Tải bản đầy đủ (.doc) (20 trang)

sáng kiến kinh nghiệm ngữ văn 12- rất hay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (177.14 KB, 20 trang )

Xìn Thanh Quyền Trường THPT Chuyên Hà Giang

MỞ ĐẦU
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Mỗi lần đọc Vợ nhặt tôi lại cảm thấy tâm đắc với câu nói của Banzăc “Nhà văn
chân chính là thư ký trung thành của thời đại”. Đúng thế, viết Vợ nhặt, Kim Lân đã
ghi lại khá chân thực không khí ngột ngạt của nạn đói lịch sử năm 1945 mà nhân dân
ta phải trải qua trong nỗi kinh hoàng rùng rợn. Nhưng đâu phải ghi lại một cách dửng
dưng, khách quan, Kim Lân đã viết về bối cảnh đó với tất cả tâm hồn rộn rạo bao nỗi
ưu tư. Viết Vợ nhặt, ông đã thể hiện thật tự nhiên tình cảm của mình với người dân
đất Việt trước cảnh lầm than, cơ cực. Bằng tình yêu và niềm tin của mình, Kim Lân
muốn khẳng định: Dẫu phải đối diện với nạn đói, với khổ đau, người dân không
những càng thương yêu nhau mà còn cùng nhau cất cao bài ca hy vọng tràn đầy niềm
lạc quan yêu sống:
“Nơi ngưỡng cửa khốn khổ đó, họ sẽ chứng tỏ số phận và tính cách của mình,
đồng thời ở nơi đó họ sẽ bắt đầu một niềm tin mới, một niềm hạnh phúc mới, dù là
rất mong manh” (Kim Lân, Tác giả nói về tác phẩm).
Dẫu không cần nói ra thì tất cả chúng ta đều nhận thấy, Vợ nhặt có giá trị hiện
thực, đặc biệt giàu giá trị nhân đạo. Cùng với vẻ đẹp của tư tưởng, tác phẩm còn hấp
dẫn bạn đọc bởi nghệ thuật viết truyện khá tài hoa của nghệ sĩ. Nổi bật với nghệ
thuật xây dựng tình huống truyện độc đáo, nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật tinh
tế Với sự kết hợp hài hòa của giá tri tư tưởng và nghệ thuật, Vợ nhặt xứng đáng là
một thiên truyện ngắn xuất sắc của nền văn học hiện đại Việt Nam.
Được tìm hiểu một tác phẩm “thật giá trị” như Vợ nhặt là niềm hạnh phúc của
những người yêu văn. Nằm trong quỹ đạo ấy, là một giáo viên dạy văn, tôi rất yêu
thích tác phẩm này. Tôi thấy thật hứng khởi mỗi khi được hướng dẫn học trò tìm
hiểu vẻ đẹp của truyện ngắn Vợ nhặt. Với tình yêu dành cho truyện ngắn này, tôi
chọn tác phẩm làm nội dung tìm hiểu của sáng kiến để có dịp trao đổi cùng đồng
nghiệp những cảm nhận chủ quan của mình.

Tìm hiểu truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân


1
Xìn Thanh Quyền Trường THPT Chuyên Hà Giang

II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Thực hiện sáng kiến này, tôi hiểu đã có bao công trình nghiên cứu, bao bài viết
hay về Vợ nhặt. Do đó thật khó để cá nhân tôi có thể phát kiến được những ý tưởng
sâu sắc, độc đáo. Nhận thức rõ thực tế đó nên trong phạm vi sáng kiến, tôi chỉ đi sâu
tìm hiểu tác phẩm với mục đích:
- Đánh giá đúng đắn thành công nghệ thuật xuất sắc nhất của Vợ nhặt.
- Xác định chính xác vẻ đẹp tư tưởng của truyện ngắn.
III. NỘI DUNG
Ngoài phần mở đầu và kết luận, sáng kiến tập trung tìm hiểu một số vấn đề sau:
- Kiến thức cơ bản về tác giả Kim Lân, tác phẩm Vợ nhặt.
- Luyện đề:
+ Đề 1: Giá trị của tình huống truyện trong Vợ nhặt
+ Đề 2: Hình ảnh người vợ nhặt trong tác phẩm
+ Đề 3: Tâm trạng của bà cụ Tứ trước sự kiện anh cu Tràng có vợ
+ Đề 4: Giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo của tác phẩm.
IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Phương pháp thống kê: Chọn lựa và thống kê các ngữ liệu, dẫn chứng tiêu biểu
trong tác phẩm phục vụ cho mục đích nghiên cứu.
- Phương pháp phân tích, so sánh: Phân tích ngữ liệu, kết hợp với đối chiếu, so
sánh, nhằm khơi sâu, mở rộng cách nhìn để cảm nhận chính xác vẻ đẹp của các vấn
đề được tìm hiểu.

Tìm hiểu truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân
2
Xìn Thanh Quyền Trường THPT Chuyên Hà Giang

NỘI DUNG

A. KIẾN THỨC CƠ BẢN
I. TÁC GIẢ
1. Con người
- Quê hương: làng Phù Lưu, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
- Gia đình: ông xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo khó.
- Con người:
+ Vừa làm thợ (sơn guốc, khắc tranh bình phong), vừa viết văn.
+ Năm 1944, Kim Lân tham gia Hội Văn hóa cứu quốc và từ đó liên tục hoạt
động văn nghệ phục vụ cách mạng và kháng chiến.
+ Là con người tài năng: ngoài tài văn, Kim Lân còn tham gia sân khấu và điện
ảnh.
2. Sự nghiệp văn học
a. Đề tài: Sáng tác của Kim Lân tập trung vào hai mảng đề tài lớn:
- Cuộc sống và tâm tư tình cảm của những kiếp người nghèo khổ, những người
con vợ lẽ, con cô đầu, những người dân ngụ cư, từ nông thôn trôi dạt ra thành
phố Đúng như Nguyên Hồng khẳng định: tác phẩm của Kim Lân không chỉ “chân
chất của đời sống và con người nghèo hèn” mà còn “ấm áp tình người, tình cảm
những con người lao động đôn hậu, nhân ái, thủy chung và giàu khát vọng”
- Những sinh hoạt văn hóa cổ truyền, những thuần phong mĩ tục ở nông thôn, sau
lũy tre làng. Qua những tác phẩm này, người đọc được hiểu tường tận những công
việc, những quy tắc, luật lệ rất kì công trong những thú vui tao nhã của ông cha ta.
b. Nghệ thuật truyện ngắn Kim Lân
- Giọng kể: Nhà văn dùng cách kể chuyện tâm tình qua lời của nhân vật “tôi
”trong tư cách tác giả kể về cảnh ngộ chính mình và những người gần gũi xung
quanh, hoặc dẫn truyện bằng ngôn ngữ của nhân vật, chủ yếu là người nông dân hiền
lành, chất phác, nói ít, mà nghĩ nhiều (như truyện Làng, truyện Vợ nhặt).

