Tải bản đầy đủ (.pdf) (108 trang)

LUẬN VĂN:Tín ngưỡng của người Hmông tỉnh Lào Cai hiện nay pdf

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (847.15 KB, 108 trang )








LUẬN VĂN:

Tín ngưỡng của người Hmông
tỉnh Lào Cai hiện nay







mở đầu

1. Tính cấp thiết của đề tài
Tín ngưỡng, tôn giáo là vấn đề được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm.
Những năm gần, đây nước ta đang trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Cùng với
quá trình hội nhập kinh tế, nhiều vấn đề xã hội phức tạp cũng nảy sinh, đặc biệt trong đó
phải nói đến vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo. Ngoài các tôn giáo có lịch sử lâu đời, nhiều
loại hình tôn giáo mới nảy sinh đã gây ảnh hưởng rất lớn đến đời sống xã hội của nước
ta. Trong bối cảnh xã hội mới, Đảng ta đã và đang thực hiện việc đổi mới chính sách đối
với tín ngưỡng, tôn giáo nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hoá tinh thần của một bộ
phận nhân dân, đồng thời giữ vững ổn định xã hội, tạo điều kiện cần thiết cho sự phát
triển đất nước.
Lào cai là một tỉnh vùng cao biên giới và là một trong những địa bàn cư trú lớn


nhất của đồng bào người Hmông ở Việt Nam. Người Hmông được các nhà khoa học coi
như một cộng đồng “đặc biệt”, có nhiều nét đặc thù trong lịch sử và lối sống được thể
hiện trong văn hóa mưu sinh và ứng xử, ý thức cộng đồng, tâm lý tộc người… Đặc biệt,
tín ngưỡng của người Hmông chiếm một vị trí rất quan trọng trong sinh hoạt văn hoá
tinh thần của cộng đồng này. Tín ngưỡng, tôn giáo của người Hmông không chỉ đơn
thuần là những sinh hoạt văn hoá tâm linh, mà còn là một thành tố cốt lõi tạo nên sự cố
kết bền vững của dân tộc, nó giúp cho người Hmông luôn gắn bó với văn hóa cội nguồn
và tạo nên bản sắc văn hóa đặc thù của người Hmông.
Tuy nhiên, những năm gần đây, một bộ phận người Hmông ở Lào Cai rộ lên hiện
tượng từ bỏ tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên và những phong tục văn hóa, lối sống cổ truyền
của dân tộc mình để theo Vàng Trứ và các đạo lạ khác. Cùng với việc từ bỏ giá trị văn
hoá truyền thống của dân tộc là làn sóng di dân tự do, rời bỏ quê hương làng quán, gây
xáo trộn trong nhận thức cũng như trong đời sống của nhân dân nói chung, của người
Hmông Lào Cai nói riêng.
Trong giai đoạn hiện nay, các thế lực thù địch vẫn không từ bỏ âm mưu lợi dụng
tôn giáo, tín ngưỡng, gắn vấn đề tôn giáo, tín ngưỡng với vấn đề dân tộc để chống phá

đất nước ta. Người Hmông ở Tây Bắc nói chung, ở Lào Cai nói riêng với sinh hoạt tín
ngưỡng của họ cũng là đối tượng mà các thế lực thù địch đang nhắm đến trong chiến
lược diễn biến hoà bình đối với Việt Nam. Đứng trước thực trạng đó, Đảng, Nhà nước
và chính quyền các địa phương có người Hmông sinh sống cần có những chính sách gì
để vừa đảm bảo nhu cầu sinh hoạt tín ngưỡng của đồng bào, vừa đảm bảo ổn định khu
vực và anh ninh quốc gia.
Để giải quyết được vấn đề nêu trên, trước hết đòi hỏi chúng ta phải đi sâu nghiên
cứu, tìm ra những đặc thù trong sinh hoạt tín ngưỡng của người Hmông, cũng như nhu
cầu sinh hoạt văn hoá tâm linh của họ trong thời kỳ mới, từ đó mới có thể có được
những quyết sách cho phù hợp.
Xuất phát từ yêu cầu thực tế nêu trên, tôi chọn đề tài “Tín ngưỡng của người
Hmông tỉnh Lào Cai hiện nay” hiện nay làm luận văn thạc sỹ chuyên ngành tôn giáo
học.

2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Những năm gần đây, đã có nhiều công trình khoa học liên quan đến đề tài của tác
giả như: Vương Quỳnh Anh (1962), "Vấn đề tên gọi dân tộc Mèo", Tạp chí Dân tộc của
Ban Dân tộc Trung ương Đảng, (36); Ban Dân tộc Miền núi Lào Cai (2000), Báo cáo
tổng kết công tác tôn giáo, dân tộc từ năm 2000 đến 2007; Ban Dân vận Tỉnh uỷ Lào
Cai (2008), Báo cáo tổng kết về công tác dân vận từ năm 2000 đến 2007; Phạm Đức
Dương (1995), Về vị trí mối quan hệ giữa nhóm Hmông - Dao và các nhóm ngôn ngữ
Đông Nam á, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội; Bế Viết Đắng (1978), Dân tộc Mèo - Các
dân tộc ít người ở Việt Nam. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội;Lê Sỹ Giáo (1995), "Quản
lý xã hội cấp cơ sở ở các vùng nông thôn thiểu số miền núi Việt Nam", Thông tin lý
luận; Đỗ Quang Hưng (2002), Những biểu hiện mới của vấn đề tôn giáo trong vùng dân tộc
thiểu số của nước ta hiện nay (vài phân tích có tính phương pháp luận), Phòng tư liệu - Thư
viện Viện Nghiên cứu Tôn giáo; Đỗ Quang Hưng, Vương Duy Quang (2002), Những vấn
đề cấp bách về tôn giáo ở vùng dân tộc thiểu số của nước ta hiện nay (Khảo sát tại Tây
Nguyên và vùng núi phía Bắc): Kiến nghi (luận điểm và giải pháp), Phòng tư liệu - Thư
viện Viện Nghiên cứu Tôn giáo; TS. Vũ Ngọc Kỳ (2004), Văn hóa Mông ở Hà Giang

trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hó; Lemone J. (1984), Tang ca Hmông -
Pari(bản dịch lưu trữ Bảo tàng Lào Cai); Văn Lê (1993), "Từ đài FEBC đến vấn đề “Vàng
Chứ”, đạo Kitô trong dân tộc Hmông ở nước ta", Tạp chí Công an nhân dân, (11); Hà
Lý (2003), Hỏi đáp về Tôn giáo và chính sách Tôn giáo, (sách phục vụ đồng bào dân
tộc thiểu số và miền núi), Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội;Michaud, J (1998), Bước đầu về
lịch sử tộc người ở người Hmông Sa Pa, Việt Nam - Một nghiên cứu đáng chú ý, Khoa
Nghiên cứu về Đông Nam á, Đại học Tổng hợp Hull, Vương quốc Anh; Morechan G.
(1921), Những đặc điểm chủ yếu của thuật Sa man của người Mèo trắng ở Đông
Dương; Vương Duy Quang (2005), Văn hóa tâm linh của người Hmông ở Việt Nam,
truyền thống và hiện tại, Nxb Văn hóa - thông tin và Viện Văn hóa; TS. Trần Hữu Sơn (
1996 ), Văn hóa Hmông, Nxb Văn hoá dân tộc, Hà Nội; Lâm Tâm (1961), "Lịch sử di
cư và tên gọi của người Mèo", Tạp chí Nghiên cứu lịch sử; Doãn Thanh (1974), Dân ca
Hmông, Ty Văn hóa Láo Cai xuất bản; Doãn Thanh (1993), Truyện cổ Mèo, Nxb Văn

học, Hà Nội; TS. Nguyễn Ngọc Thanh (1993), Những quy ước của người Mông; TS.
Ngô Hữu Thảo (2004 ), Tín ngưỡng truyền thống của dân tộc Mông và sự xâm nhập
của đạo Tin Lành hiện nay; Lục Bình Thúy (1997), Quan hệ xã hội dân tộc Mèo ở SaPa
(Tư liệu nghiên cứu lịch sử Đảng Lào Cai ký hiệu A17C); Tỉnh uỷ Lào Cai (2006),
Người Mông Lào Cai và một số giải pháp, kiến nghị về xây dựng đời sống văn hóa vùng
đồng bào mông hiện nay, Lào Cai; Tocarev X.A (1994), Các hình thức tôn giáo sơ khai
và sự phát triển của chúng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Viện Nghiên cứu Chính
sách Dân tộc và Miền núi (2002), Vấn đề dân tộc và định hướng xây dựng chính sách
dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội;
Viện Nghiên cứu Tôn giáo (1998), Những vấn đề liên quan đền hiện tượng “Vàng
Trứ”, Hà Nội; Viên nghiên cứu tôn giáo (1998), Những kiến nghị cho giải pháp vấn đề
người Hmông theo đạo Vàng Trứ hiện nay, Hà Nội; Đặng Nghiêm Vạn (1990), "Vấn đề
xưng Vua và truyền đạo Thiên chúa ở vùng đồng bào Hmông", Tạp chí khoa học Công
an, (10); Đặng Nghiêm Vạn - Nguyễn Hồng Dương - Vương Duy Quang (2000), Về
tình hình phát triển của đạo tin lành ở mièn núi phía bắc, Trường Sơn, Tây nguyên, Hà
Nội; Lê Trung Vũ (1994), Tục ngữ và câu đố Hmông, Nxb Văn hoá Dân tộc, Hà Nội.

