền sở hữu trí tuệ. Tuy nhiên, phần nhiều trong số các cam kết này cơ bản nhắc lại các nội dung

Nhìn chung, về quyền sở hữu trí tuệ trong khn khổ EVFTA, Việt Nam đã cam kết bảo hộ ở mức

mức cao hơn so với quy định của TRIPS. Tuy nhiên, EU đòi hỏi cao hơn cả Tổ chức Thương mại thế giới(WTO) về các biện pháp thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đặc biệt liên quan tới các sản phẩm nhạy cảm như

Cam kết về quyền sở hữu trí tuệ gồm cam kết về bản quyền, phát minh, sáng chế, cam kết liên quantới dược phẩm và chỉ dẫn địa lý... Về cơ bản, các cam kết về sở hữu trí tuệ của Việt Nam là phù hợp vớiquy định của pháp luật hiện hành. Một số nét chính trong các cam kết sở hữu trí tuệ như sau:

- Về chỉ dẫn địa lý, khi Hiệp định có hiệu lực, Việt Nam sẽ bảo hộ trên 160 chỉ dẫn địa lý của EU(bao gồm 28 nước thành viên) và EU sẽ bảo hộ 39 chỉ dẫn địa lý của Việt Nam. Các chỉ dẫn địa lý của ViệtNam đều liên quan tới nông sản, thực phẩm, tạo điều kiện cho một số chủng loại nông sản của Việt Namxây dựng và khẳng định thương hiệu tại thị trường EU.

- Về nhãn hiệu, hai bên cam kết áp dụng thủ tục đăng ký thuận lợi, minh bạch, bao gồm việc phảicó cơ sở dữ liệu điện tử về đơn nhãn hiệu đã được công bố và nhãn hiệu đã được đăng ký để công chúngtiếp cận; đồng thời, cho phép chấm dứt hiệu lực nhãn hiệu đã đăng ký nhưng khơng sử dụng một cách thựcsự trong vịng 5 năm.

- Về thực thi, Hiệp định có quy định về biện pháp kiểm soát tại biên giới đối với hàng xuất khẩunghi ngờ xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.

- Cam kết về đối xử tối huệ quốc (MFN): Cam kết về nguyên tắc tối huệ quốc trong Hiệp định nàybảo đảm dành cho các tổ chức, cá nhân của EU được hưởng những lợi ích về tiêu chuẩn bảo hộ cao khôngchỉ với các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ theo Hiệp định của WTO về các khía cạnh liên quan đến thươngmại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPs) mà còn cả các đối tượng khác của quyền sở hữu trí tuệ trong các hiệpđịnh thương mại tự do mà Việt Nam tham gia (như Hiệp định Đối tác tồn diện và tiến bộ xun Thái BìnhDương - CPTPP).

<small>225Đông Nghi: “Nhận diện thách thức trong thực thi quyền sở hữu trí tuệ khi tham gia EVFTA”, 5984.html</small>

<small>s/chuyen-dong-kinh-te/nhan-dien-thach-thuc-trong-thuc-thi-quyen-so-huu-tri-tue-khi-tham-gia-evfta-226 Nguyễn Như Quỳnh, “Cơ chế hết quyền sở hữu trí tuệ trong Hiệp định Trips và một số gợi ý cho các quốc gia thành viên WTO”), WTO Center - VCCI: “Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU: Tóm tắt Chương 12 - Sở hữu trí tuệ”, Nguyễn Thị Thu Trang (chủ biên), Rà soát pháp luật Việt Nam với các cam kết của Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU về sở hữu trí tuệ, Nxb. Cơng thương, Hà Nội, 2016, tr. 21229 Phan Quốc Nguyên: “Sở hữu trí tuệ Việt Nam dưới góc nhìn tham chiếu với EVFTA”, class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">

