Tải bản đầy đủ (.pdf) (54 trang)

LUẬN VĂN: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng đầu tư và phát triển Nam Định pptx

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (553.98 KB, 54 trang )






LUẬN VĂN:

Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại
Ngân hàng đầu tư và phát triển Nam Định







Lời mở đầu

Quá khứ hiện tại và tương lai là chuỗi nối tiếp thời gian, có mối quan hệ mật thiết với
nhau. Nền kinh tế Việt Nam đã hoà cùng dòng chảy, xu hướng phát triển kinh tế của thế
giới. Với những kinh nghiệm đúc kết từ ngày hôm qua để khắc phục những sai lầm,
phát huy những thuận lợi nhằm bổ trợ cho hôm nay đồng thời phải luôn nhạy bén, dự
báo những biến động trong tương lai để phòng ngừa hạn chế bất lợi, biết được tiềm
năng để sâu lại thành nhiệm vụ hoạt động cho ngày hôm nay. Kinh tế Việt Nam chuyển
từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế nhiều thành phần vận động
theo cơ chế thị trường dưới sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN, kinh tế
nước ta đã đạt được nhiều bước chuyển biến đáng kể. Nền kinh tế thị trường đã tạo điều
kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế phát huy thế mạnh
của mình vì mục tiêu phát triển và tích cực vào sự tăng trưởng của đất nước. Cùng với
các hoạt động kinh tế của cả nước, hoạt động của nghành Ngân hàng là hoạt động mang
tính chất chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn


trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện
thanh toán, đã xứng đáng chiếm vị trí quan trọng, góp phần nâng cao hiệu quả kinh
doanh của các doanh nghiệp, điều tiết nguồn lực cho sự phát triển kinh tế đất nước.
Trong hoạt động Ngân hàng nghiệp vụ tín dụng thường đem lại nguồn thu nhập chính (
chiếm khoảng 70% ). Song nghiệp vụ này lại chứa đựng nhiều rủi ro bởi quy luật lợi
nhuận càng cao thì rủi ro càng lớn, đồng thời thực tế đã cho thấy khi hiệp định thương
mại Việt Mỹ được thực thi thì xu hướng cạnh tranh giữa các Ngân hàng trong nước và
Ngân hàng nước ngoài ngày càng trở nên khốc liệt. Vì vậy các NHTM luôn quan tâm
chú trọng tới việc nâng cao chất lượng tín dụng nhằm tăng khả năng cạnh tranh với các
tổ chức khác.
Do thực tế trên, cùng với quá trình học tập, nghiên cứu tại trường Đại học Kinh tế Quốc
dân và thời gian thực tập tại Ngân hàng đầu tư và phát triển Nam Định, em đã chọn
chuyên đề:
“Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng đầu tư và phát triển Nam
Định” làm nội dung nghiên cứu chuyên đề tốt nghiệp. Mục đích của chuyên đề là
nghiên cứu những vấn đề lý luận để làm rõ vai trò của tín dụng Ngân hàng đối với việc

phát triển hoạt động của Ngân hàng đầu tư và phát triển Nam Định nói riêng, góp phần
vào sự nghiệp phát triển chung của đất nước. Phân tích đánh giá thực trạng tín dụng của
Ngân hàng đầu tư và phát triển Nam Định, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm tiếp tục
nâng cao chất lượng tín dụng cho Ngân hàng.
Kết cấu chuyên đề gồm ba phần:
Chương I: Giới thiệu khái quát về Ngân hàng đầu tư và phát triển Nam Định
Chương II:Thực trạng chất lượng tín dụng tại Ngân hàng đầu tư và phát triển Nam Định
Chương III: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng đầu tư và phát triển
Nam Định







Chương I: Giới thiệu khái quát về Ngân hàng
đầu tư và phát triển Nam Định

1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng đầu tư và phát triển Nam
Định
Từ sau những năm 90 hệ thống Ngân hàng Việt Nam đã có những biến đổi sâu
sắc. Từ hệ thống một cấp, Ngân hàng Việt Nam đã chuyển nhanh sang hệ thống ngân
hàng hai cấp, đa dạng hoá về loại hình sở hữu, từng bước hiện đại hoá các khâu nghiệp
vụ và công nghệ ngân hàng, mở rộng các loại hình dịch vụ và thực sự đi vào kinh doanh
tiền tệ. Với những chính sách và thành tựu đổi mới nền kinh tế, nghành Ngân hàng Việt
Nam đã có những thay đổi vô cùng lớn lao mang tính bước ngoặt của lịch sử. Việt Nam
đã xây dựng được những cơ sở hạ tầng cho nền tiền tệ và một hệ thống ngân hàng phù
hợp với bước đi của cơ chế thị trường. Trong năm qua nhờ tích cực đổi mới và tiến tới
hội nhập theo xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới, Việt Nam đã đẩy lùi và kiềm chế
được lạm phát, ổn định vĩ mô, tạo tiền đề cho nền kinh tế tăng trưởng với tốc độ cao
trong nhiều năm liên tục, từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp
hoá hiện đại hoá, đạt được những thành tựu nổi bật trong sự nghiệp xoá đói giảm nghèo
góp phần xây dựng nông thôn mới ổn định và cải thiện đời sống cho mọi tầng lớp nhân
dân, thúc đẩy quá trình xã hội hoá một cách nhanh hơn. Đóng góp vào những thành tựu
to lớn đó, Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam với truyền thống 47 năm xây dựng
và trưởng thành trải qua những thập niên đầy biến động của lịch sử nhất là từ năm 1990
đến nay, bằng những bước tiến mới trong việc thực hiện phục vụ sự nghiệp đầu tư phát
triển, thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, phục vụ nền kinh tế tăng trưởng một cách ổn
định vững chắc là một thành tựu to lớn, góp phần xây dựng nền móng cho sự nghiệp
công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước.
Những năm qua trong điều kiện thị trường tiền tệ của Việt Nam chưa phát triển,
chúng ta còn thiếu những công cụ gián tiếp để điều hành chính sách tiền tệ, chưa chủ
động được việc kiểm soát khả năng thanh toán trong toàn hệ thống ngân hàng. Nhưng

với những chủ trương và quyết sách lớn của thống đốc ngân hàng Việt Nam thông qua
hai quyết định:
 Quyết định 293/QĐ-NH9 ngày 18/11/1994

