Tải bản đầy đủ (.pdf) (122 trang)

LUẬN VĂN: Giải pháp thu hút vốn đầu tư phát triển công nghiệp ở tỉnh Hưng Yên hiện nay docx

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (841.01 KB, 122 trang )













LUẬN VĂN:
Giải pháp thu hút vốn đầu tư
phát triển công nghiệp ở
tỉnh Hưng Yên hiện nay









Mở đầu

1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong nền kinh tế hiện nay, vốn đầu tư phát triển kinh tế nói chung và vốn đầu tư
phát triển công nghiệp nói riêng là một vấn đề đặc biệt quan trọng, cần được quan tâm
giải quyết. Việc thu hút vốn đầu tư phát triển công nghiệp như thế nào để đáp ứng được


nhu cầu đầu tư phát triển của ngành công nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại
hóa; đồng thời việc thu hút vốn đó phải đạt được hiệu quả kinh tế cao.
Hiện nay, tỉnh Hưng Yên đã hình thành một số khu công nghiệp tập trung, làng
nghề tiểu thủ công nghiệp, thu hút hàng trăm nhà đầu tư đến đây thành lập doanh nghiệp,
tiến hành sản xuất kinh doanh. Các khu công nghiệp, làng nghề tiểu thủ công nghiệp này
cần huy động số lượng lớn vốn đầu tư phát triển của các nhà đầu tư thuộc mọi thành phần
kinh tế ở trong nước và nước ngoài. Để các khu công nghiệp, làng nghề tiểu thủ công
nghiệp của tỉnh không chỉ là đầu tàu kinh tế góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh
tế - xã hội của tỉnh, mà còn có thể trở thành các khu công nghiệp, làng nghề tiểu thủ công
nghiệp điển hình về thu hút vốn đầu tư phát triển ở khu vực phía Bắc.
Từ thực tế cho thấy vốn đầu tư phát triển công nghiệp ở tỉnh Hưng Yên đã có
những dấu hiệu khả quan, tích cực, đã thu hút được số lượng lớn vốn đầu tư ở trong và
ngoài nước. Song bên cạnh đó cũng còn nhiều khó khăn, tồn tại cần phải được tháo gỡ,
đặc biệt là vấn đề thu hút vốn đầu tư phát triển công nghiệp. Đây cũng chính là vấn đề
đòi hỏi phải được giải quyết cả về mặt cơ sở lý luận và cả về mặt thực tiễn hiện nay.
Chính vì lý do đó mà luận văn đã đi sâu vào nghiên cứu vấn đề: Giải pháp thu
hút vốn đầu tư phát triển công nghiệp ở tỉnh Hưng Yên hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Thu hút vốn đầu tư phát triển kinh tế nói chung và phát triển công nghiệp nói
riêng đã được nhiều tác giả nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau. ở nước ta có một số


công trình nghiên cứu khoa học đã công bố liên quan đến thu hút vốn đầu tư phát triển
như:
- Viện nghiên cứu tài chính: Khu vực đầu tư asean việc tham gia của Việt Nam,
Nxb Tài chính, Hà Nội, 1999.
- Nguyễn Công Nghiệp, Lê Hải Mơ, Vũ Đình ánh: Tiếp tục đổi mới chính sách tài
chính phục vụ mục tiêu tăng trưởng, Nxb Tài chính, Hà nội 1998.
- đỗ đức Quân: Thị trường vốn Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa, hiện
đại hóa. Luận án tiến sĩ kinh tế, 2001.

- Chính sách tài chính vĩ mô trong phát triển và hội nhập, Nxb Tài chính, Hà nội
2002.
- Nguyễn Văn Tuấn: Đầu tư trực tiếp nước ngoài với phát triển kinh tế ở Việt
Nam, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2005.
- Nguyễn Văn Phúc: Huy động vốn trong nước phục vụ sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước, Luận văn thạc sĩ kinh tế, 1996.
- Nguyễn Chu Lai: Những giải pháp chủ yếu nhằm huy động vốn trong nước
phục vụ phát triển kinh tế Việt Nam, Luận án tiến sĩ kinh tế, năm 1996.
- Nguyễn Xuân Kiên: Tích tụ và tập trung vốn trong nước để phát triển công
nghiệp ở nước ta hiện nay, Luận án tiến sĩ kinh tế, 1999.
Những công trình nghiên cứu trên chủ yếu đề cập đến việc thu hút vốn đầu tư
phát triển kinh tế phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ở nước ta và
một số nước trong khu vực hiện nay. Mặt khác, việc nghiên cứu của những công trình
khoa học này chỉ đề cập đến một khía cạnh nào đó trong chính sách thu hút vốn đầu tư.
Chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu có hệ thống tập trung vào vấn đề thu hút
vốn đầu tư phát triển công nghiệp nói chung và phát triển công nghiệp ở tỉnh Hưng Yên
hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn


- Phân tích và làm rõ khái niệm, các đặc trưng của vốn đầu tư, đầu tư vốn, các
nguồn vốn đầu tư và vai trò của vốn đầu tư đối với nền kinh tế quốc dân. Nghiên cứu
kinh nghiệm một số tỉnh trong nước và một số nước trên thế giới về thu hút vốn đầu tư
phát triển công nghiệp. Thông qua nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm nhận thức
một cách có hệ thống các nội dung có liên quan đến vấn đề vốn đầu tư, thu hút vốn đầu tư
phát triển nói chung và vốn đầu tư phát triển công nghiệp của tỉnh Hưng Yên nói riêng.
- Đánh giá tình hình thực tế phát triển công nghiệp và thực trạng thu hút vốn đầu
tư phát triển công nghiệp ở tỉnh Hưng Yên trong giai đoạn vừa qua. Tìm ra những thành
công, hạn chế và các nguyên nhân.
- Tổng hợp những quan điểm và định hướng của Đảng và Nhà nước, của tỉnh

Hưng Yên về việc phát triển công nghiệp và thu hút vốn đầu tư phát triển công nghiệp.
- Đề xuất những giải pháp chủ yếu để thu hút vốn đầu tư có hiệu quả vào lĩnh vực
công nghiệp ở tỉnh Hưng Yên trong giai đoạn 2006 - 2010, tầm nhìn đến năm 2020. Đưa
ra các điều kiện để đảm bảo thực hiện thắng lợi các giải pháp thu hút vốn đầu tư phát
triển công nghiệp ở tỉnh Hưng Yên hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng và những giải pháp cơ bản nhằm
thu hút có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư, đáp ứng được nhu cầu đầu tư phát triển công
nghiệp ở tỉnh Hưng Yên trong quá trình thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước.
- Thời gian nghiên cứu chỉ tập trung vào giai đoạn từ năm 2001 - 2020 khi Hưng
Yên thành lập các khu công nghiệp tập trung, các làng nghề tiểu thủ công nghiệp và thực
hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước, của tỉnh Hưng Yên
trong giai đoạn 2001 - 2020.
5. Phương pháp nghiên cứu
Cách nghiên cứu dựa trên nền tảng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện
chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, luận văn sử dụng tổng hợp một số phương pháp như:


