Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (219.62 KB, 11 trang )
<span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2">
<b>ẦỞ ĐẦ</b>
Người lao động được trả lương và dùng phần lớn tiền lương được trả vào tiêu dùng. Phần lớn người lao động trông chờ vào tiền lương hàng tháng để chi trả cho sinh hoạt, tuy nhiên tiền lương của người lao động nhiều khi không đảm bảo được chi tiêu cho đời sống sinh hoạt.
Trong những năm qua, cải cách chính sách tiền lương mang lại thu nhập cao hơn cho người lao động ln là vấn đề được Chính phủ, Đảng và các Bộ, Ngành, địa phương và chính bản thân người lao động chú trọng và quan tâm. Tuy nhiên, thực tế mối quan hệ tiền lương với chi tiêu cuộc sống của người lao động chưa thay đổi nhiều và phần lớn người lao động đều chưa thể sống bằng đồng lương hàng tháng.Bên cạnh đó, tiền lương được trả của người lao động chưa gắn liền với sức lao động bỏ ra khiến năng suất lao động, kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh, mức tăng trưởng của nền kinh tế chưa đạt được như mong muốn do bản chất động lực làm việc của người lao động có liên quan đến thu nhập, tiền lương được hưởng.Chính vì vậy, nghiên cứu về tiền lương là vấn đề quan trọng bởi đây là vấn đề tác động trực tiếp đến đời sống của người lao động, đồng thời là vấn đề quan trọng việc góp phần ổn định an sinh xã hội và đặc biệt trong việc tạo động lực phát triển kinh tế xã hội.
Tiền lương cịn là một trong những chính sách kinh tế xã hội quan trọng góp phần tạo động lực tăng trưởng kinh tế và giải quyết công bằng, tiến bộ xã hội, nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý nhà nước khai thác tiềm năng sáng tạo của người lao động các chính sách tiền lương phải nằm trong khn khổ pháp lý và theo những chính sách của Chính phủ nhưng mặt khác tiền lương chịu sự tác động và chi phối rất lớn của thị trường và thị trường lao động.
Tiền lương đóng vai trị chủ yếu trong thực hiện quy luật phân phối lao động, nó vận động trong mối quan hệ chặt chẽ với các quy luật khác như điều kiện lao động các tiêu chuẩn lao động, chế độ làm việc, lợi nhuận, năng suất lao động, tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế và các chính sách xã hội khác, nó đảm bảo chức năng rất quan trọng trong quản lý vĩ mơ cũng như trong tổ chức.
Với ý nghĩa đó, em chọn vấn đề “tiền lương” để làm đề tài nghiên cứu trong bài tiểu luận của mình. Tuy nhiên, do lượng kiến thức và thời gian có hạn nên bài làm của em sẽ không thể tránh khỏi những thiếu sót, mong được các thầy cơ châm trước để em có cơ hội được làm những bài tiểu luận tốt hơn.
</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3"><b>NỘI DUNG Lý thuyết chung:</b>
Bản chất của kinh tế của tiền cơng:
Ở bề ngồi của đời sống xã hội tư bản, công nhân làm việc cho nhà tư bản một thời gian nhất định, sản xuất ra một lượng hàng hố hay hồn thành một số cơng việc nào đó thì nhà tư bản trả cho một số tiền nhất định gọi là tiền công. Hiện tượng đó làm cho người ta lầm tưởng rằng tiền công là giá cả của lao động. Sự thật thì tiền cơng khơng phải là giá trị hay giá cả của lao động, vì lao động khơng phải là hàng hố. Sở dĩ như vậy là vì:
Nếu lao động là hàng hố, thì nó phải có trước, phải được vật hố trong một hình thức cụ thể nào đó. Tiền đề để cho lao động vật hoá được là phải có tư liệu sản xuất. Nhưng nếu người lao động có tư liệu sản xuất, thì họ sẽ bán hàng hố do mình sản xuất ra, chứ khơng bán "lao động".
Việc thừa nhận lao động là hàng hoá dẫn tới một trong hai mâu thuẫn về lý luận sau đây: thứ nhất, nếu lao động là hàng hoá và nó được trao đổi ngang giá, thì nhà tư bản không thu được lợi nhuận (giá trị thặng dư); điều này phủ nhận sự tồn tại thực tế của quy luật giá trị thặng dư trong chủ nghĩa tư bản. Thứ hai, cịn nếu "hàng hố lao động" được trao đổi khơng ngang giá để có giá trị thặng dư cho nhà tư bản, thì phải phủ nhận quy luật giá trị.