Tìm hiểu truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân
3
Xìn Thanh Quyền Trường THPT Chuyên Hà Giang


Từ ngữ, câu văn trong tác phẩm của ông mộc mạc, quê kiểng, giản dị mà vẫn
trong sáng, hóm hỉnh, tươi tắn. Rất ít khi nhà văn dùng từ ngữ cổ trang trọng, cầu kì.
Âm điệu chung trong truyện Kim Lân là thủ thỉ, chậm rãi, đôi khi tỉ mẩn đến từng
chi tiết nhỏ nhặt có nét hao hao giống giọng văn Nguyên Hồng.
- Xây dựng tình huống, cốt truyện: Truyện của Kim Lân thường có cốt truyện chặt
chẽ, hấp dẫn nhờ xây dựng những tình huống éo le, những chi tiết bất ngờ thú vị. Ví
dụ: tình huống trớ trêu trong cuộc găp gỡ, rồi thành vợ, thành chồng của anh cu
Tràng; chi tiết ông Hai múa tay khoe cái tin nhà mình bị cháy ( Làng )
- Nghệ thuật xây dựng nhân vật: Nhà văn vừa miêu tả ngoại hình, vừa đi sâu diễn
tả tâm tư, cảm xúc, ý nghĩ của nhân vật khá tinh tế. Nếu nhìn một cách hệ thống từ
những nhân vật xuất hiện trong tác phẩm Kim Lân viết trước Cách mạng đến các tác
phẩm sau này, người đọc dễ dàng nhận ra nét riêng của Kim Lân là: một ngòi bút sâu
lắng, cẩn trọng, tỉ mỉ, luôn luôn cố gắng để đi tới tận cùng những nỗi niềm, tâm trạng
từng con người, từng số phận riêng, để từ đó góp một tiếng nói riêng vào trang sử
chung về tâm tư tình cảm con người Việt Nam của văn học hiện đại chúng ta. Nhà
thơ Trần Ninh Hồ đã nói khá xác đáng về thành công này của Kim Lân:“Tất cả, tất
cả, dường như đã được ghi lại bằng những thân phận, những tâm trạng sắc sảo đến
cốt, đến lõi. Nếu như cho rằng văn chương là lịch sử tâm trạng con người thì Kim
Lân là nhà văn đích thực trên cái ý nghĩa ấy”
Tóm lại, trong đội ngũ nhà văn hiện đại Việt Nam, Kim Lân thuộc nhóm những
nhà văn viết không nhiều, không thích những “tráng ngôn đại ngữ”, không ưa lối viết
“lên gân”, mà thường nghĩ suy sâu sắc, thận trọng, xử sự ôn hòa, nhân hậu với đời,
với người cũng như trong sáng tạo nghệ thuật. Ông có đóng góp rất tích cực trong
thể tài truyện ngắn và đề tài nông thôn. Ông đã viết về mảng hiện thực này bằng tình
cảm, tâm hồn con người vốn là con đẻ của đồng ruộng. Nói như nhà văn Nguyên
Hồng, bạn tri kỉ gần gũi với Kim Lân về nhiều mặt: “Ông là nhà văn một lòng đi về

Tìm hiểu truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân
4

Xìn Thanh Quyền Trường THPT Chuyên Hà Giang

với đất, với người, với thuần hậu nguyên thủy của cuộc sống ” ( Trích trong Bước
đường viết văn của tôi ).
II. TÁC PHẨM VỢ NHẶT
1. Xuất xứ
- “Vợ nhặt” là truyện ngắn thành công nhất của Kim Lân, được hoàn thành năm
1954. Truyện ngắn này thực ra được viết lại từ cuốn tiểu thuyết mà nhà văn viết dở
trước Cách mạng có tên là “Xóm ngụ cư”. Kim Lân có lần tâm sự:
“Vợ nhặt thực ra là một chương đã được viết lại của truyện dài “ Xóm ngụ cư ” mà
tôi đang viết dở ”.
- Tác phẩm được in trong tập truyện “Con chó xấu xí”(1962)
2. Ý nghĩa nhan đề tác phẩm
- Nhan đề Vợ nhặt đã tạo được ấn tượng, kích thích sự chú ý của người đọc. Đây
không phải là cảnh lấy vợ đàng hoàng, có ăn hỏi, có cưới xin theo phong tục truyền
thống của người Việt, mà là “nhặt được vợ”.
- Chỉ riêng hai chữ “Vợ nhặt” cũng đã nói lên khá nhiều về cảnh ngộ, số phận của
Tràng và cả của người đàn bà xa lạ nữa. Đúng là anh Tràng đã nhặt được vợ. Cái giá
của con người chưa bao giờ lại rẻ rúng đến như vậy. Chuyện Tràng nhặt được vợ đã
nói lên tình cảnh thê thảm và thân phận tủi nhục của người dân nghèo trong nạn đói
khủng khiếp năm 1945.
3. Giá trị tác phẩm
a. Tư tưởng
Qua tác phẩm, nhà văn khẳng định: cuộc sống dù nghèo đói, tăm tối đến đâu,
những người lao động vẫn gắng gượng vui sống, gắn bó với nhau bằng tình thương
yêu, bằng lòng bao dung, nhân hậu, để cùng gìn giữ niềm vui sống, niềm khát khao
mái ấm gia đình, hướng tới một ngày mai tươi sáng. Kim Lân có nói “Cái đói hành
hạ tất cả mọi người nhưng không át được sức sống đơn sơ của tâm hồn họ. Đói. Nó

