Tải bản đầy đủ (.pdf) (15 trang)

tiểu luận giáo dục đại học có phải là hàng hóa công cộng không nên cungcấp hàng hóa này theo hình thức nào bởi khu vực nào

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.49 MB, 15 trang )

<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">

<b> TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG</b>

<b> : Đặng Văn Mạnh (nhóm trưởng) : Phạm Thị Kiều Tiên</b>

<b> : Nguyễn Thị KIều Tiên : Hoàng Thị Thuý Ngân : Trần Võ Thuý Hiền : Nguyễn Thị Cẩm Luyến</b>

<i> Đà Nẵng, 2023</i>

1

</div><span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2">

<i><b> MỤC LỤC</b></i>

<b><small>LỜI MỞ ĐẦU... 3</small></b>

<b><small>PHẦN I : GIỚI THIỆU VỀ HÀNG HỐ CƠNG CỘNG VÀ HÀNG HỐ CÁ NHÂN...4</small></b>

<b><small>2.PHÂNLOẠI HÀNG HỐ CƠNG CỘNG</small></b><small>... 4</small>

<b><small>3. CUNG CẤP HÀNG HỐ CƠNG CỘNG</small></b><small>... 5</small>

<b><small>PHẦN 2: GIÁO DỤC ĐẠI HỌC LÀ HÀNG HỐ CƠNG CỘNG...10</small></b>

<b><small>1.KHÁINIỆM</small></b><small>... 10</small>

<b><small>2.KHÁIQT GIÁO DỤC ĐẠI HỌC TRONG NỀN KINH TẾ</small></b><small>... 11</small>

<b><small>3.THỰCTRẠNG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VIỆT NAM HIỆN NAY</small></b><small>...11</small>

<b><small>PHẦN 3: KHU VỰC CUNG CẤP HÀNG HỐ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC CƠNG CỘNG...12</small></b>

<b><small>1. KHU VỰC CUNG CẤP HÀNG HĨA GIÁO DỤC ĐẠI HỌC CƠNG CỘNG</small></b><small>...12</small>

<i><b><small>1.1 Khu vực công...13</small></b></i>

<i><b><small>1.2 Khu vực tư nhân...13</small></b></i>

2

</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3">

<b>LỜI MỞ ĐẦU</b>

Mặc dù trong nền kinh tế thị trường sản phẩm giáo dục cũng được gọi là nột loại hàng hố,nhưng tính chất đặc biệt của nó đã làm cho vấn đề cung cấp và sử dụng hiệu quả trở nên phức tạphơn nhiều so với các loại hàng hố thơng thường. Điểm khác biệt của giáo dục ở chỗ nó là mộtloại hàng hố cơng cộng, mọi người đều có thể dùng chung một chương trình giáo dục, nhưng cóthuộc tính xã hội, nhưng lại khơng bị tác động bởi năng suất lao động. Quan trọng hơn,giáo dụclà cơng cụ hữu ích để thực hiện lại phân phối nguồn thu nhập, và đây là chức tri thức chung củanhân loại, do vậy nhu cầu được hưởng thụ ngày càng tăng. Giáo dục cũng có tính chất củaphương tiện sản xuất, có nhiều bất đối xứng thơng tin, ngoại tác tích cực và cơng năng bao trùm,đảm bảo sự tồn tại và phát triển, hiện thực hố quyền bình đẳng về cơ hội vào đời và tạo dựngcuộc sống của mỗi cá nhân trong xã hội. Điều đó có thể nói rằng giáo dục đại học có trách triệmcung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu ở thị trường lao động, nhu cầu cuộcsống và cả cơng cuộc đổi mới, hội nhập với tồn cầu

Mong muốn hiểu rõ ràng hơn về vấn đề Giáo Dục chính là lý do nhóm em chọn để tài: “Giáo dụcđại học có phải là hàng hóa cơng cộng khơng? Nên cung cấp hàng hóa này theo hình thức nào,bởi khu vực nào? “ Nhóm em rất mong nhận được sự góp ý của Giảng viên và các bạn để đề tạiđược hoàn thiện tốt nhất !