Nếu lao động là hàng hố, thì hàng hố đó cũng phải có giá trị. Nhưng lao động là thực thể và là thước đo nội tại của giá trị, nhưng bản thân lao động thì khơng có giá trị. Vì thế, lao động khơng phải là hàng hố, cái mà cơng nhân bán cho nhà tư bản chính là sức lao động. Do đó tiền cơng mà nhà tư bản trả cho công nhân là giá cả của sức lao động.
Vậy bản chất của tiền công trong chủ nghĩa tư bản là giá trị hay giá cả của sức lao động, nhưng lại biểu hiện ra bề ngoài thành giá trị hay giá cả của lao động.
Hình thức biểu hiện đó đã gây ra sự nhầm lẫn. Điều đó là do những tình hình sau đây: thứ nhất, đặc điểm của hàng hoá sức lao động là khơng bao giờ tách khỏi người bán, nó chỉ nhận được giá cả khi đã cung cấp giá trị sử dụng cho người mua, tức là lao động cho nhà tư bản, do đó bề ngồi chỉ thấy nhà tư bản trả giá trị cho lao động. Thứ hai, đối với cơng nhân, tồn bộ lao động trong cả ngày là phương tiện để có tiền sinh sống, do đó bản thân cơng nhân cũng tưởng rằng mình bán lao động. Còn đối với nhà tư bản bỏ tiền ra là để có lao động, nên cũng nghĩ rằng cái mà họ mua là lao động. Thứ ba, lượng của tiền công phụ thuộc vào thời gian lao động hoặc số lượng sản phẩm sản
</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4">xuất ra, điều đó làm cho người ta lầm tưởng rằng tiền công là giá cả lao động.
Tiền công đã che đậy mọi dấu vết của sự phân chia ngày lao động thành thời gian lao động tất yếu và thời gian lao động thặng dư, thành lao động được trả công và lao động không được trả công, do đó tiền cơng che đậy bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản.
Các hình thức cơ bản của tiền cơng:
Tiền cơng có hai hình thức cơ bản là tiền cơng tính theo thời gian và tiền h theo sản phẩm.
Tiền cơng tính theo thời gian là hình thức tiền cơng mà số lượng của nó ít hay nhiều tuỳ theo thời gian lao động của công nhân (giờ, ngày, tháng) dài hay ngắn.
Cần phân biệt tiền công giờ, tiền công ngày, tiền công tuần, tiền công thánTiền cơng ngày và tiền cơng tuần chưa nói rõ được mức tiền cơng đó cao hay là thấp, vì nó còn tuỳ theo ngày lao động dài hay ngắn. Do đó, muốn đánh giá chính xác mức tiền cơng khơng chỉ căn cứ vào tiền công ngày, mà phải căn cứ vào độ dài của ngày lao động và cường độ lao động. Giá cả của một giờ lao động là thước đo chính xác mức tiền cơng tính theo thời gian.
Tiền cơng tính theo sản phẩm là hình thức tiền cơng mà số lượng của nó phụ thuộc vào số lượng sản phẩm hay số lượng những bộ phận của sản phẩmmà công nhân đã sản xuất ra hoặc là số lượng cơng việc đã hồn thành. Mỗi sản phẩm được trả công theo một đơn giá nhất định. Đơn giá tiền công được xác định bằng thương số giữa tiền cơng trung bình của cơng nhân trong một ngày với số lượng sản phẩm trung bình mà một cơng nhân sản xuất ra trong một ngày, do đó về thực chất, đơn giá tiền công là tiền công trả cho thời gian cần thiết sản xuất ra một sản phẩm. Vì thế tiền cơng tính theo sản phẩm là hình thức chuyển hố của tiền cơng tính theo thời gian.
Thực hiện tiền cơng tính theo sản phẩm, một mặt, giúp cho nhà tư bản trong việc quản lý, giám sát q trình lao động của cơng nhân dễ dàng hơn; mặt khác, kích thích cơng nhân lao động tích cực, khẩn trương tạo ra nhiều sản phẩm để nhận được tiền công cao hơn.
