Tải bản đầy đủ (.doc) (117 trang)

Giáo trình Địa phương học potx

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (869.79 KB, 117 trang )

Giáo trình
Địa phương học
1
Mục Lục
2
MỞ ĐẦU
KHÁI NIỆM, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG,
QUAN ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỊA PHƯƠNG HỌC
1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN
* Địa phương
Địa phương là một đơn vị lãnh thổ xác định về mặt không gian, một bộ
phận của một quốc gia thống nhất. Khái niệm địa phương hay vùng, theo quan
điểm cổ điển, vùng là một trạng thái tổ chức chặt chẽ được thể hiện ở cảnh quan,
thể hiện quan hệ ổn định giữa các sự kiện nhân văn và môi trường tự nhiên.
Theo quan điểm chức năng, vùng là một cấu trúc, có một trung tâm chỉ huy điều
tiết với tư cách là một yếu tố cơ bản của vùng. Như vậy, địa phương hay vùng
có một mạng quan hệ: con người, hàng hóa, năng lượng, thông tin,
Theo cách hiểu thông thường, địa phương hay vùng là một đơn vị lãnh thổ
phụ thuộc vào một cấp lãnh thổ cao hơn, đồng thời lại là một vùng lãnh thổ có
các đơn vị lãnh thổ nhỏ hơn.
Việc phân chia cấp lãnh thổ cao hơn thành các địa phương tùy thuộc vào
mục đích hướng tới. Việc chọn các chỉ tiêu để phân chia phụ thuộc vào quy mô
không gian của lãnh thổ được phân chia và vào tỉ lệ nghiên cứu. Như vậy,
nghiên cứu địa phương phải sử dụng phương pháp phân tích vùng, nghiên cứu
các chỉ tiêu phân vùng, các tập hợp vùng, phân tích các mối quan hệ trong vùng.
Địa phương trong khuôn khổ giáo trình này là Vùng Bắc Trung Bộ, trong
đó, chủ yếu là Khu vực Thanh - Nghệ - Tĩnh.
* Địa phương học
+ Quan niệm về địa phương học
Địa phương học là tập hợp các bộ môn có nội dung và phương pháp
nghiên cứu khác nhau nhưng đều tập trung vào nhiệm vụ nhận thức toàn diện


một địa phương nhằm mục đích xây dựng địa phương đó (A. O. Berrkov 1961).
Nghiên cứu một địa phương là nghiên cứu tổng hợp các vùng, các đơn vị nghiên
cứu trong vùng đó (Petter Hagg).
Nghiên cứu một địa phương là nghiên cứu tất cả các thành phần của điều
kiện tự nhiên, từ vị trí địa lý đến tài nguyên thiên nhiên; các đặc điểm nhân văn,
từ dân cư, dân tộc, các khía cạnh cơ bản của dân số (số dân, kết cấu, động lực, )
đến lịch sử hình thành và phát triển của địa phương; các vấn đề về văn hóa; các
hoạt động kinh tế của con người trên lãnh thổ; nghiên cứu cấu trúc kinh tế, các
đặc điểm cũng như sự phân bố trong không gian, sự biến đổi theo thời gian, các
mối quan hệ kinh tế ngành, đa ngành ở trong và ngoài vùng; nghiên cứu vai trò
của con người với tự nhiên, những tác động tích cực, tiêu cực đối với môi
trường tự nhiên bao quanh, Nghiên cứu một địa phương là nghiên cứu các đặc
tính, sự phân bố và mối quan hệ giữa các thành phần riêng biệt của địa phương
với nhau và giữa các thành phần với môi trường. Nghiên cứu địa phương nhất
thiết phải vận dụng quan điểm nghiên cứu hệ thống, quan điểm tổng hợp, quan
điểm lãnh thổ, quan điểm sinh thái, quan điểm lịch sử, quan điểm dự báo.
3
Nghiên cứu địa phương là tìm hiểu và đánh giá đúng thực trạng tiềm năng
các điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, kinh tế, xã hội của địa phương.
Các công trình nghiên cứu về địa phương chủ yếu gắn với việc tìm hiểu tự
nhiên, lịch sử, kinh tế, văn hóa, xã hội, con người của địa phương đó.
Ở Liên Xô (trước đây) và các nước Đông Âu đã có nhiều công trình
nghiên cứu cả về lý luận (phương pháp luận) và thực tiễn (tài liệu về các vùng
lãnh thổ cụ thể). Theo K. F. Stroev (1974) các tài liệu về địa phương là cơ sở tốt
nhất để hình thành biểu tượng và là môi trường tốt nhất để người học vận dụng
những kiến thức đã học vào thực tiễn sinh động ở địa phương người học.
Ở Pháp, kiến thức về địa phương được đưa vào chương trình địa lý phổ thông,
bắt đầu từ việc tìm hiểu quê hương cho tới việc công bố các công trình nghiên cứu
và hướng dẫn giảng dạy địa lý địa phương (M. Beautier và C. Daudel 1981).
Ở Việt Nam, với Dư địa chí của Nguyễn Trãi được xem là người đầu tiên

đặt nền móng cho địa phương học. (Dư địa chí còn gọi "An Nam vũ cống"), tác
phẩm địa chí về nước Đại Việt, khoảng đầu thế kỉ 15. Sách viết bằng chữ Hán,
do Nguyễn Trãi soạn năm 1435, dâng lên vua Lê Thái Tông. Sách còn có lời tập
chú của Nguyễn Thiên Túng, cẩn án của Nguyễn Thiên Tích và thông luận của
Lý Tử Tấn là những tác gia đương thời. Văn bản còn lại hiện nay ở trong bộ
"Ức Trai di tập" khắc in 1868, thời Tự Đức. Sách gồm 54 mục, trình bày về vị
trí địa lí, hình thế núi sông, lịch sử, thổ nhưỡng, đặc sản, một số nghề thủ công
truyền thống và tập quán của cư dân các đạo. Một số mục kèm theo số lượng và
tên gọi của các đơn vị hành chính như phủ, huyện, xã, thôn thuộc các đạo đó.
Tiếp theo là các công trình Vân đài loại ngữ của Lê Quý Đôn; Lịch triều
hiến chương loại chí của Phan Huy Chú. Gần đây, hàng loạt "địa chí" các tỉnh,
các huyện, kể cả các xã, thậm chí trong các hương ước của các làng cũng đề cập
đến các vấn đề địa lý, lịch sử, văn hóa, của địa phương, với mục đích bảo tồn
các giá trị văn hóa, lịch sử và giáo dục cho các thế hệ tình yêu, qua đó thể hiện
thái độ, hành vi của mình đối với quê hương.
Việc dạy - học Địa phương học ở Việt Nam hiện đang gặp nhiều khó khăn.
Nguyên nhân chính là thiếu tài liệu. Các thông tin về địa phương thường mang một
nội dung cụ thể trong khi địa phương học lại yêu cầu tính tổng hợp cao.
+ Mục đích nghiên cứu và dạy - học địa phương học
Mục đích nghiên cứu, giảng dạy và học tập địa phương học là góp phần
nâng cao lòng yêu quê hương Việt Nam nói chung, yêu địa phương có mái
trường nơi sinh viên gắn bó trong trong quãng thời gian đẹp nhất, nơi nghiên
cứu, học tập, rèn luyện và trưởng thành của bản thân. Địa phương học cũng góp
phần bồi dưỡng cho sinh viên khả năng tìm hiểu và năng lực tư duy tổng hợp đối
với các vấn đề của một địa phương cụ thể.
- Nghiên cứu địa phương ở quy mô tổng hợp là điều tra cơ bản tổng hợp một
lãnh thổ về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, kinh tế xã hội, lịch sử,
văn hóa, với mục đích đánh giá từng thành phần của thể tổng hợp lãnh thổ
nghiên cứu; đánh giá mối quan hệ giữa các hợp phần trong lãnh thổ, với các lãnh
thổ kế cận và với cả nước. Kết quả nghiên cứu giúp các nhà quản lý, các nhà

quy hoạch có cơ sở khoa học và thực tiễn trong hoạch định chiến lược, tổ chức,
điều hành các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
4
- Kết quả nghiên cứu địa phương có thể phục vụ trực tiếp cho các mục đích cụ
thể như: quy hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp, quy hoạch phát triển một
ngành công nghiệp cụ thể, quy hoạch trồng và tu bổ rừng; triển khai đề án di
dân, khai hoang, định canh định cư.
- Nghiên cứu nghiên cứu địa phương có ý nghĩa quan trọng đối với giáo dục,
giúp người học có khả năng nhận biết, phân tích một số hiện tượng ngay tại địa
phương; hiểu biết môi trường và thực trạng môi trường địa phương; mối quan hệ
giữa khai thác tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường; người học có thể
viết lịch sử, văn hóa, truyền thống địa phương; xây dựng các biểu đồ, bản đồ về
thực trạng tài nguyên, môi trường của địa phương để theo dõi, phổ biến, tuyên
truyền cho cộng đồng về các kiến thức, thực trạng đó.
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU ĐỊA PHƯƠNG HỌC
Đối tượng nghiên cứu của địa phương học là nghiên cứu vùng - nghiên
cứu tổng hợp các điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, kinh tế, lịch sử, văn
hóa của lãnh thổ vùng. Địa phương nghiên cứu là một lãnh thổ thống nhất,
trong đó bao gồm các hệ thống tự nhiên và các hệ thống nhân văn. Các hệ thống
đó lại bao gồm các phân hệ và các hợp phần của mình. Các hệ thống, các phân
hệ, các hợp phần có mối quan hệ tương tác với nhau và có mối quan hệ với môi
trường. Trong quá trình nghiên cứu, các đối tượng luôn được đặt trong môi
trường của địa phương; trình bày được nguồn gốc phát sinh, các đặc điểm chính,
sự tác động qua lại giữa các phân hệ, các hợp phần tự nhiên với tự nhiên, tự
nhiên với nhân văn, tự nhiên với con người,
Nghiên cứu các đối tượng trong địa phương học không những phải thấy
được sự phân bố của các đối tượng ở địa phương mà còn phải nêu được quy luật
đã hình thành sự phân bố đó, ảnh hưởng của sự phân bố đó đến các họat động
của con người và ngược lại.
Từ yêu cầu đó, nghiên cứu của địa phương học được xác định gồm các