3

</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4">

<b>PHẦN I : GIỚI THIỆU VỀ HÀNG HỐ CƠNG CỘNG VÀ HÀNG HỐ CÁ NHÂN</b>

<b>1.Khái niệm</b>

Hàng hóa cơng cộng là loại hàng hóa mà tất cả mọi thành viên trong xã hội có thể sử dụng chungvới nhau. Việc sử dụng của người này không ảnh hưởng đáng kể đến việc sử dụng của ngườikhác.

Tính chất của hàng hố cơng cộng- Tính loại trừ: Khơng

Hai là, việc sử dụng hàng hóa cơng của người này khơng ảnh hưởng đáng kể đến việc sử dụngcủa người khác… Bởi vì chi phí tăng thêm để tiêu dùng hàng hóa tăng thêm là rất nhỏ, gần nhưbằng không. Chúng ta hãy xem xét việc các tàu biển sử dụng hải đăng. Khi ngọn hải đăng đượcxây dựng và đang hoạt động thì việc có bao nhiêu tàu biển sử dụng hải đăng hầu như khơng làmảnh hưởng gì đến chi phí hoạt động của hải đăng. Lợi ích sử dụng của tàu biển nào đó từ ngọnhải đăng khơng vì thế mà giảm đi lợi ích tàu khác khi sử dụng hải đăng ấy.

Tuy nhiên, khơng phải bất kì một hàng hóa được gọi là hàng hóa cơng nào cũng đảm bảo mộtcách nghiêm ngặt các tính chất trên, mà tùy theo mức độ bảo đảm, mà người ta có thể chia thànhhai loại hàng hóa cơng. Đó là hàng hóa cơng thuần túy và hàng hóa cơng khơng thuần túy.

<b>2.Phân loại hàng hố cơng cộng</b>

Hàng hóa cơng cộng được chia làm 2 loại: hàng hóa cơng cộng thuần túy và hàng hóacơng cộng không thuần túy.

<b>Too long to read onyour phone? Save to</b>

read later on yourcomputer

Save to a Studylist

</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5">

a. Hàng hóa cơng cộng thuần túy (Pure Public Goods)

Hàng hóa cơng cộng thuần túy là loại hàng hóa công cộng không thể định suất sử dụng vàviệc định suất sử dụng là khơng cần thiết. Có nghĩa là mọi người đều có thể sử dụng hànghóa...mức độ sử dụng phụ thuộc vào nhu cầu của họ và các quy định chung. Trong nhiềutrường hợp mức độ này không thể định suất hoặc định suất sẽ khơng có hiệu quả. Nhưvậy hàng hóa cơng cộng thuần túy là loại hàng hóa cơng cộng phải đảm bảo được đặcđiểm đầu tiên là hàng hóa thuộc quyền sở hữu cơng cộng, không thể loại trừ các cá nhânsử dụng chúng, bởi vì: Khơng thể đo lường mức độ sử dụng của từng người, do đó khơngthể buộc người tiêu dùng phải trả tiền trực tiếp khi sử dụng hàng hóa. Chi phí cho việcsản xuất hàng hóa cơng cộng chỉ có thể bù đắp thông qua hệ thống thuế.

b. Hàng hóa cơng khơng thuần túy (Impure Public Goods)

Là hàng hóa cơng có thể định suất sử dụng, có thể loại trừ các cá nhân sử dụng nhưngphải chấp nhận một khoản tốn kém chi phí nhất định. Như vậy hàng hóa cơng cộngkhơng thuần túy là loại hàng hóa công cộng không đảm bảo được điều kiện đầu tiênnhưng bảo đảm được điều kiện thứ hai. Có nghĩa là hàng hóa cơng cộng khơng thuần túyhồn tồn có thể thuộc quyền sở hữu của một cá nhân nào đó và do đó nó có thể đượcđịnh suất và loại trừ các cá nhân khác trong việc sử dụng. Tuy nhiên, việc tiêu dùng hànghóa của người này cũng không làm ảnh hưởng đáng kể đến việc tiêu dùng của ngườikhác.