Những công trình khoa học nói trên đã đi sâu phân tích, đánh giá các hoạt động
của cộng đồng người Hmông trên nhiều lĩnh vực từ kinh tế, văn hóa, xã hội kể cả lịch
sử di cư và khu vực cư trú.
Tuy nhiên cho đến nay, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu vấn đề: “Tín
ngưỡng người Hmông ở Lào Cai”. Chính vì vậy thành quả nghiên cứu của các tát giả đi
trước là những tư liệu quan trọng để tác giả hoàn thành đề tài nghiên cứu của mình.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích: Luận văn góp phần làm rõ thực trạng tín ngưỡng của người Hmông ở
Lào Cai những năm gần đây, từ đó đề xuất các giải pháp để giải quyết tốt vấn đề tín
ngưỡng của người Hmông nhăm giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội ở tỉnh
Lào Cai và khu vực.
- Nhiệm vụ:
+ Nghiên cứu đặc điểm kinh tế, văn hoá, xã hội của người Hmông ở

Việt Nam.
+ Nghiên cứu thực trạng và những vấn đề đặt ra từ sinh hoạt tín ngưỡng của người
Hmông Lào Cai hiện nay.
+ Đề xuất các giải pháp để giải quyết tốt vấn đề tín ngưỡng của người Hmông
nhằm giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội ở tỉnh Lào Cai và khu vực.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là: Tín ngưỡng của người Hmông.
- Phạm vi nghiên cưu của luận văn là: Tín ngưỡng của người Hmông ở tỉnh Lào
Cai hiện nay.
5. Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: Lịch sử và lôgic, kết hợp chặt
chẽ giữa lý luận và thực tiễn, phân tích và tổng hợp, đồng thời coi trọng công tác điều
tra khảo sát thực tiễn.
6. Đóng góp mới về mặt khoa học của luận văn

- Góp phần làm rõ, sâu sắc hơn nữa tín ngưỡng người Hmông ở tỉnh Lào Cai
trong điều kiện hiện nay
- Đề xuất những giải pháp, định hướng trong lĩnh vực quản lý tín ngưỡng, tôn
giáo và những ứng xử phù hợp với người người Hmông.
- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy và nghiên cứu về lĩnh
vực tôn giáo, tín ngưỡng của các trường và các ban ngành của tỉnh Lào Cai. Đồng thời
luận văn còn có thể góp phần vào cơ sở lý luận cho việc giải quyết vấn đề tôn giáo, tín
ngưỡng trong thực tiễn của tỉnh Lào Cai hiện nay.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu
thành 3 chương 7 tiết



Chương 1

người Hmông ở việt nam và người hmông ở lào cai

1.1. Người Hmông ở việt nam
1.1.1. Điều kiện tự nhiên và hoạt động kinh tế – xã hội của người Hmông ở
Việt Nam
* Lịch sử di cư và khu vực cư trú
Người Hmông di cư từ phía Bắc vào Việt Nam khá muộn so với các dân tộc khác.
Họ đến bằng nhiều đợt với quy mô lớn nhỏ khác nhau. Theo tài liệu của các nhà nghiên
cứu dân tộc học đặc biệt là các công trình nghiên cứu về lịch sử cư trú của người
Hmông Việt Nam, chúng ta có thể phân những đợt di cư đó thành ba giai đoạn chủ yếu.
Giai đoạn sớm nhất được bắt đầu cách đây khoảng 350 năm (14 đời người). Đó là nhóm
Hmông đầu tiên từ Quý Châu xuống Vân Nam (Trung Quốc) rồi vào vùng đất Mèo
Vạc, Đồng Văn của tỉnh Hà Giang (Việt Nam). Những người già Hông còn nhớ rằng,
sau khi rời Quý Châu tổ tiên của người Hmông gọi là Pàng Tàu Làng, đó chính là phủ
Khai Hoa, một vùng đất của Châu Vân Sơn thuộc tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) ngày
nay. Giai đoạn thứ hai cách đây trên 200 năm (khoảng 10 đời người), đây là giai đoạn
người Hmông di cư đến đông nhất. Họ vào theo hai hướng chính. Một hướng tiếp tục
tràn vào cao nguyên Đồng Văn rồi đi sang Bảo Lạc (Cao Bằng), Bắc Mê, Xín Mần,
Hoàng Su Phì (Hà Giang)… Một hướng vào vùng đất Xi Ma Cai và Mường Khương rồi
xuống Văn Bàn (Lào Cai), Phong Thổ, Sìn Hồ, Điện Biên (Lai Châu)… Giai đoạn thứ
ba cách đây chừng 150 năm (khoảng 6 đến 7 đời người), người Hmông tiếp tục vào
Viện Nam theo các đường Phong Thổ (Lai Châu), Xi Ma Cai và Mường khương (Lào
Cai). Từ đây họ đi sâu vào vùng Tây Bắc, đến Tủa Chùa, Tuần Giáo (Lai Châu), Thuận
Châu, Sông Mã (Sơn La). Một bộ phận từ Mù Căng Chải sang Bắc Yên, Phù Yên rồi
xuống vùng núi Mộc Châu (Sơn La) và điểm dừng cuối cùng là vùng núi tây Thanh
Hóa. Cũng trong thời gian này, một nhóm người Hmông ở Xiêng Khoảng (Lào) đã tràn
vào vùng núi Thanh - Nghệ và cư trú tập trung ở huyện Kỳ Sơn tỉnh Nghệ An.

Có thể thấy, thứ nhất: Quá trình di cư của người Hmông luôn mang tính dòng họ
và lịch sử di cư của dân tộc này luôn gắn liền với lịch sử di cư của các dòng họ. Thậm

chí, chỉ cần nghe bài cúng “chỉ đường” cho người chết về với tổ tiên của các dòng họ là
ta có thể biết nguồn gốc của họ bắt đầu từ nơi nào (bởi lẽ đơn giản, thầy cúng của các
dòng họ bao giờ cũng phải cúng đưa hồn người chết của dòng tộc qua các miền đất mà
họ đã sinh sống, đến tận vùng đất cuối cùng mà họ còn nhớ, và từ đó hồn người chết
mới lên trời về “đất tổ tiên”). Thứ hai: Không chỉ người Hmông ở cao nguyên Đồng
Văn mà nhiều nhóm Hmông từ biên giới đến nội địa, từ Bắc, Đông Bắc sang Tây Bắc
Việt Nam đều nhớ cái tên Pàn Tầu Làng, điều đó chứng tỏ địa danh này gắn bó chặt chẽ
với lịch sử di cư của nhiều nhóm Hmông ở Việt nam. Thứ ba: Giai đoạn di cư thứ nhất
và thứ hai là quá trình hình thành những vùng Hmông chính ở Việt nam. Đến thời điểm
di cư ở giai đoạn ba, những vùng Hmông chủ yếu tiếp tục được củng cố và nhiều vùng
Hmông khác được ra đời trở lên khá ổn định như ngày nay. Thứ tư: Quá trình di cư của
dân tộc này vào Việt Nam thể hiện rõ niềm mong ước to lớn của họ là tìm được mảnh
“đất Lành” để sinh sống và không biết từ bao giờ, đồng bào đã coi nơi này như quê
hương mới của mình. Đồng thời, vùng đất Mèo Vạc (Hà Giang)- nơi lưu truyền có
giếng nước thần - nơi người Hmông đến cư trú sớm nhất cũng được coi là quê hương
của phần lớn của người Hmông ở Việt Nam.
Quả thực, với hơn ba trăm năm gắn bó với miền đất này, những người Hmông đã
tự khai sơn phá thạch dựng nên làng bản và trở thành một thành viên của đại gia đình
các dân tộc Việt nam. Đồng bào đã sát cánh kề vai cùng các dân tộc láng giềng đổ mồ
hôi và xương máu để giữ gìn, bảo vệ chủ quyền quốc gia Việt Nam của mình. Và giải
cao nguyên Đồng Văn - Mèo Vạc, nơi có người Hmông sống tập trung đông nhất, nơi
còn lưu giữ được những yếu tố văn hóa cổ truyền nhất xứng đáng được coi là trung tâm
văn hóa truền thống của người Hmông ở Việt Nam và Đông Nam á.
Trước tháng 3 năm 1979, dân tộc Hmông ở Việt Nam được mọi người biết đến với
tộc danh là Mèo. Lịch sử có ghi chép, người Mèo là một dân tộc sớm biết trồng lúa
nước. Người Hán căn cứ vào nghề trồng trọt của người Mèo mà gọi họ là Miêu Tử. Chữ
Miêu trong chữ tượng hình của người Hán bao gồm phần trên là chữ “thảo”, dưới là chữ

