Tải bản đầy đủ (.pdf) (5 trang)

BỆNH LÝ LỆ ĐẠO (Kỳ 2) pps

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (161.25 KB, 5 trang )

BỆNH LÝ LỆ ĐẠO
(Kỳ 2)
2. Các phương pháp đánh giá tắc lệ đạo.
Chảy nước mắt là triệu chứng chủ yếu của tắc lệ đạo nhưng ngoài tắc lệ
đạo, chảy nước mắt còn có thể do tuyến lệ tăng tiết hoặc bơm nước mắt bị hỏng.
Vì vậy trước một bệnh nhân chảy nước mắt ta thường tiến hành các khám nghiệm
sau:
2.1. Khám lâm sàng.
- Phát hiện chảy nước mắt là do mắt bị kích thích từ kết, giác mạc như:
viêm kết mạc, viêm giác mạc, loét giác mạc, viêm mống mắt, Glôcôm cấp, dị vật
kết giác mạc
- Khám mi mắt phát hiện: Hẹp lỗ lệ, không có lỗ lệ, lỗ lệ lạc chỗ. Dấu hiệu
lộn mi, lộn điểm lệ (Lỗ lệ không tiếp xúc với nhãn cầu). Sờ nắn và ấn vào túi lệ để
kiểm tra túi lệ có sưng nề không? Có mủ trào qua điểm lệ không?
- Quan sát liềm nước mắt: Có trường hợp dấu hiệu chảy nước mắt không rõ
ràng nhưng có liềm nước mắt cao. Khi đó nước mắt đọng ở góc trong mắt vùng hồ
lệ thành ngấn. Có thể đo độ cao của ngấn nước mắt bằng ánh sáng lọc xanh cobalt
của máy sinh hoá hiển vi sau khi nhỏ vào túi cùng kết mạc một giọt Eluorescein
2%.
2.2. Test sạch thuốc nhuộm.
Nhỏ vào hai túi kết mạc mỗi bên một giọt Fluorescein 2%. Sau 5 phút, bình
thường không có hoặc còn rất ít thuốc nhuộm. Sự ứ đọng thuốc nhuộm chứng tỏ
tình trạng không thích ứng của quá trình dẫn lưu nước mắt.
2.3. Test trào ngược.
Là test đơn giản, dễ làm, có giá trị trong chẩn đoán tắc ống lệ mũi.
Kỹ thuật: Nhỏ Fluorescein 2% vào túi cùng kết mạc. Yêu cầu người bệnh
chớp mắt 5 lần để kích hoạt bơm nước mắt. Sau đó kiểm tra sự trào ngược của
nước mắt đã nhuộm màu Fluorescein qua điểm lệ dưới bằng cách quan sát dưới
ánh sáng xanh Cobalt của đèn soi đáy mắt khi xoa nắn ngón tay trỏ vào vùng túi
lệ. Thử nghiệm dương tính khi có nước mắt được nhuộm màu trào qua điểm lệ
dưới.


2.4. Bơm thăm dò lệ đạo.
Đây là một phương pháp khá chính xác để đánh giá tắc lệ đạo. Bơm dung
dịch nước muối sinh lý qua một trong hai lệ quản, có thể xảy ra những tình huống
sau:
- Khó đưa kim vào, không bơm được nước vào: Tắc lệ quản hoàn toàn.
- Khó đưa kim vào, nước trong trào ngược lệ quản đối diện: Tắc lệ quản
chung.
- Đưa kim vào dễ, chất nhầy trào ngược lệ quản đối diện: Tắc ống lệ mũi
kèm túi lệ mãn, hai lệ quản thông.
- Đưa kim vào dễ, nước trào lại chỗ kèm mủ nhầy hoặc túi lệ căng phồng:
Tắc ống lệ mũi hoàn toàn và tắc lệ quản đối diện.
- Đưa kim vào dễ, nước vừa trào ngược vừa xuống mũi: Hẹp một phần ống
lệ mũi, có thể tắc cơ năng trong điều kiện sinh lý.
- Kim vào dễ dàng, nước xuống mũi dễ dàng, đường lệ thông: Ống lệ mũi
thông.
2.5. Bơm khí lệ đạo.
Áp dụng để kiểm tra đường lệ cho những trường hợp phải gây mê. Sau khi
bôi vào lỗ mũi ngoài dung dịch xà phòng đặc biệt, dùng xi lanh bơm vào lệ đạo
5ml khí. Trong trường hợp có bọt khí xuất hiện ở lỗ mũi ngoài chứng tỏ không có
tắc lệ đạo.
2.6. Các nghiệm pháp Jones.
Được Jones mô tả từ năm 1961 Test thuốc nhuộm chỉ được chỉ định khi
nghi ngờ tắc bán phần hệ thống lệ đạo. Với những bệnh nhân này khi bơm thì lệ
đạo thông. Test không có giá trị khi tắc lệ đạo hoàn toàn.
* Test Jones I: Nhỏ thuốc vào túi kết mac. Sau 5 phút đánh giá xem có
thuốc nhuộm xuống mũi không (Bằng một tăm bông đặt ở lỗ dưới của ống lệ mũi).
- Test dương tính: Thuốc nhuộm xuống mũi, chứng tỏ lệ đạo thông.
Nguyên nhân chảy nước mắt là do tăng tiết.
- Test âm tính: Không có thuốc nhuộm xuống mũi, tắc bán phần hoặc hỏng
bơm nước mắt. Khi đó tiến hành Test Jones II.

* Test Jones II: Có thể xác định vị trí tắc bán phần. Nhỏ thuốc tê, rửa sạch
thuốc nhuộm còn sót lại. Bơm lệ đạo và ghi nhận kết quả.
- Test dương tính: Thuốc nhuộm lẫn nước muối xuống mũi, chứng tỏ tắc
bán phần ống lệ mũi.
- Test âm tính: Không có thuốc nhuộm xuống mũi, chứng tỏ là tắc vị trí cao
của lệ đạo như: Lỗ lệ, lệ quản hoặc bơm nước mắt bị hỏng.
2.7. Chụp đường lệ có thuốc cản quang.
Xác định giới hạn giải phẫu túi lệ, ít có tác dụng đánh giá sinh lý sự lưu
thông nước mắt.
2.8. Chụp cắt lớp.
Thường áp dụng sau chấn thương, dị dạng bẩm sinh, nghi ngờ khối u.
2.9. Chụp nhấp nháy.
Bằng đồng vị phóng xạ, phương pháp này rất hữu ích vì có thể đánh giá
được sự dẫn lưu nước mắt trong điều kiện sinh lý.

×