 Quyết định 79/QĐ-NH5 ngày 2/3/1995
Là sự biến đổi sâu sắc, mang tính khai phá, mở đường đưa hệ thống Ngân hàng
đầu tư và phát triển Việt Nam vào cơ chế thị trường theo mô hình một Ngân hàng
thương mại quốc doanh mà trước đó một thập niên Ngân hàng đầu tư và phát triển là
một đại diện không thể thiếu được trong thời kì bao cấp với chức danh truyền thống là
vừa cấp phát vừa cho vay kéo dài hàng mấy thập kỉ. Ngày nay Ngân hàng đầu tư và
phát triển đã hội tụ đầy đủ bản chất và chức năng nhiệm vụ của một ngân hàng thương
mại quốc doanh mang bản chất XHCN để phục vụ và phát triển môi trường của một nền
kinh tế mở đang tiến tới xu thế hội nhập và toàn cầu hoá, bằng trí thông minh và lòng
sáng tạo với nền kinh tế tri thức đã vuợt qua các nhân tố quản lí và kinh doanh truyền
thống để trở thành nhân tố phát triển rực rỡ nhất vào đầu thế kỉ tới.
Đối với Ngân hàng đầu tư và phát triển tỉnh Nam Định, trong hoạch định chiến
lược kinh doanh của toàn hệ thống, ngay từ những năm đầu của thập kỉ 90 khi còn là
Ngân hàng kiến thiết tỉnh Hà Nam Ninh (từ 26/4/1957) và đổi tên là Ngân hàng đầu tư
và xây dựng Hà Nam Ninh (từ 26/4/1981) năm 1992 chia tách Hà Nam Ninh thành chi
nhánh Nam Hà và Ninh Bình và năm 1997 chia tách Nam Hà thành chi nhánh ngân
hàng đầu tư và phát triển tỉnh Nam Định và Ngân hàng đầu tư và phát triển tỉnh Hà
Nam. Mỗi chặng đường lịch sử đều được ghi bao kỉ niệm được đánh dấu bằng những
kết quả đổi thay đáng trân trọng, 47 năm qua 3 lần thay đổi tên năm lần tách nhập
chuyển giao nhưng cùng một mục tiêu vươn lên phục vụ đầu tư phát triển không thay
đổi. Dưới sự chỉ đạo toàn diện mọi mặt hoạt động của Ngân hàng đầu tư và phát triển
Việt Nam, sự lãnh đạo trực tiếp của cấp uỷ và chính quyền địa phương, sự quan tâm
giúp đỡ của Ngân hàng nông nghiệp tỉnh, sự phối kết hợp giữa các ngân hàng thương
mại trên địa bàn và sự gắn bó mật thiết của các chủ dự án, các doanh nghiệp …Ban
giám đốc qua các thời kì đều luôn coi trọng lĩnh vực đầu tư phát triển coi đó là nhiệm
vụ cốt lõi xuyên suốt quá trình hoạt động của toàn hệ thống.

Hoạt động của Ngân hàng đầu tư phát triển tỉnh Nam Định là sự phát triển và
thúc đẩy, tăng trưởng về mọi mặt hoạt động của hệ thống ngân hàng trên địa bàn, đáp
ứng yêu cầu phát triển kinh tế địa phương xây dựng Nam Định quê hương giàu đẹp và
tìm lại được mình trong sự nghiệp đổi mới. Đó là nỗ lực cao nhất của cán bộ công nhân
viên chi nhánh Ngân hàng đầu tư và phát triển tỉnh Nam Định, để hoà chung với bước

phát triển đi lên mạnh mẽ của hệ thống Ngân hàng đầu tư phát triển Việt Nam. Một đơn
vị được nhà nước phong tặng danh hiệu anh hùng thời đổi mới, một tập đoàn tài chính
trong tương lai đang góp phần làm tăng nhanh khả năng và tiềm lực tài chính của đất
nước, làm lành mạnh hoá nền tài chính quốc gia, tiếp tục thực hiện mục tiêu tiến tới hội
nhập và toàn cầu hoá về kinh tể trên nền tảng kinh tế tri thức sẽ chiếm vị trí ngày càng
lớn trong quá trình phát triển.
1.2. Những đặc điểm chủ yếu hoạt động kinh doanh
1.2.1. Loại hình kinh doanh:
Kinh tế Việt Nam chuyển từ nền kinh tế tập trung, quan liêu bao cấp sang nền
kinh tế nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường dưới sự quản lí của nhà nước
theo định hướng XHCN, kinh tế nước ta đã đạt được nhiều chuyển biến đáng kể. Nền
kinh tế thị trường đã tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiêp thuộc mọi thành phần
kinh tế phát huy thế mạnh của mình vì mục tiêu phát triển và tích cực vào sự tăng
trưởng kinh tế của đất nước. Cùng với các hoạt động kinh tế của cả nước, hoạt động của
nghành Ngân hàng (NH) là hoạt động mang tính chất chủ yếu và thường xuyên là nhận
tiền gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực
hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán, đã xứng đáng chiếm vị trí
quan trọng, góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp, điều tiết
nguồn lực cho sự phát triển kinh tế đất nước. Hay nói cách khác Ngân hàng là một tổ
chức chuyên sản xuất kinh doanh tiền tệ với các sản phẩm như tín dụng ngắn hạn, trung
hạn và dài hạn…
1.2.2. Hình thức pháp lí:
Hệ thống Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam vào cơ chế thị trường theo
mô hình một Ngân hàng thương mại quốc doanh mà trước đó một thập niên Ngân hàng

đầu tư và phát triển là một đại diện không thể thiếu được trong thời kì bao cấp với chức
danh truyền thống là vừa cấp phát vừa cho vay kéo dài hàng mấy thập kỉ. Ngày nay
Ngân hàng đầu tư và phát triển đã hội tụ đầy đủ bản chất và chức năng nhiệm vụ của
một Ngân hàng thương mại quốc doanh mang bản chất XHCN để phục vụ và phát triển
môi trường của một nền kinh tế mở đang tiến tới xu thế hội nhập và toàn cầu hoá, bằng
trí thông minh và lòng sáng tạo với nền kinh tế tri thức đã vuợt qua các nhân tố quản lí

và kinh doanh truyền thống để trở thành nhân tố phát triển rực rỡ nhất vào đầu thế kỉ
tới.
1.2.3. Những đặc điểm về sản phẩm và thị trường.
1.2.3.1. Những đặc điểm về sản phẩm:
Là một đơn vị kinh doanh tiền tệ, Ngân hàng luôn cung cấp những sản phẩm,
dịch vụ Ngân hàng có chất lượng cao, tiện ích tốt nhất cho khách hàng. Không ngừng
nghiên cứu và phát triển, nâng cao chất lượng sản phẩm để đáp ứng mỗi ngày một tốt
hơn nhu cầu đa dạng của khách hàng. Luôn lắng nghe, tìm hiểu nhu cầu, tiếp thu ý kiến
khách hàng để không ngừng cải tiến, hoàn thiện hệ thống quản lí chất lượng, nâng cao
sức cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ Ngân hàng nhằm cung ứng cho thị trường những
sản phẩm, dịch vụ Ngân hàng đạt tiêu chuẩn chất lượng cao. Sự đa dạng về sản phẩm
phong phú về dịch vụ của đơn vị kinh doanh đặc biệt này ta có thể khái quát như sau:
*Dịch vụ tiền gửi: bao gồm
- Dịch vụ mở tài khoản:
+ Khách hàng là cá nhân, doanh nghiệp đều được mở các tài khoản bằng (VND và
ngoại tệ).
+ Tài khoản tiền gửi thanh toán, các loại tài khoản tiền gửi có kì hạn và tài khoản tiền
vay.
-Dịch vụ tiền gửi (VND, USD):
+ Tiền gửi có kì hạn, không kì hạn
+ Tiết kiệm các loại kì hạn
+ Tiết kiệm có mục đích, tích luỹ, gửi góp
+ Kỳ phiếu các loại kỳ hạn