“điền”, có nghĩa là “mầm mạ tốt”, từ đó dân tộc Miêu xuất hiện trong lịch sử. Mèo là
cách gọi trực tiếp theo phiên âm của người Hán. Miêu là cách gọi theo phiên âm Hán -

Việt. Tộc danh Mèo hay Miêu đều cho ta thấy tổ tiên của cư dân này sớm biết nghề làm
ruộng và có nền văn hóa phát triển khá cao.
Khi người Mèo di cư vào Việt Nam, họ vẫn mang theo tên gọi quen thuộc của
mình. Hầu hết họ là một bộ phận tách ra từ nhóm Mèo dùng phương ngôn Hmông.
Những năm 60 và 70 của thế kỷ 20, các nhà khoa học xã hội Việt Nam đã nghiên cứu
cơ bản khá công phu để xác định thành phần các dân tộc. Ngày 2 tháng 3 năm 1979,
trên cơ sở kết quả điều tra nghiên cứu, có tham khảo ý kiến của các đại biểu người Mèo,
theo đề nghị của ủy ban Dân tộc của Chính phủ, danh mục thành phần 54 dân tộc ở Việt
Nam được chính thức công bố thay cho danh mục cũ gồm 62 dân tộc. Từ đó đến nay,
dân tộc Mèo ở Việt Nam được gọi là Hmông. Tuy nhiên theo bảng danh mục đó, tộc danh
Mèo vẫn có giá trị pháp lý như Hmông, giống như trường hợp tộc danh Việt hay Kinh ở
người Việt, Chăm hay Chàm ở người Chăm, Hoa hay Hán ở người Hoa.
Nếu chỉ căn cứ vào ý thức tự nhận của đồng bào thì ở Việt Nam hiện nay có tới cả
chục nhóm Hmông bao gồm: Hmôngz Đơưz, Hmôngz Lênhx, Hmôngz siz, Hmôngz
Njuôz, Hmôngz Đuz, Hmôngz Txeix, Hmôngz Đês, Hmôngz Puôs, Hmôngz Suô,
Hmôngz Njil. Thật ra việc nhận định các nhóm Hmông bắt đầu khi nào thì đều ít người
biết đến. Đã có ý kiến cho rằng, ban đầu cộng đồng người Hmông không hề có sự chia
nhóm. Khi nhà Minh sắp ra đời, nhà nước phong kiến Trung Quốc mới bắt người
Hmông mặc các loại váy, áo, quần khác nhau, nhất là về màu sắc, hi vọng sự phân biệt
ấy tạo nên sự chia rẽ khối thống nhất của dân tộc Hmông . Đó là nguồn gốc của các
nhóm Hmông ở Trung Quốc sau này. Lời lý giải ấy không biết là đúng hay sai, song
hầu hết các nhà nghiên cứu về dân tộc này đều thống nhất cho rằng, dựa trên tiêu chí
trang phục (váy, áo, quần truyền thống) và ngôn ngữ đặc biệt là âm ngữ và một phần ý
thức tự nhận của đồng bào thì Việt Nam có 4 nhóm Hmông chính đang hiện diện là:
Hmông Trắng (Hmôngz Đuz), Hmông Hoa (Hmôngz Lênhx), Hmông Đen (Hmôngz
Đuz) và Hmông Xanh (Hmôngz Njuôz). Như vậy, Việt Nam duy nhất có đầy đủ 4 nhóm
Hmông sinh sống ở khu vực Đông Nam á, bởi tại Lào và Thái Lan chỉ có Hmông Xanh

và Hmông Trắng mà thôi. Phụ nữ Hmông Trắng ở Việt Nam mặc váy lanh để trắng,
không thêu hoa văn; áo xẻ ngực có yếm, thường thêu thêm mảnh vải mầu ở giữa cánh

tay. Váy phụ nữ Hmông Hoa nhuộm màu chàm, có in hoa văn bằng sáp ong hoặc thêu
hao văn bằng chỉ màu và vải mầu ở phần gấu váy; có nhiều nơi họ để hao văn tới 2/3
váy. Thậm chí ở một số vùng, váy áo phụ nữ Hmông hoa trở lên rực rỡ bởi màu sắc của
các hoa văn đều lấy gam màu đỏ là chủ đạo. áo của phụ nữ Hmông Hoa thường để cổ bẻ
hoặc xẻ nách. Phụ nữ Hmông Đen thường mặc quần đen. Một số vùng họ mặc váy và
thường để váy mang màu chàm đen ở nửa trên, nửa dưới để trắng hoàn toàn hoặc in
những dòng kẻ đen nhỏ trên nền màu trắng của váy. áo của người phụ nữ Hmông Đen là
loại áo xẻ nách, ống tay áo có viền nhiều mảng vải màu sáng trên nền đen. Phụ nữ
Hmông Xanh cũng mặc váy bằng vải lanh nhưng mang màu chàm xanh hoàn toàn; một
số trường hợp có thêu hoa văn ở gấu váy. áo của họ thường là loại áo xẻ ngực. Về ngôn
ngữ, sự khác nhau trong từ vị cơ bản của bố nhóm người Hmông này là không lớn.
Cuộc điều tra của Nguyễn Văn Chỉnh so sánh 2500 từ vị giữa nhóm Hmông Hoa và ba
nhóm còn lại cho thấy, sự khác biệt lớn nhất với nhóm Hmông Xanh là 21,3% và hai
nhóm còn lại là 4 - 7%. Có thể khẳng đinh, sự khác nhau trong trong phục cùng một
phần ngôn ngữ là yếu tố phân định các nhóm Hmông. Song, sự khác nhau ấy không hề
ảnh hưởng tới tính thống nhất từ văn hóa mưu sinh, văn hóa ứng xử đến văn hóa tâm
linh của dân tộc này. Thậm chí, ngay trong địa vực cư trú, họ cũng không có sự phân
biệt ranh giới về nhóm và các nhóm Hmông thường sống xen kẽ trong từng vùng, đôi
khi trong một làng có vài ba nhóm Hmông cùng sinh sống. Tuy nhiên, về tổng thể người
Hmông Trắng cư trú tập trung ở cao nguyên Đồng Văn (Hà Giang), một phần các huyện
Bắc Hà, Mường Khương (Lào Cai), Trạm Tấu (Yên Bái), Thuận Châu, Yên Châu (Sơn
La) và tỉnh Cao Bằng. Ngươi Hmông Hoa sống chủ yếu ở Mù Căng Chải (Yên Bái),
Bắc Hà, Mường Khương (Lào Cai), Hoàng Sù Phì, Xín Mần (Hà Giang), Mộc Châu
(Sơn La), Điện Biên, Tủa Chùa. Người Hmông Đen sống tập trung ở Phong Thổ, Tủa
Chùa (Lai Châu). Người Hmông Xanh chỉ có một số ít cư trú tại Tủa Chùa (Lai Châu),
Văn Bàn (Lào Cai). Do có sự cư trú đan xen giữa các nhóm Hmông, việc vay mượn mô
típ và cách trang phục của nhau là điều không tránh khỏi. Bởi vậy ở một số nơi, phụ nữ