Trường Đại học Kinh tế - Tài chính thành phố Hồ Chí Minh

3. Thực trạng pháp luật và thực thi pháp luật SHTT ở Việt Nam

Sau 35 năm đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế, hệ thống pháp luật SHTT ở Việt Nam đã có nhữngbước tiến vượt bậc. Theo đánh giá, hệ thống pháp luật về bảo hộ và thực thi quyền SHTT của Việt Namkhơng những đạt chuẩn tối thiểu của WTO mà cịn đạt tiêu chuẩn cao hơn theo Hiệp định Thương mại songphương với Hoa Kỳ, có thể sánh với các nước tiên tiến trong khu vực và đang hướng tới các chuẩn mựctiên tiến của thế giới theo các cam kết trong các FTA thế hệ mới về các tiêu chí có lợi cho chủ sở hữu

SHTT năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009 và năm 2019) cùng các văn bản hướng dẫn thi hành Luật nàyvà các Luật khác có liên quan như Luật Khoa học và cơng nghệ, Luật Hải quan, Luật Chuyển giao côngnghệ... Việt Nam cũng là thành viên của các điều ước quốc tế đa phương quan trọng nhất về SHTT nhưHiệp định TRIPS về các khía cạnh thương mại của quyền SHTT trong khn khổ các hiệp định của Tổchức Thương mại thế giới (WTO), Công ước Berne về bảo hộ tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học,Công ước Paris về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, Công ước UPOV về bảo hộ giống cây trồng mới…

Pháp luật Việt Nam bảo hộ các loại đối tượng quyền SHTT đa dạng, bao gồm: (1) các đối tượngcủa quyền tác giả (tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học) và quyền liên quan đến quyền tác giả (quyềncủa người biểu diễn, tổ chức sản xuất bản ghi âm, ghi hình, tổ chức phát sóng), (2) các đối tượng của quyềnsở hữu công nghiệp (sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng cơng nghiệp, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu, tênthương mại, chỉ dẫn địa lý, thiết kế bố trí mạch tích hợp, quyền chống cạnh tranh không lành mạnh, và (3)các đối tượng của quyền đối với giống cây trồng (giống cây trồng mới). Pháp luật hiện hành quy định rõcác điều kiện bảo hộ đối với từng loại đối tượng quyền SHTT, cơ chế xác lập quyền, nội dung quyền, giớihạn quyền, cơ chế bảo vệ và thực thi quyền và các chế tài đối với hành vi xâm phạm quyền SHTT.

Hiện nay, sở hữu trí tuệ là một trong những nội dung quan trọng tại các diễn đàn kinh tế quốc tếcũng như trong các hiệp định thương mại tự do trên thế giới. Trong đó phải kể đến, hai hiệp định thươngmại tự do rất quan trọng gần đây mà Việt Nam tham gia ký kết là Hiệp định CPTPP và Hiệp định EVFTAthì vấn đề liên quan đến sở hữu trí tuệ là một trong những nội dung được quan tâm và mang ra thảo luận.

Ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước đã rất quan tâm đến vấn đề này kể từ khi Bộ luật Dân sự được banhành năm 1995 trong đó sở hữu trí tuệ đã là một chương trong Bộ luật Dân sự; với sự phát triển nhanhchóng của kinh tế - xã hội, đặc biệt kể từ khi Đảng và Nhà nước ta xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu baocấp chuyển sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, năm 2005 Luật Sở hữu trí tuệ đã được táchra thành một đạo luật riêng.

Ngày 22/8/2019, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1068/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lượcSở hữu trí tuệ đến năm 2030 cho thấy, sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với sự phát triển của lĩnhvực sở hữu trí tuệ. Phát triển hệ thống sở hữu trí tuệ phải đồng bộ ở tất cả các khâu: sáng tạo, xác lập quyền,khai thác và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Trong đó, việc khai thác và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đang làvấn đề ngày càng “nóng”, mang tính thời sự khơng chỉ ở Việt Nam mà là vấn đề của quốc tế.