phân tích, thống kê, so sánh, dựa trên cơ sở vận dụng và quán triệt đường lối, chủ trương
của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước về sự hình thành và phát triển công
nghiệp, về vốn đầu tư phát triển công nghiệp. Đồng thời, kế thừa các công trình nghiên
cứu có liên quan đã được công bố của một số tác giả viết về cơ sở lý luận và thực tiễn
hiện nay thu hút vốn đầu tư phát triển của một số địa phương trong nước và của một số
nước trên thế giới.
6. ý nghĩa lý luận và thực tiễn
- Luận văn đã luận giải được một cách có hệ thống những vấn đề về bản chất, nội
dung, vai trò quyết định của vốn đầu tư đối với sự phát triển kinh tế nói chung và phát
triển công nghiệp ở tỉnh Hưng Yên nói riêng.
- Trên cơ sở thực tiễn, luận văn đã đánh giá tình hình thực tế phát triển công

nghiệp và thực trạng thu hút vốn đầu tư phát triển công nghiệp ở tỉnh Hưng Yên trong
thời gian qua, làm căn cứ cho việc đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm thu hút có hiệu
quả các nguồn vốn đầu tư phát triển công nghiệp ở tỉnh Hưng Yên trong thời gian tới.
- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan
hoạch định chính sách và cơ quan quản lý nhà nước cấp tỉnh ở tỉnh Hưng Yên và một số
tỉnh khác.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, nội dung luận văn
được kết cấu thành 3 chương, 7 tiết.


Mục lục


Trang

Mở đầu
1

Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về vốn đầu tư
5
1.1.

Vai trò của vốn đầu tư phát triển công nghiệp 5
1.2.

Kinh nghiệm của một số tỉnh trong nước và một số nước trên thế
giới về thu hút vốn đầu tư phát triển công nghiệp
29


Chương 2: Thực trạng thu hút vốn đầu tư phát triển công
nghiệp ở tỉnh hưng yên
40
2.1.

Tình hình thực tế phát triển công nghiệp ở tỉnh Hưng Yên 40
2.2.

Thực trạng thu hút vốn đầu tư phát triển công nghiệp ở tỉnh Hưng
Yên
58

Chương 3: các giải pháp thu hút vốn đầu tư phát triển công
nghiệp ở tỉnh hưng yên hiện nay
73
3.1.

Phương hướng phát triển công nghiệp và chính sách thu hút vốn đầu
tư phát triển công nghiệp của tỉnh Hưng Yên đến năm 2010, tầm nhìn
đến năm 2020

73
3.2.

Các giải pháp thu hút vốn đầu tư phát triển công nghiệp ở tỉnh Hưng
Yên hiện nay

87
3.3.


Các điều kiện để đảm bảo thực hiện giải pháp 107

Kết luận
110

danh mục Tài liệu tham khảo
112

phụ lục
116


Danh mục các bảng

Số hiệu
bảng
Tên bảng
Trang

1.1
Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hình thức đầu tư từ năm
1988 - 2005
20
2.1
Lao động công nghiệp tính đến 1/7 hàng năm
50
2.2
Tỷ trọng GDP công nghiệp trong GDP toàn tỉnh
52
2.3

Cơ cấu vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn tỉnh Hưng Yên
59
2.4
Thu chi ngân sách nhà nước trên địa bàn
62
2.5
Số cơ sở sản xuất công nghiệp ngoài quốc doanh
65
2.6
Cơ cấu GDP theo ngành kinh tế của tỉnh Hưng Yên
67
3.1
Phương án phát triển công nghiệp giai đoạn 2006 - 2010, tầm
nhìn 2020
76
3.2
Dự kiến các nguồn vốn đầu tư phát triển kinh tế - xã hội tỉnh
Hưng Yên giai đoạn 2006 - 2010, tầm nhìn đến năm 2020
89



Chương 1
Một số vấn đề cơ bản về vốn đầu tư

1.1. vai trò của vốn đầu tư phát triển công nghiệp
1.1.1. Khái niệm và những đặc trưng của vốn đầu tư


Vốn là yếu tố quan trọng nhất đối với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của

nhiều nước trên thế giới, nhất là các nước đang phát triển và đặc biệt đối với nền kinh tế
nước ta hiện nay.
Cho đến nay chưa có một định nghĩa bằng văn bản chính thức của Nhà nước về
vốn. Tuy nhiên, trong nhiều sách, giáo trình của các học viện, các trường đại học thuộc
khối kinh tế có rất nhiều khái niệm về vốn dưới góc độ phân loại thành vốn cố định, vốn
lưu động và vốn đầu tư tài chính.
Hiện nay, nền kinh tế nước ta đã chuyển sang kinh tế thị trường có sự quản lý vĩ
mô của Nhà nước, đó là môi trường thuận lợi để vốn bộc lộ bản chất và vai trò của mình.
Việc tìm hiểu, nhận thức lại khái niệm và những đặc trưng cơ bản của vốn đầu tư là công
việc cần thiết, trước khi đi tìm các giải pháp để thu hút vốn cho đầu tư phát triển.
Vốn đầu tư là một bộ phận của nguồn lực biểu hiện dưới dạng giá trị của các tài
sản quốc gia được thể hiện bằng các tài sản hữu hình và vô hình nhằm sử dụng vào mục
đích đầu tư để sinh lời.
Cần chú ý rằng, nguồn lực trên phải nằm trong một dự án đầu tư thì mới được gọi
là nguồn vốn đầu tư. Nếu không chúng mới chỉ là nguồn lực tích lũy và dự trữ dưới dạng
tiềm năng. Nói cách khác, vốn đầu tư phải là nguồn lực trong trạng thái "động".
Để làm rõ khái niệm về vốn đầu tư, cần đi sâu phân tích những đặc trưng cơ bản
của vốn đầu tư dưới đây:
Thứ nhất, vốn phải được biểu hiện bằng giá trị của những tài sản, điều này có
nghĩa là vốn phải đại diện cho một lượng giá trị có thực của tài sản (tài sản hữu hình và
vô hình). Tài sản hữu hình là những tài sản có hình thái vật chất cụ thể như nhà xưởng,
máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, nguyên vật liệu Tài sản vô hình là những tài sản
không có hình thái vật chất cụ thể. Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường, tài sản vô hình
rất phong phú và đa dạng như: vị trí kinh doanh, bản quyền, phát minh sáng chế, nhãn
hiệu hàng hóa, uy tín trong kinh doanh Như vậy một lượng tiền phát hành không vào


lưu thông, không có giá trị đảm bảo hoặc các khoản nợ không có khả năng thanh toán
cũng không thể được gọi là vốn.
Thứ hai, vốn phải được vận động nhằm mục đích sinh lời. Vốn là tiền nhưng

không phải mọi đồng tiền đều là vốn. Tiền chỉ là vốn ở dạng tiềm năng, khi nào chúng
được dùng vào đầu tư kinh doanh thì chúng mới biến thành vốn. Tiền là phương tiện để
trao đổi, lưu thông hàng hóa còn vốn là để sinh lời, nó luôn chu chuyển và tuần hoàn.
Quá trình đầu tư là một quá trình vận động của vốn đầu tư. Cách vận động và phương
thức vận động của tiền vốn lại do phương thức đầu tư kinh doanh quyết định. Các
phương thức đầu tư có thể mô phỏng theo sơ đồ sau:
- Trường hợp đầu tư vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh:
TLSX
T - H SX H’ - T’
SLĐ
- Trường hợp đầu tư vào lĩnh vực thương mại:
T - H - T’
- Trường hợp đầu tư mua cổ phiếu, trái phiếu, góp vốn liên doanh :
T - T’
Ngoài sự phân biệt giữa vốn và tiền, cần phân biệt sự khác nhau giữa vốn và tài sản.
Vốn là biểu hiện bằng tiền của một bộ phận tài sản, nhưng không phải mọi tài sản đều được
gọi là vốn. Tài sản có nhiều loại: có loại do thiên nhiên ban tặng, có loại do thành quả lao
động của con người sáng tạo ra; có loại là hữu hình, có loại là vô hình. Những tài sản đó nếu
được giá trị hóa thành tiền và đưa vào đầu tư thì đều được gọi là vốn đầu tư. Những tài
sản này được gọi là tài sản hoạt động (để phân biệt với tài sản bất động, tức là tài sản ở dạng
tiềm năng).
Thứ ba, vốn bao giờ cũng gắn liền với một chủ sở hữu nhất định, không có khái
niệm vốn vô chủ. Chủ sở hữu vốn có thể là một chủ như Nhà nước là chủ sở hữu vốn duy


