Tải bản đầy đủ (.doc) (8 trang)

Hướng dẫn thực hiện chương trinh mon lich sử

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (154.35 KB, 8 trang )


UBND TỈNH LÂM ĐỒNG
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Số: 1304 /SGDĐT-GDTrH
V/v Hướng dẫn dạy học môn
Lịch sử THCS và THPT
năm học 2009-2010
Đà Lạt, ngày 20 tháng 10 năm 2009
Kính gửi : – Các phòng Giáo dục và Đào tạo;
– Các trường phổ thông trực thuộc.
Căn cứ Chỉ thị số 4899/CT-BGDĐT ngày 04/8/2009 của Bộ trưởng Bộ Giáo
dục và Đào tạo (GD&ĐT)“về nhiệm vụ trọng tâm của giáo dục mầm non, giáo
dục phổ thông, giáo dục thường xuyên, giáo dục chuyên nghiệp năm học 2009-
2010”, Công văn số 945/SGD&ĐT-GDTrH ngày 12/8/2009 của Sở Giáo dục
và Đào tạo Lâm Đồng về Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ Giáo dục Trung học
năm học 2009-2010, Sở GD&ĐT hướng dẫn việc dạy học bộ môn Lịch sử
THCS và THPT như sau:
I. NHIỆM VỤ CHUNG:
Củng cố kết quả đạt được trong việc thực hiện chương trình và sách giáo khoa
mới, thực hiện dạy và học theo chuẩn kiến thức, kỹ năng, tích cực đổi mới
kiểm tra, đánh giá thúc đẩy đổi mới phương pháp dạy học, tăng cường ứng
dụng công nghệ thông tin trong dạy - học bộ môn Lịch sử nhằm tạo sự chuyển
biến trong phương pháp giảng dạy, học tập để không ngừng nâng cao chất
lượng học tập bộ môn.
II. NHIỆM VỤ CỤ THỂ:
1. Về nội dung giảng dạy:
– Trong năm 2010, nhân dân ta sẽ kỷ niệm những ngày lịch sử quan trọng: 80
năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, 35 năm ngày giải phóng miền
Nam, thống nhất Tổ quốc, 120 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, 65


năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9, đặc biệt kỷ niệm 1000 năm
Thăng Long – Hà Nộ, do vậy cần gắn nội dung, ý nghĩa của các sự kiện trọng
đại này trong dạy – học phần lịch sử Việt Nam, nhất là thời kỳ từ khi thành lập
Đảng CSVN đến nay, xem đây là một trong những trọng tâm của chương trình.
Phần Lịch sử thế giới tuy không được nhấn mạnh bằng lịch sử dân tộc nhưng
trong quá trình giảng dạy phải đảm bảo để học sinh (HS) nắm vững yêu cầu,
kiến thức cơ bản của toàn bộ chương trình, trong đó chú ý lịch sử các nước
Đông Nam Á, lịch sử Trung Quốc.
– Trong quá trình giảng dạy, giáo viên (GV) lưu ý:
1
+ Cung cấp cho HS những kiến thức cơ bản, hiện đại, có hệ thống về lịch sử
thế giới và lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến năm 2000 theo yêu cầu của từng cấp
học.
Về lịch sử thế giới, nắm những sự kiện lịch sử cơ bản, tiêu biểu cho những
bước phát triển chủ yếu, những chuyển biến quan trọng của lịch sử thế giới từ cổ đại
đến nay, đặc biệt những sự kiện chính trị- xã hội lớn, những nền văn minh tiêu biểu,
lịch sử các nước trong khu vực và các sự kiện liên quan đến quá trình lịch sử nước
ta.
Về lịch sử Việt Nam, hiểu những nét chính, vững chắc, có hệ thống về quá
trình phát triển của lịch sử dân tộc trên cơ sở nắm được những sự kiện nổi bật của
từng thời kỳ, nội dung chủ yếu của mỗi giai đoạn lịch sử nước ta, mối quan hệ giữa
Việt Nam với thế giới, đặc biệt từ đầu thế kỷ XX đến nay.
+ Đầu tư thời gian để soạn giảng tốt các tiết sơ kết, tổng kết nhằm củng cố,
hệ thống hoá kiến thức bộ môn. Đối với các tiết ôn tập, GV cần dựa vào tài liệu giáo
khoa và tình hình học tập của mỗi lớp để xây dựng nội dung và hướng dẫn học sinh
chuẩn bị nhằm củng cố kiến thức, rèn luyện kỹ năng.
2. Về phương pháp và hình thức tổ chức dạy học:
Quan điểm chủ đạo của chương trình môn Lịch sử ở trường phổ thông nói
chung là xuất phát từ đặc trưng bộ môn, từ đặc điểm của quá trình nhận thức quá
khứ, tận dụng mọi phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức dạy học nhằm phát