Tìm hiểu truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân

5
Xìn Thanh Quyền Trường THPT Chuyên Hà Giang

vừa cay đắng, vừa đớn đau, đồng thời một mặt nào đó nó lại lóe lên những tia sáng
về đạo đức, danh dự”
Tác phẩm vừa có ý nghĩa hiện thực lên án thực dân, phong kiến, vừa ngân nga nhè
nhẹ một ý vị lãng mạn mơ màng, thấm đẫm cảm hứng nhân bản, nhân văn sâu sắc.
b. Nghệ thuật
- Tình huống truyện độc đáo: Mối lương duyên éo le, trái khoáy của anh cu Tràng
giữa nạn đói lịch sử năm 1945.
- Nghệ thuật khắc họa nhân vật: biệt tài miêu tả và biểu hiện tâm trạng, tính cách
người nông dân.
- Giọng văn: Lối kể chuyện nhẹ nhàng, thủ thỉ, gần gũi như chuyện tâm tình,
phảng phất cách kể truyện cổ tích, rất phù hợp với đặc điểm tính cách nhân vật người
nông dân.
- Ngôn từ: dùng lời ăn tiếng nói người lao động mà vẫn trong sáng. Đặc biệt thú vị
là nhà văn đã sáng tạo từ “Vợ nhặt”. “Xưa nay, ta chỉ nói “vợ cheo”,“vợ cưới”,“vợ
theo” Với từ này, nhà văn đã làm giàu thêm cho kho tàng ngôn ngữ vốn rất giàu
có, trong sáng của dân tộc ta”(Nhà văn và tác phẩm trong nhà trường, NXB Giáo
dục).
Tóm lại, Vợ nhặt là một trong những truyện ngắn xuất sắc của Kim Lân và là một
trong những đỉnh cao của truyện ngắn hiện đại Việt Nam.
B. LUYỆN ĐỀ
I- Đề 1
Giá trị độc đáo của tình huống truyện mà Kim Lân đã tạo dựng trong tác
phẩm Vợ nhặt.
Gợi ý
1. Mở bài

Tìm hiểu truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân

6
Xìn Thanh Quyền Trường THPT Chuyên Hà Giang

Nói đến nghệ thuật truyện ngắn, người ta thường coi ba yếu tố sau đây là cơ bản
nhất: tình huống truyện, nhân vật và cách trần thuật. Có nhiều truyện ngắn, sự sáng
tạo tình huống đóng vai trò then chốt. Đặt vào tình huống ấy, nhân vật bộc lộ sâu sắc
tâm lí, tính cách. Tư tưởng của thiên truyện cũng nhờ đó mà được thể hiện đậm đà.
Truyện Vợ nhặt của Kim Lân thuộc loại tác phẩm như thế.
2. Thân bài
a. Khái niệm “ tình huống truyện”
- Khái niệm: Tình huống truyện là sự kiện đặc biệt của đời sống được nhà văn
sáng tạo theo lối lạ hóa. Đó là môi trường, hoàn cảnh để nhân vật xuất hiện, tính cách
phát triển và dụng ý của nhà văn được bộc lộ sắc nét.
Nhà văn Nguyễn Minh Châu từng cho rằng: “Tình huống truyện là lát cắt, là khúc
của đời sống, nhưng qua đó, ta hiểu được trăm năm của đời thảo mộc”
- Phân loại: Có ba loại tình huống phổ biến trong truyện ngắn: tình huống hành
động, tình huống tâm trạng và tình huống nhận thức.
+ Tình huống hành động chủ yếu nhằm hướng tới hành động có tính bước ngoặt
của nhân vật.
+ Tình huống tâm trạng chủ yếu khám phá diễn biến tình cảm, cảm xúc của nhân
vật.
+ Tình huống nhận thức chủ yếu cắt nghĩa giây phút “giác ngộ” chân lí.
b. Tình huống truyện trong “Vợ nhặt”
Tình huống truyện của tác phẩm này thể hiện ngay ở nhan đề “Vợ nhặt”. Một anh
nông dân “nhặt” được vợ. Thật là một chuyện khó tin. Bởi theo quan niệm truyền
thống, ông cha cho rằng:
Tậu trâu, lấy vợ, làm nhà,
Trong ba việc ấy thực là khó khăn.
Vậy mà đọc tác phẩm chúng ta nhận thấy, Anh cu Tràng- một gã trai thô kệch,
nghèo khổ lại là dân ngụ cư- chỉ “tầm phơ tầm phào” mấy câu mà có vợ theo về


Tìm hiểu truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân
7
Xìn Thanh Quyền Trường THPT Chuyên Hà Giang

giữa lúc nạn đói khủng khiếp đang hoành hành. Sức hấp dẫn của tình huống truyện
trước hết là ở đó. Và phải chăng tình huống trong tác phẩm này là một tình huống
hành động, có lẽ đúng hơn là tình huống tâm trạng.
c. Giá trị độc đáo của tình huống truyện mà Kim Lân đạt được
* Tình huống truyện làm bộc lộ sâu sắc tâm trang, tính cách nhân vật
- Bà cụ Tứ: biết tin anh cu Tràng lấy vợ, lòng bà ngổn ngang trăm mối. Bà vô
cùng ngạc nhiên, rồi vừa mừng vừa lo, vừa vui vừa tủi.
- Tràng: Tâm trạng của anh cũng khá phức tạp. Nhưng về cơ bản, anh lo ít vui
nhiều. Mới đầu Tràng cũng “chợn”, nhưng liền sau đó chặc lưỡi “mặc kệ !”.Trên
đường đưa vợ về nhà, thấy người ta tò mò nhìn ngó, “hắn lại lấy vậy làm thích ý
lắm, cái mặt cứ vênh lên tự đắc với mình”. Niềm vui át hẳn nỗi lo, đến nỗi anh ta
không hiểu được tại sao vợ lại buồn, mẹ lại khóc “chán quá, chẳng đâu vào đâu tự
nhiên cũng khóc!”
Bỗng nhiên “nhặt” được vợ, hạnh phúc đến với Tràng quá lớn và quá đột ngột.
Mãi đến sáng hôm sau anh ta vẫn còn thấy “trong người êm ái lửng lơ như người
vừa ở trong giấc mơ đi ra”. Và cùng với niềm vui, ý thức về bổn phận, về trách
nhiệm đối với cái tổ ấm của mình cũng nảy sinh. Anh ta thấy thương yêu gắn bó với
mọi người, với ngôi nhà một cách lạ lùng.“Bỗng nhiên hắn thấy hắn thương yêu gắn
bó với cái nhà của hắn lạ lùng Một nguồn vui sướng, phấn chấn đột ngột tràn ngập
trong lòng. Bây giờ hắn thấy hắn mới nên người”.
- Người vợ nhặt: Cái đói đã đẩy người đàn bà đến chỗ chẳng còn biết xấu hổ là gì,
mất hết ý thức tự trọng, thấy mình không hơn gì cái rơm cái rác, người ta có thể nhặt
được nơi đầu đường xó chợ.
-> Tác giả Vợ nhặt quả đã sáng tạo được một tình huống truyện độc đáo. Một tình
huống vừa rất hiện thực, vừa mang nhiều ý nghĩa biểu tượng sâu sắc.