nhất trong các doanh nghiệp nhà nước, nhưng cũng có thể là nhiều chủ như các cổ đông
là chủ sở hữu vốn trong các công ty cổ phần. Tùy theo hình thức đầu tư mà người chủ sở
hữu có thể đồng nhất hoặc không đồng nhất với người sử dụng vốn. ở đâu không xác
định được rõ chủ sở hữu của vốn và tài sản thì ở đó việc quản lý, sử dụng vốn sẽ kém
hiệu quả, gây ra lãng phí và tiêu cực.

Thứ tư, trong nền kinh tế thị trường vốn là một loại hàng hóa đặc biệt. Sở dĩ coi
vốn là một loại hàng hóa, vì nó cũng có giá trị và giá trị sử dụng như mọi loại hàng hóa
khác. Giá trị sử dụng của vốn là để sinh lời. Nhưng vốn là một loại hàng hóa đặc biệt
khác với hàng hóa thông thường, ở chỗ người bán vốn không mất đi quyền sở hữu mà chỉ
bán quyền sử dụng vốn mà thôi. Người mua nhận được quyền sử dụng vốn trong một
khoảng thời gian nhất định và phải trả cho người bán vốn một tỷ lệ nhất định tính trên số
vốn đó, gọi là lãi suất. Như vậy, lãi suất chính là giá cả của quyền sử dụng vốn.
Việc mua bán quyền sử dụng vốn được diễn ra trên thị trường tài chính. Thị
trường tài chính là nơi diễn ra các hoạt động mua bán quyền sử dụng các nguồn tài chính
thông qua những phương thức giao dịch và các công cụ tài chính nhất định, là tổng hòa
các quan hệ cung và cầu về vốn. Thị trường tài chính bao gồm hai bộ phận:
- Thị trường tiền tệ: là thị trường vốn ngắn hạn, nơi diễn ra các hoạt động mua
bán quyền sử dụng các nguồn vốn ngắn hạn. Thị trường tiền tệ diễn ra chủ yếu thông qua
hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại. Vì các ngân hàng thương mại là chủ thể
quan trọng nhất trong việc thu hút và cung cấp các nguồn vốn ngắn hạn.
- Thị trường vốn: là nơi diễn ra các hoạt động mua bán quyền sử dụng các nguồn
vốn dài hạn. Thị trường vốn cung cấp tài chính cho các khoản đầu tư dài hạn của Chính
phủ, chính quyền địa phương, của các doanh nghiệp, các hộ gia đình và các cá nhân. Thị
trường vốn gồm có thị trường vay nợ dài hạn và thị trường chứng khoán.
Chỉ khi nào có lợi tức thỏa đáng thì người sở hữu vốn mới bán quyền sử dụng
vốn của mình. Đây là một nguyên lý có tính chất nguyên tắc để thu hút, huy động vốn
trong cơ chế thị trường.


Thứ năm, đồng vốn có giá trị về mặt thời gian. ở các thời điểm khác nhau thì giá
trị của vốn cũng khác nhau. Bởi lẽ, đồng tiền càng trải dài theo thời gian thì nó càng bị
mất giá và độ an toàn càng giảm. Vì vậy, một vấn đề đặt ra là phải hiện tại hóa hoặc
tương lai hóa giá trị của vốn để làm cơ sở tính toán và phân tích hiệu quả đầu tư.
Thứ sáu, vốn phải được tích tụ và tập trung. Tích tụ vốn là việc tăng số vốn cá
biệt của từng doanh nghiệp, từng hộ sản xuất. Tập trung vốn là làm tăng quy mô vốn đơn

vị toàn xã hội. Có tích tụ vốn mới có tập trung vốn. Tập trung vốn sẽ biến những tác dụng
nhỏ bé của từng khoản vốn tích tụ cá biệt thành sức mạnh của nguồn vốn đầu tư của toàn
xã hội. C.Mác đã khẳng định, nếu không có tích tụ và tập trung tư bản thì đến nay trên
thế giới chưa có được hệ thống đường sắt.
Thiếu vốn là căn bệnh kinh niên của nền kinh tế Việt Nam. Để điều trị căn bệnh
này không còn cách nào ưu việt hơn là phải tăng cường thu hút, huy động vốn, khơi
thông các dòng chảy của vốn và hướng chúng vào đầu tư phát triển kinh tế. Đó chính là
tiền đề cơ bản cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của đất nước. Vốn chính là tiền đề
của mọi quá trình đầu tư.
1.1.2. Đầu tư vốn
Đầu tư vốn đó là số vốn được dùng vào kinh doanh trong một lĩnh vực nhất định
nhằm mục đích kinh tế - xã hội. Đầu tư vốn là hoạt động chủ quan có cân nhắc của người
quản lý trong việc bỏ vốn vào một mục tiêu kinh doanh với hy vọng sẽ đem lại hiệu kinh
tế - xã hội cao trong tương lai. Việc bỏ vốn vào mục tiêu kinh doanh nào đó nhằm mục
đích thu lợi nhuận thì được gọi là đầu tư vốn. Trong thực tế, giữa khả năng thu lợi nhuận
cao với khả năng an toàn về vốn thường mâu thuẫn với nhau: mức lợi nhuận càng cao thì
độ rủi ro về vốn càng lớn. Do đó, các nhà đầu tư trước khi đầu tư vào một dự án nào đó
thường phải cân nhắc, lựa chọn hướng đầu tư và phương án đầu tư thích hợp, sao cho lợi
nhuận thu được là nhiều nhất nhưng độ rủi ro về vốn là thấp nhất.
Theo phạm vi đầu tư, thì đầu tư được chia ra thành đầu tư vào bên trong và đầu tư
ra bên ngoài. Đứng trên phương diện đầu tư của Chính phủ đối với nền kinh tế, thì đầu tư


vào bên trong là sự đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, đầu tư cho việc chuyển dịch
cơ cấu kinh tế, đầu tư để hình thành những lĩnh vực, ngành mũi nhọn Còn đầu tư ra bên
ngoài của Chính phủ chính là đầu tư tài chính quốc tế dưới các hình thức viện trợ phát
triển chính thức (ODA), tín dụng thương mại quốc tế Nếu xét trên góc độ đầu tư của
doanh nghiệp, thì đầu tư vào bên trong doanh nghiệp được chia làm hai loại: đầu tư xây
dựng cơ bản và đầu tư vốn lưu động. Đầu tư xây dựng cơ bản là đầu tư vốn nhằm tạo ra
tài sản cố định (tài sản cố định hữu hình và tài sản cố định vô hình) của doanh nghiệp.