Ví dụ: Tranh chấp thương thương mại Mỹ - Trung hiện nay đang làm nền kinh tế thế giới chao đảo,bất ổn định cũng có một phần nguyên nhân xuất phát từ tranh chấp về sở hữu trí tuệ. Những sự kiện gầnđây ở Việt Nam trong gian lận thương mại thuộc lĩnh vực hàng hóa điện tử như vụ việc ASANZO cũng códấu hiệu của vi phạm liên quan đến sở hữu trí tuệ (SHTT).

<small>230 Báo cáo của Cục SHTT tại buổi làm việc với Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam ngày 29/9/2016. Xem: ve-so-huu-tri-tue</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">

thảo Khoa học ngành Luật

Để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp (SHCN), trongnhiều năm qua, ngành Khoa học và Công nghệ đã có nhiều nỗ lực trong xây dựng, đổi mới cơ chế, chínhsách và bảo đảm hiệu lực, hiệu quả việc thực thi pháp luật về sở hữu công nghiệp. Tuy nhiên, chúng ta nhậnthấy rằng, nhiệm vụ thực thi pháp luật về SHCN nói chung và hoạt động thực thi quyền SHCN nói riêngđang tồn tại rất nhiều khó khăn, thách thức đối với lực lượng thực thi quyền SHTT.

Thực tế hiện nay cho thấy, các hành vi sản xuất, nhập khẩu, tiếp thị, mua bán các hàng hóa giảmạo, hàng hóa xâm phạm quyền SHCN tại Việt Nam đang có chiều hướng gia tăng, diễn biến phức tạp.Các mặt hàng giả mạo, hàng hóa xâm phạm quyền SHTT ngày càng đa dạng về chủng loại và tinh vi vềhình thức. Trong khi nhận thức của người tiêu dùng chưa thật sự đầy đủ, nên việc phân biệt hàng thật –hàng giả đang trở nên khó khăn đối với người tiêu dùng. Các lực lượng chức năng chưa đủ mạnh ngangtầm nhiệm vụ được giao trong công tác đấu tranh bảo vệ quyền SHTT. Hơn nữa, phương thức sản xuất,nhập khẩu, tiếp thị, mua bán các mặt hàng vi phạm về SHCN ngày càng trở nên tinh vi, có tổ chức liên tỉnh,liên vùng, liên quốc gia và đa dạng, phomg phú về hình thưc, chủng loại nên rất khó phát hiện, xử lý đốivới các cơ quan thực thi.

Năm 2020, Cục Sở hữu trí tuệ (SHTT) tiếp nhận 1344 đơn khiếu nại (tăng 54% so với năm2019), gồm 23 đơn khiếu nại đối với sáng chế, 03 đơn khiếu nại đối với giải pháp hữu ích, 31 đơn khiếunại đối với kiểu dáng công nghiệp, 1281 đơn khiếu nại đối với nhãn hiệu quốc gia và 06 đơn khiếu nại đốivới nhãn hiệu quốc tế. Cục đã ban hành 1154 thông báo thụ lý (tăng 70% so với năm 2019).

Số lượng đơn khiếu nại đã được Cục SHTT giải quyết là 926 đơn (tăng 3,6% so với năm2019), gồm 43 đơn khiếu nại đối với sáng chế, 07 đơn khiếu nại đối với giải pháp hữu ích, 08 đơn khiếunại đối với kiểu dáng công nghiệp, 752 đơn khiếu nại đối với nhãn hiệu quốc gia và 116 đơn khiếu nại đốivới nhãn hiệu quốc tế.

Đồng thời, Cục đã nhận được 430 đơn đề nghị chấm dứt, hủy bỏ hiệu lực cho 441 văn bằng bảo hộ(tăng 1,2% so với năm 2019) và xử lý được 106 đơn (giảm 48,8% so với năm 2019).