nội dung: Lịch sử, Địa lý, Văn hóa và Kinh tế của địa phương mà cụ thể là của
Vùng Bắc Trung Bộ, chủ yếu là Khu vực Thanh - Nghệ - Tĩnh.
- Đối tượng và nội dung nghiên cứu lịch sử vùng Bắc Trung Bộ
Nghiên cứu lịch sử của địa phương là nghiên cứu quá trình hình thành về
mặt lịch sử và sự phát triển qua các thời kỳ của lãnh thổ/địa phương đó.
Đối tượng nghiên cứu của lịch sử Bắc Trung Bộ là các thời kỳ lịch sử của
Bắc Trung Bộ. Theo quan điểm hệ thống và quan điểm lịch sử, các thời kỳ này
được phân chia về mặt thời gian, tương ứng với các thời kỳ lịch sử của dân tộc
Việt Nam. Nội dung nghiên cứu là các vấn đề chung về lịch sử Bắc Trung Bộ,
sự kiện lịch sử, nhân vật lịch sử của Bắc Trung Bộ, trong đó, chú ý nhiều hơn là
khu vực Thanh - Nghệ - Tĩnh.
Các thời kỳ lịch sử được phân chia thành các mốc quan trọng sau: Thời
tiền sử và sơ sử; Thời Bắc thuộc; Thời kỳ độc lập tự chủ (từ năm 905 đến năm
1858); Thời kỳ 1858 đến 1945; Thời kỳ từ năm 1945 đến nay.
Bắc Trung Bộ là một bộ phận của quốc gia Việt Nam thống nhất. Lịch sử
hình thành và phát triển của Bắc Trung Bộ gắn liền với lịch sử của Việt Nam từ
thời tiền sử đến thời điểm hiện tại. Đó là một quá trình dựng nước và giữ nước
oanh liệt của tổ tiên, cha anh và các thế hệ ngày nay. Vị trí trọng yếu của Bắc
5
Trung Bộ gắn với trách nhiệm nặng nề, sứ mệnh lớn lao của Bắc Trung Bộ đối
với dân tộc. Các thế hệ của Bắc Trung Bộ luôn hoàn thành nhiệm vụ và sứ mệnh
của mình, luôn là tấm gương sáng cho mọi thế hệ khắp cả nước noi theo. Lịch sử
Bắc Trung Bộ gắn với thiên anh hùng ca của dân tộc Việt Nam bất khuất, có cả
đau thương, mất mát và vinh quang.
Nghiên cứu lịch sử địa phương góp phần giáo dục các thế hệ sau tình yêu
đối với dân tộc, lòng kính trọng đối với tổ tiên và các thế hệ trước. Người học tự
hào với lịch sử quê hương nhưng qua đó cũng thấy được trách nhiệm của mình
với địa phương, với dân tộc, với tổ tiên và với các thế hệ mai sau.
- Đối tượng và nội dung nghiên cứu địa lý vùng Bắc Trung Bộ
Nghiên cứu điều kiện địa lý tự nhiên luôn gắn với nhiệm vụ tìm hiểu để

khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên của địa phương.
Xuất phát từ quan điểm hệ thống và quan điểm lãnh thổ, nghiên cứu địa lý
Bắc Trung Bộ được quan niệm là nghiên cứu vùng.
Theo lý thuyết nghiên cứu địa lý vùng, đối tượng nghiên cứu ở đây là
tổng hợp các điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và điều kiện kinh tế - xã
hội. Bắc Trung Bộ là một địa hệ (địa tổng thể, thể tổng hợp địa lý), trong đó bao
gồm các địa hệ tự nhiên và các địa hệ kinh tế - xã hội. Các địa hệ có mối quan
hệ tương tác với nhau và với môi trường tao nên một thể lãnh thổ hoàn chỉnh.
Trong quá trình nghiên cứu vùng, các đối tượng luôn được đặt trong môi trường
của địa phương. Nghiên cứu đối tượng, cần chỉ ra được nguồn gốc phát sinh, các
đặc điểm chủ yếu và sự tác động qua lại giữa các thành phần của tự nhiên, giữa
tự nhiên và kinh tế, giữa tự nhiên với con người; sự phân bố và quy luật hình
thành nên sự phân bố đó; ảnh hưởng của các hợp phần trong địa hệ đến các hoạt
động kinh tế - xã hội của con người và ngược lại.
Như vậy, xuất phát từ quan điểm hệ thống, quan điểm lãnh thổ và theo lý
thuyết nghiên cứu địa lý vùng, nội dung nghiên cứu địa lý vùng Bắc Trung Bộ
gồm: Điều kiện tự nhiên - tài nguyên thiên nhiên; Dân cư và Kinh tế. Tuy
nhiên, ba nội dung này không nghiên cứu riêng rẽ, tách rời nhau và được chú ý
trong mối tác động và ảnh hưởng qua lại giữa chúng.
3. QUAN ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỊA PHƯƠNG HỌC
- Quan điểm nghiên cứu địa phương học
Nghiên cứu vùng là nghiên cứu tổng hợp các điều kiện, đặc điểm Địa lý,
Lịch sử, Văn hóa, Kinh tế, của địa phương; phải nghiên cứu các yếu tố, phân
tích các mối quan hệ tương tác giữa các hợp phần với nhau. Do đó cần vận dụng
các quan điểm nghiên cứu sau:
+ Quan điểm hệ thống
Quan điểm hệ thống vận dụng vào nghiên cứu địa phương học là coi địa
phương được nghiên cứu như một hệ thống (mọi sự vật, hiện tượng đều có mối
quan hệ biện chứng với nhau, tạo thành một thể thống nhất, hoàn chỉnh, được
gọi là hệ thống,). Nghĩa là, địa phương đó là một hệ thống gồm nhiều hợp phần;

đồng thời địa phương đó lại là một hợp phần của một hệ thống cấp cao hơn.
Nghiên cứu địa phương theo quan điểm hệ thống là nghiên cứu đồng thời tất cả
các hợp phần cấu tạo nên hệ thống, không nghiên cứu riêng rẽ một số hợp phần
trong hệ thống.
6
Theo quan điểm hệ thống, Bắc Trung Bộ là một hợp phần của hệ thống
cấp cao hơn là lãnh thổ Việt Nam; đồng thời Bắc Trung Bộ lại là một hệ thống,
bao gồm nhiều hợp phần cấp thấp hơn: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng
Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế. Đó là cấu trúc ngang của hệ thống Bắc
Trung Bộ. Cấu trúc thẳng đứng của Bắc Trung Bộ bao gồm các hợp phần tự
nhiên (địa hình, khí hậu, thủy văn, ), kinh tế (nông nghiệp, công nghiệp, ), văn
hóa (phong tục, kinh nghiệm sản xuất, ), lịch sử (sự kiện, nhân vật, ). Cấu trúc
chức năng của hệ thống Bắc Trung Bộ là các mối quan hệ tồn tại giữa các hợp
phần để hệ thống tồn tại và phát triển.
+ Quan điểm lãnh thổ
Quan điểm lãnh thổ được vận dụng cùng với quan điểm hệ thống vào nghiên
cứu sự phân hóa lãnh thổ Bắc Trung Bộ về tự nhiên, kinh tế, văn hóa, lịch sử,
đồng thời cũng có mối quan hệ gắn bó với nhau theo chừng mực nhất định. Theo lý
thuyết nghiên cứu vùng và theo quan điểm nghiên cứu lãnh thổ, nghiên cứu những
khác biệt trên ở Bắc Trung Bộ còn nhằm phát hiện các mối quan hệ hữu cơ trong
một tổng thể đã hoặc đang phân hóa. Ngoài ra, nghiên cứu sự khác biệt lãnh thổ còn
nhằm phát hiện những đặc trưng quan trọng nhất để chuẩn bị cho việc quy hoạch,
thiết kế không gian sản xuất và cư trú trong lãnh thổ hợp lý nhất.
+ Quan điểm sinh thái
Quan điểm sinh thái có ý nghĩa quan trọng và đặc thù trong nghiên cứu
vùng và được ứng dụng ngày càng nhiều trong nghiên cứu ảnh hưởng của tự
nhiên, mối quan hệ tác động qua lại giữa tự nhiên và con người, giữa con người
với việc khai thác, sử dụng, phá hủy và tái tạo hệ thống tự nhiên. Con người là
chủ thể trong hoạt động sản xuất và tiêu dùng, tác động đến các hệ sinh thái môi
trường khác nhau nhằm đạt hiệu quả nhất định. Các hệ địa sinh thái của địa

phương vốn rất khác nhau, tùy thuộc vào các dạng địa hình (miền núi, trung du,
đồng bằng, biển). Sự khác biệt không chỉ về tự nhiên mà cả về con người và các
thuộc tính của con người. Sự khác biệt đó tạo nên các chu trình khác biệt trong
sản xuất ở từng bộ phận lãnh thổ của địa phương (chu trình vật chất, chu trình
năng lượng, chu trình thông tin).
+ Quan điểm động lực - hình thái và Quan điểm lịch sử - viễn cảnh
Mỗi hệ thống tự nhiên, dân cư, kinh tế ở một lãnh thổ đều có nguồn gốc
phát sinh, hiện tại đang phát triển và trong tương lai sẽ phát triển trong những
điều kiện, thời gian và xu hướng phát triển nhất định; từ quá khứ, hiện tại để đi
đến tương lai theo những quy luật của tự nhiên và của xã hội.
Quan điểm động lực - hình thái vận dụng vào nghiên cứu vùng với mục
đích nghiên cứu những động lực trong quá khứ dựa trên những hình thái hiện tại
của hệ thống và dự báo sự phát triển trong tương lai của hệ thống.
Quan điểm lịch sử - viễn cảnh vận dụng vào nghiên cứu vùng dựa trên cơ
sở: các sự kiện, hiện tượng trong quá khứ, hiện tại và diễn biến trong tương lai
đều có mối quan hệ nhân quả, diễn ra trong những chu kỳ khép kín. Một hiện
tượng, sự kiện hiện đang tồn tại, vốn đã xẩy ra trong quá khứ, sẽ còn tiếp tục
phát triển, và con người có thể dự báo sự phát triển tiếp tục trong tương lai dựa
trên các nguyên tắc, quy luật phát triển của hiện tượng, sự kiện đó.
- Phương pháp nghiên cứu địa phương học
7
Nghiên cứu địa phương học, có thể vận/áp dụng và phối kết hợp nhiều
phương pháp nghiên cứu khác nhau (tùy thuộc vào yêu cầu, nguồn tư liệu, thời
gian, kinh phí, ). Các phương pháp nghiên cứu chủ yếu là:
+ Phương pháp nghiên cứu thực địa
Phương pháp này thông thường là phương pháp mở đầu và kết thúc trong
nghiên cứu địa phương: quan sát, đo vẽ, tìm hiểu, phỏng vấn trực tiếp hay bằng
phiếu, nghiên cứu trực tiếp hiện tượng, sự kiện về tự nhiên, kinh tế, văn hóa, lịch
sử của địa phương; kiểm tra đối chiếu trên thực tế với các tư liệu thu tập được và
với kết quả nghiên cứu. Đây được coi là phương pháp chính trong nghiên cứu

địa phương, đem lại hiệu quả cao nhất.
+ Phương pháp thu thập, xử lý, phân tích, tổng hợp các nguồn tài lệu
Tài liệu cần thu thập gồm thông tin kênh chữ (văn bản) và kênh hình (bản
đồ, biểu đồ, phim, ảnh, ), từ các nguồn: công trình khoa học, dự án, báo cáo,
niên giám thống kê, sách báo,
Nguồn tài liệu thường thiếu, không đồng bộ, có khi thiếu chính xác, vì
vậy cần xử lý từ các tài liệu thô thành các tài liệu tinh chính xác, đồng bộ. Việc
xử lý tài liệu phải tuân thủ các nguyên tắc sau:
- Lấy từ một nguồn chính, các nguồn khác để tham khảo;
- Đưa về cùng một thời gian.
- Đối với bản đồ, đưa về tỉ lệ thích hợp.
- Đối với số liệu thiếu, cần sử dụng phương pháp ngoại suy.
+ Phương pháp thống kê toán học
Trong quá trình xử lý số liệu cần sử dụng phương pháp xác suất thống kê
để có kết quả làm cơ sở phân tích nội dung nghiên cứu liên quan đến số liệu
thống kê. Phương pháp thống kê toán học được sử dụng ngày càng nhiều do tính
năng của phương pháp này và do yêu cầu nghiên cứu địa phương ngày càng cần
đến sự cụ thể, chi tiết và định lượng.
+ Phương pháp bản đồ
Bản đồ là phương tiện thể hiện kết quả nghiên cứu địa phương trực quan
nhất tất cả các nội dung về tự nhiên, kinh tế, lịch sử, văn hóa của địa phương
nghiên cứu. Phương pháp bản đồ được vận dụng trong suốt quá trình nghiên cứu
địa phương: phân tích xử lý số liệu, biên tập thông tin bản đồ, lựa chọn phương
pháp thể hiện, phân tích đánh giá các bản đồ để xác định sự phân bố của đối
tượng, hiện tượng, sự kiện,
Kết quả nghiên cứu của phương pháp này là các bản đồ, sản phẩm được
các nhà nghiên cứu (địa lý, lịch sử, kinh tế, văn hóa, ), các nhà quản lý, các nhà
kinh tế, các nhà quy hoạch, dùng làm tài liệu gốc để nghiên cứu thành lập các
bản đồ chuyên đề phục vụ cho nhiều mục đích khác nhau.
8