Đầu tư vốn lưu động là việc doanh nghiệp cần dự trữ thường xuyên về nguyên vật liệu,
bán thành phẩm, công cụ dụng cụ tương ứng với quy mô sản xuất kinh doanh để đảm
bảo cho hoạt động của doanh nghiệp được thực hiện liên tục. Doanh nghiệp cần phải có
một số vốn lưu động nằm trong khâu sản xuất dưới dạng sản phẩm đang chế tạo, chi phí
chờ phân bổ và vốn lưu động ở khâu lưu thông như thành phẩm, vốn trong thanh toán
Ngoài ra, doanh nghiệp phải có một số vốn lưu động bằng tiền mặt, tiền gửi ngân hàng.
Còn đầu tư ra bên ngoài doanh nghiệp là góp vốn liên doanh với doanh nghiệp khác, mua
cổ phiếu, trái phiếu của doanh nghiệp khác hoặc của Nhà nước. Trong nền kinh tế thị
trường, để bảo toàn và phát triển vốn phòng ngừa rủi ro, các doanh nghiệp thường dành
một tỷ lệ vốn đầu tư nhất định để đầu tư tài chính ra bên ngoài doanh nghiệp.
Nghiên cứu vấn đề này giúp ta thấy rõ sự khác nhau cơ bản của hai khái niệm
vốn đầu tư và đầu tư vốn, để từ đó chọn lựa được phương án đầu tư vốn đạt hiệu quả
nhất.
1.1.3. Các nguồn vốn đầu tư
Nguồn vốn đầu tư phát triển của xã hội được hình thành trên cơ sở động viên các
nguồn lực trong nước và ngoài nước, thông qua các công cụ chính sách, cơ chế, luật
pháp. Nguồn vốn trong nước bao gồm: nguồn vốn từ ngân sách nhà nước, nguồn vốn tín
dụng (tín dụng nhà nước và tín dụng ngân hàng), các nguồn vốn khác (vốn đầu tư của các
doanh nghiệp, các tổ chức và dân cư). Nguồn vốn ngoài nước gồm có: đầu tư trực tiếp
nước ngoài, nguồn vốn vay, viện trợ và các nguồn vốn khác.
1.1.3.1. Nguồn vốn trong nước


* Nguồn vốn từ ngân sách nhà nước:
Ngân sách nhà nước được đặc trưng bằng sự vận động của các nguồn tài chính
gắn liền với quá trình tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước nhằm thực
hiện các chức năng của Nhà nước trên cơ sở luật định. Nó phản ánh các quan hệ kinh tế
giữa Nhà nước và các chủ thể khác trong xã hội, phát sinh khi Nhà nước tham gia phân
phối các nguồn tài chính quốc gia theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp là chủ yếu.
Nguồn vốn ngân sách nhà nước được hình thành từ tiết kiệm của ngân sách nhà

nước, đó là khoản chênh lệch giữa thu và chi của ngân sách nhà nước. Thu của ngân sách
nhà nước được thực hiện chủ yếu là từ thuế và một phần nhỏ là các khoản thu từ phí, lệ
phí và thu khác Chi của ngân sách nhà nước bao gồm: chi cho đầu tư phát triển và chi
thường xuyên cho quản lý hành chính, an ninh quốc phòng, sự nghiệp văn hóa, y tế, giáo
dục và đào tạo, nghiên cứu khoa học, thể dục thể thao và xã hội, chi các sự nghiệp kinh
tế Xu hướng chi tiêu công cộng của Nhà nước có chiều hướng ngày càng tăng lên, vì
Nhà nước ngày càng phải đảm nhận việc cung cấp nhiều hàng hóa công cộng hơn cho xã
hội. Một quan hệ thường thấy trong cân đối ngân sách quốc gia là có bội thu hoặc bội chi.
Nếu bội thu ngân sách thì điều hiển nhiên là Nhà nước có nguồn tiết kiệm để hình thành
nên vốn đầu tư phát triển. Nhưng một vấn đề cần lưu ý là có thể trong trường hợp bội chi
ngân sách thì ngân sách nhà nước vẫn tiết kiệm một phần để dành cho đầu tư phát triển, vì
trong các khoản chi của Nhà nước có khoản chi cho đầu tư phát triển. Điều này có nghĩa là
muốn có tiết kiệm từ ngân sách nhà nước thì tốc độ tăng chi đầu tư phát triển phải luôn lớn
hơn tốc độ tăng chi thường xuyên. Vấn đề không phải là bội chi ít hay nhiều mà phương
pháp xử lý chính là định hướng đầu tư. Nhưng một thực tế là hầu hết các nước đang phát
triển, tiết kiệm của Chính phủ không phải là nguồn đầu tư chủ yếu, vì thường ngân sách
của các nước này nguồn thu rất hạn chế, mà nhu cầu chi tiêu thường xuyên lại cao, nên
Nhà nước chỉ có thể tập trung vốn đầu tư phát triển ở những lĩnh vực thật sự thấy cần
thiết.
Muốn tăng nguồn tích lũy của ngân sách nhà nước phải phấn đấu tăng thu và tiết
kiệm chi. Vốn đầu tư phát triển qua kênh ngân sách nhà nước, được thể hiện qua hai


phần: một phần vốn đầu tư xây dựng cơ bản tập trung của Nhà nước, một phần từ nguồn
kinh phí sự nghiệp kinh tế hàng năm.
* Nguồn vốn tín dụng nhà nước:
Là hình thức vay nợ của Nhà nước thông qua kho bạc, được thực hiện chủ yếu
bằng cách phát hành trái phiếu Chính phủ, do Bộ Tài chính phát hành.
Trong trường hợp nhu cầu chi tiêu của ngân sách lớn, nhưng nguồn thu lại không
thể đáp ứng được. Để thỏa mãn nhu cầu này, Chính phủ thường cân đối ngân sách bằng

cách phát hành trái phiếu Chính phủ. Cũng có thể Chính phủ tiến hành một dự án nào đó,
nhưng không muốn sử dụng vốn ngân sách, thì dự án này có thể được thực hiện bằng vốn
vay dưới hình thức phát hành trái phiếu Chính phủ. ở nước ta hiện nay, trái phiếu Chính
phủ có các hình thức sau đây:
- Tín phiếu kho bạc: là loại trái phiếu ngắn hạn dưới một năm, được phát hành
với mục đích để bù đắp thiếu hụt tạm thời của ngân sách nhà nước và tạo thêm công cụ
của thị trường tiền tệ.
- Trái phiếu kho bạc: là loại trái phiếu có thời hạn một năm trở lên, được phát
hành nhằm mục đích huy động vốn theo kế hoạch ngân sách nhà nước hàng năm đã được
Quốc hội phê duyệt.
- Trái phiếu đầu tư: là loại trái phiếu Chính phủ có thời hạn một năm trở lên, bao
gồm các loại sau:
+ Trái phiếu huy động vốn cho từng công trình cụ thể thuộc diện ngân sách đầu
tư, theo kế hoạch đầu tư đã được Chính phủ phê duyệt nhưng chưa được bố trí vốn ngân
sách trong năm kế hoạch.
+ Trái phiếu huy động vốn cho Quỹ hỗ trợ phát triển theo kế hoạch tín dụng đầu
tư phát triển hàng năm được Chính phủ phê duyệt.
Đối với vốn đầu tư phát triển, hình thức tín dụng nhà nước có thể tác động lên hai
mặt: Chính phủ vay ngắn hạn tạo điều kiện cân đối ngân sách đảm bảo kế hoạch đầu tư
phát triển kinh tế và phát hành trái phiếu để đầu tư cho một số dự án nào đó.