Thực hiện theo quy trình giải quyết khiếu nại lần hai, Bộ Khoa học và Công nghệ đã tổ chức đốithoại với người nộp đơn trong quá trình giải quyết khiếu nại. Cục đã tham gia đối thoại 24 vụ khiếu nạitrong thủ tục xác lập quyền SHCN do Thanh tra Bộ KH&CN tổ chức, trong đó có nhiều vụ khiếu nại, tranhchấp về quyền SHCN có độ phức tạp cao như các sáng chế “Phương pháp chuyển giới tính tạm thời ở tơmcàng xanh”, “Trạm biến áp một cột”, “Hệ thống xử lý khói thải của lị đốt xác”; kiểu dáng cơng nghiệp“Hào kỹ thuật”, nhãn hiệu của Công ty Hyundai Aluminum Vina, nhãn hiệu Cu đơ Thư Viện, nhãn hiệukita’s, nhãn hiệu PMA, nhãn hiệu của Công ty Ajinomoto, nhãn hiệu “Đất Xanh, “Trung Nguyên” và “G7”,v.v..

Đối với công tác phối hợp trong hoạt động thực thi, Cục đã tiếp nhận và xử lý công văn đề nghịcung cấp ý kiến chuyên môn của các cơ quan thực thi quyền sở hữu trí tuệ là Thanh tra Khoa học và Cơngnghệ, Quản lý thị trường, Cảnh sát kinh tế và Hải quan với tổng số 184 vụ việc (sáng chế: 04 vụ việc; kiểudáng công nghiệp: 02 vụ việc; nhãn hiệu: 178 vụ việc).

Cục đã cử cán bộ tham gia và trình bày ý kiến tại các cuộc họp của Hội chống hàng giả, bảo vệngười tiêu dùng, Tổng Cục Quản lý thị trường; làm việc với Cơ quan thực thi (Hải quan, Thanh tra Khoahọc công nghệ các cấp, Quản lý thị trường, Công an kinh tế) trong việc cung cấp thơng tin, trình bày quanđiểm nhằm đảm bảo hoạt động thực thi quyền. Đại diện của Cục đã tham gia 04 vụ kiện hành chính tại Tịấn, trả lời 24 cơng văn của Tịa án, tham dự 08 phiên xét xử hoặc hòa giải của người nộp đơn, bên thứ ba

</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">

Trường Đại học Kinh tế - Tài chính thành phố Hồ Chí Minh

liên quan, hoặc là bên liên quan đối với các quyết định hành chính đã ban hành của Cục tại Tòa án nhândân thành phố Hà Nội.

Trong những năm qua, công tác thanh tra, xử lý về SHTT tại Thanh tra Bộ KH&CN cho thấy, cáchành vi vi phạm tập trung chủ yếu là: hàng hóa giả mạo nhãn hiệu, xâm phạm quyền SHCN trên hàng hóa,biển hiệu, phương tiện kinh doanh, gần đây đang xuất hiện ngày càng nhiều hành vi xâm phạm quyền đốivới nhãn hiệu trong tên doanh nghiệp, tên thương mại; hành vi cạnh tranh không lành mạnh trên mẫu nhãn,kiểu dáng bao bì sản phẩm và hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến đăng ký sử dụng tên miềntrên internet.

Về phương thức vi phạm, trong những năm gần đây, các đối tượng vi phạm có xu hướng chuyểndịch từ tiếp thị, phân phối theo phương thức truyền thống sang hình thức thương mại điện tử (thơng quacác trang bán hàng trực tuyến, website bán hàng và đặc biệt là các trang mạng xã hội Facebook, Zalo). Viphạm trên internet là “khơng có biên giới, khơng có rào cản địa lý”. Do đó, việc phát hiện và xử lý các đốitượng vi phạm trở nên hết sức khó khăn, địi hỏi đội ngũ cơng chức, thanh tra viên làm công tác, thanh tra,kiểm tra xử lý vi phạm phải không ngừng được tăng cường về số lượng, nâng cao về nghiệp vụ, trình độchuyên, kỹ năng và kinh nghiệm cũng như đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ, vào cuộc đồng bộ, thống nhất củaliên ngành từ Trung ương đến địa phương.