Hmông trong vùng đều có cách ăn mặc giống nhau mặc dù họ thuộc các nhóm Hmông
khác nhau. Thậm chí, các nhóm Hmông nhỏ còn chịu ảnh hưởng cách phát âm của các

nhóm Hmông chiếm đa số của vùng đó. Hơn thế , do chịu tác động của các tộc người
lân cận, đã có trường hợp người Hmông ở một số nơi lấy một vài yếu tố trang phục hay
khía cạnh văn hóa vật chất khác của dân tộc láng giềng làm của mình hoặc chịu ảnh
hưởng ít nhiều yếu tố đó của họ
Theo kết quả của tổng điều tra dân số năm 1999, người Hmông là dân tộc có dân
số đứng thứ 8 trong tổ số 54 dân tộc ở Việt Nam, với dân số khoảng 800.000 người. Họ
cư trú chủ yếu trên vùng núi cao của các tỉnh: Lào Cai, Sơn La, Yên Bái, Cao Bằng,
Lạng Sơn, Nghệ An, Tuyên Quang, Thanh Hóa, Hòa Bình, Thái Nguyên, Bắc Cạn
Một số tỉnh có người Hmông sinh sống đông nhất là Hà Giang hơn 200.000 người; Lào
Cai: hơn 110.000 người: Sơn La: gần 100.000 người: Lai Châu (nay là Điện Biên và Lai
Châu): khoảng 140.000 người. Dựa trên nhiều yếu tố, có thể phân địa vực cư trú của
người Hmông thành hai vùng lớn: Một là vùng biên giới Việt - Trung, tính từ phía bắc
tỉnh Cao Bằng sang phía bắc tỉnh Lai Châu. Đây chủ yếu là khu vực núi đá, cây cối thưa
thớt, rải rác có những mảnh rừng già; đất canh tác ít, thường thiếu nước uống và củi đun
trong khi mật độ người Hmông ở khu vực này khá cao khoảng 70 - 90 người/ km2.
Vùng thứ hai là vùng ven biên giới Việt - Lào, kéo dài từ phía tây tỉnh Lai Châu đến
phía tây tỉnh Nghệ An. Khu vực này chủ yếu là vùng núi cao, thảm thực vật phong phú,
có nhiều rừng rừng rậm và rừng già, đất canh tác khá nhiều; mật độ người Hmông cư trú
khá thấp, khoảng 30 - 40 người/km2. Như vậy địa vực cư trú của người Hmông hầu hết
là vùng địa hình bị chia cắt mạnh, núi non hiểm trở, giao thông khó khăn và đều năm
trong vùng địa bàn quan trọng chiến lược về an ninh quốc phòng, vùng giàu tiềm năng
khoáng sản, lâm thổ sản của đất nước.
* Hoạt động kinh tế
Sự di cư khá muộn của người Hmông vào Việt Nam là một yếu tố khiến dân tộc
này chỉ có sự lựa chọn duy nhất là cư trú trên các dải núi cao, sống gắn bó với rừng và
đất rừng cho dù họ có nguồn gốc là cư dân lúa nước. Hoàn cảnh đó đã làm cho nông
nghiệp nương rẫy trở thành nền tảng kinh tế vô cùng quan trọng của người Hmông.

+ Kinh tế nương rẫy:
Trước hết, nông nghiệp nương rẫy là nguồn cung cấp lương thực quan trọng nhất

của họ. Có thể nói, với dân tộc này, chỗ nào làm được nương là chỗ đó họ gieo lúa, tra
ngô. Ngô, lúa được người Hmông trồng ở khắp nơi, từ sườn núi, khe núi đến những
vùng thung lũng hẹp trên núi cao, thậm chí ở cả những hốc đá tai mèo, nơi chỉ vừa đủ
trồng một hốc ngô. Kinh tế nương rẫy không chỉ đảm bảo nguồn lương thực mà còn đáp
ứng cho đồng bào các nhu cầu thiết yếu. Những nương đỗ, nương khoai, dưa, bí, bầu
là nguồn thực phẩm phong phú cho cuộc sống hàng ngày và để chăn nuôi. Nương lanh
là nguồn sợi quan trọng giúp cho người phụ nữ Hmông dệt nên những mảnh vải bền
chắc phục vụ cho nhu cầu mặc. Cho đến nay, người ta có thể mua vải hay dùng sản
phẩm khác đổi lấy vải những cây lanh vẫn là cây lấy sợi truyền thống được duy trì và
phát triển, bởi sơi lanh và vải lanh không chỉ gắn bó với họ trong đời sống vật chất mà
còn đi váo thế giới tâm linh của dân tộc này. Thầy pháp Saman sẽ không thực hiện được
chức năng của mình nếu không có sợi lanh; người chết sẽ không thể về với thế giới của
tổ tiên nếu không được mặc bộ quần áo, váy bằng vải lanh để tổ tiên “nhận ra” họ , đó
là những minh chứng điểm hình về sự quan trọng của lanh đối với người Hmông.
Theo quan niệm của nhiều dân tộc, Nương hay Nương rẫy là một mảnh đất rừng
được chặt phá, đốt dọn. Được chọc lỗ hay xới lên để trồng trọt. Người Dao gọi đó là
Tảy, người thái gọi là Hay, người Mường gọi là Roọng với người Hmông, khái niệm
Nương được đồng bào gọi là Têz và người ta định nghĩa về nó có phần đơn giản hơn, từ
rất lâu đồng bào đã có câu: “Đất cũng có tên, chỗ nào cũng là đất, lấy dao phát được
“một khóm” gọi là nương; chỗ nào cùng là đất, tra một cây xuống được gọi là nương có
nghĩa là, chỉ cần phát được một “khóm nhỏ”, chưa phải là một khoảng rừng, thậm chí
chỉ cần tra được một hốc ngô xuống cũng được gọi là nương.
Người Hmông có nhiều cách phân loại nương dựa trên những tiêu chí khác nhau
như: phân loại theo địa hình; phân loại theo giống cây trồng; phân loại theo tên rừng
làm nương Điều cần nói là, dù phân theo cách nào, họ cũng đều tập hợp chúng lại theo
hai loại hình nương rẫy tương đương với hai mô hình kỹ thuật canh tác của đồng bào,
đó là nương du canh (Têz phax) và nương định canh (Têz lâus). Nương du canh là loại

nương không được sử dụng thường xuyên, liên tục. Theo tập quán truyền thống, người
Hmông thường gieo trồng trên những mảnh nương này từ 3-5 vụ. Khi đất quá bạc màu,

họ chuyển sang khai phá mảnh rừng mới, nương cũ để cho cây cỏ tái phát triển, sau 5 -
10 năm đồng bào mới quay lại canh tác và chu kỳ mới được tiếp tục. Đặc điểm nổi bật
của lương du canh là kỹ thuật canh tác đơn giản, đất không được cầy xới, đồng bào
thường dung gậy chọc lỗ tra hạt hoặc gieo vãi năng suất cây trồng thấp, không ổn định.
Nương định canh là nương cố định của người Hmông. Đất trồng trọt được họ sử dụng
liên tục từ năm này qua năm khác, đời này qua đời khác. Gắn liền với loại hình nương
này là kỹ thuật canh tác dùng cầy, sử dụng phân bón, thâm canh, luân canh, xen canh;
năng suất khá hơn, ổn định hơn. Nương du canh tập trung chủ yếu ở vùng biên giới Việt
- Lào, nơi mật độ người Hmông thấp, có nhiều rừng và đất rừng để khai phá và nương
định canh tập trung chủ yếu ở vùng biên giới Việt - Trung, nơi người Hmông vừa có ít
đất canh tác, vừa có mật độ dân số cao. Như vậy người Hmông ở Việt Nam có hai loại
hình nương rẫy mà kỹ thuật canh tác hoàn toàn trái ngược nhau. Đó là hai cách ứng xử
ở cùng một dân tộc vào cùng một cảnh quan tộc người - một điều hiếm thấy ở các dân
tộc khác.
+ Các nghề thủ công:
Nền kinh tế tự cung tự cấp đã biến mỗi gia đình Hmông trở thành một đơn vị kinh
tế độc lập. dưới mỗi nóc nhà ấy, họ tự làm ra mọi thứ thiết yếu phục phụ cho cuộc sống
của mình trừ muối, dầu và không biết từ bao giờ, người Hmông đã nổi tiềng với nghề
thủ công như: đan lát; xe lanh dệt vải, in hoa văn bằng sáp ong; rèn đúc với các sản phẩm
vừa có chất lượng cao, vừa mang đậm yếu tố nghệ thuật, tình nhân văn và thể hiện rõ bản
sắc văn hóa dân tộc.
Nghề rèn đúc tồn tại và phát triển trong tất cả các làng Hmông. Tuy nhiên không
phải gia đình nào cũng biết nghề này bởi nó không chỉ đòi hỏi yếu tố kỹ thuật, bí quyết
kinh nghiệm mà cần đến cả bàn tay khéo léo của những người yêu thích công việc đó.
Vì thế, nghề rèn đúc thường mang tính cha truyền con nối và mỗi làng cũng chỉ có 1 -2
gia đình thực sự thông thạo nghề này. Người ta nhớ đến nghề rèn ở dân tộc Hmông bởi
kỹ thuật khoan ống thép làm lòng súng kíp, đúc lưỡi cầy để có thể cầy trên đỉnh núi và

những con dao lưỡi sắc như nước dùng khi làm nương, lên rừng lấy củi hay sử dụng ở
nhà những sản phẩm đó được người đời gọi gắn với cộng đồng này một cách thân