+ Trái phiếu, chứng chỉ nhận nợ
* Nghiệp vụ tín dụng: bao gồm
- Tín dụng ngắn hạn
Các phương thức cho vay:
+ Cho vay triết khấu
+ Cho vay theo món
+ Cho vay theo hạn mức
- Tín dụng trung, dài hạn

Các loại cho vay:
+ Cho vay trung, dài hạn đầu tư phát triển các dự án
+ Cho vay hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ
+ Cho vay ứng dụng các đề tài nghiên cứu khoa học vào sản xuất
+ Cho vay kết hợp với quỹ hỗ trợ phát triển
+ Cho vay đồng tài trợ cho các dự án
- Bảo lãnh:
+ Bảo lãnh theo món
+ Bảo lãnh theo hạn mức
+ Bảo lãnh đối ứng
- Cho thuê tài chính:
+ Là các tổ chức cá nhân hoạt động tại Việt Nam trực tiếp sử dụng tài sản thuê cho mục
đích sản xuất kinh doanh bao gồm: cá nhân có đăng kí kinh doanh, hộ gia đình, doanh
nghiệp, tổ chức khác thuộc đối tượng được vay vốn của các tổ chức tín dụng.
* Nghiệp vụ thanh toán qua Ngân hàng:
- Nghiệp vụ thanh toán trong nước:
+ Thanh toán bằng tiền mặt:
 Rút tiền mặt kể cả nhận tiền chuyển từ nơi khác đến
 Nộp tiền mặt để chuyển tiền đi nơi khác
+ Thanh toán không dùng tiền mặt:
 Séc: chuyển khoản, bảo chi, chuyển tiền

 Uỷ nhiệm chi
 Uỷ nhiệm thu
 Ngân phiếu thanh toán
 Thẻ thanh toán
+ Dịch vụ hỗ trợ thanh toán:
 Dịch vụ rút tiền tự động (ATM)
 Ngân hàng tại nhà (Home banking)
- Nghiệp vụ thanh toán quốc tế:
+ Thanh toán hàng xuất khẩu
+ Thanh toán hàng nhập khẩu

+ Nghiệp vụ bảo lãnh
+ Các dịch vụ thanh toán quốc tế khác:
 Thanh toán thẻ tín dụng
 Dịch vụ thanh toán séc du lịch, thanh toán nhờ thu séc
 Dịch vụ chuyển tiền kiều hối
* Các dich vụ khác
- Bảo hiểm
- Hỗ trợ các doanh nghiệp có hợp tác với Lào
- Nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán
- Tư vấn đầu tư
- Mua bán ngoại tệ
- Dịch vụ ngân quỹ, tiền mặt
- Dịch vụ chi trả hộ lương cho CBCNV
- Đại lý bán séc du lịch
- Vận chuyển tiền
- Giữ hộ giấy tờ có giá
- Các dịch vụ ngân hàng khác
1.2.3.2. Những đặc điểm về thị trường:
So với Ngân hàng thương mại nhà nước trên địa bàn tỉnh Nam Định Ngân hàng

đầu tư phát triển tỉnh có mạng lưới nhỏ nhất, mới có 1 hội sở chính và một phòng giao
dịch: vì vậy có khó khăn khi mở rộng thị phần huy động vốn và thị phần vay vốn. Tốc
độ chuyển dịch cơ cấu khách hàng sang các lĩnh vực khách hàng tư nhân, cá thể , hộ
kinh doanh, các doanh nghiệp vừa và nhỏ diễn ra chậm Do đó tăng trưởng dư nợ cho
vay, thị phần cho vay và huy động vốn chưa tương xứng với tiềm năng khách hàng tỉnh
Nam Định. So với các Ngân hàng thương mại khác trên địa bàn thì Ngân hàng đầu tư
phát triển tỉnh Nam Định có tốc độ tăng trưởng bình quân thấp hơn cả về huy động vốn
và cho vay.
1.2.4. Cơ cấu tổ chức:
- Trụ sở chính: 92C Hùng Vương thành phố Nam Định.
- Cơ cấu tổ chức: Ban giám đốc gồm
- Giám đốc:Vũ Thị Kim Oanh

- Phó giám đốc: Nguyễn Thị Hiền
- Phó giám đốc: Phạm Văn Lợi
- Phó giám đốc: Phạm Thị Hương
- Tổng số cán bộ công nhân viên đến ngày 31/12/2004 là 93 người trong đó có một
đồng chí hợp đồng ngắn hạn duới một năm
- Các phòng gồm: 8 phòng
+ Phòng nguồn vốn và quản lí kinh doanh
+ Phòng kiểm tra kiểm toán
+ Phòng tín dụng 1
+ Phòng tín dụng 2
+ Phòng dịch vụ khách hàng
+ Phòng kế toán tài vụ
+ Phòng giao dịch số 1
+ Phòng tổ chức hành chính
- Các tổ gồm năm tổ:
+ Tổ kho quỹ
+ Bàn tiết kịêm trung tâm

+ Bàn tiết kiệm khu vực Chợ Rồng
+ Tổ thanh toán quốc tế
+ Tổ thẩm định

Sơ đồ bộ máy tổ chức của Ngân hàng đầu tư và phát triển Nam Định



















1.3. Hoạt động kinh doanh của Ngân hàng trong những năm gần đây
1.3.1. Thị trường nguồn vốn và huy động vốn:
Trong những năm gần đây, tổng nguồn vốn của Ngân hàng đầu tư và phát triển
tỉnh Nam Định không ngừng tăng trưởng và đạt tỷ trọng cao. Năm 2000 tổng nguồn vốn
huy động là 552097 triệu, năm 2001 tổng nguồn vốn huy động là 642.824 triệu đồng,
năm 2002 tổng nguồn vốn huy động là 664.478 triệu đồng, năm 2003 tổng nguồn vốn

huy động là 689.000 triệu đồng. Riêng năm 2004 tổng nguồn vốn huy động là 615.700
triệu đồng giảm 10,64% so với năm 2003. Nguyên nhân của sự sụt giảm này là do tác
động chỉ số giá cả hàng hoá tiêu dùng năm 2004/2003 ước tăng: 9,8%, tỷ lệ lãi suất tiền
gửi các loại không bù đắp tỷ lệ trượt giá, do đó người dân có tâm lý đầu tư mua vàng(
Giám Đ
ốc