<b>3. Cung cấp hàng hố cơng cộng</b>

<b>Cung cấp hàng hóa cơng cộng một cách hiệu quả</b>

<b>Điều kiện Samuelson: </b>

muốn xác định mức cung cấp hàng hóa cơng cộng một cách hiệu quả, cần xác định đườngcung và đường cầu của nó. Mỗi cá nhân có một ngân sách nhất định và có nhu cầu khácnhau về hàng hóa cơng cộng (G) và hàng hóa cá nhân (X), nếu giá của hàng hóa cơngcộng là t (mức thuế cá nhân phí trả) và của hàng hóa cá nhân là p thì đường ngân sáchcủa cá nhân sẽ có dạng: I = pX + tG. Ở mỗi mức thuế khác nhau, cá nhân sẽ có cầu vềhàng hóa cơng cộng khác nhau và để tối đa hóa lợi ích, mỗi cá nhân sẽ có tỉ suất thay thế5

</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">

biên giữa hàng hóa cơng cộng và vàng hóa cá nhân bằng tỉ số giá giữa chúng (t/p).Đường cầu của mỗi cá nhân về hàng hóa cơng cộng cũng chính là tỉ suất thay thế biênnếu đường cầu tổng hợp của tất cả các nhân là tổng tỉ suất thay thế biên. Mặt khác đườngcung về hàng hóa cơng cộng phản ánh chi phí biên mà xã hội phải bỏ ra để sản xuất nó vàđể tối ưu hóa lợi ích, đường cung này chính là tỉ suất chuyển đổi biên giữa hàng hóa cơngcộng và hàng hóa cá nhân. Nhà kinh tế học Pau Samuelson đã chứng minh rằng, để hànghóa cơng cộng được cung cấp một cách hiểu quả thì tổng tỉ suất thay thế biên của các cánhân phải bằng tỉ suất chuyển đổi biên hay tổng giá trị mà các cá nhân đánh giá đối vớiđơn vị hàng hóa cơng cộng cuối cùng bằng chi phí tăng thêm cho xã hội để sản xuất nó.Đó chính là điều kiện Semuelson về cung cấp hiệu quả hàng hóa cơng cộng. Tuy vậy, kểcả khi đã xác định được mức cung cấp hiệu quả thì việc thực thi chúng lại cịn phụ thuộcvào q trình lựa chọn công cộng nên không phải lúc nào cũng đạt được mức hiệu quả.

<b>Cân bằng Lindahl: theo các điều kiện của hiệu quả Pareto, hàng hóa cơng cộng sẽ được</b>

cung cấp một cách hiệu quả nếu tổng giá trị mà các cá nhân đánh giá đối với đơn vị hànghóa cơng cộng cuối cùng bằng chi phí tăng thêm đối với xã hội để cung cấp nó. Tuynhiên vấn đề đặt ra là hàng hóa cơng cộng thuần túy khơng có thị trường để trao đổi nhưhàng hóa cá nhân, nơi mà cân bằng thị trường do cung cấp quyết định, do vậy việc xácđịnh điểm cân bằng hiệu quả gặp khó khăn. Để giải quyết vấn đề xác định mức cung cấphàng hóa cơng cộng thuần túy một cách hiệu quả, nhà kinh tế học người Thụy Điển ErikLindahl đã xây dựng một mơ hình mơ phỏng mơ hình thị trường cho hàng hóa cơng cộnggọi là cân bằng Lindahl. Mơ hình này xác định nhu cầu của mỗi cá nhân về một hàng hóacơng cộng thuần túy tương ứng với mức thuế (chính là giá của hàng hóa cơng cộng) ấnđịnh cho cá nhân đó, mức cung cấp hàng hóa cơng cộng thuần túy có hiệu quả là mức màcầu của các cá nhân đều như nhau. Lưu ý rằng mức cầu của mỗi cá nhân tương ứng vớinhững mức thuế khác nhau nên cân bằng Lindahl khác với cân bằng thị trường hàng hóacá nhân khi mà ở đó cân bằng thị trường ở mức giá như nhau đối với mọi cá nhân.Thế nhưng mô hình cân bằng lindahl trong thực tế lại vấp phải vấn đề “kẻ ăn không”. Đểxác định đúng mức cung cấp hàng hóa cơng cộng hiệu quả, các cá nhân phải thực hiện6