Hình thức tín dụng nhà nước tuy lãi suất chưa cao, nhưng có sự đảm bảo của Nhà
nước nên rất dễ huy động vốn. Nếu vận dụng tốt sẽ tạo ra nguồn vốn đầu tư phát triển
quan trọng.
* Nguồn vốn đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước:
Hiện nay, ở các quốc gia đều tồn tại khu vực kinh tế nhà nước (doanh nghiệp nhà
nước) vì nhiều lý do khác nhau: bảo đảm những ngành, lĩnh vực then chốt, mũi nhọn,
kinh doanh ở những lĩnh vực mà tư nhân không đủ sức, đủ vốn hoặc không muốn làm vì
hiệu quả kinh tế thấp, nhất là ở những lĩnh vực như giao thông, thủy lợi, năng lượng, dịch

vụ công cộng
Vốn đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước được hình thành từ rất nhiều nguồn
khác nhau: là nguồn vốn do ngân sách nhà nước cấp cho các doanh nghiệp nhà nước lúc
mới hình thành doanh nghiệp, tuy nhiên nguồn vốn này sẽ có xu hướng giảm đáng kể cả
về tỷ trọng và số lượng; nguồn vốn huy động thông qua phát hành trái phiếu, cổ phiếu
(đối với các doanh nghiệp nhà nước đã thực hiện cổ phần hóa); tiền khấu hao cơ bản của
tài sản cố định, lợi nhuận tích lũy được phép để lại doanh nghiệp
* Nguồn vốn tín dụng ngân hàng:
Các ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính trung gian khác như công ty
tài chính, quỹ tín dụng nhân dân, công ty bảo hiểm có vai trò rất quan trọng trong việc
huy động vốn đầu tư phát triển. Các tổ chức này có ưu điểm là có thể thỏa mãn được mọi
nhu cầu về vốn của các pháp nhân và thể nhân trong nền kinh tế, nếu những đối tượng
vay vốn chấp hành đầy đủ những quy chế tín dụng. Sở dĩ các tổ chức này có thể thu hút,
huy động nguồn vốn bằng tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế với khối lượng lớn, bởi vì các
tổ chức này đã sử dụng dưới nhiều hình thức huy động khác nhau rất phong phú và đa
dạng. Mặt khác, thời hạn cho vay cũng rất linh hoạt (bao gồm vay ngắn hạn, trung hạn và
dài hạn), tùy thuộc vào nhu cầu của người đi vay. Do nguồn vốn của các tổ chức này huy
động được có thời gian nhàn rỗi cũng rất khác nhau (tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn)
và là nguồn vốn bằng tiền nên có thể điều chỉnh giữa các nguồn vốn với nhau để đáp ứng
nhu cầu về thời gian của người đi vay. Phạm vi cho vay cũng rất rộng, liên quan đến các


chủ thể và các lĩnh vực khác nhau trong nền kinh tế. Bởi vậy, trong lĩnh vực đầu tư phát
triển thì vấn đề huy động vốn qua tín dụng ngân hàng và các tổ chức tài chính trung gian
là hình thức không thể thiếu được trong nền kinh tế thị trường.
* Nguồn vốn đầu tư của khu vực dân doanh:
Nguồn vốn đầu tư của khu vực dân doanh được hình thức từ nguồn tiết kiệm của
các doanh nghiệp ngoài quốc doanh và tiết kiệm của dân cư.
- Đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh (công ty cổ phần, công ty trách
nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân ): lợi nhuận sau thuế của các doanh nghiệp này sẽ

được chia làm hai phần: một phần chia cho các cổ đông và một phần để lại cho doanh
nghiệp. Khoản lợi nhuận không chia này là khoản tiết kiệm của các doanh nghiệp để hình
thành nên nguồn vốn đầu tư. Bên cạnh đó, để tiến hành đầu tư các doanh nghiệp ngoài
quốc doanh sử dụng thêm cả phần vốn khấu hao tài sản cố định.
Ngoài ra, các doanh nghiệp cũng có thể vay tín dụng ngân hàng hoặc phát hành
cổ phiếu đối với công ty cổ phần và phát hành trái phiếu để thu hút vốn đầu tư phát triển
sản xuất kinh doanh, vay lẫn nhau giữa các doanh nghiệp có vốn tạm thời nhàn rỗi, vay
thông qua mua hàng trả chậm và vay thương mại (thường được các doanh nghiệp kinh
doanh xuất nhập khẩu áp dụng).
Theo xu hướng phát triển hiện nay, nguồn vốn này có chiều hướng gia tăng vì
ngày càng có nhiều doanh nghiệp ngoài quốc doanh ra đời, dưới nhiều hình thức, quy
mô, lĩnh vực hoạt động khác nhau và phát triển với tốc độ tương đối nhanh.
Trong giai đoạn hiện nay ở nước ta, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh thường
được đầu tư với quy mô doanh nghiệp vừa và nhỏ, thích hợp với điều kiện và hoàn cảnh
cụ thể của từng doanh nghiệp, nhưng lại rất linh hoạt và hiệu quả trong hoạt động sản
xuất kinh doanh, đã có những đóng góp quan trọng vào sự nghiệp công nghiệp hóa và
hiện đại hóa đất nước.


- Tiết kiệm của dân cư: phụ thuộc vào thu nhập và chi tiêu của mỗi hộ gia đình.
Thu nhập của các hộ gia đình lại phụ thuộc vào thu nhập có thể sử dụng như tiền lương,
tiền công, thu nhập từ sản xuất kinh doanh và các khoản thu nhập khác (vay, mượn ).
Một khi thu nhập nhỏ hơn mức chi tiêu sẽ không có tiết kiệm, các hộ gia đình
phải vay mượn thêm để chi tiêu. Khi thu nhập có thể sử dụng vừa bằng mức chi tiêu thì
tiết kiệm bằng không. Nếu thu nhập lớn hơn mức chi tiêu thì mới có tiết kiệm. Một xu
hướng chung là các hộ gia đình có mức thu nhập cao hơn sẽ tiết kiệm nhiều hơn (mức tiết
kiệm ở thành thị lớn hơn ở nông thôn) và những nước phát triển cũng có tỷ lệ tiết kiệm
cao hơn những nước kém phát triển.
Đối với nước ta hiện nay, do thu nhập của dân cư ở mức thấp, đặc biệt ở nông
thôn tỷ lệ hộ đói nghèo còn cao, nên mức tiết kiệm trong dân cư rất thấp, đây là vấn đề