Phó Giám
đốc

Phó Giám
đốc
Phó Giám
đốc

P.Nguồn
v
ốn &
P.Kiểm toán
P.tc - hc p. DV-KH
Kế toán tàI
vụ
P.giao dịch
số 1
p.Tín dụng
1
p.Tín dụng
2

do giá vàng liên tục tăng ); đầu tư mua bất động sản nhà đất, tài sản khác.Tuy vậy chi

nhánh hoàn toàn chủ động được nguồn vốn để cấp tín dụng trên địa bàn.
Thông qua bảng tình hình huy động vốn của Ngân hàng ta thấy tỷ trọng tiền gửi
dân cư đang tăng nhanh chứng tỏ đời sống kinh tế trong dân cư có sự chuyển biến về
mặt chất, song phải thừa nhận rằng nguồn tiền gửi từ các tổ chức kinh tế ngày một giảm
tỷ trọng trong năm gần nhất năm 2004 chỉ chiếm 11,4 tổng nguồn vốn tự huy động, đó
cũng chính là điều đáng cần lưu tâm, bởi tiền gửi của các TCKT đóng góp không nhỏ
vào nguồn trung và dài hạn của Ngân hàng ngược lại chi nhánh không bị phụ thuộc vào
nguồn vốn của khách hàng lớn. Nhưng nhìn chung xu hướng tăng tổng nguồn vốn vẫn
tiến triển tốt, tiền gửi dân cư là nguồn vốn tương đối bền vững và lâu dài góp phần cho
hoạt động sử dụng vốn của Ngân hàng đa dạng và hiệu quả hơn.
Để có thể đạt được kết quả trên, chi nhánh NHĐT & PT tỉnh Nam Định luôn xác
định chủ động tích cực tạo nên vốn ổn định vững chắc, coi nguồn vốn nội tệ ( VND ) là
quyết định. Chú trọng tăng trưởng nguồn vốn tiền gửi có kỳ hạn, tăng tỷ trọng vốn
trung, dài hạn đáp ứng chiến lược sử dụng vốn chủ yếu đáp ứng nhiều cho tăng trưởng
đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh của khách hàng, cân đối nguồn vốn của Ngân
hàng, đảm bảo kinh doanh có lợi nhuận, tránh huy động thừa vốn bị rủi ro về lãi suất do
không sử dụng tối ưu nguồn vốn.
Tình hình huy động vốn


Đơn vị: Triệu đồng
Chỉ tiêu
2000

2001

2002

2003


2004

Tổng
số
Tỷ
trọng
%
Tổng
số
Tỷ
tr
ọng
%
Tổng
số
Tỷ
trọng
%
Tổng
số
Tỷ
tr
ọng
%
Tổng số

Tỷ
trọng
%
T

ổng nguồn vốn
huy động
552.09
7
642.82
4
664.47
8
689.00
0
615.700


I.Phân theo đ
ối
tượng

1.Ti
ền gửi
TCKT
93.842

17 81.065

13 59.997

9 79.000

11 69.700


11
2.Ti
ền gửi dân

458.25
5
83 561.75
9
87 604.48
1
91 610.00
0
89 546.000

89
II.Phân lo
ại
theo TG

VNĐ 322.24
1
58 349.00
0
54 399.97
4
60,2 474.00
0
69 375.000

61

USD 229.85
6
42 293.82
4
46 264.49
8
39,8 215.00
0
31 240.700

39

Với mục tiêu tạo nền vốn ổn định vững chắc cho kinh doanh, coi nguồn vốn nội
tệ ( VND ) là quyết định; chú trọng tăng trưởng nguồn vốn TG có kỳ hạn, tăng tỷ trọng
vốn trung dài hạn đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển và SXKD của khách hàng. Trong 5
năm trở lại đây Ngân hàng đầu tư và phát triển luôn cố gắng hết mình trong công tác
huy động vốn, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay, để đáp ứng nhu cầu về thị trường
vốn trên địa bàn mà nổi bật là năm 2003:
- Tổng nguồn vốn tự huy động năm 2003 là 689 ngàn triệu đồng, tăng trưởng so với
năm 2002 là 3,69%, chiếm tỷ trọng 85% tổng nguồn vốn. Trong đó:
+ Tiền gửi các tổ chức kinh tế: 79 ngàn triệu đồng, tăng so năm 2002 là 31,67%, tỷ
trọng huy động vốn các TCKT chiếm 11,5% tổng nguồn vốn tự huy động.

+ Tiền gửi dân cư: 610 Ngàn triệu đồng, tăng so năm 2002 là 1%, chiếm tỷ trọng 88,5%
nguồn vốn tự huy động
Trong nguồn vốn tự huy động:
+ Nguồn bằng VND: Có số dư huy động cuối kỳ là 474 nghìn triệu đồng, tăng trưởng so
với năm 2002 là 18,5%, chiếm tỷ trọng 68,8% nguồn vốn tự huy động
+ Nguồn vốn ngoại tệ (USD và EUR quy đổi ) có số dư huy động cuối kì là 215 nghìn
triệu đồng chiếm tỷ trọng 31,2% nguồn vốn tự huy động giảm 18,68% so năm 2002

- Thị phần huy động vốn của Ngân hàng đầu tư và phát triển Nam Định chiếm
29,64% trên địa bàn - đó là một nỗ lực lớn. Nếu tính huy động vốn bình quân đầu người
(cán bộ) với các Ngân hàng thương mại quốc doanh khác trên địa bàn:
+ Ngân hàng đầu tư và phát triển bình quân huy động đầu người năm 2003 là 8 tỷ/
người.
+ Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huy động bình quân đầu người
năm 2003: 1,85 tỷ/người. Với số lượng cán bộ gấp hơn 5 lần cán bộ Ngân hàng đầu tư
và phát triển – có mạng lưới hoạt động rộng gồm: Hội sở chính, 12 chi nhánh huyện,
thành phố, tăng 2 chi nhánh so năm 2002; và 28 Ngân hàng liên xã (Chi nhánh cấp 3 ),
tăng 3 chi nhánh so với năm 2002
+ Ngân hàng Công thương tính bình quân huy động đầu người năm 2003 là 4,2
tỷ/người. Với số lượng cán bộ gấp hơn 2 lần cán bộ Ngân hàng đầu tư và phát triển có
mạng lưới hoạt động rộng gồm: Hội sở chính, Ngân hàng Công thương thành phố và 7
phòng giao dịch, tăng 1 đơn vị so với năm 2002.
Thị phần huy động vốn so sánh với các NHTM
Tên Ngân hàng
Thi phần
2001(%)
Thi phần
2002(%)
Thi phần
2003(%)
T.T th

phần so
2001(%)
T.T th

phần so
2002(%)

01

Ngân hàng ĐT &
PT NĐịnh
31,79 34 29,64 -2,15 -4,36
02

Ngân hàng NN &
PTNT
26 27 34,07 +11,07 +7,97
03

Ngân hàng công
thương
42,21 39 35,39 -6,82 -3,61

Tổng so sánh 100% 100%

Trong năm 2003 các Ngân hàng thương mại trên địa bàn huy động vốn với tỷ lệ
lãi suất cao hơn hệ thống Ngân hàng đầu tư và phát triển; hình thức phong phú hơn kết
hợp quay số dự thưởng, quà tặng kèm theo và với lợi thế về mạng lưới hoạt động rộng,
cán bộ gấp nhiều lần Ngân hàng đầu tư và phát triển do đó thị phần huy động vốn của
họ tăng. Hệ thống Ngân hàng đầu tư và phát triển trong năm 2003 và chi nhánh Nam
Định do điều chỉnh hạ lãi suất huy động 4 lần trong năm, nhu cầu vốn vay bằng ngoại tệ
(USD) năm 2003 chỉ bằng 50% so với năm 2002 do vậy Chi nhánh không có nhu cầu
huy động vốn nhiều USD để tránh rủi ro về lãi suất, thừa nguồn vốn trong kinh doanh.
+ Về cơ cấu huy động: Vốn nội tệ (VND) chiếm 68,8% tổng nguồn vốn tự huy động
tăng trưởng so năm 2002 là 18,5% (năm 2002 so với năm 2001 giảm 3,67%) trong đó
nguồn vốn có kỳ hạn chiếm 87%
Vốn ngoại tệ (USD và EURO) chiếm 31,2% tổng nguồn vốn huy động giảm so với năm