Tiền công danh nghĩa và tiền công thực tế:
Tiền công danh nghĩa là số tiền mà người công nhân nhận được do bán sức lao động của mình cho nhà tư bản. Tiền cơng được sử dụng để tái sản xuất
</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5">sức lao động, nên tiền công danh nghĩa phải được chuyển hố thành tiền cơng thực tế. Tiền cơng thực tế là tiền công được biểu hiện bằng số lượng hàng hố tiêu dùng và dịch vụ mà cơng nhân mua được bằng tiền cơng danh nghĩa của mình.
Tiền công danh nghĩa là giá cả sức lao động, nên nó có thể tăng lên hay giảm xuống tuỳ theo sự biến động của quan hệ cung cầu về hàng hoá sức lao động trên thị trường. Trong một thời gian nào đó, nếu tiền cơng danh nghĩa khơng thay đổi, nhưng giá cả tư liệu tiêu dùng và dịch vụ tăng lên hoặc giảm xuống, thì tiền cơng thực tế sẽ giảm xuống hay tăng lên.
Tiền công là giá cả của sức lao động, nên sự vận động của nó gắn liền với sự biến đổi của giá trị sức lao động. Lượng giá trị sức lao động chịu ảnh hưởng của các nhân tố tác động ngược chiều nhau. Nhân tố tác động làm tăng giá trị sức lao động như sự nâng cao trình độ chuyên môn của người lao động, sự tăng cường độ lao động và sự tăng lên của nhu cầu cùng với sự phát triển của xã hội. Nhân tố tác động làm giảm giá trị sức lao động, đó là sự tăng năng suất lao động làm cho giá cả tư liệu tiêu dùng rẻ đi. Sự tác động qua lại của các nhân tố đó dẫn tới q trình phức tạp của sự biến đổi giá trị sức lao động, do đó dẫn tới sự biến đổi phức tạp của tiền công thực tế.
Tuy nhiên, C.Mác đã vạch ra rằng, xu hướng chung của sản xuất tư bản chủ nghĩa không phải là nâng cao mức tiền công trung bình mà là hạ thấp mức tiền cơng ấy. Bởi lẽ trong quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản, tiền cơng danh nghĩa có xu hướng tăng lên, nhưng mức tăng của nó nhiều khi khơng theo kịp mức tăng giá cả tư liệu tiêu dùng và dịch vụ; đồng thời thất nghiệp là hiện tượng thường xuyên, khiến cho cung về lao động làm thuê vượt quá cầu về lao động, điều đó cho phép nhà tư bản mua sức lao động dưới giá trị của nó, vì vậy tiền cơng thực tế của giai cấp cơng nhân có xu hướng hạ thấp. Nhưng sự hạ thấp của tiền công thực tế chỉ diễn ra như một xu hướng, vì có những nhân tố chống lại sự hạ thấp tiền cơng. Một mặt, đó là cuộc đấu tranh của giai cấp cơng nhân địi tăng tiền công. Mặt khác, trong điều kiện của chủ nghĩa tư bản ngày nay, do sự tác động của cuộc cách mạng khoa học nghệ nên nhu cầu về sức lao động có chất lượng cao ngày càng tăng đã buộc giai cấp tư sản phải cải tiến tổ chức lao động cũng như kích thích người động bằng lợi ích vật chất. Đó cũng là một nhân tố cản trở xu hướng hạ thấp tiền công.
</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6"><b>Thực trạng:</b>
Trong nhiều năm qua, nhà nước luôn cố gắng cải cách các chính sách tiền lương nhằm đáp ứng được nhu cầu của xã hội và phù hợp với nền kinh tế đang phát triển nhanh. Tuy nhiên, ngồi những thành cơng đã đạt được vẫn còn những hạn chế và bất cập.
Theo số liệu từ Bộ Nội vụ, từ năm 2003 đến nay, mức lương tối thiểu chung cho người lao động trong khu vực hành chính sự nghiệp đã điều chỉnh 7 lần từ 210.000 đồng/tháng lên 830.000 đồng/tháng, với mức tăng gần 4 lần. Từ ngày 1/5/2012, mức lương tối thiểu đã được quyết định tăng lên mức 1.050.000 nghìn đồng/tháng. Việc điều chỉnh này được thực hiện trên cơ sở các mức đã dự kiến trong Đề án tiền lương giai đoạn
2012, có điều chỉnh theo mức tăng trưởng kinh tế, chỉ số giá tiêu dùng và khả năng của NSNN. Tuy nhiên căn cứ thực tế mức sống hiện nay, mức lương tối thiểu này hoàn tồn là khơng đủ để người lao động có thể sống được trong một tháng, nhất là ở những thành phố lớn như Hà Nội hay Tp. Hồ Chí Minh. Khi lạm phát ngày càng đẩy giá cả tiêu dùng leo thang chóng mặt.