thiện: cày Mèo, dao Mèo, súng kíp Mèo
Cũng như nghề rèn đúc, nghề dệt cũng phổ biến ở tất cả các làng người Hmông.
Trong cuộc sống truyền thống của dân tộc này, bất kỳ người phụ nữ Hmông nào cũng
phải biết trồng lanh, xe lanh dệt vải, biết kỹ thuật in hoa văn bằng sáp ong, thêu hoa văn
bằng các loại vải màu, chỉ màu và họ phải học tất cả điều đó ngay tư khi còn bé để khi
trở thành thiếu nữ, họ có đủ khả năng tạo nên các tấm vải lanh, làm nên các bộ váy áo
cho bản thân và cả gia đình, nhất là cho người chồng và gia đình bên chồng sau này.
Lanh thường được gieo trồng trên mảnh đất tốt nhất của gia đình, đó là khoảng đất bố
mẹ ưu tiên dành cho người con gái để họ thực hiện chức năng của mình. Hình ảnh
người phụ nữ Hmông tay xe sợi thoăn thoắt trên đường đi nương, đi chợ phổ biến ở
tất cả các vùng Hmông và trở thành biểu tượng của đức tính cần cù và chăm chỉ của họ.
Khi việc xe lanh bằng tay hoàn thành, người ta cho sợi lanh vào guồng quay bằng gỗ và
trúc để xe sợi cho nhỏ và chắc hơn. Cuối cùng, sợi lanh được lắp vào khung cửi để dệt
thành vải. Quá trình in hoa văn bằng sáp ong và thêu ghép những mảnh vải màu trên
váy áo, là phần kỹ thuật cuối cùng thể hiện đôi tay khéo léo của người phụ nữ Hmông,
để tạo nên những bộ váy áo sặc sỡ với những hoa văn hình những con vật, mang đậm
dấu ấn hoa văn của dân tộc này.
Nếu xe lanh dệt vải là công việc của người phụ nữ Hmông thì ngược lại, nghề đan
lát lại là phần việc chỉ dành cho người đàn ông. Từ khi còn nhỏ đến lúc trưởng thành,
người đàn ông Hmông đều phải học nghề đan lát và mọi thứ đồ đan ở nhà đều do họ
làm ra. Nguyên liệu dùng đan lát ở dân tộc này thường là mây, tre, trúc và sản phẩm
họ làm ra gồm: ghế mây, ghế trúc, mẹt, phên nan tre, các loại đồ đựng ngô, lúa đặc
biệt là những chiếc gùi như ở nhiều dân tộc khác. Đó là vật đụng hết sức thuận tiện
được người Hmông dùng để đựng, đeo mang, vác và địu các thứ cần thiết. Nó có mặt
với họ ở mọi nơi, từ trong nhà, ngoài chợ đến trên nương, dưới ruộng Việc đan lát ở
dân tộc này không tiến hành theo mùa vụ. Người ta chỉ đan các đồ vật này khi thấy cần

thiết. Một số đồ đan lát cũng đã trở thành sản phẩm được đồng bào mang ra chợ trao
đổi, mua bán.
+Chăn nuôi, săn bắn và hái lượm

Chăn nuôi là hoạt động kinh tế phổ biến và quan trọng của dân tộc này. Nó hoàn
toàn mang tính tự phát và gắn liền với kinh tế hộ gia đình. Người Hmông nuôi gia súc,
gia cầm không chỉ là thực phẩm cho cuộc sống hàng ngày hay làm sức kéo cho sản xuất
cho sinh hoạt, mà hơn thế, đó là nguồn cung cấp các sản vật cho những hoạt động tín
ngưỡng tôn giáo cũng như những lễ thức không thể thiếu trong chu kỳ đời người và một
phần nhỏ dùng để trao đổi mua bán. Người Hmông có hai loại hình chăn nuôi tương
ứng với hai vùng cư dân. Nhóm Hmông sống du canh du cư phổ biến cách chăn thả theo
tính tự nhiên. Nói cách khác, gia súc, gia cầm của họ đều được thả rông để tự kiếm ăn và
hầu như chúng chẳng được nuôi nấng chăm sóc theo một quy trình nhất định. Với nhóm
Hmông sống định cư nâu đời, kĩ thuật chăn nuôi của họ khá phát triển. Các gia đình đều
làm chuồng cho từng loại gia súc theo dạng kiên cố trong khuôn viên của ngôi nhà. Đồng
bào chỉ chăn thả chúng vào những giờ nhất định trong ngày và cho chúng ăn uống theo một
quy trình cụ thể.
Là dân cư sống dựa vào rừng và đất rừng nên săn bắn, hái lượm trở thành hoạt
động kinh tế rất phổ biến ở người Hmông. Tuy nhiên chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ trong thu nhập
của gia đình nhưng việc thu hái, săn bắn các nguồn tài nguyên cũng đóng một vai trò
đáng kể trong trong nền kinh tế nương rẫy mang đầy yếu tố tự nhiên này. Hàng năm,
hoạt động hái lượm được tiến hành nhiều nhất vào thời kỳ giáp hạt và cả những thời
điểm nông nhàn, đặc biệt là những năm mất mùa, đói nhiều. Người Hmông chủ yếu hái
các loại nấm, mộc nhĩ như: nấm gà, nấm đá con cừu, nấm tai người, nấm mối đào các
loại củ như: củ mài trắng, củ mài đỏ, củ măng, củ nâu, củ lợn và rất nhiều các loại quả,
rau rừng có nhiều trong núi, khe suối.
Điều đó có thể khẳng định là, kinh tế truyền thống của người Hmông là nền kinh
tế hoàn toàn tự phát, không có tính cộng đồng, càng không phải là nền tảng cho sự cố
kết và thống nhất. Trải theo thời gian, do nhiều tác động khác nhau, đặc biệt là tác động
của thời kỳ đổi mới ở nước ta, sự hỗ trợ của Nhà nước Việt Nam và nhiều yếu tố tích

cực khác đã giúp tỉ lệ đói nghèo của nhiều vùng người Hmông giảm xuống đáng kể, số
người Hmông giàu có đã xuất hiện. Bên cạnh đó, điều kiện sống của một bộ phận không
nhỏ của người Hmông trở nên ngày càng khó khăn, đặc biệt là thiếu đất canh tác.

Cách đây vài chục năm, khi mật độ dân số còn thấp, diện tích rừng và đất rừng
vẫn còn đủ để người Hmông làm nương rẫy. Nhưng, với tốc độ tăng trưởng dân số cao
từ 3,6% - 4% trong một năm, số nhân khẩu của người Hmông đã đông lên rất nhanh.
Nếu năm 1980, ở Việt Nam mới chỉ có 40 vạn người Hmông thì đến tháng tư năm
1999, con số đó đã lên khoảng hơn 70 vạn. Mật độ dân số trở nên đậm đặc, tại huyện
Bắc Hà, tỉnh Lào Cai bình quân có 80 người/ km2; huyện Đồng Văn tỉnh Hà Giang số
người bình quân lên tới 88 người/km2 Theo dự tính của các nhà khoa học, với
phương thức canh tác lạc hậu của các cư dân nương rẫy thì diện tích đất rừng có thể tạm
đủ cho nhu cầu cuộc sống của họ là dưới mức 24 người/km2. Như vậy ta có thể thấy mật
độ dân số hiện nay ở đồng bào Hmông Việt Nam đã vượt xa giới hạn cho phép.
Số thành viên trong cộng đồng đông lên, điều đó cũng có nghĩa số miệng ăn tăng
lên và tất yếu nhu cầu lương thực ngày càng trở lên rất lớn. Muốn giải quyết được nhu
cầu sống còn đó, người Hmông chỉ còn cách phá thêm rừng để mở rộng diện tích canh
tác và quay nhanh chu kỳ sử dụng đất. Hậu quả là rừng bị chặt phá bừa bãi, đất rừng bị
khai thác kiệt quệ. Điều kiện sống của người Hmông không những không được cải thiện
mà còn trở nên tồi tệ hơn. Trong bối cảnh đó, nhiều khu rừng còn sót lại ở vùng núi phía
Bắc Việt Nam đã trở thành mục tiêu quan trọng của người Hmông. Đồng bào còn tràn
từ tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Cao Bằng, Hà Giang đến khu vực rừng rộng lớn ở Si Pa
Phìn, Ba Trà của huyện Mường Lay tỉnh Lai Châu và kéo xuống miền rừng núi phía tây
tỉnh Thanh Hóa. Họ đã nhanh chóng biến những nơi xa xôi hẻo hút này thành khu vực
có rất nhiều người Hmông sinh sống và cánh rừng cuối cùng ấy đã dần dần biến mất
Khi đất rừng đã bị khai thác kiệt quệ, rừng không kịp tái sinh sẽ tất yếu dẫn đến
nạn đồi núi trọc. Thực tế đã cho thấy cùng với thời gian, diện tích đồi núi trọc ngày
càng lan rộng khắp các tỉnh vùng núi Bắc Việt Nam. Một thí dụ: Vào thời điểm đầu
năm 1997, tại huyện Đồng Văn tỉnh Hà Giang nơi có người Hmông cơ trú tập trung và
đông nhất, rừng tự nhiên chỉ còn 7000 ha, chiếm 15% tổng diện tích đất lâm nghiệp,

