Tải bản đầy đủ (.doc) (21 trang)

Đề Tài Chạy 800m

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (202.52 KB, 21 trang )

Cộng hoà xã hội chủ nghĩa việt nam
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
đề tài sáng kiến kinh nghiệm
I- sơ yếu lý lịch
- Họ và tên : Chu Thị Sen
- Sinh ngày : 22 - 09 - 1979
- Năm vào ngành : 10 - 2000
- Chức vụ : Giáo viên
- Đơn vị công tác : Trờng THCS Phú Sơn - Ba Vì - Hà Nội.
- Trình độ chuyên môn : Cao đẳng
- Hệ đào tạo : Chính quy
- Bộ môn giảng dạy : Thể dục
1
II. NỘI DUNG ĐỀ TÀI
1/ Tên đề tài
“Nghiên cứu ứng dụng các bài tập nhằm phát triển sức nhanh trong chạy
200m”.
2/ Lý do chọn đề tài
Thể dục Thể thao là một bộ phận không thể thiếu trong nền giáo dục xã hội
chủ nghĩa, nhằm đào tạo và xây dựng con người mới phát triển toàn diện. Cùng với
quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá thì TDTT còn phản ánh sự lớn mạnh của đất
nước, tạo ra sự ổn định chính trị, nâng cao cuộc sống tinh thần văn minh, tạo mối
quan hệ hợp tác hữu nghị giữa nước ta với các nước trong khu vực và trên thế giới.
Chính vì vậy Đảng và nhà nước ta rất coi trọng việc phát triển TDTT nhằm hướng
tới mục tiêu xây dựng nền TDTT phát triển tiến bộ có tính dân tộc và khoa học.
Giáo dục thể chất trong nhà trường là một mặt giáo dục quan trọng không thể
thiếu được trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo, góp phần thực hiện mục tiêu " Nâng
cao dân trí, bồi dưỡng nhân lực, đào tạo nhân tai " cho đất nước.
Giáo dục thể chất trong học đường thật sự có vị trí quan trọng trong việc đào
tạo thế hệ trẻ phát triển toàn diện hoàn thiện về nhân cách, trí tuệ về thể chất để phục
vụ công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, giữ vững và tăng cường an ninh quốc


phòng.
Để phong trào TDTT nói chung, TDTT nói riêng của đất nước phát triển
không thể coi nhẹ giáo dục thể chất trong trường học. Đó là nhân tố phát hiện, bồi
dưỡng và đóng góp các VĐV tài năng cho đất nước.
Muốn các phong trào TDTT phát triển mạnh cần có những chính sách quan
tâm tạo điều kiện hơn nữa cho giáo dục thể chất trường học phát triển.
Điền kinh là môn thể thao rất đa dạng và phong phú bao gồm các hoạt động tự
nhiên của con người: Đi bộ, chạy nhảy, ném đẩy và nhiều môn phối hợp, ở nước ta
môn điền kinh đã có lịch sử phát triển từ lâu đời, với các hình thức tập luyện đa
dạng đã thu hút đông đảo mọi tầng lớp, đối tượng quần chúng tham ra tập luyện và
thi đấu. Khi chạy tất cả các nhóm cơ cùng tham gia hoạt động nhưng chủ yếu là cơ
2
quan nội tạng. Việc gắng sức luân phiên với thả lỏng tích cực tạo điều kiện cho việc
phát triển các tố chất sức nhanh, mạnh, bền, sự mền dẻo, khéo léo và khả năng phối
hợp của con người. Môn chạy nói chung và chạy nhanh nói riêng là biện pháp tốt
nhất để rèn luyện nâng cao sức khoẻ, ngoài ra còn trang bị cho người tập những
phẩm chất đạo đức ý chí cũng như tăng cường vốn kỹ xảo vận động cơ bản quan
trọng trong cuộc sống.
Điền kinh giữ vai trò quan trọng trong nền giáo dục thể chất trong trường học
nói chung và trong các trường phổ thông trung học nói riêng, đặc biệt là trường
THCS Phú Sơn. Ngày nay phong trào TDTT nói chung và điền kinh nói riêng trong
chạy cự ly 200m đang được phát triển mạnh mẽ ở các trường cơ sở và ở các địa
phương.
Qua thực tế cho thấy trường THCS Phú Sơn được sự quan tâm của Ban giám
hiệu nhà trường, cùng các tổ chức trong nhà trường. Bộ môn thể dục đã xây dựng
được rất nhiều đội tuyển như: Cầu lông, Bóng đá, Đá cầu, Karate đặc biệt là đội
tuyển Điền kinh, đã đưa các phong trào của trường ngang tầm với các đoàn trường
khác và đã được xếp thứ hai trong toàn huyện. Trong đó môn chạy 200 được nhà
trường chọn làm nội dung mũi nhọn của đội tuyển điền kinh. Để đạt được kết quả
cao trong học tập cũng như hiệu quả cao trong thi đấu, đòi hỏi người tập phải có thể

