Tải bản đầy đủ (.doc) (9 trang)

chuyen de lich su cua tdtt

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (59.67 KB, 9 trang )

I. TDTT ỞCÁC QUỐC GIA CHIẾM HỮU NÔ LỆ
Trong giai đoạn cuối của chế độ công xã nguyên thủy, sự xuất hiện
của lực lượng sản xuất đã tăng kên nhiều. Một trong những nguyên
nhân của hiện tượng đó là sự xuất hiện của công cụ sản xuất mới và
cùng với sự phân công lao động đãđem lại năng suất lao động cao hơn.
Con người đã sản xuất được niều sản phẩm so với sự cần thiết để sống,
khả năng bốc lột lao động đã xuất hiện. Việc biến các tù binh thành
nô lệ đã trở nên có lợi.
Sau này xã hội phát triển đã phân chia thành chủ nô và nô lệ,
giai cấp thống trò và giai cấp bò trò.
Mặc dù xã hội nô lệ là xã hội bất công và tàn ác, song nó có
tiến bộ hơn xã hội công xã nguyên thủy. Bởi nó đã giải phóng một số
người khỏi lao động chân tay nặng nhọc, thúc đẩy sự phân công lao
động, hình thành bộ máy nhà nước, xây dựng công trình lớn phát triển
chữ viết và nến văn hóa chung, trong đó có TDTT.
Nguồn cung cấp nô lệ quan trọng nhất là thông qua chiến tranh
đòi hỏi phải có sự chuẩn bò tốt về thể lực cho binh só. Sức mạnh sức
bền, khéo leo cũng như kó năng sử dụng vũ khí đã được xã hội hóa coi
trọng. Từ đó hệ thống giáo dục thể chất và hệ thống giáo dục quân sự
huấn luyện thể lực ra đời vào thời gian này; chúng ta mang tình giai
cấp, tức là được sử dụng cho lợi ích cua giai cấp thống trò.
1.TDTT ở các quốc gia phương Đông cổ đại
Các xã hội có sự phân chia giai cấp sớm nhất là ở các quốc gia
phương đông cổ đại, các nước chiếm hữu nô lệ ở Ai Cập, Attxiri,
Babilon, Ba Tư, n Độ, Trung Quốc.
Khuynh hướng quân sự là nét đặc trưng của TDTTở các nước
phương Đông cổ đại, các bài tập quân sự cũng như tập cưỡi ngựa, vật,
bơi, săn bắn và các bài tập gần gũi với quân sự được áp dụng rộng rãi.
Các tầng lớp quý tộc tầng lớp thống trò và con em của họ được
đến tường để học cách cưỡi ngưạ và kỹ năng sử dụng vũ khí, luyện thể
chất…


2. TDTT ở Hy Lạp cổ đại
TDTT ở Hy Lạp cổ đại được phát tiển như là một bộ phận của
văn hóa cổ đại, bắt đầu từ những thời kỳ sớm nhất của lòch sử Hy Lạp.
Ở Hy Lạp cổ đại, người ta chú ý đấn giáo dục thể chất và các cuộc thi
đấu khác nhau. Sức mạnh, sức nhanh, bền bỉ và lòng dũng cảm được
đánh giá rất cao.
Họ cho rằng vò thần cũng rất thích sức mạnh thể chất và được
thể hiện qua đua tài do đó thi đấu của lòch sử đã trở thành một bộ phận
của nghi thức tôn giáo từ rất sớm.
3. Hệ thống giáo dục thể chất ở Xpéctơ và Athens
Ở Hy Lp cổ đại có nhiều bang, nhiều quốc gia và không thống
nhất thành quốc gia chung. Vì vậy người Hy Lạp quan tâm đếm giáo
dục và huấn
luyện quân sự, thể lực cho từng người. Ơ Hy Lạp cổ đại có 2 nền văn hóa nổi
bật là văn hóa Xpactơ và Athens (Aphia).
3.1. Hệ thống giáo dục thể chất Xpactơ
Xpactơ là một nhà nước bảo thủ còn duy trì nhiều quyền thống
của chế độ thò tộc như nền kinh tế tự nhiên dựa vào lực lượng quân sự.
Chính quyền đó quy đònh nên sự khác biệt trong hệ thống giáo dục.
Ở Xpactơ, người ta rất chú ý ràn luyện thể chất cho trẻ em từ
thời kỳ thơ ấu. Trẻ khỏe mạnh và cứng cáp thì được nuôi, trẻ ốm yếu
thì bò thủ tiêu. Con trai thì được fiáo dục trong gia điình đến nam 7 tuổi.
Từ 7 tuổi phải tập trung vào các trường để nuôi dạy, từ 14 tuổi chúng
được tập luyện sử dụng vũ khí và bắt đầu làm nghóa vụ quân sự để trở
thành những chiến binh giỏi.
Phụ nữ chưa chồng cũng phải tập như con trai, mục đích để khỏe
mạnh và sinh con cũng khỏe mạnh.
3.2. Hệ thống giáo dục thể chất ở Athens(Aphia)
Athens là một nước tiến bộ, có nền văn hóakinh tế phát triển
nhanh, các công dân Athens không chỉ khỏe mạnh mà còn có học vấn.