CHƯƠNG 1. ĐỊA LÝ VÙNG BẮC TRUNG BỘ
2.1. ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÙNG BẮC TRUNG BỘ
2.1.1. Vị trí địa lý, giới hạn lãnh thổ
2.1.1.1. Đặc điểm
Bắc Trung Bộ là phần phía bắc của miền trung Việt Nam. Có vị trí địa lý
19
o
18’- 16
o
VB; 103
o
50’25’’- 108
o
12’KĐ.
Lãnh thổ kéo dài trên nhiều vĩ độ, hẹp ngang ở ngay phần giữa của đất nước
(nơi hẹp nhất tại Quảng Bình là 50 km, từ biên giới Việt Lào ra tới biển). Phía Bắc là
ranh giới của tỉnh Thanh Hóa giáp ranh với các tỉnh Sơn La, Hòa Bình, Ninh
Bình; ranh giới phía Nam là đường chia nước của khối núi Bạch Mã đâm ra
biển; Phía Tây là sườn Đông Trường Sơn, giáp với Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào
với đường biên giới 1.294 km; phía Đông hướng ra biển Đông với tuyến đường bộ
ven biển dài 700 km từ Nga Sơn (Thanh Hóa) đến tận phía Nam Lăng Cô ở mũi Chân
Mây đèo Hải Vân. Vị trí địa lý của vùng giống như chiếc cầu nối giữa phần phía Bắc
với phần phía Nam nước ta, giữa Lào với biển Đông.
Diện tích tự nhiên 51552 km
2
(chiếm 15,6% diện tích tự nhiên của cả nước).
Vùng Bắc Trung Bộ (BTB) là một trong 8 vùng kinh tế được Chính phủ giao lập
quy hoạch tổng thể kinh tế xã hội.
Về ranh giới hành chính, Bắc Trung Bộ bao gồm 6 tỉnh: Thanh Hóa, Nghệ An,
Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế.

1.1.1.2. Ý nghĩa của vị trí địa lý
Bắc Trung Bộ có vị trí đặc biệt quan trọng - đó là vị trí trung gian giữa
miền Bắc và miền Nam, giữa Việt Nam với CHDCND Lào. Tính chất trung gian
thể hiện trong sự phân hoá đa dạng các thành phần khác nhau của tự nhiên, từ
thổ nhưỡng, khí hậu đến thực - động vật.
Lãnh thổ kéo dài, hành lang hẹp, Tây giáp Trường Sơn và Lào, phía Đông là
biển Đông, đồng bằng hẹp, cũng có cả trung du và miền núi, ven biển, hải đảo
dọc suốt lãnh thổ, có thể hình thành cơ cấu kinh tế đa dạng phong phú. Nhiều
vũng nước sâu và cửa sông có thể hình thành cảng lớn nhỏ phục vụ việc giao lưu
trao đổi hàng hoá giữa các tỉnh trong vùng, với các vùng trong nước và quốc tế.
Vùng Bắc Trung Bộ nằm kề bên vùng KTTĐ Bắc bộ và vùng KTTĐ miền
Trung, trên trục giao thông Bắc Nam về đường sắt, bộ; nhiều đường ô tô hướng
Đông Tây (7,8,9,29) nối Lào với Biển Đông. Nơi đây có hệ thống đô thị ven biển
(như Thanh Hóa, Vinh, Đồng Hới, cố đô Huế) gắn liền với các khu cụm công nghiệp,
các trung tâm thương mại, dịch vụ du lịch và các cảng biển hoặc trong phạm vi ảnh
hưởng của chúng (như các cảng Nghi Sơn, Cửa Lò, Cửa Hội, Vũng Áng, Hòn La,
Cửa Việt, Cửa Gianh, cửa Thuận An, Chân Mây). Bắc Trung Bộ gần đường hàng hải
quốc tế, chịu ảnh hưởng trực tiếp của các vùng phát triển năng động trong khu vực
Châu Á - Thái Bình Dương.
Do vậy, vùng này có vị trí thuận lợi cho việc giao lưu với các địa phương trong
cả nước và quốc tế, trước hết là với thủ đô Hà Nội, địa bàn trọng điểm Bắc Bộ, địa bàn
trọng điểm miền Trung và nước cộng hoà dân chủ nhân dân Lào. Điều đó mở ra triển
vọng về khả năng hợp tác với bạn trong các lĩnh vực khai thác, chế biến gỗ và lâm sản,
9
sản xuất và trao đổi vật liệu xây dựng, khai thác và sử dụng tiềm năng thuỷ điện, tổ
chức vận tải quá cảnh, đặc biệt khi đường 9 được chọn là một trong những tuyến
đường xuyên ASEAN. Do vậy, Lao Bảo trở thành khu vực trọng điểm phát triển kinh
tế và thương mại. Việc quan hệ về mọi mặt với các nước trong khu vực Đông Nam Á
và thế giới thông qua hệ thống đường biển mở ra khả năng to lớn hơn nhiều đối với
vùng Bắc Trung Bộ.

2.1.2. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
Theo kết quả phân vùng Địa lí tự nhiên Việt Nam của Vũ Tự Lâp, Bắc
Trung Bộ nằm trong Miền Tây Bắc và Bắc Trung Bộ với đặc trưng cơ bản của
miền là sự suy yếu dần của gió mùa Đông Bắc, tương ứng là sự mạnh dần của
tính chất nhiệt đới ẩm và cấu trúc địa chất - địa hình đã phân thành cấu trúc dạng
dải của địa máng Tây Bắc và địa máng Trường Sơn.
Miền Tây Bắc và Bắc Trung Bộ được chia thành 5 khu: khu Hoàng Liên Sơn,
khu Tây Bắc, khu Hoà Bình - Thanh Hoá, khu Nghệ - Tĩnh, khu Bình - Trị -
Thiên. Trong phạm vi giáo trình chỉ tìm hiểu 3 khu: khu Hoà Bình - Thanh Hóa,
khu Nghệ - Tĩnh, khu Bình - Trị - Thiên.
2.1.2.1. Địa chất
- Bắc Trung Bộ là khu vực có lịch sử địa chất khá lâu đời
Khối Trường Sơn Bắc nguyên là một địa máng tồn tại từ đầu Đại Cổ sinh
giữa địa khối Kon Tum phía Nam và địa khối Đông Bắc ở phía Bắc; từ đầu vận
động uốn nếp Hecxini đã nổi lên và dính liền khối Kon Tum. Từ cuối Trung
Sinh trở đi, miền này hầu như nằm trong trạng thái yên tĩnh, hoạt động bóc mòn
- xâm thực diễn ra mạnh mẽ tạo nên những dấu hiệu hình thái như ngày nay.
Các vận động kiến tạo mới về sau làm cho khối núi nâng lên dạng vòm, tạo cho
dãy núi hơi nghiêng về phía tây thành một nếp lồi có sườn không đối xứng, vì
vậy sườn tây của Bắc Trường Sơn chạy dài thoai thoải xuống sông Mê Công,
còn sườn phía Đông thì ngắn và dốc tạo điều kiện cho sông suối chảy theo sườn
này ra biển Đông chia cắt địa hình mạnh hơn nữa. Các vận động tân kiến tạo
cũng đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành các đồng bằng duyên hải (vai
trò bồi đắp của sông không lớn lắm do đa số chúng đều ngắn và có trắc diện gần
như nằm ngang khi đổ ra đến đồng bằng). Vận động tân kiến tạo biểu hiện
không đồng đều ở các bộ phận: từ Thanh Hoá ra phía Bắc có hiện tượng đất lấn
ra biển; từ Nghệ An trở vào, vận động nâng lên của đất liền là cho biển lùi (diện
tích không lớn); từ mũi Ba Làng An, nhất là từ mũi Nạy trở xuống, độ sâu thay
đổi nhanh chóng chứng tỏ tồn tại một đứt gãy lớn chạy sát bờ biển theo hướng
Bắc - Nam và làm cho đồng bằng không phát triển được về chiều rộng. Như vậy,

các đồng bằng duyên hải Bắc Trung Bộ được hình thành vào đầu kỉ Đệ Tứ, vận
động nâng lên làm chao đảo dãy Trường Sơn về phía Tây nâng rìa đá gốc lên,
đồng thời làm đứt gãy một phần của rìa đó, tạo điều kiện cho phù sa sông và phù
sa biển bồi tụ, lấp đầy các vụng biển nông cũ.
- Bắc Trung Bộ nằm trong Miền uốn nếp Đông Dương
Đây là một trong hai miền uốn nếp của lãnh thổ Miền Bắc Việt Nam
(cùng với Miền uốn nếp Bắc Bộ), chúng ngăn cách nhau bởi đứt gãy sông Mã.
Miền uốn nếp Bắc Bộ là phần kéo dài của Calêđôni Hoa Nam, Miền uốn nếp
Đông Dương là phần kéo dài của đai Têtit cổ, ổn định vào đầu Paleozoi muộn.
10
Miền uốn nếp Đông Dương chiếm phần rìa Tây và Tây Nam của Bắc Bộ Việt
Nam và Trung - Thượng Lào, kể từ sông Mã trở xuống. Hệ uốn nếp Trường Sơn
là hệ uốn nếp duy nhất của miền này.
Hệ uốn nếp Trường Sơn gồm 3 đới thành hệ kiến trúc là: đới phức nếp lồi
Pù Hoạt, đới phức nếp lõm sông Cả và đới phức nếp lồi Trường Sơn.
+ Phức nếp lồi Pù Hoạt giới hạn ở phía Tây Nam Thanh Hoá - Bắc Nghệ
An, về phía Bắc bị các trầm tích Triát của đới Sầm Nưa phủ lên, về phía Nam và
Đông Nam phân cách với đới sông Cả bởi các đứt gãy, phía Tây giáp lãnh thổ
Lào. Trầm tích cổ nhất lộ ra ở vùng trung tâm của đới gồm các đá biến chất
thuộc hệ tầng Bù Khạng (thành phần thạch học của hệ tầng gồm có gnai và đá
phiến kết tinh giàu nhôm, vai trò của amfibolit và đá hoa không đáng kể), tuổi
Prôtêrozoi muộn - Cambri sớm, phủ không chỉnh hợp trên chúng là các đá
Cambri trung - Ocđôvic hạ thuộc hệ tầng Suối Mai. Tiếp lên trên là loạt các trầm
tích Silua - Đêvôn thuộc hệ tầng Sông Cả. Loạt các trầm tích Palêôzoi thượng
bắt đầu ngay bằng trầm tích Cacbon hạ, tiếp trên là tầng đá vôi khá đồng nhất
tuổi từ Cácbon giữa đến Pécmi sớm, phủ không chỉnh hợp lên trên là các trầm
tích được giả thiết là có tuổi Pécmi muộn có chứa Bôxit. Các trầm tích Mêsôzoi
lộ ra rất hạn chế. Ngoài một diện tích nhỏ của trầm tích La đin còn có một dải
nhỏ lớp phủ trầm tích nguồn núi lửa Jura ở rìa phía Đông của đới. Chiều dày lớp
phủ Mêsôzoi khoảng dưới 2.000m trong khi đó chiều dày các đá thuộc móng cổ