khó khăn trong việc thu hút và huy động vốn đầu tư. Tuy nhiên, theo đà phát triển của đất
nước, thu nhập của dân cư ngày càng tăng, thì nguồn vốn này sẽ có xu hướng tăng lên.
Một vấn đề cần quan tâm trong việc nghiên cứu nguồn vốn tiết kiệm là sự tách
rời giữa những động cơ đưa đến tiết kiệm và đầu tư. Trong nền kinh tế mức tiết kiệm và
mức đầu tư mà ta mong muốn không phải ngẫu nhiên bằng nhau, bởi vì nói chung tiết
kiệm và đầu tư do những người khác nhau thực hiện và vì những lý do rất khác nhau: đầu
tư chủ yếu do các doanh nghiệp tiến hành bằng nguồn vốn tích lũy, bằng nguồn vốn vay
ngân hàng, phát hành cổ phiếu, trái phiếu Ngược lại, tiết kiệm chủ yếu do các hộ gia
đình, các cá nhân, các quỹ tập thể (hưu trí, bảo hiểm). Cá nhân mong muốn tiết kiệm vì
nhiều lý do: đề phòng khó khăn, dự phòng tài chính cho tương lai, lãi suất cao thúc đẩy
tiết kiệm hoặc do thói quen, tập quán của địa phương Trong khi đó thị trường không
phối hợp được nhanh chóng giữa tiết kiệm và đầu tư: nó không tự động chuyển những
thay đổi trong khoản tiết kiệm mong muốn của người tiêu thụ thành những thay đổi trong
đầu tư của người kinh doanh. Tức là, khoản tiết kiệm chỉ được đưa ra đầu tư khi người
đầu tư thấy có lợi.
Khoảng cách giữa tiết kiệm và đầu tư đòi hỏi Nhà nước phải có vai trò điều tiết
vĩ mô thích hợp mới có thể có một chính sách huy động vốn có hiệu quả. Cho đến nay,


hầu hết các nhà kinh tế và hoạch định chính sách đều nhận thấy rằng có tiết kiệm mới có
đầu tư. Để tăng nguồn vốn trong nước thì phải kích thích tăng trưởng kinh tế để tăng tiết
kiệm và đầu tư. Tăng trưởng kinh tế là điều kiện cần để có vốn đầu tư. Điều này rất quan
trọng vì nếu toàn bộ số thu nhập đều sử dụng cho tiêu dùng thì sẽ không có nguồn tiết
kiệm. Song có tiết kiệm mà không bỏ vào đầu tư lại đem cất trữ thì nguồn tiết kiệm chỉ là
nguồn tiềm năng, nguồn vốn "chết" mà thôi.
Đối với những nước đang phát triển như nước ta, dù có huy động tối đa nguồn
vốn trong nước cũng chưa thể thỏa mãn nhu cầu cho đầu tư phát triển, nhất là trong điều
kiện hạ tầng kinh tế - xã hội còn thấp như hiện nay. Muốn nền kinh tế nước ta có những
bước đi vững chắc thì phải có sự đầu tư lớn. Theo tính toán của các chuyên gia tài chính,
tổng đầu tư toàn xã hội trong 10 năm (từ năm 2001 đến năm 2010) sẽ cần khoảng 162 tỷ

đô la Mỹ (giá hiện hành), trong khi đó mức tiết kiệm trong nước sẽ đạt được khoảng 112
tỷ đô la Mỹ, chiếm tỷ trọng 69% so với tổng vốn đầu tư toàn xã hội [3, tr. 35].
Để tăng cường hoạt động đầu tư, góp phần thúc đẩy nền kinh tế đất nước ngày
càng phát triển thì điều quan trọng hàng đầu là phải thực hiện chính sách nền kinh tế
mở, trên cơ sở cân nhắc các điều kiện và khả năng có liên quan đến mối quan hệ kinh tế
đối ngoại, phải có sự hòa nhập về không gian kinh tế, xóa bỏ hàng rào địa lý. Có như
vậy mới thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế và các yêu cầu về đầu tư
phát triển. Không ngừng đẩy mạnh khả năng tăng nhanh việc tạo vốn trong toàn bộ nền
kinh tế, tranh thủ triệt để các nguồn vốn từ ngoài nước, đồng thời phát triển mạnh mẽ
thị trường vốn nhằm thực hiện tốt quá trình giao lưu vốn giữa các thành phần kinh tế.
Với tình hình thực tế ở nước ta cho thấy, việc khai thác các nguồn vốn trong
nước có thể nhiều khi còn gặp khó khăn, thì nguồn vốn đầu tư nước ngoài là rất quan
trọng và hết sức cần thiết.
1.1.3.2. Nguồn vốn đầu tư nước ngoài
Trong giai đoạn đầu của các nước đang phát triển mức thu nhập còn thấp nên
khả năng tiêu dùng cũng như khả năng tích lũy ở mức thấp. Trong khi đó lại cần khoản
vốn đầu tư lớn để hoàn chỉnh kết cấu cơ sở hạ tầng và xây dựng các công trình quan


trọng nhằm phát triển kinh tế. Mặt khác, ở giai đoạn này hàng hóa xuất khẩu chủ yếu là
hàng nông sản và công nghiệp tiêu dùng có giá trị chưa cao. Trong khi đó hàng hóa
nhập khẩu là những máy móc thiết bị, dây chuyền công nghệ hiện đại có giá trị cao, nên
cán cân thanh toán thường bị thâm hụt. Các nước đang phát triển luôn phải đối mặt với
một vấn đề thiếu hụt ngoại tệ.
Đầu tư nước ngoài góp phần tích cực để giải quyết hai vấn đề nan giải nêu trên,
đồng thời với xu hướng quốc tế hóa, toàn cầu hóa đời sống kinh tế - xã hội, quan hệ giao
lưu kinh tế và khoa học kỹ thuật phát triển sôi động đã trở thành nhu cầu bức xúc của tất
cả các nước trên thế giới. Mỗi nước dù nhỏ hay lớn đều có thể và cần phải tham gia vào
phân công lao động trong khu vực và quốc tế để tận dụng những khả năng to lớn của nền
kinh tế thế giới về di chuyển các luồng tài chính, mở rộng thị trường, chuyển giao công

nghệ, kinh nghiệm quản lý từ đó xuất hiện nhu cầu đầu tư và nhu cầu nhận đầu tư.
ở nước ta trong giai đoạn hiện nay, vấn đề thu hút vốn đầu tư nước ngoài và sử dụng
có hiệu quả nguồn vốn này để phát triển kinh tế, thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước là hết sức quan trọng và cần thiết. Nguồn vốn đầu tư nước ngoài tại Việt
Nam hiện nay gồm các nguồn chủ yếu sau:
* Viện trợ phát triển chính thức (ODA):
Là nguồn vốn do Chính phủ các nước và các tổ chức quốc tế viện trợ không
hoàn lại hoặc cho vay với lãi suất thấp, thậm chí không có lãi. Nguồn này thường
được tập trung vào ngân sách của Chính phủ để đầu tư phát triển hoặc cho vay. Hình
thức viện trợ phát triển chính thức ngoài vốn ngoại tệ, thường được đầu tư dưới dạng
máy móc, thiết bị, công nghệ, công trình hoặc chuyên gia. Đây là nguồn vốn có quy
mô tương đối lớn, thời gian đầu tư dài thường tập trung vào các công trình cơ sở hạ
tầng mang tầm chiến lược quốc gia như: đường quốc lộ, cảng biển, đường dây tải điện
cao thế, thủy điện, các hồ đập, thủy lợi lớn có ý nghĩa then chốt và chủ đạo đối với
việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế, tạo ra động lực phát triển kinh tế của đất nước.
* Vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI):