lực tốt, thể lực chiếm một vị trí quan trọng trong cả quá trình thực hiện cự ly.
Mặc dù thành tích chạy cự ly 200m của các em trường THCS Phú Sơn đã đạt
được những thành tích đáng được ghi nhận nhưng vẫn còn kém so với các VĐV của
thành phố, thị xã. Điều này đang đặt ra cho nhà trường cùng các giáo viên TD, các
em học sinh nhiệm vụ hết sức nặng nề. Đó là làm sao tìm ra phương pháp hệ thống
các bài tập nâng cao thành tích của chạy 200m.
Theo các nhà nghiên cứu khoa học đi trước thì thành tích thể thao nói chung
và chạy 200m nói riêng cần các yếu tố như: trình độ chuyên môn, thể lực, kỹ thuật,
tâm lý, ý chí Tất cả các yếu tố đều có tác động qua lại nhưng quan trọng nhất vẫn
là cường độ cực đại (Tốc độ tối đa. Để đạt được điều đó người chạy phải tập với
những điều kiện tương tự như thi đấu, tập thay đổi tốc độ, tăng tốc độ. Muốn làm
3
được điều đó người chạy phải có cường độ cực đại tốt, để chạy hết cự ly với tốc độ
cao.
Từ thực tế cho thấy quá trình huấn luyện và thi đấu của các em. Vấn đề thể
lực của các em còn yếu, nhất là khả năng về chưa đạt hiệu quả như mong muốn.
Thực trạng này có rất nhiều nguyên nhân gây ra, trong đó đáng kể nhất là việc sử
dụng trong nhiều năm và cho đến nay một số bài tập không phù hợp với xu hướng
huấn luyện hiện đại, do các bài tập quá đơn điệu chỉ lặp đi lặp lại một bài tập. Ngoài
ra còn phải kể đến một số nguyên nhân khác như kinh phí huấn luyện còn khó khăn,
thời gian tập luyện và các điều kiện khác còn hạn chế.
Để công tác huấn luyện có hiệu quả hơn thì đòi hỏi phải có các phương pháp
huấn luyện tập luyện khoa học hiện đại, phù hợp với lứa tuổi, vì mỗi bài tập phù hợp
với từng đối tượng khác nhau, cho nên phải lựa chọn cho phù hợp để nâng cao và
phát triển tố chất sức bền tốc độ.
Xuất phát từ các yêu cầu nêu trên tôi mạnh dạn tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu ứng dụng các bài tập nhằm phát triển sức nhanh trong cự ly
200m cho nữ VĐV đội tuyển điền kinh trường THCS Phú Sơn – thành phố Hà Nội
3. Mục đích nghiên cứu
Lựa chọn những bài tập hiệu quả nhằm phát triển sức bền tốc độ cho nữ VĐV

chạy 200m của trường THCS Phú Sơn – TP Hà Nội đạt thành tích cao trong tập
luyện và thi đấu.
4. Phạm vi và thời gian nghiên cứu:
* Phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu :
Các bài tập nhằm nâng cao sức nhanh cho nữ VĐV chạy cự ly 200m trường
THCS Phú Sơn.
- Đối tượng thực nghiệm:
Các VĐV nữ chạy 200m đội tuyển điền kinh trường THCS Phú sơn
4
- Địa điểm nghiên cứu:
Trường THCS Phú Sơn
*Thời gian và các bước nghiên cứu.
Đề tài được chia ra làm 3 giai đoạn.
- Giai đoạn 1: Từ tháng 8/2009 đến tháng 10/2009, giai đoạn này giải quyết
các vấn đề sau:
+ Chọn đề tài nghiên cứu
+ Báo cáo thông qua đề cương
+ Chuẩn bị tài liệu, phương tiện, địa điểm nghiên cứu.
- Giai đoạn 2: Từ tháng 11/2009 đến tháng 1/2010, giai đoạn này giải quyết
vấn đề :
+ Giải quyết nhiệm vụ 1 .
- Giai đoạn 3: từ tháng 2/2010 đến hết tháng 4/2010, giai đoạn này giải
quyết các vấn đề.
+ Giải quyết nhiệm vụ 2
+ Điều chỉnh xử lý số liệu
+ Sửa chữa và hoàn tất đề tài.
+ Chuẩn bị báo cáo .
III. QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
1.CƠ SỞ LÝ LUẬN :