lên đến 13.000m.
+ Phức nếp lõm sông Cả giáp đới phức nếp lồi Trường Sơn về phía Nam
qua đới đứt gãy Rào Nạy dọc dọc lên Hương Khê rồi sang rồi sang Lào; về phía
Bắc một mặt ôm vòng qua đới phức nếp lồi Pù Hoạt, còn một phần tiếp giáp với
đới sông Mã hoặc ẩn dưới các võng Mêsozoi Sầm Nưa, Phong Sa Lỳ. Đới này
tương ứng với phần lớn các đới Trường Sơn, Điện Biên, Mường Tè và gần trùng
với đới sông Cả. Từ Đèo Ngang ở phía Đông Nam nó chạy lên dọc lưu vực sông
Cả qua Tây Trang và phần Tây Bắc lọt giữa thượng lưu sông Đà và Nậm Na. Đới
sông Cả kéo dài trên 600 km và được giới hạn bằng các đứt gãy lớn phân đới. Đây
là một miền núi, phần Tây Bắc có nhiều đỉnh cao (Phu Si Lung: 3.076 m) thấp
dần xuống lưu vực sông Cả, địa hình bị chia cắt thành các thung lũng sâu và các
dải song song theo phương Tây Bắc thấp dần về phía biển. Những phức hệ trầm
tích đặc trưng ở đới phức nếp lõm chủ yếu là thành hệ lục địa - phun trào,
cácbonat - Palêôzoi trung - thượng. Chồng lên chúng là các thành tạo chứa than
và màu đỏ Mêsôzôi và Kainôzôi. Kiểu thành hệ flisơ bao gồm cát kết - quaczit,
đá phiến sét xêrixit lẫn silic - vôi xen kẽ nhau, đá phun trào thành phần axit đôi
nơi là bazơ có tuổi Silua - Đêvôn cấu thành tầng cấu trucá thấp chiếm hầu hết
diện tích phức nếp lõm. Thành hệ trầm tích này dày từ 3.500 m -4.000 m. Ở vùng
trung lưu sông cả đá phiến phân nhịp bị vò nhàu thành nếp uốn rộng dạng hộp
theo phương Tây Bắc từ Con Cuông đến Anh Sơn - Tân Kỳ, phương nếp uốn
lượn dần sang Đông Bắc để ôm lấy phức nếp lồi Pù Hoạt. Độ nghiêng của các
cánh nếp uốn thường từ 40 - 50
0
, nhiều nơi 70 - 85
0
hoặc dựng đứng. Ở vùng Phủ
Quỳ các nếp uốn rộng và ngắn. Lưu vực sông Nậm Chông có nếp uốn nghiêng về
Đông Nam, còn ở sông Con thì cắm về Tây Bắc đến 80
0
, có nơi đảo lộn và tạo ra

những nếp lồi bé ở vùng Mường Lầm. Theo bờ phải Nậm Mô và sông Cả qua Cửa
Rào đến tận Đèo Ngang là một cánh của phức nếp lõm gặp nhiều nếp uốn nhỏ,
11
cắm chủ yếu về Đông Bắc 50 - 60
0
. Dọc khe Choang, khe Mọi gặp nhiều lớp
xtilit, riôlit, porfia xen với đá phiến sét, cát bột kết với góc dốc 70 - 85
0
.
Các hố trũng Nêôgen kéo dài từ Mường Xén, Cửa Rào, Khe Bố hình
thành do chuyển động kiến tạo mới dọc hệ đứt gãy sông Cả. Thành phần chính
là Cuội - Dăm kết, bột kết với ít vỉa than. Bề dày chung khoảng 300m.
Phá huỷ kiến tạo trong đới diễn ra mãnh liệt. Trong đó đáng kể là đứt gãy
Rào Nạy, Sông Cả đã khống chế suốt quá trình phát triển của đới. Thêm vào
đó các đứt gãy nhỏ khác đã chia cắt vùng này thành các khối kiểu cấu tạo bậc
thang, tạo ra các địa hào hẹp kéo dài như ở Tây Trang, kiểu nêm như ở Kì Sơn,
Con Cuông. Ven rìa Đông Bắc, đặc biệt nơi giáp Pu Hoạt, phát triển đứt gãy
gián đoạn có xuất hiện kiểu chờm nghịch.
+ Phức nếp lồi Trường Sơn nằm dọc dãy Trường Sơn. Tại đây, thành tạo
Palêôzôi phát triển khá đầy đủ dạng tuyến dài, Tây Bắc - Đông Nam từ vùng
Bắc Xiêng Khoảng vào đến Đà Nẵng trên chiều dài 600 km. Đơn vị này tương
ứng với phía Tây Nam đới Trường Sơn; Phần Đông Bắc của nó giáp với đới
sông Cả; Tây Nam giáp địa khối Kon Tum.
Đặc trưng địa hình của đới này là dãy núi Trường Sơn hùng vĩ với những núi
cao có trục theo phương Tây Bắc. Sườn Tây thoải thấp dần theo sông Mê Công,
còn sườn Đông khá dốc phân cắt khá mạnh, nghiêng về biển thành những vùng
núi trung bình - thấp dọc Bình - Trị - Thiên. Trong phạm vi này này còn phát
triển kiểu địa hình Karstơ phổ biến ở Quảng Bình dọc biên giới Việt - Lào.
2.1.2.2. Khoáng sản
- Bắc Trung Bộ là khu vực giàu tài nguyên khoáng sản

Trường Sơn Bắc có nhiều khoáng sản quý nhưng chỉ có một số mỏ có quy
mô quốc gia, phần nhiều có quy mô không lớn và phức tạp về mặt khai thác chế
biến. Nếu phần lớn các mỏ miền Bắc Việt Nam đều hình thành trong chu kì tạo
núi vào đại Trung Sinh thì ở đây lại hình thành trong chu kì tạo núi Hecxini cổ
hơn nhiều và từ đó đến nay, đã trải qua nhiều thời kì bóc mòn và xâm thực dữ
dội nên quy luật tạo mỏ cũng không giống như những vùng khác.
+ Trong vùng có một số mỏ khoáng sản lớn như mỏ sắt Thạch Khê (Hà
Tĩnh), mỏ Crômit Cổ Định (Thanh Hoá), mỏ Thiếc Quỳ Hợp (Nghệ An), Rubi
Quỳ Châu (Nghệ An). Các tỉnh Bắc Trung Bộ đều giàu vật liệu xây dựng: đất
sét, cao lanh, đá vôi. Đá ốp lát là một trong những nguồn tài nguyên phong phú
của Bắc Trung Bộ. Chiếm ưu thế là trầm tích Cacbonat bao gồm đá vôi và đá
hoa. Nước khoáng là loại khoáng sản dạng lỏng, có tác dụng chữa một số bệnh
ngoài da, tuần hoàn, hô hấp, Trên lãnh thổ 6 tỉnh Bắc Trung Bộ đã phát hiện
được khá nhiều điểm nước khoáng:
* Thanh Hoá có ở Làng Ao, Làng Mún, Làng Lay, Bản Pàng vùng
Thường Xuân - Ngọc Lặc;
* Nghệ An có ở Bản Khạng, Bản Tạt, Bản Bọ, Bản Lang, Cồn Soi vùng
Quỳ Hợp và Nghĩa Đàn;
* Hà Tĩnh có ở Bản Chót, Sơn Kim, Hương Sơn;
* Quảng Bình có ở Nô Bồ - Tuyên Hoá; Khe Bang - Lệ Thủy; Động
Nghèn, Sông Trooc - Bố Trạch;
12
* Quảng Trị có ở Đakrông - Hương Hoá; Tân Lâm - Cam Lộ;
* Thừa Thiên - Huế có ở Xuân Lộc, Phú Lộc.
Trong các nguồn nước khoáng đó mới chỉ một số điểm đưa vào đánh giá khai
thác, sử dụng ở Bản Khạng - Quỳ Hợp (Nghệ An), Sơn Kim - Hương Sơn (Hà
Tĩnh), Nô Bồ - Tuyên Hoá và Khe Bang - Lệ Thuỷ (Quảng Bình).
- Tài nguyên khoáng sản được phân bố ở các tỉnh
+ Thanh Hóa có nguồn tài nguyên khoáng sản đa dạng nhưng nhìn chung
có trữ lượng không lớn và thường phân bố không tập trung, khó phát triển công

nghiệp khai khoáng. Các loại khoáng sản có giá trị đáng kể:
* Đá vôi: trữ lượng 370 triệu tấn, chất lượng tốt, phân bố ở các huyện:
Quan Hóa, Cẩm Thủy, Thạch Thành, Bỉm Sơn, Hà Trung.
* Sét sản xuất xi măng: trữ lượng 85 triệu tấn, phân bố chủ yếu ở các
huyện: Hà Trung, Cẩm Thủy, Thạch Thành, Tĩnh Gia.
* Sét sản xuất gạch ngói: trữ lượng trên 20 triệu m
3
, chất lượng tốt, phân
bố chủ yếu ở các huyện: Thạch Thành, Hà Trung, Thiệu Hóa, Yên Định, Thọ
Xuân, Quảng Xương, Tĩnh Gia.
* Sét cao lanh: trữ lượng 5 triệu tấn, sản xuất gạch chịu lửa, gạch ốp lát.
* Cát xây dựng: trữ lượng rất lớn, phân bố khắp tỉnh.
* Đá ốp lát: trữ lượng 2-3 tỉ m
3
, chất lượng tốt có nhiều màu sắc đẹp, độ
bền cao, làm phụ gia xi măng.
* Quặng sắt: có 5 mỏ đã được thăm dò, trữ lượng 3 triệu tấn.
* Quặng crôm: trữ lượng 2,066 triệu tấn (đặc biệt cả nước chỉ có ở Triệu
Sơn và Ngọc Lặc của Thanh Hóa).
* Vàng sa khoáng: tập trung ở Cẩm Thủy, Bá Thước, Thường Xuân.
* Vàng gốc: tập trung chủ yếu ở làng Nèo huyện Bá Thước.
* Đá quý, đá bán quý: tập trung ở vùng Tây Nam, chưa được kiểm chứng,
khảo sát về trữ lượng và chất lượng.
* Phốtphorit: trữ lượng 1 triệu tấn, chất lượng trung bình.
* Secpentin: trữ lượng 15 triệu tấn, chất lượng khá tốt.
Trong tỉnh hiện tại có một số nhà máy sản xuất xi măng ở Bỉm Sơn, Nghi
sơn; phân bón ở Hàm rồng. Đa số nguồn tài nguyên đang bị thất thoát do kiểm
soát không chặt chẽ.
+ Nghệ An có các loại sau:
* Đá vôi có trữ lượng lớn tập trung ở huyện Quỳnh Lưu, Quỳ Châu, Quế

Phong. Riêng khu vực Quỳnh Lưu có trữ lượng 350 triệu m
3
.
* Sét xi măng 40 triệu m
3
, phân bố nhiều nhất các huyện Quỳnh Lưu, Anh
Sơn.
* Đá bazan hàng trăm triệu tấn (trữ lượng dự báo toàn vùng 260 triệu m
3
).
* Đá xây dựng có trữ lượng rất lớn. Đá có giá trị kinh tế cao là Granit và
đá gốc cácbonat phân bố nhiều ở vùng Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn, Con Cuông, Hưng
Nguyên.
13
* Thiếc có trữ lượng lớn nhất Việt Nam 42.000 tấn (chiếm 30% trữ lượng
thiếc cả nước) đang được khai thác ở quy mô công nghiệp, khá tập trung ở vùng
Quỳ Hợp và Quế Phong.
* Sét gạch ngói phân bố rộng ở vùng đồng bằng và trung du, là nguyên
liệu lớn cho phát triển vật liệu xây dựng.
* Sét xi măng trên 40 triệu m
3
, phân bố ở Quỳnh Lưu và Đô Lương.
* Mangan có ở Hưng Nguyên (tại làng Yên Cứ 1,4 triệu tấn); Nam Đàn
(mỏ Hoa Sen 111.000 tấn, mỏ Nam Lộc 665.000 tấn, mỏ Khe Su 501.000 tấn); ở
Kẻ Li (Quỳ Châu); ở Nghi Lộc.
* Bôxít khoảng 3 triệu tấn ở Sơn Thành (Yên Thành), Diễn Lâm (Diễn
Châu), Nghĩa Lâm (Nghĩa Đàn), trong đó mỏ Sơn Thành có trữ lượng lớn nhất
257.000 tấn.
* Phốtphorít có trữ lượng dự báo 130.000 tấn, phân tán ở các huyện
Thanh Chương, Yên Thành, Quỳnh Lưu, Đô Lương, Anh Sơn và Con Cuông.