* Tình huống truyện thể hiện thái độ của nhà văn đối với con người và thực
trạng xã hội đương thời.

Tìm hiểu truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân
8
Xìn Thanh Quyền Trường THPT Chuyên Hà Giang

- Nhà văn lên án tội ác của bọn đế quốc Nhật, Pháp đã gây ra nạn đói khủng khiếp
năm 1945. Giặc ngoại xâm đã đẩy người dân nghèo vào cảnh túng đói quay quắt,
kinh hoàng “Người chết như ngả dạ”. Lịch sử còn ghi lại nạn đói ghê sợ ấy, từ Lạng
Sơn đến Quảng Trị, hơn hai triệu đồng bào ta chết đói.
- Thái độ cuả nhà văn đối với con người:
+ Nhà văn xót xa và cảm thương sâu sắc với nỗi khổ của người dân lành. Kim
Lân thực sự xót xa, ái ngại khi nhận thấy con người phải đối diện với đói rét, khi con
người bị rẻ rúng, coi thường.
+ Kim Lân trân trọng, tôn vinh những phẩm chất tốt đẹp của người dân nghèo: Dù
đối mặt với hoàn cảnh sống ngặt nghèo, tăm tối, người dân nghèo vẫn luôn thương
yêu, đùm bọc, cưu mang nhau. Thậm chí càng gieo neo, khốn khó, họ càng thương
yêu nhau. Thật đúng với tinh thần“Thương người như thể thương thân”, “Lá rách ít
đùm lá rách nhiều” đầy tính nhân văn của dân tộc ta. Quan trọng hơn, nhà văn
muốn ngợi ca niềm tin, niềm lạc quan yêu sống của con người Việt Nam. Bởi mấp
mé bên vực thẳm của cái chết, người dân ngụ cư vẫn không hề bi quan, không buông
xuôi, phó mặc sự sống mà rất yêu sống, ham sống. Thật đúng là:
“Trong sự túng đói quay quắt, trong bất cứ hoàn cảnh nào, người dân ngụ cư vẫn
khao khát vươn lên trên cái chết, cái thảm đạm để mà vui, mà hy vọng”.
3. Kết bài
Tình huống truyện trong Vợ nhặt thật độc đáo. Là hạt nhân của cấu trúc thể loại,
tình huống truyện trong Vợ nhặt đóng vai trò rất quan trọng. Qua tình huống truyện,
nhà văn không chỉ dựng được chân dung các nhân vật, mà quan trọng hơn, thái độ
của nhà văn được thể hiện thật tự nhiên và sâu sắc.

II. Đề 2
Người vợ nhặt trong tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân.
Gợi ý
1. Mở bài

Tìm hiểu truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân
9
Xìn Thanh Quyền Trường THPT Chuyên Hà Giang

- Giới thiệu tác giả, tác phẩm Vợ nhặt.
- Giới thiệu nhân vật người vợ nhặt: Là người phụ nữ có cuộc đời vất vả
nhưng giàu lòng ham sống, yêu sống.
2. Thân bài
Trong trang viết của Kim Lân, người vợ nhặt là người phụ nữ không tên
tuổi, không quê hương, không quá khứ. Từ đầu đến cuối tác phẩm, nhân vật này chỉ
được gọi là “cô ả”, “thị”, “người đàn bà”. Nhưng nhân vật này để lại cho người đọc
nhiều ấn tượng sâu sắc.
2.1. Ngoại hình: Kém hấp dẫn, nếu như không muốn nói là xấu. Ngay từ đầu tác
phẩm, chân dung của thị được gợi tả với “những nét không dễ nhìn”. Đó là người
phụ nữ gầy vêu vao, “áo quần tơi tả như tổ đỉa”, “khuôn mặt lưỡi cày” nổi bật với
hai con mắt trũng hoáy. Có thể nói, cái đói đã khiến thị đã xấu lại càng xấu, càng
nhếch nhác, tội nghiệp hơn.
2.2. Vẻ đẹp tính cách, tâm hồn của thị
* Trước khi lấy Tràng, thị hiện ra trước mắt người đọc với điệu bộ, tính cách “táo
tợn”, “chao chát”, “chỏng lỏn”, không hề dịu dàng. Thị “ton ton”, “sầm sập” chạy
tới bắt chuyện làm quen với Tràng. Thị “cong cớn”, “sưng sỉa” khi giao tiếp, nói
chuyện. Hàng loạt từ tượng thanh và từ tượng hình được nhà văn sử dụng để đặc tả
tính cách khá mạnh mẽ của thị. Phải chăng, cái đói khiến thị “chân thành”, “mạnh
mẽ” hơn trong giao tiếp. Cái đói khiến thị quên cả việc phải giữ ý tứ, lòng tự trọng
của người con gái. Được cho ăn, thị sẵn sàng “sà xuống cắm đầu ăn một chặp bốn

bát bánh đúc”.
* Ẩn sâu trong tâm hồn thị là những nét đẹp đáng quý của người lao động nghèo.
- Chuyện theo Tràng, lấy Tràng của thị khởi đầu xuất phát từ những lời bông đùa
của Tràng. Xưa nay, lấy vợ, lấy chồng là chuyện hệ trọng, thiêng liêng của đời
người. Về điều nay, ông cha từng răn dạy:
Trăm năm tính cuộc vuông tròn

Tìm hiểu truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân
10
Xìn Thanh Quyền Trường THPT Chuyên Hà Giang