Ở Athens, giáo dục thẩm mỹ ca hát âm nhạc có ý nghóa lớn. Trẻ
em dưới 6 tuổi được giáo dục ở nhà. Từ 7 – 14 tuổi được học ở trường.
Từ 16 trở lên thanh niên được giáo dục ở trường trung học, được giáo
dục thể chất nghiêm khắc hơn cùng với học văn hóa.
Sự giống nhau của giáo dục thế chất của hai quốc gia này là:
Mục đích giáo dục thể chất nhằm để đào tạo thanh niên thành những
chiến binh; các phương tiện giáo dục thể chất đều sử dụng 5 môn phối
hợp.
4.Thể dục ở Hy Lạp cổ đại
Trong hệ thống giáo dục thể chất ở Hy Lạp cổ đại có sử dụng
nhiều phương tiện dưới dạng các bài tập thân thể và gọi chung là “thể
dục” (Gymnastike) về nội dung thể dục ở Hy Lạp được chia làm 3
loại(bộ phận):
Palextơrica : Các bài tập 5 môn phối hợp gồm có chạy (1 Xtia
khoảng 200m), nhảy xa, ném đóa, lao, vật. Các bài tập này phù hợp với
thao tác chiến đấu của các chiến binh, thể hiện được sức mạnh, sức
bền và sự khéo léo. Ngoài các bài tập cơ bản họ còn tập võ tay không,
ném đá, chạy nhảy qua chướng ngại vật
Orkhextơrica: Các bài tập vũ đạo gồm có múa cổ điển, mùa dân
gian có nhạc đệm dàn trống.
Trò chơi: Được sử dụng trong tập luyện trẻ em gồm nhiều loại
trò chơi với bóng, kéo co. thăng bằng, trò chơi kết hợp với chạy.
5.TDTT ở La Mã cổ đại
La Mã cổ đại là một nhà nước có chế độ nô lệ phát triển cao và
phát triển như một nhà nước tập quyền. Lòch sử La Mã cổ đại gồm hai
thời kỳ chính:
- Thời kỳQuốc vương?(Từ thế kỷ VIII đến thế kỷ Vitrước công
nguyên):TDTT ở thời kỳ này không khácmấy so với các dân tộc khác. Chủ
yếu là mang tình chất quân sự, phổ biến và các cuộc thi đấu kỵ. Só, đua xe,
bài tập phóng lao, vật võ tay không.

Thời kỳ cộng hòa (Từ thế kỷ IV đến thế kỷ I trước Công
nguyên): Hệ thống huấn luyện của các chiến binh đã hoàn thiện.
Ngoài huấn luyện kỹ năng sử dụng vũ khí và huấn luyện các động tác
thường xuyên còn áp dụng rộng rãi các môn chạy, nhảy xào, leo núi,
vật bơi, hành quân có vũ trang nhằm làm quen với sự thiếu thốn và
công việc nặng nhọc.
Thời kỳ Đế chế: Do chiến tranh nội chiến nên các thế lực củng
cố quyền lực, bằng cách thiết lập chế độ chuyênhững chính, tăng
cường công tác quân sự. Đề khuếch trương quyền lực, họ đã tiến hành
xây dựng các công trình đồ sộ để tổ chức thi đấu.
6. Đại hội Olympic ở Hy Lạp cổ đại.
Người Hy Lạp cổ đại tính thời gian 4 năm một lần để tiến hành
đại hội Olympic. Các đại hội Olympic được tổ chức tại thành phố
Olympic nằm ở Tây bắc bán đảo Pelôpône, Trên lưu vực sông anphây,
dưới chân núi Crônôc và bắt đầu từ năm 779 trước công nguyên. Các
đại hội có ý nghóa chính trò xã hội rất to lớn. VÌ trong thời gian tiến
hành đại hội Olympic phải ngưng tất cả các cuộc chiến tranh. Các nhà
lãnh đạo các thành bang phải đến dự đại hội, họ có thể ký kết các hiệp
ước quan hệ thương mại kinh tế văn hóa.
Chiến thắng trong thi đấu được vinh dự như chiến thắng trong
chiến tranh. Số lượng cuộc thi, người qua các đại hội tăng dần, thời
gian tiến hành d8ại hội cũng kéo dài, nhiều môn thi hơn.
Các đại hội Olympic ở Hy Lạp cổ đại là ngày hòa bình của các
quốc gia Hy Lạp, có ý nghóa xã hội sâu sắc thời đó và cũng trong thời
kỳ hiện tại thời nay.
II. TDTT THỜI KỲ PHONG KIẾN
1.TDTT thời kỳ phong kiến sơ kỳ
Sau khi chế độ chiếm hữu nô lệ tan rã, phần lớn các nước đế
quốc phong kiến đã thay đổi chế độ chiếm hữu nô lệ. Thời kỳ này gọi
là thời kỳ trung cổ.