* Titani có ở Cửa Hội và Nghi Thọ tồn tại dưới dạng inmenhít (TiO
2
).
Tổng trữ lượng 22.600 tấn trong đó Cửa Hội 20.500 tấn.
* Vàng trữ lượng được đánh giá khoảng 20 tấn, chủ yếu là vàng sa
khoáng ở dọc sông Cả, sông Hiếu. Mỏ vàng gốc Tà Sỏi với trữ lượng dự báo 8
tấn.
* Đá quý tập trung ở Quỳ Hợp, Quỳ Châu, chủ yếu là rubi
* Nước khoáng có nhiều mỏ dễ khai thác. Mỏ Bản Khạng -Quỳ Hợp
thuộc loại khoáng cacbonic là loại được ưa chuộng, có lưu lượng 0,5 lít/giây.
Các mỏ Bản Hợp, Bản Bo, Bản Lang (Quỳ Hợp), Cồn Soi - Nghĩa Đàn, Vĩnh
Giang - Đô Lương đều có thể khai thác sử dụng ngay.
* Than đá: có ở Khe Bố -Tương Dương, Đôn Phục -Con Cuông)
+ Hà Tĩnh có một số mỏ có trữ lượng lớn và chất lượng tốt:
* Sắt Thạch - Thạch Hà, trữ lượng 540 triệu tấn, hàm lượng sắt 62,15%
nằm dưới mặt đất 40-100 m).
* Thiếc Sơn Kim - Hương Sơn trữ lượng 70 000 tấn, hàm lượng thiếc
trung bình 1%.
* Titan trữ lượng 3-5 triệu tấn chạy dọc bờ biển, thuộc loại quặng giàu, có
hàm lượng imenhít từ 63,3-147,4 kg/m
3
, Zircon từ 3-5,2 kg/m
3
. Hiện nay, Tổng
công ty Khoáng sản và Thương mại Hà Tĩnh đã khai thác, chế biến và xuất khẩu
mỗi năm từ 10 - 12 vạn tấn.
* Nước khoáng Sơn Kim nhiệt độ nước bề mặt trên 76
0
C, có mùi
sunfuahydrô, thuộc loại nước bicacbonat - natri; lưu lượng 400 m

3
/ngày; đã
được khai thác và lưu thông trên thị trường nhưng quy mô còn nhỏ.
* Đá ốp lát tập trung ở Kỳ Anh, Thạch Hà và Hương Sơn, trữ lượng 1,1 tỷ
m
3
. Một số khoáng sản khác chưa được khảo sát địa chất như: mangan, đá quý,
than bùn,…
14
+ Quảng Bình có nhiều loại khoáng sản như vàng, sắt, titan, pyrit, chì,
kẽm và một số khoáng sản phi kim loại như cao lanh, cát thạch anh, đá vôi, đá
mable, đá granit
* Đá vôi và cao lanh có trữ lượng lớn, đủ điều kiện để phát triển công
nghiệp xi măng và vật liệu xây dựng với quy mô lớn.
* Nước khoáng Bang nóng 105
0
C tại huyện Minh Hoá.
* Vàng có tiềm năng để phát triển công nghiệp khai thác và chế tác vàng.
+ Quảng Trị có 48 mỏ và điểm quặng, trong đó 17 điểm thuộc nhóm kim
loại, 22 điểm thuộc nhóm vật liệu xây dựng (1995). Các mỏ đá vôi và nguyên
liệu sản xuất xi măng kéo dài theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, trữ lượng đạt
khoảng 3,5 tỷ tấn. Khoáng titan phân bố dọc bờ biển Vĩnh Thái – Vĩnh Kim trữ
lượng 1 triệu tấn. Một số khoáng sản khác như vàng, ăngtimoan; nguồn nước
khoáng và cát thuỷ tinh tương đối lớn.
+ Thừa Thiên Huế cũng có một số mỏ khoáng sản nhưng trữ lượng nhỏ.
Víi nguồn khoáng sản phong phú, đa dạng, mà nổi bật là một số loại có tỉ
trọng lớn so với vùng khác. So với cả nước, Bắc Trung Bộ chiếm 100% trữ lượng
crômít, 60% trữ lượng sắt, 44% trữ lượng đá vôi xi măng. Các khoáng sản có giá
trị kinh tế của vùng bao gồm:
+ Đá vôi xây dựng: 37,8 tỉ tấn có ở hầu hết các tỉnh.

+ Quặng sắt: 556,62 triệu tấn, trong đó mỏ Thạch Khê (Hà Tĩnh) là
553,72 triệu tấn.
+ Cát thuỷ tinh: 573,6 triệu m
3
, có ở 3 tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa
Thiên - Huế.
+ Sét làm gạch, ngói: 3,09 tỉ tấn, có ở khắp nơi trong vùng.
+ Đá vôi làm xi măng: 172,83 triệu tấn, có nhiều ở Thanh Hoá, Nghệ An.
+ Titan: 6,32 triệu tấn, có nhiều ở Quảng Trị.
+ Đá cát két: 200 triệu tấn, có nhiều ở Nghệ An và một số nơi khác.
+ Nhôm: trên 100 nghìn tấn ở Nghệ An.
+ Crômít: 2066 nghìn tấn ở Thanh Hoá.
C¸c kho¸ng sản khác như đá ốp lát (362 triệu m
3
) ở Nghệ An, Thanh Hoá,
Hà Tĩnh; cao lanh 50 triệu tấn ở Quảng Bình, Thừa Thiên - Huế; Đôlômit (6
triệu tấn) ở Quảng Bình; sét (19,75 triệu m
3
) có nhiều ở Nghệ An
Đây là những thế mạnh góp phần không nhỏ vào việc hình thành các ngành
công nghiệp của Bắc Trung Bộ như sản xuất xi măng, sản xuất vật liệu xây
dựng
2.1.2.3. Địa hình
Địa hình của Bắc Trung Bộ ph©n hãa thµnh các bộ phân khá rõ nÐt, nhưng
lại rất gắn bó: vùng đồi núi phía Tây (Trường Sơn Bắc), dải đồng bằng ven biển
và tiếp nối là miền bờ biển phía Đông.
15
Bc Trung B cú a hỡnh phc tp, chia ct ln, hp ngang v li kộo di. i
b phn lónh th l i nỳi, sn phớa ụng hng ra bin cú dc ln, ng bng
nh hp v b chia ct, sụng sui dc, chy xit, thng gõy l lt bt ng

- Vựng i nỳi phớa Tõy.
Trng Sn Bc nh mt bc tng thnh kộo di sut t Nam thung
lng sụng C n tn cỏc ngn nỳi phớa Bc thung lng sụng Bung, ngn cỏch
Bỡnh - Tr - Thiờn v Qung Nam - Nng. Trng Sn Bc cú din tớch
142.500 ha nm trong min nỳi thp, cu to kộo di theo hng Tõy Bc -
ụng Nam, chy t thng ngun sụng C vo n Qung Nam. Gm nhiu dóy
nỳi nm so le vi nhau, cao trung bỡnh 600 m - 800 m, hp b ngang, cú hai
sn khụng i xng, dc xung phớa ng bng duyờn hi, cng v phớa Nam
dóy nỳi cng n sỏt ra bin; cú nhng dóy õm ngang ra bin nh Honh Sn,
Bch Mó.
- Phớa Bc thung lng sụng C l khi Pự Hot chy dc biờn gii Vit -
Lo vi vựng i chõn nỳi ca nú, thp dn v phớa ụng, trong vựng Ngh An
cao trờn di 1.500 m. Vo cui Tam, u T cú phun tro badan dy
300 m vựng Nh Xuõn, Ph Qu to nờn dng a hỡnh bỏn bỡnh nguyờn ln
súng. Khu vc Pự Hot cú mc chia ct dy, sụng sui chng cht. Thanh
Hoỏ hỡnh thnh trờn phn ụng Nam ca cỏc i kin to - nham tng t khu
Tõy Bc xung nhng do trong giai on Tõn kin to nõng lờn yu nờn a hỡnh
ngy nay ch yu l i di 500 m, xen ớt nỳi thp, trong ú cú nhiu nỳi ỏ
vụi tip tc ca di ỏ vụi Tõy bc.
- Khu Ngh - Tnh kộo di t Nam sụng Chu cho n dóy Honh Sn,
õm ra bin ốo Ngang. Nm trong a mỏng Trng Sn, õy l a mỏng
hot ng v kt thỳc sm: trong i C sinh. a mỏng Trng Sn st lỳn vi
tc ln, to nờn b dy trm tớch ti 12.000 m, ch yu l ỏ phin xen cỏt
kt, cú ớt ỏ vụi Cacbon - Pecmi dy 600 m - 800 m hỡnh thnh vo giai on
cui. a mỏng Trng sn kt thỳc vo vn ng to sn Hecxini.
T hu ngn sụng C n Honh Sn l dóy Pu Lai Leng - Ro C hp
ngang nhng di liờn tc, tip ni ca dóy Pu Sao (Lo), cú ngn cao nht nm
ngay sỏt biờn gii vi cao 2.711 m (gn hu nnganj sụng C). Dóy nỳi ny
cũn chy tip v phớa ụng vi cỏc nhỏnh ta ra phớa ụng t Ca Hi n Ba
n (dóy Hng Lnh). Phớa ụng Nam (Tõy H Tnh) l dóy Ro C nh cao

2.286 m. C Pu Lai Leng v Ro C u c cu to bng ỏ Granớt nờn nh
tng i nhn, sn dc v b cỏc sụng sui chia ct d di (dãy núi này có tên
địa phơng là núi dăng màn).
Cui huyn Kỡ Anh - H Tnh l ốo Ngang, mt mch nỳi õm ra bin
theo hng Tõy - ụng, cao khong 400 m, nh cao nht lờn n 1.046 m. Tip
ú l khi Honh Sn cú din tớch khong 1.500 km
2
, khụng cao lm nhng do
hng chy nờn cú vai trũ l ranh gii khớ hu gia H Tnh v Qung Bỡnh. Ch
cỏch nhau 10 km nhng H Tnh thuc v khớ hu min Bc trong khi t Qung
Bỡnh tr i, khớ hu ó mang nhng nột ca khớ hu min Nam. Bn thõn Honh
Sn cng cú s phõn hoỏ: mựa ụng chu nh hng ca giú ụng Bc, mựa h
chu nh hng ca giú Lo.
16
- Một bộ phận rất quan trọng của vùng đồi núi phía tây Bắc Trung Bộ là
vùng đá vôi Kẻ Bàng, rộng tới 10.000 km2, núi đá vôi ở đây tập trung chủ yếu ở
Kẻ Bàng và Khe Ngang, độ cao 700-800m.