Phải dò cho rõ ngọn nguồn lạch sông
( Trích Truyện Kiều của Nguyễn Du )
Vậy mà người vợ nhặt nào có biết Tràng là ai, tốt xấu như thế nào? quê quán, gốc
tích ra sao? Chỉ một câu hò bâng quơ và mấy bát bánh đúc riêu cua là thị có thể theo
ngay Tràng. Thị dễ dàng, hời hợt thế ư? Thực ra hành động theo Tràng của thị xuất
phát từ nhu cầu bám lấy sự sống, từ lòng khát sống. Cận kề bên cái chết, người đàn
bà không hề buông xuôi sự sống. Trái lại, thị vẫn vượt lên trên cái thảm đạm để dựng
xây mái ấm gia đình. Niềm lạc quan yêu sống của thị chẳng là một phẩm chất rất
đáng quý hay sao?
- Có chồng, tâm tính của người đàn bà thay đổi tích cực. Lấy Tràng, thị trở thành
một nàng dâu hiền, hiếu thảo. Lấy Tràng, thị trở thành người vợ dịu dàng, rất nữ
tính. Nhà văn đặc biệt chú ý khắc sâu vẻ đẹp này của nhân vật qua nhiều chi tiết giàu
giá trị:
+ Trên đường về nhà chồng, trước cái nhìn “săm soi”, trước những lời bông đùa,
chòng ghẹo của người dân ngụ cư, người đàn bà cảm thấy xấu hổ. Thị ngượng ngịu,
thiếu tự tin “chân nọ bước díu cả vào chân kia”. Đây đúng là hình ảnh dâu hiền về
nhà chồng.
+ Về đến trước cổng nhà, nhìn thấy“ngôi nhà vắng teo đứng dúm dó trên mảnh
vườn lổn nhổn hững bụi cỏ dại”, thị “nén một tiếng thở dài”. Có lẽ đây không phải

là tiếng thở dài ngao ngán, thất vọng của thị về gia cảnh nhà chồng mà nên hiểu ấy là
tiếng thở dài của người phụ nữ đầy trách nhiệm đã ý thức được phận trách của mình
đối với việc cùng chồng chung tay gây dựng gia đình. Tấm lòng của thị thật đáng
quý biết bao.
+ Vào trong nhà, thị e thẹn, dè dặt ngồi mớm vào mép giường. Thị ý tứ, cung
kính, lễ phép chào bà cụ Tứ. Đây là hình ảnh đẹp của người con dâu rất mực thước
trong quan hệ với mẹ chồng.

Tìm hiểu truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân
11
Xìn Thanh Quyền Trường THPT Chuyên Hà Giang

+ Sáng hôm sau, thị dậy rất sớm cùng mẹ chồng dọn dẹp, thu vén nhà cửa. Đến
đây, người đọc dễ nhận thấy: bao nhiêu vẻ “chỏng lỏn”, “táo tợn” của thị trước kia
không còn nữa. Thay vào đó, chúng ta đã được cảm nhận vẻ đẹp rất nữ tính của thị.
Hơn ai hết, Tràng cảm nhận đủ đầy sự thay đổi tuyệt vời ấy “Tràng nom thị hôm nay
khác lắm, rõ ràng là người đàn bà hiền hậu, đúng mực không còn vẻ gì chao chát,
chỏng lỏn như những lần Tràng gặp ở ngoài tỉn”. Câu văn này đã ghi lại cảm xúc
chân thật của Tràng trước sự đổi thay tích cực của vợ. Phải chăng tình yêu đích thực
với sức nhiệm màu diệu kì đã có sức cảm hóa với thị .


Viết về sự đổi thay trong tâm tính của thị, Kim Lân bày tỏ tình cảm trân trọng,
ngợi ca những phẩm chất tốt đẹp của người dân nghèo. Tình cảm nhân đạo của nhà
văn thể hiện ở đây.
- Thị có những hiểu biết về thời thế Cách mạng: Trong cuộc trò chuyyện với mẹ
con Tràng, thị khảng định “Trên mạn Thái Nguyên, Bắc Giang người ta không chịu
đóng thuế nữa. Người ta còn phá kho thóc của Nhật chia cho người đói nữa đấy”.
Sự hiểu biết này của thị như đã giúp Tràng giác ngộ về con đường phía trước mà anh
sẽ lựa chọn .

3. Kết bài
Thị là người phụ nữ có cuộc đời nhiều gian khó.Viết về thị, nhà văn bày tỏ tình
cảm nhân đạo sâu sắc: Cảm thương với nỗi vất vả, gian truân và trân trọng ngợi ca
những phẩm chất đáng quý của thị.
III- Đề 3: Tâm trạng của bà cụ Tứ trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân.
Gợi ý
1. Mở bài
Truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân đã dựng lên một tình huống đặc biệt : vui mà
tội nghiệp, mừng mà vừa tủi vừa lo. Tình huống ấy đã làm nổi bật tâm trạng của các
nhân vật trong truyện, trong đó có tâm trạng bà cụ Tứ - một người mẹ nghèo, thương
con, vui buồn với những gì diễn ra trong cuộc đời con.

Tìm hiểu truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân
12
Xìn Thanh Quyền Trường THPT Chuyên Hà Giang

2. Thân bài
Được xây dựng trong tác phẩm, bà cụ Tứ là người mẹ nghèo, từng trải, có cuộc
đời trải qua nhiều gian truân. Một buổi chiều khi đi chợ về, bà cụ biết tin con trai
mình lấy vợ. Sự kiện này làm nảy sinh bao sắc thái, bao cung bậc tình cảm khó diễn
tả trong cõi lòng bà:
- Thoạt đầu, bà cụ rất đỗi ngạc nhiên. Cái “hấp háy” mắt trước thái độ độ đon đả
khác thường của Tràng, cái phấp phỏng theo những bước chân vào nhà, thái độ
“đứng sững lại” nhìn kĩ lần nữa, “quay lại nhìn con tỏ ý không hiểu”, băn khoăn
ngồi xuống giường, cùng một loạt câu hỏi như “Ai thế nhỉ”, “sao lại chào mình
bằng u?”, “Ô hay, thế là thế nào nhỉ?” lột tả thái độ rất đỗi ngạc nhiên, bất ngờ của
bà cụ Tứ.
- Sau đó, được Tràng giải thích cặn kẽ “Kìa nhà tôi nó chào u”, “Nhà tôi nó mới
về làm bạn với tôi đấy u ạ !”, bà cụ hiểu ra cơ sự. Lòng bà ngổn ngang trăm mối,
chồng chất bao nỗi niềm suy tư. Bà vừa mừng vừa lo, vừa vui lại vừa tủi.