Các nước mạnh đã bắt đầu thực hiện các cuộc xâm lược. Xã hội
phân thành nhiều cấp bậc với quyền lợi khác nhau: Cao nhất là Vua,
dưới vua có các cận thần và các cấp khác tận cùng nông dân và bò
nông thôn hóa.
Từ đó việc đào tạo quân sự là việc bắt buộc đối với các chúa
phong kiến. Song mâu thuẫn giữa các chúa phong kiến thường xảy ra
như nội chiến nên các chúa phong kiến phải luôn luôn sẳn sàng chiến
đấu và huấn luyện quân sự cho binh só, sau này tổ chức các cuộc thi
đấu hiệp só ( để thể hiện uy lực ).
Đối với nông dân, ngay từ ngày đầu sơ kỳ họ cũng phải chú ý đấn các trò
chơi giải trí và các bài tập phát triển sức mạnh, sức bền, khéo léo và các bài
tập mang tính quân sự vì họ phải thường xuyên chống kẻ thù để bảo vệ mình.
2. TDTT trong thời kỳ chủ nghóa phong kiến phát triển
Đến khoảng thế kỷ IX, các quan hệ phong kiến đã thiết lập hoàn
toàn ở Tây u. Hệ thống huấn luyện quân sự và thể lực cho các đẳng
cấp quý tộc đưp7c5 phát triển gọi là hệ thống giáo dục hiệp só. Hệ
thống này có 3 cấp:
- Từ 7 tuổi: Trẻ em đu7c5 tậ trung tập luyện về quân sự như cưỡi
ngựa, đấu kiếm, bơi,… đồng thời học các quy tắc của hiệp só.
- Từ 14 tuổi: Chúng được sử dụng vũ khí để làm tùy tùng cho
lãnh chúa trong các cuộc hành quân và tham gia thi đấu hiệp só, tham
gia chiến đấu.
Đến 21 tuổi chúng trở thành hiệp só thực sự và tiếp tục tập luyện
để thi đấu hiệp só và chiến đấu.
Trong thời gian này, các cuộc thi đấu có ý nghóa lớn trong việc
phát triển TDTT. Các môn ném đá, đẩy tạ, ném búa chim, chạy vượt
chướng ngại vật hay các trò chơi đã hình thành quy tắc trong thi đấu
dần dần được mọi người thừa nhận ( Đó cũng là sự xuất hiện của luật
thi thể thao hiện đại). Ở thời kỳ trung cổ, thi đấu mang tính chất thuần
túy, tham gia thi đấu mang tính tình nguyện, thi đấu gắn với tôn giáo,