Khối núi Kẻ Bàng chạy lan đến tận
phía tây Trường Sơn theo khối Ma Ha Xai ở Lào, cả hai khối đứng sừng sững
thành một vòng cánh cung khổng lồ chạy từ phía tây Đồng Hới ra quá Kham
Kơt như một bức tường thành kéo dài hơn 260 km. Cao hơn cả là đỉnh Phu Et
Va (1.515 m), trông xa như một kim tự tháp đang sụp đổ. Các dạng địa hình
hiện tại thể hiện quá trính Cacxtơ đang phát triển mạnh mÏ, dòng chảy bề mặt ít,
sông suối ngầm phát triển, phổ biến là các dạng địa hình: phễu, giếng, hố
kacxtơ. Trong khối đá vôi Kẻ Bàng, động Phong Nha được khám phá sớm và
nhiều người biết đến nhất. Các hang động trong đó đều do con sông ngầm (sông
Chài) hòa tan đá vôi tạo thành. Động chính gồm 14 buồng, có hành lang dài
1.500 m, nhiều hành lang phụ dài đến vài trăm mét. Các hang động ở đây có
tổng chiều dài khoảng hơn 80 km nhưng các chuyên gia khảo sát hang động Anh

và Việt Nam mới chỉ thám hiểm 20 km, trong đó 17 km ở khu vực Phong Nha
và 3 km ở khu vực Kẻ Bàng. Động Phong Nha là động giữ nhiều kỷ lục: (1)
Hang nước dài nhất; (2) Cửa hang cao và rộng nhất; (3) Bãi cát, đá rộng và đẹp
nhất; (4) Hồ ngầm đẹp nhất; (5) Thạch nhũ tráng lệ và kỳ ảo nhất; (6) Dòng
sông ngầm dài nhất Việt Nam; (7) Hang khô rộng và đẹp nhất thế giới. Kiến tạo
carxtơ của Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng được hình thành từ 400 triệu
năm trước, là carxtơ cổ nhất Châu Á. Trải qua nhiều thay đổi lớn về địa tầng và
địa mạo, địa hình khu vực này hết sức phức tạp. Phong Nha - Kẻ Bàng phô diễn
các bằng chứng ấn tượng về địa hình karstơ, thể hiện được đặc trưng lịch sử địa
chất và địa hình của khu vực. Phong Nha - Kẻ Bàng là một trong những mẫu
hình riêng biệt và đẹp nhất về sự kiến tạo carxtơ phức tạp, được UNESCO 2 lần
công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới theo tiêu chí địa chất, địa mạo năm
2003, theo tiêu chí đa dạng sinh học vào năm tháng 7 năm 2008.
- Từ phía Nam dãy núi đá vôi Kẻ Bàng là vùng núi thấp chạy từ biên giới
Việt - Lào đến gần sát biển. Trong đó, các đỉnh được cấu tạo từ đá Granit cao
nhất là các đỉnh Co Ta Run (1624 m), Ba Rền (1137 m), U Bò (1.009 m). Các
đỉnh Động Ngài (1.774 m) ở đầu nguồn sông Bồ, Voi Mẹp (1.701 m) phía Tây
Cam Lộ, Núi Mang (1.708 m) và các đỉnh cao 1.200 - 1.300 m nằm ở trung tâm,
là các đỉnh phân thuỷ giữa các sông suối chảy về phía bờ biển Trị - Thiên và các
sông suối chảy về phía tây sang cao nguyên Ta Hoi của Lào. Các dãy núi còn lại
được cấu tạo bởi đá phiến hay cát kết có độ cao từ 500 - 800 m, quá trình bóc
mòn mãnh liệt tạo nên những bề mặt san bằng trong vùng.
Tại khu vực đồi 300 - 400 m, có một vệt đá phun trào badan từ Vĩnh Linh
chạy qua Gio Linh, Cam Lộ đến Lao Bảo, diện tích 20.000 ha. Địa hình badan
đỉnh bằng, sườn thoải, dễ khai phá trồng trọt. Bán bình nguyên Vĩnh Linh, Gio
Linh, Cam lộ nằm gần biển, cao xấp xỉ 100 m. Vùng Lao Bảo - Khe Sanh nằm
trên sườn dải Trường Sơn ở độ cao 300 - 400 m. Đồi badan Vĩnh Linh, Gio Linh
được khai phá từ lâu đời, trồng cây ăn quả nhiệt đới và hồ tiêu. Vùng Cam Lộ
dài 12 km, rộng 5 km, là một bồn địa được dung nham badan lấp đầy.
Từ phía Nam dải núi đá vôi khe Ngang đến đèo Lao Bảo là vùng đồi núi

sa thạch tỏa rộng thành 2 bậc xuống phía biển, bậc 1.000 m và bậc 300 - 400 m.
17
Do quá trình xâm thực giật lùi mạnh của các sông suối đổ xuống biển Đông, có
nơi đỉnh cao đi lệch về phía Đông trên các nhánh phân thuỷ phụ, vì vậy ở đây
biên giới Việt - Lào không phải là núi cao nhất như ở Nghệ Tĩnh. Vùng Khe
Sanh - Lao Bảo bao gồm một số ngọn đồi từ cây số 56 đến cây số 73 dọc đường
số 9 từ Đông Hà đi Xavanakhet.
Độ cao trung bình của dãy Trường Sơn Bắc khoảng 2.000 m, thỉnh thoảng
có những đỉnh cao trên 2.500 m. Các đỉnh núi cao nhất là: Pu Xai Lai Leng
(biên giới Việt-Lào, Nghệ An) 2.711 m, Pu Ma (Nghệ An) 2.194 m, Pu Đen Đin
(Nghệ An) 1.540 m, Rào Cỏ (biên giới Việt - Lào, Hà Tĩnh) 2.235 m, Động
Ngài (Thừa Thiên - Huế) 1.774 m, Bạch Mã 1444 m. Khối núi Kẻ Bàng ở tỉnh
Quảng Bình cao tới 1178 m.
Dãy Trường Sơn Bắc chấm dứt ở phía Nam Thừa Thiên Huế bằng một
mạch núi cao trên 1.000 m, đâm thẳng ra biển và kết thúc bởi hòn Sơn Trà ở
phía đông núi Hải Vân được cấu tạo bằng đá Granit.
- Dải đồng bằng ven biển
Đi từ khu vực đồi núi phía Tây ra biển, địa hình thấp dần: 40 - 25 m, 25 -
15 m, 15 - 5 m, 5 - 4m, có tuổi trẻ dần. Điều đó chứng tỏ địa hình được nâng cao
dần và liên tục về phía Tây lãnh thổ. Bờ biển có nhiều cồn cát, được gió vun lên
thành những đụn cát và ngăn chặn các đầm phá. Cùng thời gian đó hình thành
nên các đảo.
Địa hình đồng bằng bị cắt xẻ bởi các nhánh núi ăn sát ra tới biển như:
Hoành Sơn, Đèo Ngang. Vì vậy, địa hình đồng bằng duyên hải miền Trung
18
mang tính chất của đồng bằng chân núi - ven biển. Ngoài bị cắt xẻ ngang bởi các
nhánh núi ăn sát ra biển, còn có sự phân chia dọc theo đồng bằng: cồn cát, đụn
cát, đồi núi sót, mõm đá. Phía trong các cồn cát là các đồng bằng nhỏ hẹp có thể
canh tác, ở dưới chân núi là vùng sỏi đá khô cằn, cỏ cây hoang dại mọc.
Các đồng bằng duyên hải của Bắc Trung Bộ có đặc điểm hẹp ngang, khu

vực từ Nghệ An vào đến Đà Nẵng bề ngang đồng bằng chỉ từ 40 - 60 km, chỗ
hẹp nhất ở Đồng Hới (Quảng Bình) chỉ khoảng 37 km.
+ Đồng bằng châu thổ Thanh Hoá rộng nhất, 2.900 km
2
, mang tính
chuyển tiếp từ đồng bằng Bắc Bộ màu mỡ rộng lớn xuống đồng bằng duyên hải
Miền Trung nhỏ bé nghèo phì liệu. Rìa phía Bắc và Tây Bắc của đồng bằng là
dải đất cao được cấu tạo bằng phù sa cũ của sông Mã - Chu, cao 2- 15 m. Châu
thổ phù sa mới cao trung bình 3- 4m, có khi lên đến 9 - 10 m. Trong vùng còn
những chỗ trũng, thường là các lòng sông cũ. Giữa sông Chu và sông Yên còn
nhiều vết tích cũ của dòng sông Chu, chứng tỏ xưa kia sông Chu chảy tách riêng
với sông Mã và đi thẳng ra biển. Ở phía Bắc sông Chu, giữa sông Chu và sông
Mã cũng phát hiện vô số lòng máng. Vùng đất thấp ở trung tâm châu thổ cao
trung bình 1 - 2m, rộng ở phía Bắc, càng về phía Nam càng hẹp. Đất thịt nặng,
sét, hơi chua, nơi nào ảnh hưởng của cacbonat có độ pH trung tính. Phía Bắc có
nhiều cánh đồng rất trũng tại Hậu Lộc, Hà Trung, Nga Sơn, độ cao 0,30 - 0,70
m, thường ngập nước. Trong đồng bằng có nhiều đồi núi sót cao trung bình từ
200 - 300 m cấu tạo bằng nhiều loại đá khác nhau (macma phun trào, đá vôi, cát
kết, đá phiến). Vùng trung tâm có địa hình cao thấp không đồng đều vì đây là
nơi các dòng sông lớn chảy qua. Theo quy luật chung, nơi nào là sống đất do lũ
bồi thì đất sẽ cao lên và có thành phần cơ giới nhẹ, nơi nào là lòng sông cũ thì
đất lại trũng xuống và có thành phần cơ giới nặng. Về phía Nam cho đến sông
Yên vùng đất thấp bị thu hẹp giữa một bên là thềm phù sa cổ, một bên là dải cồn
cát ven biển. Vùng ven biển có nhiều cồn cát nối thành những chuỗi dài chạy
theo hướng Đông Bắc - Tây Nam dạng xoè nan quạt, phía Bắc rộng trên 5 km,
phía nam chỉ hẹp 1,5 km.
Bờ biển của đồng bằng châu thổ Thanh Hoá là một miền bờ biển phẳng
với một thềm lục địa tương đối nông và rộng. Phía bắc Nga sơn, hàng năm đất
liền tiến ra biển với tốc độ khá lớn nhờ phù sa sông Hồng và sông Đáy đổ về,
nhưng từ Nga sơn đến mũi Ròn, các cồn cát đã nối liền những mũi đá nhô ra