huy tính tích cực, độc lập, sáng tạo của HS.
Trong quá trình giảng dạy cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau đây:
Thứ nhất, tăng cường tính trực quan, hình ảnh, khả năng gây xúc cảm của
các thông tin về các sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử. Trước hết, GV phải trình
bày sinh động, giàu hình ảnh. Đó là tường thuật, miêu tả, kể chuyện, nêu đặc điểm
của nhân vật lịch sử Bên cạnh đó, cần coi trọng việc sử dụng các phương tiện trực
quan: tranh ảnh, bản đồ, lược đồ, sa bàn, mô hình vật thật, phim đèn chiếu, phim
video
Thứ hai, tổ chức cho HS làm việc nhiều hơn với các sử liệu có trong sách giáo
khoa. Thông qua các hoạt động học tập, chú trọng rèn luyện các phương pháp học
tập, nghiên cứu lịch sử cho HS.
Thứ ba, tổ chức các cuộc trao đổi thảo luận dưới nhiều hình thức khác nhau
(làm việc theo nhóm hoặc đàm thoại chung cả lớp), tạo điều kiện để học sinh tự
mình nêu lên các vấn đề để học tập, được độc lập giải quyết các vấn đề đó hoặc
những vấn đề khác do GV đặt ra. Cần khuyến khích HS phát biểu những ý kiến
riêng, độc đáo của mình, rèn luyện khả năng trình bày ý kiến cho học sinh. Từ đó,
HS lĩnh hội được nội dung học tập theo tinh thần mới của dạy học hiện đại.
Thứ tư, đa dạng hoá các hình thức tổ chức dạy học lịch sử. Khuyến khích tiến
hành dạy học lịch sử ở các hình thức tổ chức phong phú, đa dạng: học ở lớp, ở
phòng bộ môn, ở bảo tàng, tại di tích lịch sử, hiện trường lịch sử; học nghe báo cáo,
đối thoại trực tiếp với các nhân chứng lịch sử, nhân vật lịch sử.
2
Thứ năm, dạy học phải bám sát chuẩn kiến thức và kĩ năng ban hành kèm
theo Quyết định số 16/2006/QĐ–BGDĐT ngày 05 tháng 5 năm 2006 của Bộ trưởng
Bộ Giáo dục và Đào tạo để cung cấp cho HS những kiến thức cơ bản, hiện đại, có
hệ thống về lịch sử thế giới và lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến năm 2000 theo
yêu cầu của từng cấp học.
Một trong những yêu cầu quan trọng trong việc dạy học hiện nay là GV phải
bám sát chuẩn kiến thức, kĩ năng được thể hiện trong chương trình giáo dục phổ
thông, thông qua nội dung SGK để xác định và lựa chọn những nội dung cơ bản