thi đấu có tính hài hước và từ “thể thao” có lẽ ra đời từ thời gian này.
3. TDTT trong thời kỳ tan rã của chế độ phong kiến và sự ra
đời của chế độ tư bản.
Trong thời kỳ trung cổ, học thuyết của các nhà nhân đạo chủ
nghóa đã ra đời và phát triển. Trong lónh vực giáo dục thể chất và tinh
thần, những nhà truyền bay1 thức thế hệ mới này là các nhà nhân đạo
chủ nghóa, họ chú ý hết sức đến lợi ích của bản thân con người.
Tư tưởng cơ bản của các nhà nhân đạo thời này là sử dụng giáo
dục thể chất không chỉ để huấn luyện quân sự mà còn để tăng cường
sức khỏe và phát triển sức mạnh thể chất. Đó là một tư tưởng mới, tiến
bộ. Tuy nhiên, quan điểm của các nhà nhân đạo chủ nghóa còn hạn chế
bởi khuynh hướng chỉ nhằm bảo đảm hạnh phúc cá nhân của con
người.
Nhà nhân đạo chủ nghóa Italia Vichtôrinô Đơ Pheltơrô (1378 –
1446) đã thành lập trường học kiểu mới “nhà vui sướng”. Trong trường
có giảng dạy TDTT và giáo dục thể chất. Lần đầu tiên giáo dục thể
chất được đưa vào kế hoạch học tập của trường. Một lượng thời gian
đáng kể được dành cho các trò
chơi và các bải tập thể chất. Người ta dạy cho các trẻ biết đấu kiếm,
cưỡi
ngựa, bơi và thực hiện các quy tắc vệ sinh.
Nhà nhân đạo chủ nghóa người Pháp Phơrăngxoa Rablơ (1449 –
1553) đã đề nghò luân phiên giờ học văn hóa và tập thể dục. ng kết
hợp bài tập của giới quý tộc va2 người nghèo vào mục đích giáo dục
con người.
III . TDTT Ở NHỮNG NƯỚC TƯ BẢN
1. Những mâu thuẫn gay gắt trong phong trào thể thao tư bản.
Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, TDTT các nước tư bản phát
triển rất nhanh, mặc dù xã hội tư bản chưa bao giờ chăm lo đến sức
khỏe và phát triển thể chất của quần chúng nhân dân một cách nghiêm

túc.
Các giới cầm quyền sử dụng thể thao và mục đích giáo dục và ý
thức hệ tư sản cho quần chúng. TDTT cũng được sử dụng để đánh lạc
hướng nhân sân lao động khỏi đấu tranh giai cấp. Nó được sử dụng như
một phương tiện để nâng cao bốc lột, thu lợi nhuận cho giai cấp thống
trò.
TDTT được phát triển trong các nhà máy, xí nghiệp bởi nó nâng
cao năng suất lao động. Do đó đã nâng cao thu nhập của chủû thành
hình thức tổ chức nổi bật ở các nước tư bản. Không chỉ thể thao nhà
nghề mà thể thao quần chúng cũng bò khống chế.
2. Sự phát triển của các khuynh hướng khác nhau trong thể
thao.
2.1 Thể thao nghiệp dư
Mặc dù mục đích không phải chiếm lợi nhuận, song lối kinh
doanh tư bản vẫn thể hiện trong thể thao nghiệp dư. Các cuộc thi đấu
có tác dụng lớn không những đối với các vận động viên mà cả người
xem.Các nhà tư bản độc quyền trong sản xuất dụng cụ TDTT đã trở
thành lực lượng có bản trong việc phổ biến các hoạt động TDTT.
Các trường trung học TDTT đã trở thành các nơi cung cấp các
nhân tài thể thao. Sự phân biệt chủng tộc thể hiện rất rõ trong thể
thao nghiệp dư ở các nước tư bản như Cộng Hòa Nam Phi, Anh ,
Mỹ,…
2.2. Thể thao nhà nghề
Khuynh hướng này càng lan rộng bởi nó thu được nhiều khoản
lợi nhuận khổng lồ trong thơi gian ngắn và vốn đầu tư ít. Thể thao
nhà nghề phát triển ở các môn quyền Anh, bóng đá, đua xe đạp,
trượt tuyết, trượt băng nghệ thuật, bóng rỗ, quần vợt. Thể thao nhà
nghề thể hiện sự sùng bái bạo lực, tham muốn thành tích bằng bất
cứ giá nào cho dù phải trả bằng tội ác hoặc sinh mạng.
Trong những năm gần đây, thể thao nhà nghề không những là