biển lại với nhau, tạo thành các bãi biển phẳng và dài như ở Lạch Trường, Sầm
Sơn, Khoa Giáp. Đất phù sa châu thổ Thanh Hoá nghèo hơn phù sa châu thổ Bắc
Bộ: khu vực cao của đồng bằng đất chua và có hiện tượng bạc màu; ở khu vực
đất thấp và gần biển đất thể hiện tính chất ven biển ở tỉ lệ lớn của đất mặn, đất
cát, đất nhẹ hơn do sự có mặt của các trầm tích biển.
+ Đồng bằng Nghệ - Tĩnh nhỏ bé, kém phì nhiêu và nhiều đất mặn, đất
cát, vỏ sò, hến. Cả vùng đồng bằng Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Yên Thành ba mặt
giáp đồi núi, phía Đông hướng ra biển. Khi chưa được bồi lấp xong, vùng biển
vẫn thông với Thanh Hoá qua eo biển Hoàng Mai có nhiều đá vôi về phía Bắc;
phía Nam thông với đồng bằng châu thổ sông Cả qua eo Đò Cấm. Đồng bằng
duyên hải Diễn Châu - Nghệ An nguyên là một vụng biển bị vùi lấp bởi trầm
tích biển, vận động nâng lên làm cho đường bờ biển dịch ra phía sườn dốc thoải
19
của thềm lục địa, trên đó hoạt động của sóng biển đã dựng nên những cồn cát
dài gần như song song, đánh dấu những vị trí tuần tự của đường bờ biển cũ. Dấu
hiệu rõ của vận động nâng lên này biểu hiện ở các bậc thềm biển tồn tại dưới
dạng những đồi riêng rẽ trên đó có những lớp vỏ sò dày 4 - 5 m thuộc xã Diễn
Hồng, Diễn Kỷ, Diễn Tháp ngày nay. Nếu phía ngoài giáp biển nhiều đất cát và
vỏ sò thì phía trong giáp núi, ít được bồi lấp nên đất trũng thấp, tập trung nhiều
ở Yên Thành - Nghệ An. Từ Đò Cấm đến Bến Thuỷ là đồng bằng Nghi Lộc,
Hưng Nguyên, Nghi Xuân. Phía Tây đường Quốc lộ 1A được phù sa sông Cả
bồi đắp nên rộng và phì nhiêu hơn, cao từ 1 - 2 m đến 5 - 6 m. Phía Đông Quốc
lộ 1A giống vùng cồn cát Thanh Hoá. Vùng Nghi Lộc - Nghi Xuân phía Bắc là
Cửa Lò, phía Nam là núi Hồng Lĩnh. Đồng bằng Can Lộc rất hẹp, sát biển là đất
cát và đất mặn, có nơi đất mặn vào sát chân núi. Vùng phù sa sông Nghèn kém
màu mỡ, nhiều nơi chưa bồi đắp xong, trũng thấp. Đồng bằng Thạch Hà và Cẩm
Xuyên cao và đất đai phì nhiêu hơn, diện tích đất mặn thu hẹp; những đụn cát,
cồn cát có phần phát triển hơn. Đồng bằng Kỳ Anh có nhiều điểm khác biệt:
phía biển Đông có nhiều đồi núi ở cửa Nhượng, cửa Khẩu. Phía tây, dãy Hoành
Sơn lan xuống tận đồng bằng, đất nghèo mùn, nhiều đất phù sa cũ, cồn cát cũ

bạc màu, địa hình khá bằng phẳng. Trên đồng bằng nổi lên những cồn cát cao
đến 15 m. Phía Nam cửa Nhượng, đồi núi chiếm diện tích rộng lớn, độ cao từ
200 - 400 m. Ở Thạch Hà cũng có những bãi sò cao đến 12 m là dấu hiệu của
vận động nâng lên.
Vùng Hương Khê là đồi núi thấp, cao 200 - 300 m cấu tạo từ nhiều loại
đá: đá phiến, bột kết, cát kết, đá vôi, riôlit. Trong vùng có sông Ngàn Phố, Ngàn
Sâu uốn khúc, tạo nên những dải đất phù sa hai bên bờ sông.
Đồng bằng Nghệ Tĩnh là nơi thường bị nhiễm mặn do nước mặn vào khá
sâu theo các cửa sông: Hoàng Mai, Bùng, Giát, Cấm, Cả, Nghèn, Rào Cái. Ở
Diễn Châu, phần đất phía Đông Quốc lộ 1A bị mặn, vào đến Thành phố Vinh
một số nơi nước giếng nhiễm mặn. Ở vùng đất thấp Kỳ Anh, hiện tượng mặn
hoá càng rõ. Đây là một khó khăn lớn để phát triển nông nghiệp.
Đồng bằng Nghệ - Tĩnh có điều kiện thuận lợi để phát triển cây công
nghiệp ngắn ngày và các loại cây hoa màu, ngoài cây lương thực chủ yếu là lúa
nước.
Bờ biển vùng Nghệ - Tĩnh phẳng, kiểu mài mòn - bồi tụ, có nhiều bãi đẹp.
Phía Nam Lạch Quèn, vịnh Diễn Châu vòng cung ăn khá sâu vào đất liền, có
những ngọn núi nhô ra biển tao thành những mũi như mũi Gà, mũi Rồng ở Bắc
Cửa Lò, mũi Ròn ở phía Đông huyện Kỳ Anh. Biển có nhiều đảo nhỏ: Hòn Ngư,
Hòn Mắt, Hòn Con (Nghi Lộc), Hòn Én (Cẩm Xuyên), Hòn Chim, Hòn Sơn
Dương (Kỳ Anh). Các bãi cá ven biển cũng rất phong phú và ngư nghiệp ở đây
phát triển mạnh.
20
Đồng bằng Bình - Trị - Thiên bắt đầu từ đồng bằng Ròn và Ba Đồn là hai
đồng bằng rất giống với đồng bằng Hà Tĩnh về mặt phát sinh và hình thái. Đồng
bằng Đồng Hới là kiểu đồng bằng điển hình được hình thành trên nền đá gốc bị
biển mài mòn, về sau được trầm tích biển bao phủ; sát chân dãy Trường Sơn là
dải thềm biển mài mòn ngày xưa bề mặt đã bị xâm thực, phá huỷ dữ dội nằm ở
độ cao 15 – 20 m. Đồng bằng được cấu tạo bởi trầm tích biển lẫn vật liệu bị bóc
mòn từ các đồi núi kế cận mang đến bồi lấp cho các vụng biển cũ, trong đó cánh

đồng Lệ Thuỷ và Hà Thanh khá rộng, phì nhiêu nhưng trũng, kín, cửa sông lại
thắt hẹp, thuỷ triều vào sâu nên khó tiêu úng, nên lầy than bùn phát triển. Đồng
bằng sông Bến Hải tiêu nước tốt, khá phì nhiêu; nhưng từ Đông Hà đến Phong
Điền đồng bằng lại xấu do nhiều đất cát. Đồng bằng Quảng Trị hẹp và bé nhất
(610 km
2
) nhưng kéo dài 66 km. Ngoài những đặc điểm giống ở Quảng Bình, từ
Phong Điền đến Phú Lộc là dải đồng bằng Thừa Thiên, đất đai phì nhiêu (nhất là
các cánh đồng Quảng Điền, Phú Vang, Hương Thuỷ) nhưng đồng bằng rất hẹp,
kẹp giữa một bên là đồi và bán bình nguyên, thềm phù sa cổ một bên là dải đầm
phá và cồn cát như phá Tam Giang, đầm Cầu Hai. Từ chân đèo Phú Lộc bao
quanh đầm Cầu hai về phía đông đến chân đèo Hải Vân chỉ còn vài cánh đồng
nhỏ.
Bờ biển Bình - Trị - Thiên có nhiều đầm, phá, bàu, cồn cát lớn. Phá
Thuận An là phá lớn nhất ở vùng bờ biển Việt Nam, gồm phá Tam Giang ở phía
bắc và đầm Cầu Hai ở phía nam được bọc ở phía ngoài biển bởi một cồn cát
chắn dài hàng chục kilômét có những cửa ra vào phá. Ngày xưa cửa phá nằm xa
hơn ở phía nam, nhưng sau một cơn bão dữ dội và một đợt sóng thần xảy ra vào
ngày 15 tháng 10 năm 1897, cửa phá cũ bị lấp và một cửa mới được hình thành
ở phía bắc ngay trong thời gian xảy ra biến cố ấy.
21
Phía ngoài bờ biển là những đụn cát, lúc đầu do phù sa biển bồi đắp, sau
đó mới cao lên thành những cồn cát di động, cao trung bình 20 - 30 m, tối đa 50
- 60 m có dạng lưỡi liềm, nối tiếp nhau chạy dài thành những dãy liên tục theo
hướng Tây Bắc - Đông Nam (vuông góc với hướng gió Đông Bắc), có những
cồn cát cũ chạy sát tận chân núi. Trước đây, các cồn này hàng năm vẫn tiến dần
vào đất liền với tốc độ trung bình 15 - 30 m, vùi lấp nhà cửa, làng mạc, vườn
tược, ruộng đồng, làm cho cảnh quan ở đây như một sa mac thu nhỏ. Giữa
những cồn cát di động này có những dải đất trũng gồm những hồ nước ngọt khá
rộng, gọi là “bàu”, chúng có nguồn gốc từ những lạch nhỏ nằm song song với

đường bờ và thông với biển qua những cửa nhất định. Sự xâm lấn của các cồn
cát đã bịt kín các cửa làm cho chúng bị cô lập với biển và trở thành bàu, còn các
cửa bị vùi lấp dưới cát được dân địa phương gọi là “cửa lấp”. Mặc dù nước
trong bàu bị cạn dần nhưng ngày càng giảm độ măn và được nước ngọt dưới đất
cung cấp thêm nên đây vẫn là nguồn dự trữ nước ngọt quý giá cho vùng, tiêu
biểu là Bàu Tró cung cấp nước ngọt cho cả Thành phố Đồng Hới.
Ý nghĩa kinh tế:
Trong vùng chỉ có hai đồng bằng có diện tích đáng kể là đồng bằng ven biển Thanh
Hóa và Nghệ An. Hoạt động sản xuất nông nghiệp chủ yếu diễn ra ở vùng đồng bằng
ven biển, bãi bồi ven sông hoặc vùng trung du. Dọc theo lãnh thổ các tỉnh đều có núi,
trung du, đồng bằng ven biển và hải đảo, song chỉ khác là ở phía Bắc rộng hơn, nhiều
khoáng sản quan trọng hơn và nguồn thuỷ năng lớn hơn ở phía Nam.
Trong thế đan xen giữa đồng bằng và đồi núi lại có những tài nguyên dưới
lòng đất và trên mặt đất. ở một số cửa sông và dãy núi sát biển. có thể hình thành
những cảng, thuận lợi cho việc vận chuyển trong nước và xuất khẩu.
Đặc điểm địa hình trên vừa tạo điều kiện để vùng phát triển các ngành kinh tế
đa dạng, các hệ canh tác khác nhau, vừa gây nên những khó khăn trong tổ chức lãnh
thổ các ngành kinh tế với quy mô lớn cũng như xây dựng cơ sở hạ tầng của vùng…
4.1.2.4. Đất đai
Bắc Trung Bộ có diện tích đất cát, đất bạc màu, đất trơ sỏi đá chiếm tỉ lệ lớn.
Có 3 loại đất chính:
- Đất đỏ vàng trung du miền núi: bao gồm đất đỏ feralit, đất đỏ bazan hoặc đất
feralit đã phân huỷ từ nguồn gốc đá vôi thích hợp cho việc trồng cây công nghiệp dài
ngày hoặc khai thác nông nghiệp, trồng cây ăn quả.
- Đất phù sa bồi tụ ven sông hoặc đồng bằng ven biển, thích hợp đối với cây
lương thực, hoa màu và cây công nghiệp ngắn ngày.
- Đất cát hoặc đất cát pha ven biển, chất lượng kém, chỉ trồng một số loại cây
hoa màu, trồng rừng phi lao, bạch đàn chống gió và cát bay ven biển.
Quỹ đất tự nhiên của vùng là hơn 5 triệu ha, trong đó đã sử dụng 2,8 triệu ha
(54,4%), đất chưa sử dụng 2,3 triệu ha (45,6% diện tích tự nhiên).