+ Bà hờn tủi cho mình, xót thương cho các con: Bà tủi thân vì cho rằng mình
chưa làm tròn bổn phận người mẹ “chao ôi, người ta dựng vợ gả chồng cho con là
lúc trong nhà ăn nên làm nổi, những mong sinh con đẻ cái mở mặt sau này. Còn
mình thì Trong kẽ mắt kèm nhèm của bà rỉ xuống hai dòng nước mắt ”. Người mẹ
này cũng rất xót thương cho con trai bà vì bà hiểu rằng “Người ta có gặp bước khó
khăn, đói khổ này, người ta mới lấy đến con mình. Mà con mình mới có vợ được ”.
Nghĩ như thế nhưng bà cụ không hề có ý xem thường, rẻ rúng người phụ nữ theo
không con mình. Trái lại bà cảm thương cho tình cảnh khốn cùng của người con dâu
“bà lão nhìn người đàn bà, lòng đầy thương xót. Nó bây giờ là dâu là con trong nhà
rồi”. Hơn thế, có lẽ bà cụ còn hàm ơn cô ta, vì bà hiểu con bà sẽ ế vợ nếu không gặp
người phụ nữ đói khổ này.
+ Mừng vui: Vất vả nuôi con khôn lớn trưởng thành nên cụ Tứ cũng vui mừng lắm
trước sự thực con trai bà lấy được vợ. Bà vui vì từ đây con bà đã yên bề gia thất, có

Tìm hiểu truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân
13
Xìn Thanh Quyền Trường THPT Chuyên Hà Giang

vợ rồi có con như bao người đàn ông khác. Câu nói nhẹ nhàng sau bao nhiêu nỗi
niềm được nén lại của bà mẹ “Ừ, thôi thì các con đã phải duyên phải kiếp với nhau,
u cũng mừng lòng” đã xua tan nỗi phấp phỏng lo âu cho Tràng, xóa đi nỗi bẽ bàng,
lo sợ cho người con dâu. Gắng gượng vượt qua những ưu phiền, bà cụ khuyên nhủ,
động viên con những điều chí tình, đôn hậu, tràn đầy niềm lạc quan yêu sống “Nhà
ta thì nghèo con ạ. Vợ chồng chúng mày liệu mà bảo nhau làm ăn. Rồi ra may ông
giời cho khá Biết thế nào hở con, ai giàu ba họ, ai khó ba đời ? Có ra thì rồi con
cái chúng mày về sau.”, “Cốt làm sao chúng mày hòa thuận là u mừng rồi”. Lời
khuyên ấy của người mẹ là món quà vô giá, gói trọn bao tình yêu thương vô bờ của
bà dành cho các con. Tấm lòng người mẹ cao đẹp biết nhường nào ?
+ Lo lắng, băn khoăn: Đối diện với nạn đói thê thảm hiện tại, bà cụ Tứ cũng rất lo
lắng cho cuộc sống phía trước của hai con “Biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau

sống qua được cơn đói khát này không”, “Bà lão nghĩ đến cuộc đời cực khổ dài
dằng dặc của mình. Vợ chồng nó lấy nhau, cuộc đời nó liệu có hơn bố mẹ trước kia
không ?”. Yêu thương con bao nhiêu, người mẹ từng trải này băn khoăn, lo lắng cho
con bấy nhiêu. Hơn một lần, người mẹ nghèo này phải quay đi, lén giấu những giọt
nước mắt lo lắng, tủi buồn của mình.


Sự đan xen, hòa quyện của các cung bậc, sắc thái tình cảm tưởng như đối lập
tròng lòng bà cụ Tứ đã làm nổi bật trái tim giàu tình thương yêu con bao la của bà.
Thể hiện chân thực, tự nhiên vẻ đẹp này của nhân vật, nhà văn có dịp giúp bạn đọc
cảm nhận được ngòi bút miêu tả tâm lí nhân vật tinh tế cùng trái tim giàu tình yêu
thương con người của mình. Sức hấp dẫn của trang văn chính là ở đó.
- Sau khi anh cu Tràng có vợ, tâm tính của bà cụ Tứ đổi thay tích cực. Bà dậy sớm
cùng con dâu thu dọn nhà cửa như để đón chào một cuộc sống mới tươi vui hơn
“làm ăn có cơ khấm khá hơn” đang mở ra ở phía trước. Dáng vẻ, tâm thế của bà nhẹ
nhõm, tươi tỉnh khác hẳn ngày thường. Tràng nhận rõ sự biến chuyển khác thường

Tìm hiểu truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân
14
Xìn Thanh Quyền Trường THPT Chuyên Hà Giang

đó “Bà mẹ Tràng cũng nhẹ nhõm, tươi tỉnh khác ngày thường, cái mặt bủng beo u
ám của bà rạng rỡ hẳn lên. Bà lão xăm xăm thu dọn, quét tước nhà cửa”.
Bữa cơm ngày đói trông thật thảm hại. Nhà văn miêu tả “Giữa cái mẹt rách có
độc một lùm rau chuối thái rối, và một đĩa muối ăn với cháo” nhưng tất cả đều ăn rất
ngon, vui vẻ. Bà cụ Tứ vẫn tươi cười, chuyện trò rôm rả, thân mật với hai con. Bà lão
nói “toàn chuyện vui, toàn chuyện sung sướng về sau này:
- Tràng ạ. Khi nào có tiền ta mua lấy đôi gà. Tao tính rằng cái chỗ đầu bếp kia
làm cái chuồng gà thì tiện quá. Này ngoảnh đi ngoảnh lại chả mấy mà có ngay đàn
gà cho mà xem ”

Theo dõi không khí cuộc trò chuyện lúc này của bà cụ, chúng ta không hề thấy
bóng dáng của nạn đói thê thảm mà mẹ con bà phải đối mặt. Nuốt miếng cháo cám
nghẹn bứ, chát xít, bà cụ tươi tỉnh trù tính câu chuyện làm ăn, gắng hết sức để thắp
lên cho hai con ngọn lửa của niềm tin, lạc quan yêu sống. Về điều này, Kim Lân
khảng định “Khi đói người ta không nghĩ đến con đường chết mà chỉ nghĩ đến con
đường sống”. Tinh thần nhân bản của tác phẩm tỏa sáng ở đây.
3. Kết bài
Với một nghệ thuật tinh tế, ngôn ngữ chọn lọc, chi tiết đặc sắc, Kim Lân đã diễn tả
được tâm lí của bà cụ Tứ, một bà cụ nông thôn nghèo mà hiểu biết, yêu thương con
và yêu thương cả những cảnh đời oái oăm, tội nghiệp bằng một tấm lòng nhân ái cảm
động. Bà được nhà văn xây dựng như là biểu tượng cho người mẹ Việt Nam xưa và
nay.
IV. Đề 4: Giá trị hiện thực và nhân đạo trong tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân.
Gợi ý
1. Mở bài
Vợ nhặt là một trong những truyện ngắn hay nhất của Kim Lân và của văn học
Việt Nam sau 1945. Thông qua tình huống “nhặt vợ” ngồ ngộ mà đầy thương tâm,
nhà văn đã cho ta thấy được nhiều điều về cuộc sống tối tăm của những người lao