</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">

nguyên tắc nhất trí và tự nguyện đóng góp đồng thời phải bộc lộ một cách trung thực nhucầu của mình về hàng hóa công cộng. Nếu một cá nhân biết được số tiền mà cá nhân khácsẵn sàng đóng góp để có hàng hóa cơng cộng thì người đó có thể bộc lộ nhu cầu củaminhg về hàng hóa cơng cộng cũng như số tiền sẵn sàng đóng góp ít hơn thực tế. Trongtrường hợp cực đoan, nếu một người biết rằng việc mình có trả tiền hay khơng cũngkhơng ảnh hưởng gì đến việc cung cấp hàng hóa cơng cộng thì anh ta sẽ không trả tiền-hiện tượng “ kẻ ăn không”. Nếu có rất ít “ kẻ ăn khơng” khơng trả tiền thì hàng hóa cơngcộng vẫn có thể được cung cấp một cách hiệu quả. Trong những cộng đồng nhỏ, khi màmọi cá nhân biết rõ nhau nên việc che giấu nhu cầu về hàng hóa cơng cộng khó thực hiệnthì dư luận, áp lực cộng đồng có thể buộc mọi người đóng góp đầy đủ để có hàng hóacơng cộng. Ví dụ: một xóm có thể u cầu các hộ gia điình đóng góp để bê tơng hóa conđường chung một cách khá dễ dàng. Tuy nhiên, trong cộng đồng lớn thì vấn đề trở nên rấtphức tạp, khơng thể hoặc phải tốn chi phí rất lớn mới có thể loại trừ những “kẻ ănkhông”. Đặc biệt nếu hàng hóa cơng cộng do tư nhân cung cấp thì họ khơng có cơng cụ,chế tài để buộc những người sử dụng trả tiền. Đây chính là nguyên nhân quan trọng khiếnkhu vực tư nhân khơng muốn cung cấp hàng hóa cơng cộng. Vì thế, chính phủ phải đóngvai trị cung cấp hàng hóa cơng cộng và thu các khoản đóng góp thơng qua thuế.Cùng với sự phát triển của cơng nghệ, tính chất khơng thể loại trừ ngày càng bị hạn chế.Hiện tượng đi xe khơng trả tiền, vì thế có thể ngăn chặn dễ dàng hơn. Ví dụ, nhờ sự pháttriển của cơng nghệ truyền hình, ngày nay đài truyền hình có thể cung cấp dịch vụ quađường cáp thuê bao, qua đầu thu có cài mã khóa, nên có thể ngăn chặn tốt những ngườikhơng chịu mất tiền mà vẫn xem được truyền hình. Điều này giải thích tại sao, gần đây tưnhân ngày càng tham gia nhiều hơn vào việc cung cấp hàng hóa cơng cộng.

<i><b> </b></i>

7

</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">

<i><b>Tính khơng hiệu quả khi khu vực tư nhân cung cấp hàng hóa cơng cộng</b></i>

Cây cầu- một ví dụ về hàng hóa cơng cộng có thể loại trừ bằng giá nhưng điều đó làkhơng được mong muốn