Trong 2,8 triệu ha đã sử dụng, đất nông nghiệp chiếm 693 nghìn ha (13,5%
diện tích đất tự nhiên), đất lâm nghiệp 1.868 nghìn ha (36,5% diện tích tự nhiên); sử
dụng vào mục đích công nghiệp, xây dựng, thuỷ lợi là 161 nghìn ha (3,1%) và đất thổ
cư 69,2 nghìn ha (1,3%).
22
Trong 2,3 triệu ha đất chưa sử dụng có 1,9 triệu ha đất đồng bằng, đồi, núi. Đây
chính là quỹ đất còn lại để khai thác cho các mục tiêu phát triển sản xuất nông lâm
nghiệp, phủ xanh đất trống, đồi trọc hoặc cho các cơ sở công nghiệp và đô thị mới.
Ngoài ra, toàn vùng còn có 45,4 nghìn ha mặt nước chưa sử dụng. Đây là điều kiện để
phát triển nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt, nước lợ trong tương lai.
Đất lâm nghiệp của toàn vùng là 3,4 triệu ha (chiếm 63% diện tích đất tự nhiên
của vùng và 15,6% đất lâm nghiệp của cả nước), trong đó đất rừng có gần 1,7 triệu ha
(chiếm 18,6% diện tích tự nhiên và 45% đất lâm nghiệp toàn vùng).
Trong số đất có rừng bao gồm: 1,5 triệu ha rừng tự nhiên và 168,4 nghìn ha
rừng trồng. Tổng đất lâm nghiệp không còn rừng là 1,6 triệu ha, diện tích núi đá
204.011 ha.
Bảng 11 : Hiện trạng sử dụng đất vùng Bắc Trung Bộ năm 2006
Loại đất Diện tích (nghìn ha) Cơ cấu (%)
Tổng diện tích 5155,2 100,0
Đất nông nghiệp 804,9 15,6
Đất lâm nghiệp có rừng 2854,0 55,4
Đất chuyên dùng 194,1 3,8
Đất ở 97,9 1,9
Đất khác 1204,3 23,3
Nguồn: Niên giám thống kê năm 2006
Hiện trạng sử dụng đất phân theo địa phương (tính đến 01/01/2008)
Bắc Trung
bộ
Tổng diện
tích

Đất sx nông
nghiệp
Đất lâm
nghiệp
Đất
chuyên
dùng
Đất ở
Toàn vùng
Thanh Hóa 1113,5 246,1 564,2 65,4 50,3
Nghệ An 1649,9 249,0 907,3 52,9 17,4
Hà Tĩnh 602,6 117,1 340,3 33,9 7,8
Quảng Bình 806,5 71,3 610,4 23,9 4,9
Quảng Trị 474,4 79,0 213,6 14,1 6,9
TT Huế 506,5 53,9 290,6 18,3 15,6
Nguồn: Niên giám thống kê năm 2008
Cơ cấu sử dụng đất phân theo địa phương (tính đến 01/01/2008)
Bắc Trung
bộ
Tổng diện
tích
Đất sx nông
nghiệp
Đất lâm
nghiệp
Đất
chuyên
dùng
Đất ở
Toàn vùng 100,0

Thanh Hóa
100
22,1 50,7 5.9 4,5
23
Nghệ An
100
15,1 55,0 3,2 1,1
Hà Tĩnh
100
19,4 56,5 5,6 1,3
Quảng Bình
100
8,8 75,7 3,0 0,6
Quảng Trị
100
16,6 45,0 3,0 1,5
TT Huế
100
12,6 57,4 3,6 3,1
Nguồn: Niên giám thống kê năm 2008
Như vậy, chủ yếu quỹ đất trong vùng là đất lâm nghiệp, diện tích đất nông
nghiệp không lớn và diện tích đất chưa sử dụng còn lại khá lớn, đây là một trong
những hạn chế để khai thác cho mục tiêu phát triển sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên,
đó cũng là nguồn quỹ đất tiềm năng để mở rộng hoạt động nông - lâm nghiệp, phủ
xanh diện tích đất trống đồi núi trọc, hoặc phát triển các cơ sở công nghiệp và đô thị
trong vùng, tăng cơ hội việc làm, thu nhập cho nhân dân.
2.1.2.5. Khí hậu
Đặc trưng khí hậu vùng Bắc Trung Bộ là có cả thời tiết lạnh của gió mùa
Đông Bắc và thời tiết khô nóng do hiệu ứng Fơn của gió Tây Nam gây nên.
Mùa đông, do hình thể vùng này nằm dọc bờ biển Đông, các dãy núi chạy

theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, trực diện với hướng gió mùa chủ đạo hướng
Đông Bắc, nên thời tiết lạnh thường kèm theo mưa, hơi khác với thời tiết khô
hanh của miền Bắc cùng thời kỳ. Theo chiều Bắc - Nam, nhiệt độ tăng dần và số
tháng lạnh giảm dần. Các khối khí lạnh bị suy yếu dần khi vượt qua các dãy
Hoành Sơn, Bạch Mã . Phía Nam đèo Hải Vân thì hầu như đã bị triệt tiêu. Từ
sau đèo Ngang (thuộc Hoành Sơn) đã không còn tháng lạnh dưới 18
o
C, nhiệt độ
tháng I ở Đồng Hới là 18,9
0
C, Quảng Trị 19,3
0
C, Huế 20,1
0
C. Tuy nhiên, xét về
mặt thời tiết, do front cực tràn qua Đồng Hới trung bình 14 lần/năm nên ở đây
vẫn có những ngày lạnh thực sự, nhiệt độ tối thấp xuống dưới 10
0
C (Đồng Hới
8.3
0
C, Huế 8,8
0
C), vì vậy khí hậu của Bình - Trị - Thiên vẫn mang tính chất
chuyển tiếp, chưa hẳn là khí hậu nhiệt đới điển hình.
Mùa hạ, gió mùa Tây Nam hoạt động mạnh. Gió từ bên này dãy núi, sau
khi di chuyển song song với mặt đất, gặp dãy núi thì tăng tốc độ và vượt qua dãy
núi sang bên kia trở thành một luồng khí áp từ trên cao tràn xuống làm tăng
nhiệt độ do quá trình không khí bị nén đoạn nhiệt. Trong quá trình vượt lên cao
qua dãy núi, gió gặp lạnh nên trút hết hơi ẩm, trở nên khô. Núi càng cao, mức

gia tăng nhiệt độ càng lớn và không khí càng khô.
Gió Tây Nam khô nóng hay gió Lào là thuật ngữ mà các nhà chuyên môn
ở Việt Nam dùng để chỉ hiện tượng phơn - Foehn, bắt nguồn từ Pháp, là loại gió
khô nóng, thứ gió ở vùng núi Anpơ. Những nơi khác trên thế giới, hiện tượng
này được gọi bằng các cái tên khác nhau. Ở Mỹ và Canada gọi là gió chinook,
có nơi gọi là Diablo, Santa Ana, có nơi lại gọi là gió Bilbao. Gió hình thành từ
vịnh Ben Gan, di chuyển theo hướng Tây - Nam, qua Cămpuchia và Lào, khi
đến dãy Trường Sơn thì gió tăng tốc, vượt qua đỉnh và tràn xuống vùng Bắc và
Trung Trung Bộ. Gió thường xuất hiện từ đầu tháng 4 đến giữa tháng 9, thường
bắt đầu thổi từ 8 - 9 giờ sáng cho đến chiều tối, thổi mạnh nhất từ khoảng gần
giữa trưa đến xế chiều. Gió khô và nóng, làm cho khí hậu các vùng nói trên trở
nên khắc nghiệt. Độ ẩm có khi xuống 30%, nhiệt độ có khi lên tới 43
0
C, trời
24
nắng chói chang, gió thổi như quạt lửa, cây cỏ héo khô, ao hồ cạn kiệt, dễ sinh
hoả hoạn, người và gia súc mệt mỏi.
Ngoài sự phân hoá theo quy luật nói chung, diễn biến của khí hậu trên các
vùng khác nhau của Bắc Trung Bộ cũng rất phức tạp, ngay cả trong cùng một
tỉnh hay những khu vực rất gần nhau. Khu vực Khe Sanh, cách Quảng Trị 70 km
về phí Tây, khí hậu đã mang đặc tính của khí hậu Tây Nguyên, mùa mưa bắt đầu
từ tháng 4 và chấm dứt vào tháng 10 chứ không phải từ tháng 9 đến tháng 01
như ở Quảng Trị. Nông dân ở Thừa Thiên Huế cấy lúa sớm hơn Quảng Trị một
tháng (vào tháng 7). Thời điểm đó Quảng Trị đang chịu ảnh hưởng của gió Lào
khô nóng.
Điều kiện khí hậu Bắc Trung Bộ khá phức tạp. Tuy chịu ảnh hưởng của
một mùa đông lạnh nhưng nhiệt độ trung bình năm nói chung là cao: Quỳ Châu;
23,1
0
C, Con Cuông: 23,5

0
C, Tương Dương: 23,6
0
C, Hương Khê: 23,5
0
C, Vinh:
23,9
0
C. Lượng mưa bình quân lớn: Quỳ Châu: 1.734 mm/năm, Con Cuông:
1.791 mm/năm, Hương Khê: 2.304 mm/năm. Tuy vậy trong vùng cũng tồn tại
một tâm khô là vùng Mường Xén với lượng mưa bình quân khoảng 700
mm/năm.
Một số công trình nghiên cứu làm mát gió Tây Nam khô nóng đã được
tiến hành và đề xuất việc đào các hồ nước, phá bớt núi đá trọc để tăng độ ẩm
cho gió. Một trong các biện pháp tăng độ ẩm mà TS. Nguyễn Việt Cường nêu ra
là phát triển lúa hè thu. Việc đưa vụ lúa này vào canh tác cách đây hơn 20 năm
đã tạo một cuộc cách mạng về khí hậu cho Nghệ An do cây lúa hè thu có hệ số
bốc hơi rất lớn, làm tăng độ ẩm không khí. Tuy nhiên, nên chọn giống lúa ngắn
ngày hơn để tránh nguy cơ gặp bão tháng 9. Các cách tăng độ ẩm khác là tăng
diện tích trồng cây công nghiệp, trồng rừng và làm thật nhiều hồ chứa nước,
nhất là trên các núi cao miền Tây Nam. Lượng nước bốc hơi từ các hồ này sẽ
được gió Lào đưa về xuôi và khi đó gió Lào sẽ bớt nóng. Có thể tận dụng các hồ
này để trữ nước mưa, nhất là lũ tiểu mãn để bù lượng nước bốc hơi trong tháng
6-7. Một số người cho rằng để giảm nhiệt độ có 2 cách: một là phá đi tất cả núi
đá trọc không có ý nghĩa gì về lịch sử, văn hóa hay quốc phòng vì chúng làm
tăng bức xạ nhiệt, làm gió Lào nóng thêm, diện tích trống sẽ xây dựng khu dân
cư, khu công nghiệp bằng vật liệu nhiệt, hoặc trồng cây, làm hồ chứa nước.
Diện tích núi đá trọc ở Nghệ An khá lớn, gần 30.000 ha. Cứ giảm được 100 m
chiều cao của núi thì hạ được 1 độ C và tăng 1,7% độ ẩm. Thứ hai là lắp bình
nước nóng thu nhiệt mặt trời ở các khách sạn, nóc nhà dân. Mỗi ống thu nhiệt

có thể hấp thụ 50% lượng nhiệt Mặt Trời chiếu xuống và bức xạ nhiệt xung
quanh.
Lượng mưa ở Bắc Trung Bộ có sự phân hoá rõ rệt, bị chi phối và quy định
bởi các yếu tố như địa hình, thời tiết.
Bắt đầu từ Bình - Trị - Thiên mùa mưa đến chậm, bắt đầu từ tháng 8 trở
đi. Mưa do nhiều nguyên nhân gây ra: khoảng tháng 8 - 9 là do dải hội tụ nhiệt
đới, tháng 10 - 11 là mưa địa hình, tháng 12 - 01 năm sau là mưa do front lạnh.
Trong các tháng trên lượng mưa khá lớn, các tháng 9, 10, 11, lượng mưa trung
bình tháng lên đến trên 600 - 700 mm, kéo dài hàng tuần lễ gây lũ lụt, ngập úng.
Khu Bình - Trị - Thiên mưa nhiều và mưa muộn, không có tháng khô mà chỉ có
25

×