Vụ tiền lương của Bộ Nội Vụ cho biết sẽ cố gắng để điều chỉnh mức lương tối thiểu của công chức lên 3 triệu đồng một tháng vào năm 2018. Quan hệ lương tối thiểu – –tối đa chưa hợp lý, mức lương chưa trả đúng với năng lực làm việc, chức danh. Cũng theo thông báo của Bộ Nội vụ, giai đoạn 2016 2020 sẽ thực hiện mở rộng quan hệ mức lương tối thiểu
tối đa từ mức 1 10 hiện nay lên mức 1
Theo kết quả điều tra của Cơng đồn Viên chức Việt Nam, tiền lương cứng của cán bộ viên chức khá thấp, phần lớn là hưởng lương ở mức cán sự và chuyên viên, chiếm khoảng 73% (cán sự chiếm 32% và chuyên viêcòn ở mức chuyên viên chính là 24% và chuyên viên cao cấp là 3%.Với chi phí sinh hoạt ngày càng đắt đỏ do giá cả leo thang, lạm phát, những cải cách tăng lương của Nhà nước vẫn chỉ như muối bỏ bể, nếu chỉ căn cứ vào mức lương hiện nay thì khơng đủ chi phí cho từng cá nhân chứ chưa nói đến chuyện lo lắng cho gia đình, con cái. Thực tế cán bộ cơng chức nhà nước đa phần đều có thu nhập ngoài lương, và mức thu nhập này cũng khơng kiểm sốt được.
Ở khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh, nhiều công ty đã trả mức lương trung bình từ hơn 2 triệu đồng một tháng thì mức này ở phương án tối thiểu của Bộ Lao động và thương binh xã hội chỉ là 1.5 triệu đồng, điều này cũng gây ra nhiều thiệt thịi cho các lao động tại các cơng ty nước ngồi, khi mà phía nước ngồi sẽ khơng chấp nhận trả quá cao so với mức lương tối thiểu
</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">mà nhà nước quy định. Các doanh nghiệp đều cho rằng mức lương này là quá thấp, gây khó khăn cho doanh nghiệp khi muốn tuyển dụng lao động. Mức lương tối thiểu cũng khiến cho nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn khi khách hàng tính giá thành cũng dựa vào nó. Hiện tại lương tối thiểu chung và lương tối thiểu vùng đang áp dụng chung cho cả doanh nghiệp lẫn cả khối hành chính sự nghiệp, cho nên nếu muốn tăng thì sẽ ảnh hưởng tới ngân sách nhà nước, điều này khiến mức lương tối thiểu của doanh nghiệp cũng tăng rất chậm, không phù hợp thực tế.
Những vấn đề trên cho thấy được một phần những điểm bất cập của hệ thống tiền lương tại Việt Nam hiện nay. Những năm tới, hy vọng với mong muốn chủ trương cải cách và đổi mới vấn đề tiền lương của Đảng và Nhà nước, những bất cập và hạn chế trên sẽ được giảm bớt, người lao động sẽ có được mức lương cao hơn ổn định hơn để có thể đảm bảo được cuộc sống của
<b>Giải pháp giải quyết vấn đề tiền lương tại Việt N</b>
ạ ự đồ ậ ở ấp, các ngành, các cơ quan, tổức, đơn vị ệp, người hưởng lương và toàn xã hộ ệ
ền cho cơ quan chức năng ban hành văn bả ế độ ền lương củ
</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">ban hành, để ừnăm 2021 thự ệ ể ếp lương cũ sang lương mớắ ảo đả ấp hơn tiền lương hiện hưởế ệ ự ệ ải pháp tài chính, ngân sách, coi đây là
ế ị trường định hướ ộ ủ nghĩa; về ể ế tư nhân;
sách Trung ương.