nhất, trọng tâm của từng bài học giúp các em HS nắm vững những nội dung lịch sử
đó với tinh thần “ít nhưng mà tinh, còn hơn nhiều mà thô”.
Trong quá trình dạy học, cùng với việc giúp HS nắm vững chuẩn kiến thức,
kĩ năng được quy định trong chương trình môn học, GV cần chú ý hướng dẫn HS
phân tích, giải thích mối quan hệ giữa các sự kiện, so sánh, đối chiếu rút ra bài học
lịch sử; rèn luyện các kĩ năng và phương pháp tự học.
Các tổ, nhóm chuyên môn lưu ý: Hoạt động đổi mới PPDH của GV phải có
sự hỗ trợ thường xuyên của đồng nghiệp thông qua dự giờ, thăm lớp và cùng rút
kinh nghiệm; không để giáo viên phải "đơn độc" trong việc đổi mới PPDH.
3. Về thực hiện phân phối chương trình:
Từ năm học 2008-2009, Bộ GD&ĐT đổi mới cách phân phối chương trình
các môn học cấp THCS và cấp THPT, chỉ ban hành quy định khung thời lượng cho
từng chương. Trên cơ sở quy định khung đó, năm học 2008-2009, Sở GD&ĐT
phân bố các tiết học cụ thể, bảo đảm thời lượng dạy học và tiến độ thực hiện
chương trình GDPT theo quy định của biên chế năm học.
Năm học 2009-2010, các phòng GD&ĐT, các trường THPT, PTDTNT vẫn
tiếp tục thực hiện phân phối chương trình do Sở GD&ĐT ban hành năm học 2008-
2009. Tuy nhiên, trên cơ sở phân phối chương trình của Sở GD&ĐT và thực tế
giảng dạy ở các phòng GD&ĐT, các trường THPT, PTDTNT Sở GD&ĐT cho
phép các tổ, nhóm chuyên môn các trường có thể điều chỉnh một cách hợp lý thời
lượng của từng bài, miễn là không làm thay đổi tổng số tiết dạy của chương, phần
và mỗi học kỳ, cũng như của toàn năm học. Các tổ, nhóm chuyên môn trao đổi,
bàn bạc, thảo luận để thống nhất chương trình giảng dạy riêng nếu như thấy phù
hợp với đối tượng HS. Phân phối chương trình nếu có sự thay đổi so với phân phối
chươg trình của Sở Giáo dục và Đào tạo phải có sự phê duyệt của Hiệu trưởng
(đối với trường THPT, PTDTNT) và Trưởng phòng GD&ĐT (đối với trường
THCS) và báo cáo về Sở GD&ĐT (phòng Giáo dục Trung học).
4. Đối với những tiết làm bài tập Lịch sử:
GV có thể thực hiện theo nội dung sau:
– Tổ chức, hướng dẫn HS khai thác tranh ảnh, lược đồ, bản đồ lịch sử giúp HS biết