diện tích đồi núi trọc là 18.868 ha, chiếm tỉ lệ 43%. Tại huyện Sa Pa tỉnh Lào Cai, nơi
có đỉnh núi Phan Xi Păng hùng vĩ của Việt Nam, diện tích rừng cũng chỉ còn 9.167 ha
chiếm tỉ lệ 13% Và diện tích đồi núi trọc là 45.580 ha chiếm tỷ lệ 83,2% so với tổng

diện tích đất lâm nghiệp. Theo báo cáo của tỉnh Lai Châu, chỉ sau 5 - 7 năm tụ cư ở đây,
những cánh rừng già khu vực Bà Trà của huyện Mường Lay và cả 4 xã vùng cao của
huyện Mường Tè đã dần biến mất trước sự tàn phá của hàng vạn người Hmông di cư.
Tình trạng này cũng diễn ra tương tự với các khu rừng ở Tuyên Quang, nơi có hơn
13.000 người Hmông di cư, và ở cả vùng Quan Hóa, Mường Lát tỉnh Thanh Hóa để
cuối cùng, khu vực Tây Nguyên, đặc biệt là tỉnh Đắc Lắc đã trở thành mục tiêu tiếp theo
của các cuộc di cư vì kế sinh nhai, tìm đất canh tác ở một bộ phận dân tộc này. Phong
trào di cư ồ ạt này đã và đang tạo nên những biến động không nhỏ trong vấn đề kinh tế
xã hội của nhiều tỉnh và để lại nhiều ảnh hưởng khó lường
* Quan hệ xã hội
Do không có địa vực cư trú tập trung, càng không có một nền tảng kinh tế thống
nhất, nên sức mạnh cố kết của dân tộc này chỉ tập trung ở chính tâm thức của họ mà sự liên
kết của các mối quan hệ xã hội là một biểu hiện điển hình.
Xã hội truyền thống của người Hmông có cấu trúc khá thống nhất. Đó là xã hội
phụ quyền rất mạnh với sự đề cao vai trò, quyền lợi cũng như trách nhiệm của người
đàn ông. Cấu trúc xã hội ấy được xây dựng trên cơ sở của các tế bào xã hội đó là gia
đình.
Kái niệm gia đình được người Hmông gọi là Ziv hay Ziv nênhs đều có nghĩa chỉ
tập hợp người cùng sống chung, gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân va dòng máu
dưới một mái nhà. Nó thường gồm vợ chồng, cha mẹ, con cái. Theo quan niệm ấy, cộng
đồng gia đình của người Hmông phải từ hai người trở lên và nếu đàn ông không có vợ, đàn
ba không có chồng, dù ở nhà cao cửa rộng bao nhiêu cũng không được coi là Ziv nênhs với
đúng nghĩa của nó.
Sau kết cấu gia đình thì đến dòng họ, Dòng họ ở người Hmông có một vị trí vô
cùng quan trọng, đó là những yếu tố cốt lõi cấu thành lệ xã hội Hmông và thể hiện bản
sắc dân tộc của họ. Nói cách khác, dòng họ là nền tảng cho sự tồn tại của xã hội Hmông

truyền thống và chi phối mọi hoạt động trong đời sống hàng ngày của cả cộng đồng.
Người Hmông gọi dòng họ là xêng. ở Việt Nam, dân tộc này có khoảng 20 tên xênh
khác nhau, đó là các dòng họ: Vàng, Giàng, Sùng, Lý, Thào, Mùa, Cháng, Lù, Vừ, Vì,

Hờ, Hạng, Dinh, Cứ, Hầu
Cuối cùng là đến làng, Làng là đơn vị xã hội cơ bản và duy nhất ở dân tộc này.
Người Hmông gọi làng là Jaol hay Jol, Jêz Jol - đều có nghĩa là “ổ” hay “tổ” tức chỉ một
cộng đồng cùng chung sống trong khu vực địa lý nhất định. Làng Hmông được hình
thành trên sự tụ cư của những nhóm người có hay không có mối quan hệ huyết thống.
Bởi vậy, mối quan hệ cộng đồng làng ở dân tộc này thực chất là mối quan hệ của các
thành viên cùng dòng họ và giữa các dòng họ cùng địa vực cư trú. Nói cách khác, mối
quan hệ láng giềng của họ được hình thành và phát triển thông qua sự ứng xử giữa các
dòng họ khác nhau. Thông thường, mỗi làng Hmông gồm vài ba dòng họ với vài chục
nóc nhà, có họ lớn, có họ bé. Song, những điều đó không ảnh hưởng đến sự cố kết của
họ. Từ rất lâu, ý thức cộng đồng láng giềng ở dân tộc này đã được hình thành và phát
triển bởi một thực tại “sớm tối có nhau” và họ cùng chung một quá khứ lịch sử khó
quên.
Như vậy, diện mạo truyền thống của xã hội Hmông từ tế bào gia đình đến tổ
chức làng bản, trong cấu trúc xã hội đó, vai trò của dòng họ chiếm một vị trí rất đặc
biệt. Có thể nói, dòng họ của người Hmông là một tập hợp người không chỉ cùng một
ông tổ sinh ra mà phải là cộng đồng những thành viên cùng chung kí hiệu tín ngưỡng
mà đồng bào gọi là “cùng ma”. Dòng họ là một đơn vị xã hội có tổ chức tự quản chặt
chẽ với những luật tục quy định rõ quyền lợi và trách nhiệm của các thành viên mà ở đó
mối quan hệ hay sự ràng buộc của họ thường vượt qua cả ranh giới chính trị, hành
chính, lãnh thổ quốc gia. ý nghĩa xã hội lớn lao của dòng họ chính là ở chỗ: dòng họ là
một trong những yếu tố quan trọng cấu thành nên xã hội làng và xã hội vùng ở người
Hmông, bởi mối quan hệ xã hội của làng, của vùng thực chất là mối quan hệ của các
thành viên cùng dòng họ trên cùng địa vực cư trú. Đồng thời xã hội làng Hmông, vùng
Hmông được vận hành trật tự “êm ả” xét cho cùng là dựa trên cơ sở của tập tục dòng
họ.

Mặt khác, văn hóa ứng xử của người Hmông cũng tồn tại chủ yếu dựa trên phong
tục tập quán của dòng họ mà nổi bật là những luật tục liên quan đến trật tự xã hội, đến
vấn đề khai thác và sơ hữu đất đai canh tác, những luật tục quy định quyền lợi và nghĩa

vụ của các thành viên trong cộng đồng thông qua lễ Naox cxungx được tổ chức hàng
năm ở các làng Đặc biệt dòng họ như một tín hiệu để các thành viên của dân tộc này
nhận biết nhau. Người Hmông sống ở đâu, thuộc nhóm nào, khi gặp nhau bao giờ họ
cũng hỏi nhau thuộc dòng họ gì. Đó là đặc điểm hiếm thấy ở những dân tộc khác.
Trong những năm qua, thời gian và nhịp điệu phát triển của cuộc sống cùng sự
tác động của các yếu tố văn hóa bên ngoài dần ảnh hưởng đến xã hội Hmông ở Việt
Nam. Cuộc sống của người Hmông vừa chịu sự chi phối của mối quan hệ truyền thống,
vừa chịu tác động mạnh mẽ của mối quan hệ xã hội mới theo cơ chế pháp luật của nhà
nước. Từ đó, mối quan hệ xã hội ở dân tộc này đã có sự tự điều chỉnh và thay đổi để có
thể thích nghi, tồn tại với hoàn cảnh mới. tuy nhiên, dù có sự điều chỉnh hay thay đổi
thậm chí còn tiếp nhận thêm những yếu tố văn hoá mới, cấu trúc xã hội cơ bản của dân
tộc này vẫn tồn tại và là một trong những yếu tố biểu hiện cho bản sắc dân tộc của cộng
đồng này.
1.1.2. Đặc điểm tín ngưỡng truyền thống của người Hmông ở Việt Nam
* Khái niệm tín ngưỡng
Tín ngưỡng là hệ thống các niềm tin mà con người tin vào để giải thích thế giới và
để mang lại sự bình an cho cá nhân và cộng đồng. Tín ngưỡng đôi khi được hiểu là tôn
giáo. Điểm khác biệt giữa tín ngưỡng và tôn giáo ở chỗ, tín ngưỡng mang tính dân tộc,
dân gian hiều hơn tôn giáo, tín ngưỡng có tổ chức không chặt chẽ như tôn giáo. Khi nói
đến tín ngưỡng người ta thường nói đến tín ngưỡng của một dân tộc hay một số dân tộc
có một số đặc điểm chung còn tôn giấo thì thường là không mang tính dân gian. Tín
ngưỡng không có một hệ thống điều hành và tổ chức như tôn giáo, nếu có thì hệ thống
đó cũng lẻ tẻ và rời rạc. Tín ngưỡng nếu phát triển đến một mức độ nào đó thì có thể
thành tôn giáo. Cơ sở của mọi tôn giáo, tín ngưỡng là niềm tin, sự ngưỡng vọng của con
người vào những cõi "siêu nhiên” (hay nói gọn lại là "cõi thiêng") - cõi đối lập với cõi
"trần tục", cõi hiện hữu mà con người có thể sờ mó, quan sát được. Niềm tin vào "cõi

thiêng" thuộc về bản chất con người, nó ra đời và tồn tại, phát triển cùng với con người
và loài người, nó là nhân tố cơ bản tạo nên đời sống tâm linh của con người, cũng giống
như đời sống vật chất, đời sống xã hội tinh thần, tư tưởng, đời sống tình cảm