Là những khoản đầu tư do những tổ chức và cá nhân người nước ngoài đưa vào
một nước để sản xuất kinh doanh hoặc để góp vốn liên doanh với các tổ chức, cá nhân
trong nước theo quy định của Luật đầu tư nước ngoài tại nước đó. Đây là nguồn vốn lớn
có ý nghĩa quan trọng, vì một mặt cũng giống như nguồn vốn ODA, vốn đầu tư trực tiếp
của nước ngoài tạo điều kiện cho nước sở tại có thể thu hút được kỹ thuật và công nghệ
tiến tiến, kinh nghiệm quản lý kinh doanh của nước ngoài. Mặt khác, FDI gắn trách
nhiệm bảo toàn và phát triển vốn với bản thân phía nước ngoài, về phía chủ nhà không
làm tăng gánh nặng nợ nước ngoài. Việc áp dụng hình thức đầu tư này vào lĩnh vực phát
triển công nghiệp có nhiều thuận lợi hơn do công nghệ tiên tiến, máy móc thiết bị hiện
đại, hiệu quả đầu tư cao.
Tùy theo từng nước mà có những hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài khác
nhau. ở Việt Nam, theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam thì có các hình thức đầu tư

trực tiếp của nước ngoài sau đây:
- Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài: là doanh nghiệp do chủ nước ngoài đầu
tư 100% vốn tại nước sở tại, có quyền điều hành toàn bộ doanh nghiệp theo quy định của
pháp luật nước sở tại.
- Doanh nghiệp liên doanh: là doanh nghiệp được thành lập do các chủ đầu tư
nước ngoài góp vốn chung với các chủ doanh nghiệp ở nước sở tại trên cơ sở hình thành
hợp đồng liên doanh. Các bên cùng tham gia điều hành doanh nghiệp, chia lợi nhuận và
chịu rủi ro theo tỷ lệ góp vốn của mỗi bên vào vốn điều lệ của doanh nghiệp.
Theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, phần vốn góp pháp định của bên
nước ngoài không hạn chế về mức cao nhất như một số nước khác, nhưng không được ít
hơn 30% vốn pháp định.
Hình thức liên doanh có nhiều ưu điểm, nhưng do điều kiện phía Việt Nam có
hạn chế về tiền vốn nên chủ yếu góp vốn bằng quyền sử dụng đất, giá cả của đất đai ngày
càng tăng, giá trị góp vốn không được tính theo giá trị thời gian. Bên nước ngoài góp vốn
bằng vật tư, máy móc thiết bị thường bị lạc hậu về công nghệ, giá cả không chính xác, bị


đẩy lên quá cao, kinh nghiệm quản lý kinh doanh chưa tốt nên chưa phát huy tác dụng tích
cực của hình thức này.
- Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh: đây là một văn bản được ký kết giữa
một chủ đầu tư nước ngoài và một chủ đầu tư trong nước, để tiến hành một hay nhiều
hoạt động sản xuất kinh doanh ở nước chủ nhà, trên cơ sở quy định về trách nhiệm để
thực hiện hợp đồng và xác định quyền lợi của mỗi bên, nhưng không hình thành một
pháp nhân mới.
- Các hình thức khác: ngoài các hình thức nêu trên, ở các nước và ở Việt Nam
còn có các hình thức khác như: Hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (BOT),
hợp đồng xây dựng - chuyển giao - kinh doanh (BTO), hợp đồng xây dựng - chuyển giao
(BT) nhằm khuyến khích thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Tính đến ngày 31/12/2005 Việt Nam đã thu hút 6.030 dự án được cấp giấy phép
đầu tư với tổng số vốn đăng ký trên 51 tỷ đô la Mỹ. Vốn đầu tư thực hiện được gần 28 tỷ

đô la Mỹ, chiếm bằng 55% tổng số vốn đăng ký [4, tr. 7].
Biểu 1.1: Đầu tư trực tiếp nước ngoài
theo hình thức đầu tư từ năm 1988 - 2005
(Tính đến ngày 31/12/2005 - Chỉ tính các dự án còn hiệu lực)
Đơn vị tính: Triệu đô la Mỹ
Hình thức đầu tư Số dự án
Tổng vốn
đầu tư
Vốn pháp
định
Vốn đầu
tư thực
hiện
100% vốn nước ngoài 4.504

26.041,42

11.121,22

9.884,07

Liên doanh 1.327

19.180,91

7.425,93

11.145,96

Hợp đồng hợp tác kinh

doanh
184

4.170,61

3.588,81

6.053,09



BOT 6

1.370,13

411,39

727,03

Công ty cổ phần 8

199,31

82,07

170,18

Công ty quản lý vốn 1

55,56


55,56

6,00

Tổng số 6.030

51.017,94

22.684,98

27.986,33

Nguồn: [4].
Hoạt động thu hút FDI tại Việt Nam thời gian qua đã đóng góp tích cực vào việc
thực hiện mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. FDI là nguồn vốn
rất quan trọng bổ sung cho vốn đầu tư phát triển, đóng góp vào sự tăng trưởng kinh tế, là
một trong những điều kiện quyết định đến sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa
và hiện đại hóa đất nước.
Tuy nhiên, trong hoạt động đầu tư trực tiếp của nước ngoài tại Việt Nam vẫn còn
những hạn chế. Một số chính sách, đặc biệt là chính sách ưu đãi đầu tư chưa được xác
định rõ ràng, các biện pháp khuyến khích đầu tư hiện hành chưa đủ sức hấp dẫn đối với
các nhà đầu tư để họ quan tâm đến các lĩnh vực mà nước ta cần đẩy mạnh. Một số văn
bản hướng dẫn thi hành luật ban hành chậm và chưa đầy đủ, tình trạng tùy tiện trong thi
hành luật, tình trạng địa phương hóa chính sách ưu đãi đầu tư vẫn chưa được khắc phục.
Hệ thống thuế còn phức tạp, chồng chéo có nhiều điểm bất hợp lý hay thay đổi gây khó
khăn cho việc thực hiện dự án hoặc tạo kẽ hở làm thiệt hại cho Nhà nước.
* Viện trợ của các tổ chức phi chính phủ (NGO):
Trước đây, viện trợ của các tổ chức phi Chính phủ chủ yếu là cho các nhu cầu
nhân đạo như nhu cầu cung cấp thuốc men, lương thực, quần áo cho nạn nhân bị thiên tai,

dịch bệnh, địch họa Những năm gần đây tính chất của những khoản viện trợ này đã có
sự thay đổi. Hiện nay, hình thức viện trợ này đã thay đổi chính sách chuyển dần từ viện
trợ nhân đạo sang hỗ trợ cho việc phát triển các công trình cơ sở hạ tầng có quy mô vừa
và nhỏ. Nếu chúng ta biết tranh thủ, khai thác các dự án của NGO thì có tác dụng tốt đối