Tìm hiểu truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân
15
Xìn Thanh Quyền Trường THPT Chuyên Hà Giang

động trong nạn đói năm 1945 cũng như khát vọng sống mãnh liệt và ý thức về nhân
phẩm của họ. Truyện ngắn giàu giá tri hiện thực và nhân đạo.
2. Thân bài
a. Giá trị hiện thực
* Khái niệm “giá trị hiện thực” trong văn học.
Phản ánh hiện thực một cách cụ thể, chân thực, được xem là một nguyên lí quan
trọng của văn chương. Hiểu rõ quy luật đó, nhà thơ Tố Hữu khảng định “văn học

không chỉ là văn chương mà thực chất là cuộc đời. Văn học sẽ không là gì cả nếu
không vì cuộc đời mà có. Cuộc đời là nơi xuất phát, cũng là nơi đi tới của văn học”.
Đúng thế, văn chương bao giờ cũng bắt rễ rất sâu vào hiện thực để tạo nên những
trang viết có sức sống tươi xanh, giàu giá trị hiện thực. Văn học có giá trị hiện thực
là khi tác phẩm phản ánh chân thực những gì là bản chất nhất của cuộc sống, giúp
người đọc nhận thức vừa toàn diện vừa sâu sắc bức tranh hiện thực được phản ánh.
* Giá trị hiện thực trong Vợ nhặt
- Tác giả dựng lên khá chân thực bức tranh nạn đói ảm đạm, thê thảm năm 1945
mà nhân dân ta phải đối mặt. Cái đói đã hành hạ người dân quê thật khủng khiếp.
Người dân phải dời bỏ quê hương, dắt díu nhau đi vật vờ như những bóng ma. Trong
cách viết của nhà văn, cái đói đã tràn đến xóm ngụ cư:
“Cái đói đã tràn đến xóm này tự lúc nào. Những gia đình từ những vùng Nam Định,
Thái Bình, đội chiếu lũ lượt bồng bế, dắt díu nhau lên xanh xám như những bóng
ma, và nằm ngổn ngang khắp lều chợ. Người chết như ngả dạ. Không buổi sáng nào
người trong làng đi chợ, đi làm đồng không gặp ba bốn cái thây nằm còng queo bên
đường. Không khí vẩn lên mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người.”
Chỉ một đoạn văn ngắn mà Kim Lân đã giúp chúng ta đã cảm nhận được không
khí ghê sợ của nạn đói đã đi vào lịch sử. Nạn đói mà hơn hai triệu đồng bào ta chết
đói. Đối diện với nạn đói này, người dân ngụ cư (âu cũng chính là đồng bào ta) luôn

Tìm hiểu truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân
16
Xìn Thanh Quyền Trường THPT Chuyên Hà Giang

sống trong tâm trạng lo sợ “Biết rằng có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói
khát này không”.
- Tác phẩm gián tiếp vạch trần tội ác của giặc ngoại xâm. Đánh chiếm nước ta,
thực dân Pháp đã “đẻ” ra hàng trăm thứ thuế hết sức vô lí:
Trăm thứ thuế, thuế gì cũng ngặt
Rút chặt dần như thắt chỉ se

Miền kẻ chợ, chốn đồng quê
Của đi thì có, của về thì không
Thơ Đông kinh nghĩa thục
Thực dân Pháp ra sức bóc lột nhân dân ta, trong khi đó, Phát xít Nhật cũng ra sức
thống trị đồng bào ta. Chúng bắt dân ta phải “nhổ lúa để trồng đay” Hậu quả là giặc
ngoại xâm đã đẩy dân ta rơi vào nạn đói năm 1945.
- Nhà văn phản ánh xu thế Cách mạng mà nhân dân lao khổ hướng tới. Với hình
ảnh lá cờ đỏ ở cuối tác phẩm, nhà văn như muốn khảng định: người dân nghèo như
anh cu Tràng sau khi giác ngộ chắc chắn sẽ đến với Cách mạng.
=> Với ba phương diện như đã trình bày ở trên, ta thấy tác phẩm Vợ nhặt giàu giá
trị hiện thực.
b. Giá trị nhân đạo
* Khái niệm “giá trị nhân đạo”
Giá trị nhân đạo là một giá trị cơ bản của những tác phẩm văn học chân chính,
được tạo nên bởi niềm cảm thông sâu sắc đối với nỗi đau của con người, sự nâng niu,
trân trọng những nét đẹp trong tâm hồn và lòng tin vào khả năng vươn dậy của con
người.
* Giá trị nhân đạo trong Vợ nhặt của Kim Lân
Nhà văn Nguyên Ngọc cho rằng:“Nghệ thuật là sự vươn tới, sự hướng về, sự níu
giữ mãi mãi tính người cho con người. Cái cốt lõi của nghệ thuật là tính nhân đạo”.
Đồng cảm với quan niệm của Nguyên Ngọc, viết Vợ nhặt, Kim Lân đã có dịp thể

Tìm hiểu truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân
17
Xìn Thanh Quyền Trường THPT Chuyên Hà Giang

hiện tình yêu con người tha thiết của mình. Tình cảm nhân đạo của ông gửi gắm
trong tác phẩm thể hiện trên các phương diện sau:
- Tác phẩm bộc lộ niềm xót xa, thương cảm đối với cuộc sống bi đát của người
dân nghèo trong nạn đói.