được phương pháp khai thác và nắm được nội dung của tranh ảnh, lược đồ, bản đồ gắn
liền với nội dung SGK.
3
– Hướng dẫn HS lập bảng thống kê các sự kiện lịch sử của một bài, chương, giai
đoạn lịch sử.
– Hướng dẫn HS làm bài tập trắc nghiệm khách quan với các dạng khác nhau.
– Tổ chức, hướng dẫn HS sưu tầm những sự kiện lịch sử địa phương có liên
quan đến nội dung bài học.
5. Về giảng dạy lịch sử địa phương:
Sở GD&ĐT yêu cầu các phòng GD&ĐT, các trường THPT, PTDTNT thực
hiện nghiêm túc Công văn số 252/SGD&ĐT-GDTrH ngày 16/3/2009 của Sở
GD&ĐT Lâm Đồng về Hướng dẫn nội dung giáo dục Lịch sử địa phương và Địa lý
địa phương cấp THCS và cấp THPT, trong đó cần lưu ý :
– Cần nhận thức rõ về vai trò, ý nghĩa của lịch sử địa phương trong việc giáo
dưỡng, giáo dục, đặc biệt là giáo dục truyền thống địa phương đối với học sinh. Nội
dung giáo dục địa phương phải góp phần thực hiện mục tiêu môn học, gắn lý luận
với thực tiễn. Khi giảng dạy, ngoài việc liên hệ với thực tiễn hoạt động kinh tế - xã
hội, văn hóa, lịch sử địa phương trong các bài dạy còn phải thực hiện nội dung giáo
dục địa phương thông qua việc giảng dạy các tiết học đã qui định trong phân phối
chương trình dành cho giáo dục địa phương.
– Để thực hiện nội dung giáo dục địa phương, các đơn vị trường học phải tổ
chức dạy học, kiểm tra, đánh giá, sử dụng kết quả đánh giá để xếp loại học sinh cuối
học kỳ và cuối năm học. Trong quá trình giảng dạy, cần lưu ý một số yêu cầu đó là:
tính cơ bản, tiêu biểu của sự kiện, đảm bảo được tính toàn diện, hệ thống của sự
kiện và vừa sức với học sinh.
– Về tài liệu, trong lúc Sở Giáo dục và Đào tạo chưa tổ chức biên soạn, thẩm
định tài liệu giáo dục địa phương, các trường dựa vào cuốn “Địa chí Lâm Đồng”,
nhà xuất bản Văn hoá dân tộc, Hà Nội năm 2001 (nếu các trường chưa có cuốn sách
này, có thể xem trên mạng Internet, địa chỉ: Địa chí
Lâm Đồng) để làm tài liệu giảng dạy.

6. Về thiết kế giáo án:
Giáo án là bản kế hoạch, không chỉ nội dung và phương pháp giảng dạy, mà
cả cách tổ chức và hoạt động của GV và HS.
– Để soạn giáo án tốt, GV cần thực hiện các công việc sau:
+ Xác định loại bài và vị trí của bài trong khóa trình để có nội dung và
phương pháp dạy học phù hợp.
+ Xác định mục tiêu của bài học gồm các yếu tố: giáo dưỡng (kiến thức), giáo
dục (tư tưởng) và phát triển (kỹ năng - các năng lực nhận thức, thực hành, trong đó
quan trọng là tư duy).
+ Xây dựng đề cương và viết giáo án. GV phải tìm ra các kiến thức theo "sơ
đồ Đairi", theo nội dung chính của bài đã xác định nhằm giúp học sinh lĩnh hội kiến
thức tốt nhất. Nội dung, phương pháp giảng dạy và cách tổ chức công việc của GV
4
và HS trong giờ học là khâu trung tâm của giáo án. Cần ghi rõ các công việc của
thầy và hoạt động nhận thức của trò, mối quan hệ giữa hoạt động của thầy và trò.
– Việc thiết kế giáo án phải khoa học, sắp xếp hợp lý các hoạt động dạy - học
của GV và HS ở trên lớp, với hệ thống câu hỏi hợp lý, tập trung vào trọng tâm của
bài học, tránh nặng nề hoặc dàn trải. Chú ý bồi dưỡng năng lực độc lập suy nghĩ của
HS, vận dụng sáng tạo kiến thức đã học, tránh thiên về ghi nhớ máy móc, không
nắm vững bản chất vấn đề.
– Về cấu trúc của một giáo án môn Lịch sử, thực hiện theo yêu cầu chung và
định hướng trong các tài liệu bồi dưỡng giáo viên, các đợt tập huấn thay sách giáo
khoa THCS và THPT. Thực hiện cấu trúc giáo án mềm dẻo, linh hoạt, tránh yêu cầu
GV phải cấu trúc và thực hiện giáo án máy móc các công việc của giờ học.
7. Về khai thác và sử dụng thiết bị dạy học:
– Việc sử dụng thiết bị dạy học là yêu cầu bắt buộc trong công tác dạy học.
Thiết bị, đồ dùng dạy học môn lịch sử là một trong những nguồn nhận thức quan
trọng. Khai thác triệt để thiết bị dạy học sẽ giúp GV thực hiện tốt việc cải tiến
phương pháp soạn giảng; HS tích cực, chủ động tham gia lĩnh hội kiến thức.
– Thiết bị dạy học môn lịch sử rất đa dạng phong phú: tranh ảnh, bản đồ (lược