Đối với những hàng hóa cơng cộng có thể loại trừ bằng giá thì để ngăn chặn tình trạngtắc nghẽn, cần áp dụng việc thu phí để những người tiêu dùng có thể được hưởng đầy đủlợi ích do hàng hóa cơng cộng mang lại. Tuy nhiên nếu mức phí quá cao (chẳng hạn dochi phí giao dịch để thực hiện cơ chế loại trừ lớn) thì số lượng người sử dụng có thể thấphơn điểm gây tắc nghẽn quá nhiều dẫn đến tổn thất phúc lợi xã hội. Trong trường hợpkhu vực tư nhân đứng ra cung cấp hàng hóa cơng cộng thì mức phí họ thu của người tiêudùng sẽ khiến cho tổn thất phúc lợi xã hội xảy ra. Hình bên là đồ thị minh họa trường hợpmột cây cầu có cơng suất thiết kế là Qc, trong khi nhu cầu đi lại tối đa qua đó chỉ là Qm.Nếu việc qua cầu miễn phí thì sẽ có Qm lượt người đi qua nhưng nếu thu phí ở mức P thìchỉ cịn Qe lượt và xã hội bị tổn thất một lượng bằng diện tích tam giác bơi đậm. Do vậy,8

</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">

đối với hàng hóa cơng cộng mà chi phí biên để cung cấp bằng 0 hoặc khơng đáng kể thìhàng hóa đó nên được cung cấp miễn phí, kể cả khi nó có thể loại trừ bằng giá.

Một nguyên nhân nữa khiến cho tư nhân cung cấp hàng hóa cơng cộng khơng hiệu quả lànó thường có xu hướng được cung cấp với số lượng ít. Một người có vườn bên đườngđược trồng hoa thì cả khu vực gần đó sẽ tăng vẻ mỹ quan cũng như nhiều người cùngthưởng thức vẻ đẹp của hoa. Thế nhưng người trơng hoa sẽ cân đối thời gian, chi phí bỏra với nhu cầu thưởng thức vẻ đẹp của hoa cuả cá nhân mình chứ khơng tính đến nhu cầucủa những người hàng xóm, chính vì vậy người đó có nhiều khả năng sẽ trồng ít hoa đi.

<i><b>Hàng hố cơng cộng có thể bị loại trừ nhưng với chi phí tổn thất rất lớn</b></i>

Hàng hóa cơng cộng có chi phí giao dịch lớn

Có những hàng hóa cơng cộng mà chi phí để duy trì hệ thống quản lý nhằm loại trừ bằnggiá ( gọi là chi phí giao dịch) rất tốn kém, ví dụ chi phí để duy trì hệ thống các trạm thuphí trên đường cao tốc,... thì có thể sẽ hiệu quả hơn nếu cung cấp nó miễn phí và tài trợ9

</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">

bằng thuế. Tuy vậy, để cân nhắc việc này cần so sánh tổn thất phúc lợi xã hội trong haitrường hợp. Đồ thị bên phải mô tả việc lựa chọn này. Giả sử hàng hóa cơng cộng có chiphí biên để sản xuất là C và do phát sinh thêm chi phí giao dịch nên giá trị của nó bị đẩylên tới P. Mức cung cấp hàng hóa cơng cộng hiệu quả nhất là khi chi phí biên bằng lợi íchbiên nghĩa là Q.Tuy nhiên do giá trị bị đẩy lên tới p bởi chi phí giao dịch nên chỉ cịn Qe người sử dụng hàng hóa, xã hội bị tổn thất một lượng phúc lợi bằng diện tích tam giácABE. Thế nhưng nếu hàng hóa được cung cấp miễn phí thì sẽ có Qm người sử dụng chứkhông phải Q . Trong trường hợp này lợi ích biên (chính là đường cầu) nhỏ hơn chi phí<small>0</small>biên C nên xã hội cũng bị tổn thất một lượng phúc lợi bằng diện tích tam giác EFQm dotiêu dùng quá mức. Trong trường hợp này chính phủ muốn quyết định xem nên cung cấphàng hóa cơng cộng miễn phí hay thu phí cần phải so sánh tổn thất phúc lợi xã hội. Nếutổn thất do tiêu dùng quá mức nhỏ hơn tổn thất trong trường hợp tiêu dùng dưới mức hiệuquả thì cung cấp miễn phí và ngược lại. Tuy nhiên việc cung cấp hàng hóa cơng cộngmiễn phí hay thu phí hồn tồn khơng liên quan đến khu vực công cộng hay khu vực tưnhân sẽ sản xuất nó. Nếu chính phủ thấy rằng một hàng hóa cơng cộng nào đó cần đượccung cấp miễn phí thì chính phủ hồn tồn có thể đạt hàng khu vực tư nhân sản xuất rồicung cấp nó.