+ Tác giả xót xa trước hình ảnh xóm ngụ cư chìm trong nạn đói: những xác người
còng queo, tiếng quạ gào thê thiết, tiếng hờ khóc trong đêm, mùi xác chết gây gây,
những khuôn mặt u ám, những dáng người ủ rũ, những nỗi lo âu tất cả đều gợi lên
trong trái tim nhà văn nỗi đau quặn thắt.
+ Kim Lân thương cảm sâu sắc với cảnh ngộ của mẹ con Tràng: Xót xa cho Tràng
vì lấy được vợ nhờ nạn đói nên anh vừa vui lại vừa tủi; cảm thương với nỗi lòng trĩu
nặng suy tư ngập đầy những lo lắng, băn khoăn của bà cụ Tứ; ái ngại cho thân phận
bị rẻ rúng, xem thường của người vợ nhặt tất cả đều gợi lên trong cõi lòng nhà văn
tình cảm bùi ngùi, đầy xót xa.
- Nhà văn lên án, tố cáo tội ác tày trời của bọn thực dân, phát xít đối với nhân dân
ta: Thương người dân nghèo bao nhiêu, nhà văn căm phẫn bấy nhiêu với tội ác của
giặc ngoại xâm. Bởi giặc ngoại xâm đã chà đạp lên quyền sống tự do, độc lập của
nhân dân ta. Bởi giặc ngoại xâm đã đẩy người dân lành vào ngõ thẳm đường cùng
của nạn đói ghê sợ.
- Kim Lân khám phá, phát hiện, trân trọng và ngợi ca những phẩm chất tốt đẹp của
người nông dân:
+ Họ là những con người giàu tình yêu thương, luôn cưu mang, đùm bọc giúp đỡ
nhau trong cuộc sống.Vẻ đẹp này có lẽ được thể hiện rõ nhất qua hành cử của Tràng.
Gặp người đàn bà đói, dẫu chẳng dư dật gì, Tràng sẵn sàng cho ăn. Khi người đàn bà
theo mình, dù lo lắng cho những ngày sắp tới, Tràng cũng không từ chối, không hề
đùa cợt, xem thường. Đây chẳng phải chính là tinh thần “Thương người như thể
thương thân” vốn có tự ngàn đời của dân tộc đó sao ? Quả đúng như Tố Hữu khảng
định:

Tìm hiểu truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân
18
Xìn Thanh Quyền Trường THPT Chuyên Hà Giang

Còn gì đẹp trên đời hơn thế
Người yêu người sống để yêu nhau

+ Họ là những con người giàu niềm tin, niềm lạc quan vào cuộc sống: Đối diện
với cái chết cận kề, nhân vật của Kim Lân không bao giờ tuyệt vọng. Người vợ nhặt
bỏ qua ý thức về danh dự, chấp nhận “theo không” chỉ vì muốn dựng xây một mái
ấm gia đình. Tràng dẫu có phần lo lắng “thóc gạo này đến cái thân mình chả biết có
nuôi nổi không, lại còn đèo bòng”, nhưng vẫn đầy hào hứng chào đón một cuộc sống
mới “Hắn đã có một gia đình. Hắn sẽ cùng vợ sinh con đẻ cái ở đấy Một nguồn
vui sướng, phấn chấn đột ngột tràn ngập trong lòng. Bây giờ hắn thấy hắn nên
người ”. Bà cụ Tứ dẫu lo lắng cho hai con nhưng vẫn không quên nhen lên ngọn
lửa yêu sống “Biết thế nào hở con, ai giàu ba họ, ai khó ba đời ?” thế giới nhân vật
của Kim Lân đều nhất quán hướng về sự sống. Đây chính là dụng ý nghệ thuật của
nhà văn khi viết tác phẩm này:
“Trong sự túng đói quay quắt, trong bất cứ hoàn cảnh khốn khổ nào, người dân
ngụ cư vẫn khao khát vươn lên trên cái chết, cái thảm đạm để mà vui, mà hi vọng”.
- Nhà văn hé mở con đường đổi đời tươi sáng, tích cực cho người dân khốn cùng.
Bằng cách để cho Tràng bừng tỉnh khi được giác ngộ “lá cờ đỏ to lắm” là của Việt
Minh và đoàn người đói ầm ầm đi trên đê Sộp chính là Việt Minh đi phá kho thóc
của Nhật để chia cho dân nghèo, nhà văn tin tưởng rằng: những người dân nghèo khổ
như Tràng sẽ đấu tranh dưới ngọn cờ của Đảng. Đó chính là con đường giúp họ đổi
đời đúng đắn, tươi sáng nhất.
3. Kết bài
Vợ nhặt là truyện ngắn giàu giá trị hiện thực và nhân đạo. Điểm đáng nói nhất về
giả trị nhân đạo của tác phẩm này là niềm tin sâu sắc của nhà văn vào bản năng sống,
khát vọng sống mạnh mẽ của họ. Tình cảm nhân đạo ở đây có nét mới mẻ so với tình
cảm nhân đạo được thể hiện trong nhiều tác phẩm của văn học hiện thực trước Cách
mạng.

Tìm hiểu truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân
19
Xìn Thanh Quyền Trường THPT Chuyên Hà Giang


KẾT LUẬN
1. Vợ nhặt là tác phẩm đặc sắc của nền văn học hiện đại Việt Nam. Tác phẩm hấp
dẫn bạn đọc bởi nhiều giá trị, trong đó phải kể đến nghệ thuật tạo tình huống truyện
độc đáo. Tình huống ấy đã giúp nhà văn xây dựng được tính cách nhân vật, quan
trọng hơn là giúp nhà văn thể hiện được ý tưởng sáng tạo của mình.
2. Bối cảnh nhà văn lựa chọn để dựng truyện là nạn đói khủng khiếp năm 1945.
Nhưng mục đích chính mà nhà văn hướng tới không dừng lại ở việc gợi lại bóng đêm
kinh hoàng của nạn đói ấy. Quan trọng hơn, qua tác phẩm, nhà văn muốn bày tỏ tình
cảm trân trọng của mình với tấm lòng giàu tình yêu thương, đoàn kết của người dân
nghèo. Nhà văn cho rằng “Đói. Nó vừa cay đắng, vừa đớn đau, đồng thời một mặt
nào đó nó làm lóe lên những tia sáng về đạo đức, danh dự”. Đặc biệt là tác giả muốn
ngợi ca niềm tin, niềm lạc quan, tinh thần ham sống của nhân dân ta:
“Trong sự túng đói quay quắt, trong bất cứ hoàn cảnh khốn khổ nào, người dân ngụ
cư vẫn khao khát vươn lên trên cái chết, cái thảm đạm để mà vui, mà hi vọng ”.
Hiểu được ý nghĩa giàu giá trị nhân văn này, ta sẽ đồng tình khi ai đó khảng định
rằng: Vợ nhặt là bài ca của lòng yêu sống.
3. Tác phẩm ghi dấu tài năng sáng tạo nghệ thuật của Kim Lân. Bởi cùng viết về
cuộc sống của nhân dân ta trước Cách mạng nhưng những gì mà nhà văn đem tới cho
bạn đọc thật mới mẻ, có dấu ấn riêng. Phải chăng Vợ nhặt rất xứng đáng để minh
chứng cho quan niệm nghệ thuật của nhà thơ Nguyễn Đình Thi:
“Tác phẩm văn học lớn hấp dẫn người ta bởi cách nhìn mới, tình cảm mới về những
điều, những việc mà ai cũng biết cả rồi ”.

Tìm hiểu truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân
20

×