đồ), mẫu vật, băng hình GV hướng dẫn HS khai thác có hiệu quả tranh ảnh và
lược đồ - hai loại thiết bị thường được sử dụng nhiều nhất trong dạy học lịch sử.
– Để việc sử dụng tranh ảnh, lược đồ thống nhất và có hiệu quả nhằm phát
huy được tích tích cực, chủ động, sáng tạo của HS trong học tập bộ môn và theo
quan điểm đổi mới dạy học, thiết bị, đồ dùng dạy học là một nguồn nhận thức lịch
sử chứ không chỉ là minh hoạ cho bài học. Trong khi khai thác, sử dụng cần chú ý
các kĩ năng như: quan sát, nhận xét, mô tả, tường thuật, phân tích, nhận định, đánh
giá và phương pháp khai thác như: cho HS quan sát, GV đặt câu hỏi nêu vấn đề, tổ
chức hướng HS tìm hiểu nội dung tranh ảnh, lược đồ.
8. Về kiểm tra, đánh giá:
– Xác định rõ mục đích của việc kiểm tra, đánh giá: Kiểm tra được xem là
phương tiện và hình thức của đánh giá. Đánh giá kết quả học tập (KQHT) của HS
nhằm mục đích làm sáng tỏ mức độ đạt được của HS về kiến thức, kĩ năng và thái
độ so với mục tiêu dạy học đã đề ra.
– Nắm vững nội dung kiểm tra, đánh giá: Nội dung môn Lịch sử bao gồm 2
mảng kiến thức: lịch sử thế giới và lịch sử Việt Nam. Nội dung kiểm tra, đánh giá
của môn học cần bao gồm cả các mặt kiến thức, kĩ năng, thái độ. Song chủ yếu tập
trung kiểm tra, đánh giá kiến thức và kĩ năng của HS.
– Vận dụng thành thạo phương pháp và hình thức kiểm tra đánh giá: Cần chú
trọng kết hợp câu hỏi tự luận (70%) và trắc nghiệm khách quan (30%). Bài kiểm tra
không chỉ nhằm đánh giá kết quả học tập chung của lớp học mà còn phải đánh giá
trình độ của mỗi HS trong lớp. Vì vậy, trong đề kiểm tra cần có câu hỏi để phân hoá
trình độ HS.
Câu hỏi tự luận và trắc nghiệm khách quan:
5
+ Tự luận với câu hỏi mở:
Loại này đòi hỏi HS phải trả lời bằng vốn kiến thức và kinh nghiệm học tập đã
có. HS phải tự trình bày ý kiến trong một bài viết dài để giải quyết vấn đề mà câu
hỏi nêu ra. Tự luận cho phép đánh giá được sự hiểu biết, năng lực trí tuệ, khả năng
diễn đạt của HS. Vì vậy, loại này thường được sử dụng trong trường hợp yêu cầu