Có một xu hướng mới trong lĩnh vực công nghệ: kiếm tiền từ hàng hóa cơng cho đến tậnbây giờ hàng hóa công vẫn được xem như là một lĩnh vực từ thiện. Nhưng hiện nay, cácdoanh nhân, các nhà đầu tư, và lãnh đạo các tập đồn đã nhìn thấy cơ hội tiềm năng ởlĩnh vực này.

<b>PHẦN 2: GIÁO DỤC ĐẠI HỌC LÀ HÀNG HỐ CƠNG CỘNG</b>

<b>1. Khái niệm</b>

- Giáo dục đại học là môi tường sư phạm giáo dục ở cấp cao hơn với mức độ kiến thứcchuyên sâu theo ngành, nghề mà học sinh lựa chọn chứ không đào tạo một cách rộng theonhiều chuyên môn và đào tạo tại bậc đại học chỉ dành cho những người đang có những nhucầu và có đủ về những khả năng về kiến thức và xã hội tham gia học tập.

10

</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11">

<b>2. Khái quát giáo dục đại học trong nền kinh tế</b>

Như các sản phẩm kinh tế khác, q trình sản xuất giáo dục địi hỏi sự tiêu dùng các nguồn lựckhan hiếm. Tuy nhiên, giáo dục là một:

- Hàng hóa mà tất cả người dân đều có quyền hưởng thụ đến một mức tối thiểu nào đó (hay nóingược lại, giáo dục là một hàng hóa mà chính quyền cưỡng bách cơng dân phải tiêu thụ đến mộtchừng mực nào đó).

- Sản phẩm tích lũy theo nghĩa q trình sản xuất giáo dục thơng thường địi hỏi nhiều thời gian.- Dịch vụ với một vài đặc tính của hàng hóa cơng cộng.

- Hàng hóa với nhiều lợi ích ngoại tác theo nghĩa lợi ích xã hội của giáo dụclớn hơn lợi ích củagiáo dục cho cá nhân.

- Dịch vụ bền theo nghĩa vốn nhân lực (đầu ra của giáo dục) là một nhân tốsản xuất lâu dài.- Hàng hóa mà học sinh (người mua trực tiếp khơng tự quyết định cho mình).

- Hàng hóa chuyển tiếp mà người mua cuối cùng là người tiêu thụ. Dựa trên phân tích cung cầu,chúng ta có thể suy ra rằng nếu thị trường giáodục cạnh tranh hoàn hảo và khơng có sự can thiệpcủa Nhà nước thì tại điểm cânbằng của thị trường giáo dục.

- Giá thị trường (phản ánh lợi ích biên tế cho người học hay là chi phí biến tế cho người sảnxuất) thấp hơn là giá tối ưu của xã hội (phản ánh lợi ích biên tế cho xã hội)

- Số cung bằng số cầu cá nhân nhưng nhỏ hơn số cầu xã hội.

<b>3. Thực trạng giáo dục đại học Việt Nam hiện nay</b>

- Giáo dục ở Việt Nam hiện nay đang khơng ngừng thay đổi và có những chuyển biến hiệu quả.Đặc biệt trong thời kỳ hội nhập quốc tế, Việt Nam đang khơng ngừng phát triển để có thể sánhvai với các cường quốc năm châu thì giáo dục đại học lại càng được quan tâm. Chính vì thế nềngiáo dục đã đạt được nhiều điểm sáng tuy nhiên vẫn còn tồn tại những điểm chưa tốt.

11

</div>

×