với các công trình có quy mô vừa và nhỏ ở nông thôn, tạo điều kiện thúc đẩy công nghiệp
ở nông nghiệp phát triển.
* Vốn của Việt kiều, của những người Việt Nam sinh sống ở nước ngoài:
Có trên 2 triệu người Việt Nam hiện đang sinh sống ở nước ngoài, với lực lượng
đông đảo đội ngũ trí thức, nhà khoa học trong đó có nhiều người là chuyên gia giỏi về các
lĩnh vực khoa học và công nghệ, quản lý kinh doanh Đây là một tiềm năng lớn cần phải
được quan tâm khai thác. Riêng về khối lượng ngoại tệ, hàng hóa gửi từ nước ngoài về nước
hàng năm có hàng tỷ đô la Mỹ, đây cũng là một nguồn vốn lớn, góp phần không nhỏ vào
việc đáp ứng nhu cầu về vốn đầu tư ngày càng tăng lên trong sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước.
1.1.4. Vai trò của vốn đầu tư phát triển công nghiệp
Vốn đầu tư có vai trò quan trọng với tất cả các nước, nhất là đối với các nước
đang phát triển như Việt Nam thì vốn đầu tư có vai trò hết sức to lớn cho quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Vai trò đó được thể hiện qua một số tác động chính
của vốn đầu tư đối với sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung cũng như đối với sự phát
triển công nghiệp nói riêng.
1.1.4.1. Vốn đầu tư giải quyết tình trạng thiếu vốn cho đầu tư phát triển của
nền kinh tế quốc dân
Tất cả các nước đang và kém phát triển do tích lũy nội bộ thấp, muốn phát triển
kinh tế của quốc gia mình đều phải có chính sách thu hút, huy động vốn đầu tư ở trong và
ngoài nước. Khi nền kinh tế tăng trưởng và phát triển, thì nhu cầu về vốn đầu tư không
ngừng tăng lên. Thực tế cho thấy, khi tăng trưởng kinh tế càng cao thường gắn với tỷ lệ
đầu tư càng lớn. Nhờ có vốn đầu tư mà Nhà nước cũng như doanh nghiệp có điều kiện
đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế và đổi mới kỹ thuật trong điều kiện khoa học, kỹ

thuật thế giới phát triển mạnh mẽ.
Đối với các nước nghèo và đang phát triển, vốn đầu tư là một yếu tố đặc biệt
quan trọng đối với phát triển kinh tế. Những quốc gia này luôn rơi vào tình trạng thiếu


vốn đầu tư, lạc hậu về công nghệ và trình độ quản lý. Khi nghiên cứu nền kinh tế của các
nước đang phát triển và kém phát triển, Paul A.Samuelson đã ví hoạt động sản xuất và
đầu tư của những nước này như là một vòng nghèo đói luẩn quẩn: thu nhập thấp dẫn đến
tiết kiệm và đầu tư thấp; tiết kiệm và đầu tư thấp sẽ cản trở quá trình phát triển của vốn
và làm cho tỷ lệ tích lũy vốn thấp, không đủ vốn cho đầu tư; vốn đầu tư không đủ cho
nhu cầu sản xuất sẽ làm cho năng lực sản xuất giảm, năng suất của nền kinh tế thấp; điều
này dẫn đến kết quả là thu nhập bình quân thấp và lại quay trở về chu kỳ ban đầu.
Để phá vỡ vòng luẩn quẩn đó, các nước đang phát triển phải tạo ra "một bước đột
phá" để phá vỡ một mắt xích của nó, để rồi phá vỡ các mắt xích còn lại. Một trong những
khâu của vòng luẩn quẩn đó chính là vốn dành cho đầu tư phát triển. Biện pháp hữu hiệu
nhất có thể coi là bước đột phá để phá vỡ vòng luẩn quẩn là tăng vốn đầu tư cho nền kinh
tế; thu hút và huy động tối đa các nguồn lực trong và ngoài nước để phát triển nền kinh
tế, tạo ra tăng trưởng kinh tế làm cho thu nhập tăng lên.
1.1.4.2. Vốn đầu tư góp phần quan trọng thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ
cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Một thực tế cho thấy hầu hết các dự án đầu tư đều chủ yếu đầu tư vào các lĩnh
vực công nghiệp và dịch vụ. Chỉ có một số ít dự án đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp.
Chính vì vậy, ở nước ta vốn đầu tư phát triển là một trong những yếu tố góp phần quan
trọng thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo đúng đường lối, chính sách của
Đảng và Nhà nước đề ra. Trước đây, nền kinh tế nước ta chủ yếu dựa vào sản xuất nông
nghiệp, năng suất lao động thấp, giá trị thặng dư ít, nên đời sống của người lao động gặp
nhiều khó khăn. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng trong công cuộc đổi mới nền kinh
tế, đã chuyển đổi cơ cấu kinh tế nước ta từ một nước nông nghiệp là chủ yếu để trở thành
một nước công nghiệp phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Với cơ cấu
ngành kinh tế là công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ, trong đó công nghiệp và xây dựng

giữ vị trí quan trọng trong nền kinh tế.
Trong từng ngành kinh tế, nhờ có vốn đầu tư mà đã có những chuyển dịch tích
cực về cơ cấu sản xuất, cơ cấu công nghệ theo hướng tiến bộ, hiệu quả và gắn sản xuất


với thị trường. Cơ cấu kinh tế vùng cũng đã có những bước điều chỉnh theo hướng phát
huy lợi thế so sánh của từng vùng, các vùng kinh tế trọng điểm, các khu công nghiệp, khu
kinh tế và vùng sản xuất chuyên môn hóa cây trồng, vật nuôi đang phát triển khá nhanh,
đóng góp quan trọng vào sự tăng trưởng của nền kinh tế.
1.1.4.3. Vốn đầu tư thúc đẩy đầu tư đổi mới máy móc thiết bị, công nghệ sản
xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, sức cạnh tranh và hiện đại hóa doanh nghiệp
Nếu đứng trên góc độ của một doanh nghiệp, thì vốn đầu tư là điều kiện cực kỳ quan
trọng và cần thiết giúp doanh nghiệp trong việc đầu tư đổi mới máy móc thiết bị, công nghệ
sản xuất. Nhờ có vốn đầu tư mà doanh nghiệp có thể nghiên cứu sản xuất ra hoặc mua được
những máy móc thiết bị, dây chuyền công nghệ sản xuất tiên tiến, hiện đại ở trong nước và
trên thế giới. Từ đó, giúp doanh nghiệp có đủ điều kiện để dần dần từng bước hoàn thiện và
hiện đại hóa doanh nghiệp. Trong nền kinh tế thị trường, chỉ những doanh nghiệp nào biết
ứng dụng những tiến bộ của khoa học và công nghệ, luôn đón nhận các thành tựu nghiên cứu
khoa học mới, thì doanh nghiệp đó sẽ thành công trong kinh doanh.
Mặt khác, nhờ có máy móc thiết bị, công nghệ sản xuất hiện đại mà doanh
nghiệp tăng năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất, đặc biệt là các chi phí gián tiếp và
hạ giá thành sản phẩm. Đồng thời, giúp doanh nghiệp nâng cao được chất lượng sản
phẩm và tăng dần hàm lượng chất xám trong mỗi sản phẩm thay cho hàm lượng vật chất
trước đây, làm cho sản phẩm của doanh nghiệp sản xuất ra có chất lượng cao hơn, nhưng
giá bán có thể lại thấp hơn, từ đó nâng cao sức cạnh tranh sản phẩm của doanh nghiệp
trên thị trường trong nước và quốc tế. Chính nhờ có vốn đầu tư phát triển mà doanh
nghiệp nâng được vị thế và uy tín của doanh nghiệp trên thương trường.
1.1.4.4. Vốn đầu tư góp phần phát triển nguồn nhân lực, tạo thêm nhiều việc
làm mới cho nền kinh tế và nâng cao thu nhập cho người lao động
Trình độ, năng lực và kỹ năng của người lao động có tác động không nhỏ đến tốc

độ tăng trưởng của một quốc gia. Vì vậy, nhu cầu nâng cao chất lượng lao động hiện nay
là một vấn đề được nhiều nước quan tâm. Do tình hình thực tế cần thiết phải tuyển dụng
lao động ở các địa phương, đồng thời chi phí thuê lao động nước ngoài thường cao hơn

×