Tùy theo hoàn cảnh, trình độ phát triển kinh tế, xã hội của mỗi dân tộc, địa
phương, quốc gia mà niềm tin vào “cõi thiêng” thể hiện ra các hình thức tôn giáo, tín
ngưỡng cụ thể khác nhau. Chẳng hạn như niềm tin vào Đức Chúa, Đức Mẹ Đồng Trinh
của Kitô giáo, niềm tin vào Đức Phật của Phật Giáo, niềm tin vào Thánh, Thần của tín
ngưỡng Thành Hoàng, Đạo thờ Mẫu Các hình thức tôn giáo tín ngưỡng này dù rộng
hẹp khác nhau, dù phổ quát toàn thế giới hay là đặc thù cho mỗi dân tộc thì cũng đều
là một thực thể biểu hiện niềm tin vào cõi thiêng chung của con người mà thôi.
Hiện tại, có nhiều ý kiến khác nhau khi sử dụng khái niệm “tôn giáo” và “tín
ngưỡng”. Theo quan điểm truyền thống, người ta có ý thức phân biệt tôn giáo và tín
ngưỡng, thường coi tín ngưỡng ở trình độ phát triển thấp hơn so với tôn giáo. Loại quan
điểm thứ hai là đồng nhất giữa tôn giáo và tín ngưỡng và đều gọi chung là tôn giáo, tuy
có phân biệt tôn giáo dân tộc, tôn giáo nguyên thủy, tôn giáo địa phương, tôn giáo thế
giới (phổ quát).
Sự khác nhau giữa tôn giáo và tín ngưỡng thể hiện ở một số điểm như: Tôn giáo
có hệ thống giáo lý, kinh điển được truyền thụ qua giảng dạy và học tập ở các tu viện,
thánh đường, học viện có hệ thống thần điện, có tổ chức giáo hội, hội đoàn chặt chẽ, có
nơi thờ cúng riêng như nhà thờ, chùa, thánh đường , nghi lễ thờ cúng chặt chẽ, có sự tách
biệt giữa thế giới thần linh và con người. Còn tín ngưỡng thì chưa có hệ thống giáo lý mà
chỉ có các huyền thoại, truyền thuyết. Tín ngưỡng mang tính chất dân gian, gắn với sinh
hoạt văn hóa dân gian. Trong tín ngưỡng có sự hòa nhập giữa thế giới thần linh và con
người, nơi thờ cúng và nghi lễ còn phân tán, chưa thành quy ước chặt chẽ
Tóm lại, có rất nhiều quan điểm khác nhau về tín ngưỡng nhưng chúng ta có thể hiểu:
Tín ngưỡng là tôn thờ thần thánh, tin vào lực lượng siêu nhiên theo cách giải thích và nếp
sinh hoạt nhất định; và do đó có tác dụng điều chỉnh nhận thức, hành vi của con người. Tín
ngưỡng là yếu tố quan trọng nhất của một tôn giáo. mỗi một tôn giáo ra đời đều phải dựa

vào một niềm tin nào đó. Đó là tín ngưỡng tôn giáo. Ngoài tín ngưỡng tôn giáo còn có tín
ngưỡng dân gian.
Tín ngưỡng dân gian là niềm tin vào thần linh thông qua lễ nghi gắn liền với tập
tục, thói quen truyền thống được lưu giữ trong các cộng đồng dân cư. Đó là một bộ

phận của văn hóa dân gian phản ánh ước nguyện của con người trong cuộc sống. Điều
cần lưu ý: tín ngưỡng không phải là một từ chỉ để chỉ tôn giáo. Ngoài nghĩa niềm tin tôn
giáo, tín ngưỡng là khái niệm còn được dùng để chỉ một niềm tin nào đó tuy có nội
dung tôn giáo nhưng không nằm trong một tôn giáo đã định nào, hoặc chưa đủ các yếu
tố để đạt tới cấp độ của một tôn giáo hoàn chỉnh.
* Một số đặc điểm truyền thống của người Hmông ở Việt Nam
- Tín ngưỡng, tôn giáo của người Hmông chủ yếu là các hình thức sơ khai vào
thời đại tiền giai cấp mà vắng bóng các hình thức tôn giáo của thời đại có giai cấp.
Trên lĩnh vực tín ngưỡng tôn giáo truyền thống của người Hmông có rất nhiều loại
hình đặc sắc và phong phú. Ngày nay trong cộng đồng người Hmông vẫn tồn tại nhiều
hình thức tôn giáo sơ khai vốn xuất hiện từ thời mạt kỳ nguyên thủy như:
+ Tô tem giáo:
Tô tem giáo là hình thức tôn giáo cổ sơ nhất, thể hiện niềm tin của con người vào
mối liên hệ gần gũi, huyết thống giữa một nhóm người với một loại động vật, cây cỏ,
hay một hiện tượng nào đó. những thứ đó được họ nhận làm thủy tổ của một cộng đồng
thị tộc, bộ lạc và được trân trọng, bảo vệ. Trong cộng đồng ấy có thần thoại về vị thủy
tổ của mình và có những điều cấm kỵ, có nghi lễ thờ cúng liên quan đến các vị tổ ấy. Tô
tem giáo một mặt phán ánh tư tưởng của xã hội thị tộc trong quan hệ chặt chẽ với môi
trường sống, phải cậy nhờ, phụ thuộc nhiều ở tự nhiên; mặt khác, cũng phản ánh mối
quan hệ trong nội bộ cộng đồng thị tộc, bộ lạc.
+ Bái vật giáo và vật linh giáo:
Bái vật giáo là lòng tin về một thuộc tính siêu nhiên của những sự vật như hòn đá,
gốc cây, là bùa, tượng về sau bái vật giáo trở thành đối tượng thờ cúng của các tôn
giáo. Nó là sự thổi phồng, phóng đại những tính năng thực tế của đồ vật và gán cho đồ
vật đó những khả năng siêu phàm, trở thành vật thiêng, được bảo vệ và giữ gìn một cách

đặc biệt. Hơn nữa, các đồ vật đó còn được coi là đối tượng để con người cầu xin, được
đưa vào nghi lễ để giúp cho con người đạt được những gì mà họ mong muốn.
Vật linh giáo là lòng tin ở linh hồn, xuất hiện khi con người có khả năng hình
thành những khái niệm về thế giới siêu linh, thế giới bên kia. Người tin vào Vật linh

giáo cho rằng, linh hồn có thể tác động đem lợi hoặc gây hại cho con người và các vật
đó có thái độ và hành vi giốn với con người. Nhân cách hóa và thần linh hóa là đặc
trưng của Vật linh giáo.
+ Sa man giáo
Sa man giáo là hình thức tín ngưỡng, nguyên thủy thể hiện niềm tin của con người
vào khả năng tác động đến các hiện tượng tự nhiên bằng những hành động tượng trưng
như cầu khẩn, phù phép, thần chú Người ta quan niệm rằng bằng những hành vi ấy,
con người có thể tác động đến vật thể hoặc đối tượng nhất định để đạt được kết quả mà
mình mong muốn.
Sa man giáo còn thể hiện khá nhiều trong cộng đồng người Hmông, nhưng tiêu
biểu là các hoạt động của thầy mo. Thầy mo tuy không phải là một nghề chuyên biệt
nhưng trong quan niệm của người Hmông đó là người lối liền xã hội với thần linh nên
được mọi người tôn kính. Thầy mo tiến hành mọi hoạt động có tính chất tín ngưỡng ở
các dịp cúng lễ trong chu kỳ đời người, từ lúc sinh ra, lúc ốm đau, cho đến khi chết.
Công cụ chủ yếu của thầy mo là dụng cụ âm dương, được làm từ hai mảng sừng
trâu hoặc bò; một đôi nhạc ngựa bằng đồng, một chiếc vòng lắc, một chiếc thanh la.
Trang phục của thầy mo rất đơn giản, ăn mặc như mọi người bình thường, chỉ khác là
có trùm một tấm khăn màu đỏ che kín đầu khi lên đồng. Trước khi lên đồng, thầy mo
ngồi trên một chiếc nghế, tay chân nhún nhầy theo điệu nhạc ngựa, cầm thanh la nhẩy
múa, miệng lẩm bẩm các bài cúng. Họ tin mình có khả năng giao tiếp với thần linh, như
là trông thấy, nghe thấy sự phán xét của thần linh. Theo thầy mo, lên đồng để rơi vào
trạng thái như hôn mê rồi thần linh nhập vào, hoặc linh hồn của họ đi lên xứ sở của thần
linh. Thầy mo còn dùng hiện tượng ma thuật, yểm bùa, phù phép chống lại sự làm hại
để bảo vệ gia đình, yểm bùa tình yêu