Thực tế trong những năm gần đây cho thấy, Thanh tra Bộ KH&CN chịu sức ép rất lớn về các việcxâm phạm quyền SHTT mà các cơ quan chức năng, thậm trí các lực lượng chức năng (quản lý thị trường,công an,…) ở Trung ương và địa phương hầu như chưa có khả nắm bắt và xử lý các vi phạm về SHTT như:xâm phạm về sáng chế, tên miền, tên doanh nghiệp và trên môi trường mạng (INTERNET)

Từ thực tế công tác và định hướng chiến lược có thể thấy rằng, cơng tác phối hợp giữa các cơ quanliên quan và giữa Trung ương với địa phương là một trong những chìa khóa quan trọng trong thực hiện tốtnhiệm vụ nâng cao năng lực thực thi quyền SHTT tại Việt Nam, giúp phát huy sức mạnh, nguồn lực củatập thể của toàn lực lượng

4. Hoàn thiện pháp luật sở hữu trí tuệ khi Việt Nam ký kết Hiệp định thương mại tự do ViệtNam - EU (EVFTA)

Theo kết quả rà soát pháp luật Việt Nam với các cam kết về SHTT trong Hiệp định thương mại tựdo Việt Nam - EU (EVFTA) do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam công bố tháng 7/2016, nhìntổng thể, pháp luật Việt Nam đã cơ bản tương thích với yêu cầu của EVFTA; một số ít nội dung chưa tương

(MFN) được nhấn mạnh trong EVFTA đòi hỏi Việt Nam phải đối xử với các chủ thể EU ở mức tốt nhấttheo các cam kết EVFTA. Do đó, để thực thi các cam kết EVFTA về SHTT thì cũng đồng thời phải điềuchỉnh, sửa đổi pháp luật SHTT Việt Nam tương thích với các cam kết trong EVFTA. Mặc dù tại thời điểmhiện nay, chưa thể dự đoán EVFTA có được các nước thành viên phê chuẩn hay khơng, nhưng trong tiếntrình chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam, việc hoàn thiện pháp luật SHTT theo cáctiêu chuẩn tiên tiến của EVFTA vẫn rất cần thiết. Việc đàm phán, ký kết EVFTA cũng là một cơ hội tốt đểViệt Nam nhìn lại hệ thống pháp luật SHTT của mình, nhận diện những khoảng trống và học hỏi đượcnhững giải pháp pháp lý mà EVFTA cung cấp - thực chất chính là kinh nghiệm lập pháp từ các nước có hệthống pháp luật SHTT. Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) có thể được xem là một bộtiêu chuẩn mới về lập pháp trong lĩnh vực SHTT, chứa đựng các tiêu chuẩn bảo hộ cao hơn và chi tiết, đầyđủ hơn so với Hiệp định TRIPS, vì vậy có giá trị tham khảo đối với các nước đang phát triển như Việt Nam

<small>231 Nguyễn Thị Thu Trang (chủ biên), Rà soát pháp luật Việt Nam với các cam kết của Hiệp định thương mại tự do Việt Nam-EU về SHTT, Nxb. Công thương, Hà Nội, 2016, tr. 21.</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">

Hội thảo Khoa học ngành Luật

trong quá trình cải cách, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế

nước đang phát triển về kéo dài thời hạn bảo hộ đối với một số đối tượng SHTT, về tăng cường bảo hộ đốivới sáng chế và dữ liệu thử nghiệm trong lĩnh vực dược phẩm và lĩnh vực hóa nơng…, Việt Nam có thểhọc hỏi, tiếp thu được các chuẩn mực tiên tiến về bảo hộ quyền SHTT của thế giới từ EVFTA cũng nhưcác FTA thế hệ mới nói chung.