2002 la 18,68%. Cơ cấu nguồn vốn huy động phù hợp với sử dụng vốn của Chi nhánh
năm 2003 chủ yếu cho vay vốn bằng VND, nhu cầu vay vốn bằng USD năm 2003 chỉ
bằng 50% so với năm 2002.
+ Nguồn vốn tự huy động trên địa bàn thoả mãn toàn bộ nhu cầu giải ngân các dự án
đầu tư phát triển và kinh doanh tín dụng thương mại, còn góp phần điều hoà vốn trong
toàn bộ hệ thống ( tiền gửi có kỳ hạn tại TTTT Hội sở chính Ngân hàng đầu tư và phát
triển Việt Nam: 237.709 triệu đồng, trong đó VND là 92.090 triệu đồng ).
+ Nguồn vốn nhận từ Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam để cho vay dài hạn
theo kế hoạch ngắn ngày và chỉ định là 98.240 triệu đồng giảm so với năm 2002 là
1,5% ( Năm 2002 so với năm 2001 là 18,7% ) nguồn thuê tài chính là 744 triệu đồng
giảm so với năm 2002: 36,4% do trả nợ theo hợp đồng.
1.3.2. Công tác tín dụng:
Cơ chế cho vay của Ngân hàng đầu tư và phát triển đối với khách hàng theo
quyết định 1627 của thống đốc Ngân hàng Việt Nam có hiệu lực thi hành từ đầu năm
2002 đã cơ bản tháo gỡ tất cả các vướng mắc về cơ chế cho vay trước đây. Cuối tháng
10/2002 chính phủ ban hành nghị định 85/NH/CP về: sửa đổi bổ sung cơ chế bảo đảm
tiền vay, giao quyền tự chủ cho các tổ chức tín dụng. Tất cả các quyết định đó cho thấy

Chính phủ và Ngân hàng nhà nước đã cơ bản tháo gỡ những khó khăn về hoạt động tín
dụng, tạo điều kiện cung ứng vốn tối đa cho nền kinh tế là kết quả của công việc cơ cấu
lại của toàn nghành đã có tác động tốt đến sức mạnh tài chình và nguồn vốn của Ngân
hàng. Hoạt động tín dụng của Ngân hàng đầu tư và phát triển Nam Định đã bám sát
đường lối phát triển kinh tế xã hội của tỉnh để phục vụ tập trung vốn vào các nghành có
thế mạnh của địa phương như: Dệt may, xuất nhập khẩu hàng nông sản, tiểu thủ công
mỹ nghệ, sản suất hàng tiêu dùng phục vụ nhân dân tăng dịch vụ xã hội.
Tốc độ tăng trưởng nợ tín dụng trong những năm qua ngày một cao:
- Tổng dư nợ năm 2003: 486 tỷ đồng tăng trưởng 5,4 % so với năm 2002, tăng so
với năm 2001 là 17,67%.
Dư nợ ( không kể nợ khoanh ): 420 tỷ đồng, tăng trưởng 11,7% so với năm 2002, tăng
21,3% so với năm 2001

Trong đó:
+ Dư nợ ngắn hạn: 260tỷ đồng giảm 3,56% so với năm 2002
+ Dư nợ trung và dài hạn thương mại: 145 tỷ đồng, tăng 268,5 so với năm 2002
+ Dư nợ theo KHNN: 15 tỷ đồng, giảm 71,54% so với năm 2002. Do thu nợ 37,3 tỷ
đồng, vượt 6,57%
+ Nợ tồn đọng giảm 100% so với năm 2002
+ Nợ dài hạn được khoanh 66,2 tỷ đồng, giảm 0,74% so với năm 2002 và chiếm:
13,58% tổng dư nợ, kể cả nợ khoanh
+ Dư nợ bằng VND: 424 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 87,2 % tổng dư nợ, tăng trưởng 15,3%
so với năm 2002
+ Dư nợ bằng ngoại tệ (USD) là 62 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 12,8% tổng dư nợ, giảm
33,62% so với năm 2002
+ Tổng nợ quá hạn ( không kể nợ được khoanh ): 35 nghìn triệu đồng, chiếm tỷ lệ
8,33% dư nợ, giảm 22,1% so với năm 2002
+ Nợ quá hạn thương mại ròng: 16.500 triệu đồng chiếm tỷ lệ 4,07% nợ thương mại,
giảm 55,7% so với năm 2002
Cơ cấu tín dụng đã chuyển dịch theo hướng tích cực đầu tư trung và dài hạn có
trọng tâm trọng điểm, phát triển nhanh tín dụng thương mại xuất nhập khẩu, đầu tư
chiều sâu, phục vụ sản xuất kinh doanh phát triển.

Năm Tỷ trọng tín dụng ngắn hạn(%) Tỷ trọng tín dụng trung, dài hạn(%)
1998 38,10 61,9
1999 41,40 58,60
2000 63,52 36,48
2001 67,90 32,10
2002 55,00 45,00
2003 61,90 38,10
2004 62,45 37,55

Vốn đầu tư hơn 400 tỷ đồng đã đầu tư vào các nghành kinh tế sau:

+ Nghành xây dựng và sản xuất các loại vật liệu xây dựng: 39,25%
+ Nghành công nghiệp 20,27%
+ Nghành thương mại điện tử du lịch:22,62%
+ Nghành giao thông thuỷ lợi: 1%
+ Nghành nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản: 10,43%
+ Kinh tế tập thể và các nghành khác: 1,32%
+ Kinh tế tư nhân cá thể: 5,21%
Công tác tín dụng của Chi nhánh năm 2003 có mức tăng trưởng 11,7% so với
năm 2002 ( không kể nợ được khoanh ) nhưng vẫn thấp hơn mức tăng trưởng bình quân
của các Ngân hàng thương mại khác trên địa bàn như Ngân hàng nông nghiệp tăng
trưởng 47,7%; Ngân hàng công thương tăng 16,6% so với năm 2002. Dẫn đến thị phần
tín dụng của Ngân hàng đầu tư và phát triển trên địa bàn bị thu hẹp:

TT Tên Ngân hàng
Thị phần
2002(%)
Thị phần
2003(%)
% TT th

phần so năm
2002
01 Ngân hàng ĐT & PT 21,8 19,06 -2,74
02 Ngân hàng Công thương 29,6 28,63 -0,97
03 Ngân hàng NN & PTNT 40,3 49,4 9,10
04 Ngân hàng chính sách 8,3 2,91 -5,39

Tổng so sánh 100 100

Dư nợ cho vay bình quân đầu người như sau:

+ Ngân hàng đầu tư và phát triển 5,72triệu/ người giảm so với năm 2002 là 6,99%
+ Ngân hàng công thương 3,65triệu/ người tăng so với năm 2002 là 16,6%
+ Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn 2,8triệu/ người tăng so với năm 2002
là 47,36%
Như vậy năng suất lao động bình quân của một cán bộ Ngân hàng đầu tư phát triển Nam
Định bằng 2,04 lần so với Ngân hàng nông nghiệp và 1,75 lần so với Ngân hàng công
thương trên địa bàn.
Năm 2003 công tác tín dụng tích cực thu hồi nợ quá hạn, nợ khó đòi. Tổng số thu được
5183 triệu đồng giảm tỷ lệ nợ quá hạn so với năm 2002
Năm 2003 công tác xử lý nợ tồn đọng đã được thực hiện tốt, 100% nợ tồn đọng đã được
xử lý, trong đó xử lý nợ tồn đọng công trình Chợ Rồng đã được dứt điểm
Tổng số nợ gốc đã được xử lý là 14.961.800 ngàn đồng:
+ Nợ tín dụng thương mại :9.961.800 ngàn đồng
+ Nợ tín dụng chỉ định: 5.000.000 ngàn đồng
Tổng số nợ lãi 19.350.891.254 đồng ngoài ra còn xử lý nợ tồn đọng của một số đơn vị
khác – Tinh hình tài chính, bảng tổng kết tài sản của Ngân hàng đã được cải thiện
Hinh thành quỹ DPRR tín dụng trên cơ sở kết quả và khả năng tài chính của Chi nhánh.
Luỹ kế quỹ DPRR tín dụng 8839 triệu; số thực trích DPRR tín dụng 3700 triệu đồng đạt
100% kế hoạnh do TW giao.
Đi đôi với tăng trưởng tín dụng, Ngân hàng đầu tư và phát triển tỉnh Nam Định
cũng rất chú trọng nâng cao chất lượng tín dụng. Ngân hàng thường xuyên rà soát sàng
lọc, phân tích chất lượng tín dụng theo dõi chặt chẽ quá trình sử dụng vốn vay của
khách hàng, áp dụng các chế tài tín dụng để tận thu các khoản nợ khó đòi. Do đó trong
những năm qua nợ quá hạn giảm mạnh ( Nợ tồn đọng giảm 100% so với năm 2002 )
Thông qua hoạt động tín dụng của Ngân hàng đã góp phần rất lớn trong việc tháo gỡ
khó khăn cho khách hàng tập trung thu nợ và xử lý nợ tốt công tác tín dụng tăng trưởng
tương đối tốt. Song tốc độ tăng trưởng nguồn còn chậm, điều này Ngân hàng cần lưu ý
xem xét để đẩy mạnh công tác này.

1.3.3. Chiến lược khách hàng

Công tác phát triển khách hàng được Chi nhánh quan tâm và có chiến lược, chính
sách lâu dài. Năm 2003 Chi nhánh kiên trì thực hiện hệ thống quản lý chất lượng ISO
9001-2000, đề ra mục tiêu tiên tiến trong kế hoạch kinh doanh cải cách thủ tục hành
chính từ khâu huy động vốn đến giải ngân phục vụ khách hàng. Chi nhánh tổ chức lấy ý
kiến thăm dò đánh giá sự hài lòng của khách hàng vay vốn đến 65 khách hàng thông
qua phiếu điều tra thăm dò khách hàng đánh giá Ngân hàng đầu tư phát triển Nam Định
có đội ngũ cán bộ nghiệp vụ sâu luôn tận tình chu đáo, vị trí giao dịch thuận tiện, mặt
bằng lãi suất cho vay ngang bằng với các Ngân hàng khác nhưng cần được mở rộng
mạng lưới tăng địa điểm chi nhánh giao dịch để tạo thuận tiện hơn cho khách hàng.

1.3.4. Thực hiện các dịch vụ Ngân hàng:
Hoạt động thanh toán trong nước: Doanh số thanh toán trong năm 2003 tăng
20% so với năm 2002. Thu từ dịch vụ thanh toán trong nước đạt 476,9 triệu đồng tăng
17,17% so với năm 2002.
Hoạt động thanh toán quốc tế đạt doanh số 26,6 triệu USD thu từ dịch vụ thanh
toán quốc tế đạt 425,2 triệu đồng tăng trưởng 20,6% so với năm 2002 đạt 106,3% kế
hoạch năm 2003
Hoạt động kinh doanh ngoại tệ: Thu từ kinh doanh ngoại tệ đạt 178 triệu đồng,
bằng 82,79% so với năm 2002
Hoạt động bảo lãnh: Tăng cường doanh số bảo lãnh,đa dạng các loại hình bảo
lãnh, chất lượng an toàn, mở rộng dịch vụ là nguồn thu tích cực trong dịch vụ Ngân
hàng. Thu dịch vụ bảo lãnh đạt 364 triệu đồng tăng trưởng 86% so với năm 2002
1.3.5. Hiệu quả kinh doanh
Trong chỉ đạo điều hành thực hiện nhiệm vụ kinh doanh, Chi nhánh chấp hành
tuân thủ pháp lệnh kế toán thống kê, chế độ hạch toán của nghành các quy định của nhà
nước. Đảm bảo các tỷ lệ về dự trữ, trạng thái ngoại tệ, đảm bảo các khả năng thanh toán
đáp ứng cho khách hàng nhanh chóng chính xác an toàn
Hoạt động kinh doanh có lợi nhuận: Lợi nhuận trước thuế đạt 4639,8 triệu động
tăng trưởng 15,2% so với năm 2002, đạt 103,1% kế hoạch lợi nhuận TW giao
Trích dự phong rủi ro tín dụng 3700 triệu đồng tăng trưởng 23,33% so với năm


2002 và đạt 100% kế hoạch trích dự phòng rủi ro TW giao
1.3.6. Công tác quản trị điều hành
Công tác lãnh đạo, chỉ đạo của ban giám đốc là yếu tố quan trọng, là nhân tố
quyết định đến kết quả hoạt động kinh doanh của Chi nhánh
Quản trị diều hành bám sát định hướng phát triển tăng trưởng mục tiêu của kinh
tế địa phương, các chỉ tiêu, kế hoạch Ngân hàng đầu tư phát triển Việt Nam giao cho
Chi nhánh .Từ đó Chi nhánh xây dựng các giải pháp giao kết quả cụ thể đến từng người
lao động về các chỉ tiêu về tăng trưởng nguồn vốn tăng trưởng tín dụng chất lượng tín
dụng, tăng trưởng doanh thu dịch vụ Ngân hàng
Kiện toàn tổ chức bộ máy, tăng năng lực điều hành của đội ngũ cán bộ chủ chốt
từ trưởng phó phòng ban, nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn đội ngũ cán bộ, đào
tạo và đào tạo lại, tập trung và bổ sung các lĩnh vực còn thiếu, yếu: Thẩm định, tin học,
thanh toán quốc tế, tín dụng thương mại.
Tóm lại: Thông qua những kết quả đạt được trong những năm gần đây ta có thể nhận
thấy tiềm năng mở rộng và phát triển các mặt hoạt động kinh doanh. Song bên cạnh đó
quy mô và tốc độ phát triển kinh tế chung trên cả nước là còn chậm

CHƯƠNG II: Thực trạng chất lượng tín dụng
tại Ngân hàng đầu tư và phát triển Nam Định

2.1. Chất lượng tín dụng Ngân hàng
2.1.1. Khái niệm chất lượng tín dụng Ngân hàng
Chất lượng tín dụng ngân hàng là sự đáp ứng yêu cầu khách hàng phù hợp
với sự phát triển KTXH, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của Ngân hàng.
Đối với khách hàng: tín dụng phát ra phải phù hợp với mục đích sử dụng của
khách hàng với lãi suất, kì hạn nợ hợp lý. Thủ tục giản đơn thu hút được khách hàng
nhưng vẫn đảm bảo nguyên tắc tín dụng.
Đối với sự phát triển kinh tế xã hội: tín dụng phục vụ sản xuất và lưu thông hàng
hoá, góp phần giải quyết việc làm, thúc đẩy quá trình tích tụ tập trung sản xuất.