Ngoài ra những hình thức biểu hiện của tôn giáo xa xưa của dân tộc Hmông còn
có rất nhiều nghi lễ khác về mỗi quá trình trong vòng chu kỳ của đời người từ khi ra đời
cho đến khi chết.
- Tín ngưỡng, tôn giáo truyền thống của người Hmông là tín ngưỡng đa thần. Đa
thần giáo là trình độ ban đầu của quá trình ra đời, vận động phát triển của tín ngưỡng,

tôn giáo nói chung. Mặc dù thờ đa thần, người Hmông ở Việt Nam không lập đền thờ
mang tính cộng đồng, nhưng các nghi lễ cho nhiều thần tỏ ra quá phiền toái, tốn kém tiền
của, sức lực và thời gian. Trong đó nhiều nội dung đã trở nên cổ hủ, kìm hãm sự phát triển.
Cụ thể là các hình thức:
+Thờ cúng “Xử ca”
Xử ca là loại ma cai quản tiền của, phù hộ cho gia đình làm ăn phát đạt, giữ các linh hồn
trong gia đình không đi lang thang, được người Hmông coi trọng nhất.
+ Thờ cúng tổ tiên
Người Hmông thường thờ cúng tổ tiên trong ba đời trở lại, bàn thờ được đặt cạnh
bàn thờ “Xử ca” nhưng có mặt ván để ba bát hương. Trong lễ cúng chủ nhà gọi tên tuổi
của ba thế hệ đã khuất, mời về ăn tết với con cháu, cầu xin tổ tiên phù hộ cho con cháu
sức khỏe, làm ăn phát đạt.
Lễ cúng tổ tiên thường diễn ra vào đêm 30 tết, hoặc váo những lúc trong nhà có
người ốm đau để xin tổ tiên phù hộ. Ma tổ tiên là ma lành, nhưng người Hmông quan
niệm, nếu không thờ cúng chu đáo thì ma nay cũng bắt phạt họ phải ốm đau, đòi phải có
bò, lợn làm lễ cúng.
+ Thờ cúng ma buồng (Đá trùng)
Ma buồng là ma chăm sóc, bảo vệ sức khỏe trẻ con, phát triển gia súc. Người
Hmông quan niệm, khi đôi vợ chồng khó sinh để, hoặc đẻ ra không nuôi được, hoặc
trong nhà, lợn con đẻ ra hay bị chết là do ma buồng mất thiêng. Khi đôi vợ chồng có
con đầu lòng, người chồng được đặt tên mới thì tiến hành lập ma buồng. Cách thức lập
ma buồng là người ta lấy một quả bầu nho nhỏ, bỏ hết ruột bên trong và cùng với một
cái chén làm bằng ống nứa bỏ vào cái hộp đan bằng tre, hoặc mây. Hộp này được gác ở
mái nhà phía đầu giường của ông chủ gia đình. Người Hmông không cho phụ nữ, trẻ

em sờ đến cái hộp này. Gia đình có trẻ con thì cúng ma buồng ít nhất một lần trong
năm. Khi trong nhà có lợn đẻ cũng tiến hành cúng, như vậy hàng năm lễ cúng ma
buồng có thể tiến hành hai đến ba lần.
+ Thờ cúng ma bếp
Ma bếp là ma bảo vệ mùa màng, sản xuất nông nghiệp phát triển, nhiều lúa, ngô,

khoai sắn. Một số dòng họ có quan niệm ma bếp cũng có liên quan đến sức khỏe và
chăn nuôi, là người trong coi tài sản khi gia đình đi vắng.
+ Thờ cúng ma cửa
Ma cửa giống như người gác cửa, không cho điều xấu xâm nhập vào gia đình, của
cải, gia súc, giữ các hồn gia đình không bỏ đi. Người Hmông quan niệm khi trong nhà
có chuyện không hay như ốm đau, gia súc bị chết là do ma cửa bị ngã, không giữ vững
được bản mệnh. Người phụ nữ có thai ở gia đình khác bước qua cửa nhà mình thì cũng
làm cho ma cửa bị ngã, khi đó, phải làm lễ cúng nâng ma cửa dậy.
+ Thờ cúng ma cột cái
Cột cài là một cột giữa cửa vì kèo thứ hai, tiếp giáp giữa đầu bên phải và gian
giữa. Theo quan niệm của người Hmông, cột cái là nơi tập trung các hồn người, tượng
trưng cho sự vững chãi của gia đình. Ma cột cái làm nhiệm vụ bảo vệ nhà cửa, chống
chọi bão gió, giữ gìn hồn các thành viên trong gia đình.
- Trong hệ thống tín ngưỡng đa thần của người Hmông thì tín ngưỡng thờ cúng tổ
tiên giữ vị trí quan trọng.
Luật tục của người Hmông quy định rõ, đã là một gia đình Hmông thì dưới mái
nhà của họ phải có nơi thờ cúng tổ tiên. Theo truyền thống, chỗ thờ tổ tiên của đồng bào
luân ở vách tường thuộc gian giữa của ngôi nhà - gian dành cho các hoạt động tín
ngưỡng, tôn giáo.
Theo quan niệm của người Hmông, việc thờ cúng tổ tiên không chỉ thể hiện lòng
biết ơn đối với cha ông, với người đã khuất hay phải thực hiện lễ thức theo tục lệ tang
ma, mà nhiều khi còn là sự cầu mong, sự tạ lỗi, xin tha thứ… với tổ tiên, bởi tổ tiên luân
có sự chi phối đến số phận của con cháu (sức khỏe, hiệu quả công việc…). Tổ tiên luân

phù hộ cho con cháu hoặc có thể nổi dận phạt con cháu ốm đau… Nghi lễ cúng tổ tiên
thường được tiến hành đơn giản nhưng rất trang nghiêm.
1.2. người Hmông ở Lào Cai
1.2.1. Điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Lào Cai
Lào Cai là một tỉnh vùng cao, biên giới; diện tích tự nhiên 6.357,08 km
2

; có đường
biên giới giáp với Trung Quốc dài 203 km. Tổng dân số 55,7 vạn người với 25 dân tộc
sống đan xen nhau, trong đó có 24 dân tộc thiểu số với 39 vạn người, chiếm 64,8%, cư
trú ở 142 xã vùng cao, vùng sâu, vùng xa . Trong số các dân tộc thiểu số thì dân tộc
Hmông có số lượng đông nhất, gồm 22.126 hộ, 131.306 khẩu, chiếm tỷ lệ 22,21% dân
số toàn tỉnh; tiếp theo là dân tộc Tày (Tày, Pa Dí, Thu Lao) 88.257 người, chiếm
15,84%; dân tộc Dao 78.284 người, chiếm 14,05%; dân tộc Giáy 26.187 người, chiếm
4,7%; dân tộc Nùng 24.516 người, chiếm 4,40%; còn lại là các dân tộc khác. Trong số
25 dân tộc nói trên, chỉ có 15 dân tộc cư trú thành làng, bản.
Toàn tỉnh có 8 huyện 01 thành phố, 164 xã, phường, thị trấn (145 xã và 19
phường, thị trấn); trong đó có 138 xã vùng cao; 125 xã thuộc vùng đặc biệt khó khăn
(xã 135), chiếm 77% (nay là 81 xã); 26 xã biên giới; 2.033 thôn bản, tổ dân phố. Riêng
người Hmông sống phân tán ở cả 9/9 huyện, thành phố, 118 xã, trong đó 23 xã có 100%
người Mông; 526 thôn bản (trong đó 313 thôn bản có 100% người Hmông), tập trung
chủ yếu ở các huyện Bắc Hà, Si Ma Cai, Sa Pa, Mường Khương, Bát Xát, Bảo Yên, số
còn lại sống phân tán, rải rác, đan xen với các dân tộc khác.
*Về kinh tế
Trong năm qua đươc Đảng, Nhà nước quan tâm đầu tư các chương trình, dự án
phát triển kinh tế - xã hội như 327, 661, 135, 134… và sự nỗ lực của các cấp, các ngành,
của nhân dân các dân tộc trong tỉnh, đã tạo nên sự chuyển biến mạnh mẽ trên nhiều lĩnh
vực, đặc biệt là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp, nông thôn, tạo nên
những diện mạo mới về phát triển kinh tế của tỉnh, đời sống nhân dân được nâng cao,
tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm đạt mức trung bình 11, 2%, riêng năm 2007 đạt

×