Trên cơ sở nghiên cứu các tiêu chuẩn bảo hộ quyền SHTT trong TPP và EVFTA và xuất phát từthực trạng pháp luật SHTT Việt Nam, theo tác giả cần hoàn thiện một số nội dung cơ bản sau:

Thứ nhất, cần mở rộng phạm vi đối tượng được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ

Khi nền kinh tế dựa trên tri thức và công nghệ càng phát triển, tất yếu sẽ xuất hiện càng nhiều cácđối tượng SHTT mới cần được bảo hộ. Đối với nhãn hiệu, hiện nay pháp luật Việt Nam mới chỉ bảo hộ các

bước mở rộng phạm vi bảo hộ sang các nhãn hiệu khơng nhìn thấy được như nhãn hiệu âm thanh, nhãn

thống này. Ví dụ, Luật Nhãn hiệu Trung Quốc sửa đổi năm 2013 (có hiệu lực từ 1/5/2014) đã xóa bỏ điềukiện nhãn hiệu phải là dấu hiệu “nhìn thấy được” và chính thức ghi nhận nhãn hiệu âm thanh có thể được

là những giải pháp đã được biết đến nếu như chúng được sử dụng theo một cách mới hoặc là phương pháp

Việt Nam hiện hành chỉ bảo hộ kiểu dáng tổng thể bên ngồi của sản phẩm mà khơng bảo hộ kiểu dáng

sửa đổi trong Luật SHTT.

Thứ hai, cần quy định các chế tài đủ mạnh đối với hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ

Để thực thi quyền SHTT một cách hiệu quả, pháp luật SHTT Việt Nam cần được nghiên cứu sửađổi, bổ sung để quy định các chế tài đủ mạnh đối với hành vi xâm phạm quyền. Về chế tài dân sự, ngoàichế tài buộc bồi thường thiệt hại thực tế và lợi nhuận của bên xâm phạm, cần có quy định về bồi thườngthiệt hại theo luật định (statutory damages) trong những trường hợp khó xác định thiệt hại và mức bồithường thiệt hại theo luật định này phải đủ lớn để bảo đảm tính răn đe. Đối với hành vi xâm phạm cố ý thìtịa án cần có quyền buộc bên xâm phạm phải trả một khoản tiền bồi thường bổ sung (additional damages),bao gồm cả các khoản bồi thường mang tính chất trừng phạt, răn đe (punitive damages, hay exemplary

quyền tối thiểu là 750 USD trên 1 tác phẩm và tịa án có thể quyết định tới mức 30.000 USD trên 1 tácphẩm, nếu là vi phạm cố ý thì mức này tối đa là 150.000 USD trên 1 tác phẩm. Điều 68 Dự thảo sửa đổi,bổ sung Luật Sáng chế Trung Quốc cũng quy định tăng mức bồi thường thiệt hại luật định tối đa do xâmphạm quyền đối với sáng chế từ 1 triệu nhân dân tệ (tương đương 155.000 USD) lên 5 triệu nhân dân tệ<small>232</small><sub>Xem: Không TPP, áp lực cải cách sẽ càng mạnh mẽ, truy cập ngày 05/3/2021.</sub>

<small>233Khoản 1 Điều 72 Luật SHTT năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009 và năm 2019)</small>

<small>234Điều 18.18 TPP: “Không Bên nào được quy định rằng dấu hiệu phải được nhìn thấy bằng mắt như một điều kiện để đăng ký, cũng không được từ chối việc đăng ký nhãn hiệu là một âm thanhđơn thuần. Ngoài ra, mỗi Bên phải nỗ lực để cho phép đăng ký nhãn hiệu mùi hương.”</small>

<small>235Điều 8 Luật Nhãn hiệu Trung Quốc 2013. Xem: 12 Điều 4 Luật SHTT năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).</small>

<small>237Điều 18.37 TPP: mỗi Bên khẳng định rằng bằng sáng chế cho các phát minh được tuyên bố ít nhất một trong các điều sau: cách sử dụng mới của một sản phẩm đã được biết, phương pháp sửdụng mới của một sản phẩm đã được biết, hoặc quy trình sử dụng mới của một sản phẩm đã được biết.</small>

<small>238Điều 18.55 TPP. Trung Quốc cũng đang xem xét sửa đổi luật để mở rộng phạm vi bảo hộ kiểu dáng công nghiệp đối với kiểu dáng một phần sản phẩm. Xem Điều 2 Dự thảo sửa đổi, bổ sungLuật Sáng chế Trung Quốc, 6-9 Điều 18.57 TPP</small>

</div>

×