Đối với NHTM: Phạm vi, mức độ, giới hạn tín dụng phải phù hợp với thực tế của
bản thân ngân hàng, đảm bảo được nguyên tắc hoàn trả đúng hạn và có lãi của tín dụng,
hạn chế đến mức thấp nhất rủi ro trong quá trình hoạt động mang lại lợi nhuận và đảm
bảo thanh khoản cho Ngân hàng.
Chất lượng tín dụng tỷ lệ thuận với hiệu quả và tốc độ tin cậy trong hoạt động tín
dụng.
2.1.2. Các hệ thống chỉ tiêu phản ánh chất lượng tín dụng Ngân hàng
Vì quy mô và chất lượng tín dụng có mối quan hệ rất mật thiết với nhau cho nên
ở đây ta sẽ tìm hiểu đôi chút về các chỉ tiêu phản ánh quy mô tín dụng.
2.1.2.1. Chỉ tiêu phản ánh quy mô tín dụng
Doanh số cho vay = số tiền cho vay của Ngân hàng đối với khách hàng trong một
thời kỳ nhất định.
Dư nợ tín dụng = dư nợ tín dụng kỳ trước + doanh số cho vay trong kỳ – doanh
số thu nợ trong kỳ.
2.1.2.2. Chỉ tiêu phản ánh chất lượng tín dụng
2.1.2.2.1. Tỷ lệ nợ quá hạn
Trong quan hệ tín dụng, tính an toàn hay khả năng trả nợ của người vay là yếu tố
quan trọng bậc nhất để cấu thành nên chất lượng tín dụng. Khi một khoản vay không
được trả đúng hạn như đã cam kết mà không có lý do chính đáng thì nó đã vi phạm

nguyên tắc tín dụng và bị chuyển thành NQH với lãi suất cao hơn lãi suất bình thường.
Trong nền kinh tế thị trường rủi ro trong hoạt động kinh doanh là khách quan do đó tất
yếu có NQH . Song nếu một Ngân hàng thương mại có nhiều khoản NQH sẽ gặp khó
khăn trong kinh doanh vì có nguy cơ mất vốn, mà đây là điều tệ hại dễ dẫn đến mất khả
năng thanh toán và giảm thu nhập.
Các tỷ lệ: NQH/ Tổng dư nợ
NQH/ Tổng tài sản
Tuy nhiên hiện nay tỷ lệ NQH/ Tổng dư nợ được sử dụng nhiều hơn.
Tỷ lệ NQH/ Tổng dư nợ càng thấp thì chất lượng càng cao và ngược lại.
2.1.2.2.2. Hiệu quả tín dụng

Hiệu quả tín dụng cũng là một chỉ tiêu thường được sử dụng để đánh giá chất
lượng tín dụng của Ngân hàng. Chỉ tiêu hiệu quả tín dụng càng cao thì phản ánh chất
lượng tín dụng của Ngân hàng đó càng tốt.
Các tỷ lệ: Lợi nhuận từ hoạt động tín dụng/ Tổng dư nợ.
Lợi nhuận từ hoạt động tín dụng/ DS cho vay trong kỳ.
2.1.2.2.3. Đảm bảo tiền vay
Đảm bảo tiền vay thường được Ngân hàng ứng dụng trong các hợp đồng tín
dụng. Trong nhiều trường hợp có thể xảy ra rủi ro khi khách hàng sử dụng vốn kém
hiệu quả, sản xuất kinh doanh thua lỗ, phá sản… nên Ngân hàng phải bán tài sản đảm
bảo. Số tiền do bán tài sản có thể đủ để trả hết món nợ vay, nhưng cũng có thể chỉ trả
được một phần món vay, điều đó ảnh hưởng đến thu nhập của Ngân hàng và làm suy
giảm chất lượng tín dụng. Để đánh giá chất lượng tín dụng người ta xác định bằng công
thức:
Tỷ lệ thanh toán nợ do bán tài sản đảm bảo = Số tiền thu nợ do khách hàng bán tài sản /
Tổng DS thu nợ.
Tỷ lệ này được tính theo định kỳ ( tháng, quý, năm )
2.1.2.2.4. Chỉ tiêu vòng quay vốn tín dụng
Chỉ tiêu này được tính toán để đánh giá khả năng tổ chức quản lý vốn tín dụng và
chất lượng tín dụng trong việc thoả mãn nhu cầu khách hàng, giải quyết hợp lý giữa ba
lợi ích: Nhà nước, Khách hàng, Ngân hàng.
Vòng quay vốn tín dụng = DS thu nợ/ Dư nợ bình quân.

Hệ số này phản ánh số vòng chu chuyển vốn tín dụng ( thường là một năm). Hệ số này
càng cao thể hiện tình hình tổ chức quản lý vốn tín dụng càng tốt, chất lượng tín dụng
càng cao.
Ngoài ra còn một số chỉ tiêu và phương pháp đánh giá khác như:
- Tính đa dạng hoá của tài sản.
- Tình hình tài chính và dự án của người vay.
- Môi trường hoạt động của người vay.
- Cơ cấu vốn đầu tư.

- Phương pháp phân loại tài sản có.
Trong các chỉ tiêu trên thì phương pháp tính tỷ lệ NQH vẫn là phương pháp phổ bến
nhất và đơn giản nhất.
2.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng của Ngân hàng đầu tư và phát
triển Nam Định.
Quy mô và chất lượng tín dụng là hai chỉ tiêu luôn đi liền nhau. Bởi lẽ nếu mở
rộng quy mô mà vẫn không tính đến chất lượng thì sẽ dẫn đến rủi ro rất lớn. Nếu chỉ
tăng chất lượng mà không quan tâm đến quy mô tín dụng thì không đạt hiệu quả kinh tế
tối ưu. Do mối quan hệ mật thiết giữa 2 chỉ tiêu này mà hầu hất những nhân tố tác động
lên chỉ tiêu này thì cũng có tác động tới chỉ tiêu khác và ngược lại.
2.2.1. Nhân tố bên trong
2.2.1.1. Chính sách tín dụng
Chính sách tín dụng là kim chỉ nam cho hoạt động tín dụng của Ngân hàng. Một chính
sách tín dụng đúng đắn sẽ thu hút nhiều khách hàng, đảm bảo khả năng sinh lời từ hoạt
động tín dụng dựa trên cơ sở phân tán rủi ro, tuân thủ pháp luật, đường lối chính sách
của Nhà nước. Toàn bộ các vấn đề có liên quan đến cấp tín dụng nói chung đều được
xem xét và đưa ra trong chính sách như: Quy mô, lãi suất, kì hạn, đảm bảo, phạm vi, các
khoản tín dụng có vấn đề và các nội dung khác; điều này có nghĩa là quy mô và chất
lượng tín dụng tuỳ tuộc vào chính sách tín dụng cua Ngân hàng có đúng đắn hay không.
2.2.1.2. Quy trình tín dụng
Để chuẩn hoá quá trình tiếp xúc, phân tích, cho vay và thu nợ đối với khách hàng, các
Ngân hàng thường đặt ra quy trình phân tích tín dụng. Đó là các bước mà cán bộ tín
dụng, các phòng, ban có liên quan trong Ngân hàng phải thực hiện khi tài trợ cho khách