trình độ kinh tế mà còn được sử dụng vào mục đích chính trò (các
vận động viên có tiếng tham gia vận động tranh cử cho các Đảng).
2.3. Thể thao doanh nghiệp và thể thao giáo hội
Thể thao doanh nghiệp do chủ xí nghiệp sáng tạo ra mục đích
tăng cười bóc lột, đánh lạc hướng đấu tranh giai cấp, quảng cáo sản
phẩm.
Thể tha giáo hội hướng hoạt động thể thao vào củng cố đòa vò
của xã hội tư bản và làm cho hoạt động thể thao mang sắc thái tôn
giáo.
2.4. Thể thao công nhân
Trong những năm chiến tranh thể thao công nhân bò gưng lại.
Sau chiến tranh việc khôi phục phong trào thể thao công nhân có sự
tác động của Đảng cộng sản. Hoạt động của đảng cộng sản đã thúc
đẩy sự phát triển thể thao công nhân. Thể thao công nhân đã tập
hợp quần chúng nhân dân lao động để tuyên truyền tư tưởng đấu
tranh giải phóng dân tộc vì sự tiến bộ xã hội.
*Quan Điểm,đường lối của Đảng và nhà nước về công tác
TDTT trong giai đoạn hiện nay:
Mục tiêu quản lí TDTT chính là cơ bản nhất, lâu dài nhất của
công tác TDTT:
Hình thành nền TDTT tiến bộ, góp phần thực hiện từng bước
nâng cao sức khỏe, thể lực. Đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần của
nhân dân và đạt được vò trí cao trong các hoạt động.
Ta phải xác đònh mục tiêu cụ thể phát triển TDTT là:Giáo dục
thể chất trong các trường học, làm cho việc ràn luyện trở thành nề
nếp hàng ngày trong sinh hoạt các cấp, sinh viên, học sinh học nghề
và lực lươnïg vũ trang, công nhân viên chức và một bộ phận người
dân.
- Xây dựng đào tạo lực lượng vận động viên có ntài cho quốc
gia. Tham gia thi đấu ở các khu vực, châu Á và thế giới, nhất là ở

các môn cá nhân có triển vọng của Việt Nam.
- Kiện toàn hệ thống đào tạo HLV, cán bộ khoa học và quản lí.
Xây dựng mới, hiện đại một số cơ sở vật chất kỹ thuật TDTT. Xây
dựng các cơ sở nghiên cứu khoa học, ứng dụngkhoa học y học
TDTT và tạo tiền đề cho phát triển TDTT ở thế kỉ XXI.
Kết hợp TDTt, lấy thể dụ làm cơ sở, kết hợp thể dục với vệ sinh
phòng chóng bệnh, kết hợp thành tựu hiện đại của thế giới của kinh
nghiệm truyền thống của dân tộc, tập trung phục vụ phong trào cơ
sở.
- Tập luyện TDTT phải phù hợp với từng lứa tuổi nam, nữ,
ngành nghề, sức khỏe của từng người và phù hợp với điều kiện kinh
tế, hoàn cảnh đòa nhiên và truyền thống từng vùng. Thực hiện kiểm
tra y học và bảo đảm an toàn trong tập luyện và thi đấu.
- Kết hợp việc phát triển phong trào quầøn chúng với việc xây
dựng lực lượng nồng cốt bao gồm cán bộ, huấn luyện viên, trọng
tài, giáo viên, hướng dẫn viên và VĐV TDTT.
- Triệt để sử dụng điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất có sẳn, dựa
vào lực lượng của nhân dân.
- Hình thành thế giới quan tâm của giai cấp công nhân và đường
lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về TDTT.
- Giáo dục và đào tạo trong lónh vực TDTT là sự thống nhất giữa
giáo dục Cộng sản chủ nghóa với việc đào tảo thể thao.
- Phát triển của tri thức khoa học TDTT là những thông tin cần
thiết để giải quyết các nhiệm vụ của TDTT.
- Tăng cường khả năng hiểu biết cho cán bộ TDTT, HLV, ĐVĐ
nhằm giải quyết các mối quan hệ trong tập thể.
- Hiểu được giá trò của các và củng cố niềm tin vào phương pháp
và tiềm năng giải quyết các nhiệm vụ.
- Tổ chức các buổi trao đổi, bàn bạc các hội thảo, thảo luận các
chuyên đề.

- Sử dụng tốt các thông tin đại chúng.
- Tổ chức động viên quần chúng: Tuyên truyền các mối quan hệ,
nhiệm vụ cơ bản qua các phương tiện báo đài.
Mở lớp tại chỗ để nâng cao trình độ cho HLV, cán bộ TDTT.
- Suy tôn và mở rộng điển hình phát hiện đúng những cá nhân
tiêu biểu.
Tương trợ và giúp đỡ lẫn nhau.
Động viên tinh thần và vật chất đúng với kết quả bỏ ra.
Trà Vinh, ngày 20 tháng 08 năm
2009
Người viết

DƯƠNG THANH HÙNG




.

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×