HS phân tích các mối quan hệ sự kiện, chứng minh, giải thích các hiện tượng, sự vật
lịch sử
+ Trắc nghiệm khách quan: Nhóm các câu hỏi trắc nghiệm mà trong đó mỗi câu
nêu ra một vấn đề cùng với những thông tin cần thiết đòi hỏi HS phải viết câu trả lời
ngắn hoặc lựa chọn câu trả lời. Trắc nghiệm có thể kiểm tra được một phạm vi rộng
của chương trình, do đó độ tin cậy của bài trắc nghiệm cao và khuyến khích HS tích
luỹ nhiều kiến thức. Kết quả kiểm tra, đánh giá khách quan hơn, không phụ thuộc
vào ý kiến chủ quan của người chấm bài.
9. Về bồi dưỡng học sinh dự thi HSG lớp 9 THCS và lớp 12 THPT:
9.1. Nội dung:
– Đối với lớp 12:
Nội dung kiến thức đề thi HS giỏi quốc gia bao gồm toàn bộ chương trình
Lịch sử từ lớp 6 đến lớp 12 (lịch sử thế giới và lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến
năm 2000).
Nội dung kiến thức đề thi HS giỏi cấp tỉnh về nguyên tắc là toàn bộ lịch sử
thế giới và lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến năm 2000. Tuy nhiên, khi ôn tập cần
chú ý những phần sau:
+ Lịch sử Việt Nam:
Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XIX (Lịch sử lớp 10).
Lịch sử Việt Nam từ 1858 đến năm 1918 (Lịch sử lớp 11).
Lịch sử Việt Nam từ năm 1919 đến năm 1954 (Lịch sử lớp 12). (Chỉ giới hạn
đến năm 1954, còn phần Lịch sử Việt Nam từ 1954 đến năm 2000 sẽ do Hội đồng
bồi dưỡng HSG dự thi HSG quốc gia hướng dẫn ôn tập).
+ Lịch sử thế giới:
Lịch sử thế giới từ năm 1917 đến năm 1945 (Lịch sử lớp 11).
Lịch sử thế giới từ năm 1945 đến năm 2000 (Lịch sử lớp 12).
– Đối với lớp 9:
Nội dung kiến thức đề thi HS giỏi cấp tỉnh về nguyên tắc là toàn bộ lịch sử
thế giới và lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến năm 2000 theo chương trình THCS
từ lớp 6 đến lớp 9. Tuy nhiên, khi ôn tập cần chú ý những phần sau:

+ Lịch sử Việt Nam:
Lịch sử Việt Nam từ 1858 đến năm 1918 (Lịch sử lớp 8).
Lịch sử Việt Nam từ năm 1919 đến năm 1954 (Lịch sử lớp 9). (Chỉ giới hạn
đến năm 1954).
6
+ Lịch sử thế giới:
Lịch sử thế giới từ năm 1917 đến năm 1945 (Lịch sử lớp 8).
Lịch sử thế giới từ năm 1945 đến năm 2000 (Lịch sử lớp 9).
9.2. Gợi ý về phương pháp:
– Đối với GV: Tùy từng bài, từng chương, GV lựa chọn phương pháp sao cho
thích hợp. Cần phát huy cao độ vai trò của người thầy trong quá trình dạy học ở các
mặt:
+ Nâng cao khả năng khoa học và sư phạm để sẵn sàng đối thoại, lý giải,
thuyết phục, lôi cuốn HS phát huy năng lực tự nhận thức.
+ Hướng dẫn HS làm việc và nắm chắc các sử liệu có trong sách giáo khoa,
các tài liệu tham khảo.
+ Coi trọng khâu tường thuật, miêu tả để tái hiện lịch sử, vì lịch sử tồn tại
khách quan, không thể bằng "phán đoán" và "suy luận" để tái hiện lịch sử.
+ Khi giảng nên tạo tình huống có vấn đề, nhằm định hướng nhận thức, xác
định rõ việc cần làm và kết quả cần đạt được một cách cụ thể.
+ Sử dụng có hiệu quả các phương tiện trực quan, đặc biệt đồ dùng trực quan
qui ước như bản đồ lịch sử, niên biểu (niên biểu tổng hợp, niên biểu chuyên đề, niên
biểu so sánh), đồ thị, các loại sơ đồ, biểu đồ, họa đồ.
+ Chú ý rèn luyện khả năng phân tích, tìm hiểu, phát hiện nguyên nhân,
nguồn gốc, khả năng liên hệ, so sánh, đánh giá, rút bài học lịch sử, đặc biệt chú ý
khả năng đọc, hiểu bản đồ lịch sử.
+ Vận dụng một cách có chừng mực những kiến thức của các môn liên quan
như Văn học, Địa lý, Giáo dục công dân để làm phong phú thêm cho bài giảng. Tuy
nhiên, GV cần lưu ý khi giảng và đặc biệt lưu ý cho HS khi học và làm bài: Đây là
bài thi chọn HS giỏi môn Lịch sử chứ không phải là bài thi môn văn hoặc môn xã