hàng. Nếu việc ứng dụng quy trình tín dụng linh hoạt, có sự phối hợp nhịp nhàng ăn ý
giữa các bước sẽ vừa làm hài lòng khách hàng vừa đảm bảo nguồn tín dụng an toàn, tạo
điều kiện mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng tín dụng cho Ngân hàng.
2.2.1.3. Trình độ cán bộ
Với một đội ngũ cán bộ giỏi am hiểu nghiệp vụ của mình thì việc lựa chọn đánh giá
khách hàng sẽ chuẩn xác, mức độ an toàn cao là cơ sở mở rộng và nâng cao chất lượng

tín dụng. Nếu chất lượng cán bộ kém, không đủ trình độ đánh giá khách hàng hoặc đánh
giá không tốt, cố tình làm sai… là những nguyên nhân dẫn tới mất khách hàng tốt ảnh
hưởng tới hoạt động của Ngân hàng.
2.2.1.4. Công nghệ Ngân hàng
Sự hiện đại hoá công nghệ và kĩ thuật của nền kinh tế luôn gắn liền với hiện đại hoá
công nghệ và kĩ thuật Ngân hàng, hay có thể nói công nghệ Ngân hàng là tập hợp những
yếu tố hiện đại nhất. Vì vậy các Ngân hàng phải luôn luôn đổi mới nắm bắt công nghệ
mới. Có như thế chất lượng hoạt động của Ngân hàng mới được nâng cao, quy mô được
mở rộng.
2.2.1.5. Hoạt động huy động vốn
Hoạt động chính của NHTM là tìm kiếm khoản vốn (huy động vốn) để sử dung nhằm
thu lợi nhuận. Việc sở dụng vốn chính là quá trình tạo nên các loại tài sản khác nhau
của Ngân hàng trong đó cho vay và đầu tư là hai loại taì sản lớn và quan trọng. Nguồn
huy động càng nhiều thì quy mô cho vay càng lớn.
2.2.1.6. Thông tin tín dụng
Thông tin tín dụng là những thông tin về khách hàng, môi trường kinh doanh của khách
hàng… thông tin càng chính xác, nhanh nhậy thì khả năng phòng ngừa rủi ro của Ngân
hàng càng lớn, chất lương tín dụng càng được nâng cao. Mặt khác, một Ngân hàng với
lượng thông tin phong phú có thể đưa ra những tư vấn hữu ích cho khách hàng và đây là
yếu tố để mở rộng quy mô tín dụng.
Tóm lại: Thông qua các nhân tố bên ngoài và bên trong ảnh hương đến quy mô và chất
lượng tín dụng có thể thấy được vai trò của từng nhân tố biết vận dụng và phát huy các
mặt mạnh của các nhân tố, tránh những mặt hạn chế của chúng sẽ là liều thuốc bổ cho
Ngân hàng về chất lượng tín dụng.

Ngày nay Ngân hàng là một loại hình tổ chức rất phức tạp, cung cấp nhiều loại dịch vụ
tiền tệ đa dạng thông qua các bộ phận đa chức năng. Mỗi một bộ phận này đều gồm
những đội ngũ chuyên gia có trình độ, giàu kinh nghiệm và có khả năng đưa ra các
quyết định đúng đắn trong lĩnh vực tài chính tiền tệ. Từng nhóm chuyên gia trong Ngân
hàng thường xuyên phải đưa ra những quyết định về đối tượng khách hàng sẽ được

cung cấp tín dụng, những tiêu chuẩn áp dụng cho từng loại tiền gửi… Bởi vì, tiền gửi là
nguồn vốn truyền thống được sử dụng để tạo lập các quỹ của Ngân hàng. Chính nhu cầu
của công chúng về tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi giao dịch đã cung cấp cơ sở cho hầu hết
các khoản đầu tư và cho vay của Ngân hàng và kết quả cuối cùng là góp phần quan
trọng trong việc tạo ra lợi nhuận cho Ngân hàng. Tuy nhiên các chuyên gia Ngân hàng
phải làm gì khi mà số lượng cũng như sự tăng trưởng của tiền gửi không đủ để đáp ứng
tất cả các yêu cầu xin vay và đầu tư mà Ngân hàng muốn thực hiện. Vì vậy công tác huy
động vốn là cần thiết. Khi vốn đã đủ hoặc dư thừa thì hoạt động cho vay của Ngân hàng
phải hợp lý và đúng đắn bởi cho vay là chức năng kinh tế hàng đầu của Ngân hàng.
Thông qua các khoản cho vay của Ngân hàng, thị trường sẽ có thêm thông tin về chất
lượng tín dụng của từng khách hàng và nhờ đó giúp họ có khả năng nhận thêm các
khoản tín dụng mới từ những nguồn khác với chi phí thấp hơn. Đối với hầu hết các
Ngân hàng khoản mục cho vay chiếm quá nửa giá trị tổng tài sản và tạo ra từ 1/2 đến
2/3 nguồn thu của Ngân hàng . Đồng thời rủi ro trong hoạt động Ngân hàng có xu
hướng tập trung vào danh mục các khoản cho vay. Tình trạng khó khăn về tài chính của
một Ngân hàng thường phát sinh từ các khoản cho vay khó đòi Tóm lại: Thị trường tín
dụng luôn tạo ra nhiều tiềm năng cho sự phát triển của Ngân hàng nói riêng và sự phát
triển của nền kinh tế nói chung. Sự huy động vốn và lỗ lực mở rộng tín dụng nâng cao
chất lượng tín dụng là hiển nhiên và cần thiết. Tín dụng là cơ sở vững chắc cho sự phát
triển của ngành Ngân hàng , góp phần đẩy nhanh tốc độ CNH – HĐH đất nước.
2.2.2. Các nhân tố bên ngoài
2.2.2.1. Về kinh tế
Về tổng thể nền kinh tế phát triển ổn định sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động tín
dụng. Khi đó, các quá trình sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế sẽ phát triển lành
mạnh. Và như thế, quy mô và chất lượng tín dụng đều được nâng cao. Một khi môi
trường kinh tế không ổn định, môi trường kinh doanh biến động sẽ gây khó khăn cho

×