ể ệ ụ cơ cấ ại thu ngân sách nhà nước theo hướ ả
ệ ế ệ ự toán chi thường xuyên tăng thêm hằng năm cho đế
do Trung ương ban hành (đố ới ngân sách địa phương), ựán đầu tư theo quy định (đố ới các địa phương có tỉ ệ điề ế ị ế ủ
sau năm 2020, khơng sử ụ ục đích khác khi không đượ ấ
ố ừ ngân sách nhà nước như: Tiề ồi dưỡ ọ ề ồi dưỡ
</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">cơ chế ắ ớ ế ả ự ệ ệ ụ ắ ứ
ế độ ới khi đã bố trí, cân đối đượ ồ ự ựệ
ừng bước tính đúng, tính đủ các chi phí đố ớ ạ ị ụ cơ
sách tăng thêm hằng năm và sắ ế ừ ồ ự án ngân sách nhà nướ
ồn ngân sách tăng th ằng năm và sắ ế ừ ồ ự
XII và các đề án đổ ớ ải cách trong các ngành, lĩnh vự
ậ ắ ệ ủa người đứng đầu các cơ quan, tổ ức, đơn vị
lương, phụ ấ ừngân sách nhà nước, cơ cấ ại đội ngũ cán bộ ứ
</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">Tiền lương không chỉ đơn giản là phản ánh quan hệ kinh tế giữa người sử dụng lao động và NLĐ mà do tính chất đặc biệt của loại hàng hóa đặc biệt là sức lao động nên tiền lương còn chứa đựng một trọng trách của vấn đề xã hội rất quan trọng liên quan đến đời sống và trật tự xã hội và an sinh xã hội.
Tiền lương là một trong những chính sách kinh tế xã hội quan trọng góp phần tạo động lực tăng trưởng kinh tế và giải quyết công bằng, tiến bộ xã hội, nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý nhà nước khai thác tiềm năng sáng tạo của NLĐ các chính sách tiền lương phải nằm trong khn khổ pháp lý và theo những chính sách của Chính phủ nhưng mặt khác tiền lương chịu sự tác động và chi phối rất lớn của thị trường và thị trường lao động.
Do vậy, tiền lương của người NLĐ không chỉ là việc thu nhập của riêng người lao động mà chính là vấn đề uy tín của bộ máy Nhà nước trong việc hoạch định chính sách là phục vụ yêu cầu xây dựng nền công vụ chuyên nghiệp hiện đại tương thích với cơng vụ các nước trong khu vực và trên thế giới chính những điều này góp phần làm gia tăng các giá trị xã hội.
eo C. Mác: "Tiền lương là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá sức lao động, là giá cả của hàng hố sức lao động" và đưa ra cơng thức tính giá trị hàng hố sức lao động như sau: C. Mác cho rằng, giá trị của hàng hóa sức lao động do số lượng lao động cần thiết để sản xuất và tái sản xuất ra nó quyết định.
Nó được tính gián tiếp thơng qua lương lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra toàn bộ các tư liệu sinh hoạt cần thiết để sản xuất và tái sản xuất lao động còn bao hàm cả yếu tố tinh thần và yếu tố lịch sử.
Đổi mới chính sách tiền lương góp phần quan trọng trong việc ổn định đời sống của người lao động, mỗi một chính sách tiền lương ban hành sẽ làm thay đổi cuộc sống của người lao động và góp phần ổn định an sinh xã hội. Đối với Nhà nước, Chính phủ, việc đổi mới chính sách tiền lương thể hiện rõ vai trị quản lý điều tiết vĩ mơ và hơn cả là chăm lo đời sống của người dân. Đối với các Bộ, Ngành, tổ chức sử dụng lao động và đối với các nhà nghiên cứu chính sách tiền lương, việc nghiên cứu đổi mới và áp dụng chính sách tiền lương luôn là vấn đề quan trọng và cốt lõi trong việc sử dụng hiệu quả nguồn lực.
Vì vậy, việc đổi mới chính sách tiền lương cần thực hiện đồng bộ và liên thơng để chính sách tiền lương thực sự đi vào cuộc sống đối với mỗi người lao động, mỗi tổ chức, doanh nghiệp và với cả nền kinh tế.
Trên đây là những tìm hiểu của em về vấn đề đã nêu trên trong bài tiểu luận của mình. Em xin chân thành cảm ơn !
</div>