hội nào khác.
– Đối với HS: Coi HS là nhân vật trung tâm của quá trình dạy học, nhằm kích
thích khả năng tiềm ẩn trong học sinh ở các mặt:
+ Khả năng độc lập trong việc tiếp thu kiến thức: Sử dụng sách giáo khoa, các
tài liệu tham khảo, các nguồn thông tin
+ Các bài học trong sách giáo khoa là tài liệu cơ bản nhất nên phải đọc kỹ,
nghiền ngẫm các sự kiện cơ bản, các đánh giá chính thống sự kiện và nhân vật lịch
sử đó.
+ Phải nắm và giải thích được các bản đồ, biểu đồ, sơ đồ, đồ thị, ảnh minh
họa, nắm được cấu trúc bài, quan hệ giữa các bài.
+ Trả lời các câu hỏi cuối mỗi bài, tự làm các đề thi đã ra thuộc vào nội dung
các bài đó.
– Phát triển khả năng thực hành: Qua những sự kiện, hiện tượng lịch sử cụ
thể, giáo viên chỉ ra cho HS những mẫu hình, những hành động khác nhau xuất phát
7
từ những động cơ cụ thể, để giúp HS xác định được phương hướng hoạt động,
phương pháp hành động sao cho phù hợp với qui luật phát triển xã hội.
– Rèn luyện và nâng cao các kỹ năng: Tường thuật, miêu tả, phân tích, so
sánh, tổng hợp, liên hệ, hiểu bản đồ lịch sử và khả năng nhận định, đánh giá, rút bài
học.
9.3. Về hình thức thi và đề thi:
– Hình thức thi: Thi viết, hình thức tự luận.
Lưu ý: Kỳ thi chọn HSG lớp 12 THPT vào đội tuyển dự thi HSG quốc gia
sẽ thi 2 buổi.
– Đề thi:
+ Chủ yếu trên cơ sở mặt bằng kiến thức phổ thông đã được cấu tạo trong nội
dung chương trình lịch sử từ lớp 6 đến lớp 9 (đối với THCS), từ lớp 6 đến lớp 12,
chủ yếu từ lớp 10 đến lớp 12 (đối với THPT), có tính đến những hiểu biết lịch sử
của HS từ các nguồn thông tin khác mà HS tiếp nhận ngoài chương trình và những
hiểu biết cần thiết ở các môn học khác có liên quan.

+ Yêu cầu của đề thi chọn HS giỏi:
Kiểm tra trình độ hiểu biết toàn diện, vững chắc của học sinh trên các mặt
kiến thức, nhận thức, kỹ năng và khả năng vận dụng kiến thức, liên hệ với thực tiễn
đời sống, rút ra được những bài học bổ ích nhằm hoàn thiện nhân cách của bản thân.
Đề thi sẽ bao gồm nhiều câu hỏi tự luận nhằm kiểm tra và đánh giá trình độ
nhận thức cụ thể của HS về một hoặc nhiều sự kiện, hiện tượng lịch sử Việt Nam và
thế giới.
+ Cấu trúc cần có của một đề thi HS giỏi gồm có 2 phần: lịch sử Việt Nam
(14 điểm) và lịch sử thế giới (6 điểm).
Sở Giáo dục và Đào tạo yêu cầu các phòng GD&ĐT, các trường THPT,
PTDTNT triển khai Hướng dẫn dạy học môn Lịch sử năm học 2009-2010 đến GV
trong tổ, nhóm chuyên môn và tạo điều kiện thuận lợi để tổ, nhóm chuyên môn và
GV thực hiện tốt các nội dung theo hướng dẫn.
Nơi nhận: KT. GIÁM ĐỐC
- Như trên; PHÓ GIÁM ĐỐC
- Lưu VT, GDTrH.

Huỳnh Văn Bảy
8

×