Như chúng ta đã biết khi thực hiện một hoạt động mạnh và căng thẳng nào đó
thì sau một khoảng thời gian con người sẽ cảm thấy mết mỏi: Sự mệt mỏi được biểu
hiện như sắc mặt căng thẳng, mồ hôi ra nhiều khi đó trong cơ thể diễn ra biến
đổi về sinh lý khá sâu sắc. Do vậy việc hoạt động trở lên khó khăn hơn, nhưng bằng
sự nỗ lực của ý chí, con người vẫn có thể tiếp tục duy trì hoạt động với cường độ
vận động cao người ta gọi là giai đoạn mệt mỏi có bù, sau đó mặc dù gắng sức như
cường độ vẫn giảm sút. Khi đó con người đã bị mệt mỏi thực sự được gọi là mệt mỏi
5
mất bù. Như vậy có thể hiểu mệt mỏi là sự giảm sút tạm thời khả năng vận động do
vận động gây lên. Sức bền là khả năng của con người chống lại mệt mỏi trong một
hoạt động nào đó, hoạt động vận động của con người rất phong phú và đa dạng.
Đặc điểm nổi bật của bài tập này là sự phát lực của hệ cơ là lớn nhất nghĩa là
cơ bắp phải có sức mạnh độ linh hoạt cao.
Như vậy trong chạy 200m yếu tố quan trọng quyết định đến thành tích là phát
triển tốc độ.
1.1. Cở sinh lý của sức nhanh trong chạy 200m nữ.
Chạy 200m Nữ là một hoạt động gồm cả quá trình ưa khí và yếm khí xảy ra
trong quá trình chạy.
Như chúng ta biết trong chạy 200m VĐV phải chạy rút đích ở những cự ly
cuối cùng. Vì vậy theo sinh lý học thể dục thể thao hoạt động sức nhanh trong thời
gian ngắn đòi hỏi tỷ lệ phần trăm về các quá trình trao đỏi chất yếm khí tương đối
cao. Trong sức bền thời gian ngắn phụ thuộc vào mức độ phát triển của cường độ và
thời gian, luôn luôn là thành tố chủ yếu của trình độ thể lực và có mối quan hệ chặt
chẽ với các tố chất là thời gian phản ứng, thời gian thực hiện động tác đơn lẻ, tần số
hoạt động.
VĐV chạy nhanh ở cự ly cuối cùng (100m và 200m) hoặc khi muốn vượt đối
phương là thuộc loại sức bền yếm khí. Vì vậy cường độ cực đại (tốc độ tối đa) là
phụ thuộc vào lượng dự trữ ATP và CP cũng như Glucozen trong gan và cơ bắp.
* Các phương pháp nâng cao khả năng và yếm khí:
Trước hết khả năng yếm khí là khẳ năng vận động của cơ thể trong điều kiện

dựa vào nguồn cung cấp năng lượng yếm khí, tạo những điều kiện thuận lợi cho việc
thực hiện những hoạt động yếm khí. Bởi vì quá trình trả nợ o xy diễn ra một phần
ngay trong lúc vận động, nếu khả năng yếm khí cao thì phần trả nợ oxy trong lúc
vận động cơ thể sẽ tăng lên .
Tuy nhiên nhiệm vụ chính ở đây là tăng cường khả năng giải phóng năng
lượng nhờ các phản ứng phân huỷ phốt phocreatin và phân huỷ gluco đồng thời
nâng cao khả năng chịu đựng trong trạng thái nợ ô xy ở mức độ cao.
6
- Các bài tập nhằm hoàn thiện cơ chế giải phóng năng lượng phân huỷ phốt
phocreatin có những đặc điểm sau:
Cường độ hoạt động gần mức tối đa hoặc thấp hơn một chút. Thời gian của
bài tập chỉ giới hạn từ ( 7 - 10 phút) vì sự phân hợp chất crreatin diễn ra rất ngắn từ
7 - 10 phút sau khi bắt đầu hoạt động.
Thời gian nghỉ giữa quãng 5 - 8 phút đó là thời gian để hồi phục phốt pho
creatin, sự phân huỷ hợp chất này tạo ra axits lắc tích nên tốc độ trả nợ ô xy diễn ra
khá nhanh, nhưng do dự trữ phót pho creatin trong cơ ít sau 3 - 4 lần lặp lại thì hoạt
động của cơ chế glucophân sẽ tăng còn cơ chế phốt pho creatin sẽ giảm đi.
Để khắc phục hiện tượng này người ta chia làm 3 nhóm bài tập, mỗi nhóm 3 -
4 lần lặp lại, thời gian nghỉ ngơi giữa các nhóm kéo dài 10 - 15 phút.
Hình thức nghỉ ngi tích cực.
Số lần lặp lại tuỳ thuộc vào trình độ tập luyện của VĐV sao cho phù hợp và
tốc độ không bị giảm.
- Để hoàn thiện được cơ chế gluco phân sử dụng các bài tập:
Cường độ bài tập 90 - 95% tốc độ tối đa ở cự ly tương ứng, được sử dụng sau
một số lần lặp lại. Chỉ số tốc độ tuyệt đối có thể giảm đi nhưng vẫn được coi là sấp
xỉ với tốc độ tối đa trong trạng thái hiện có lúc đó của cơ thể từ 2 giây đến 30 giây
(60 - 100m) khoảng cách nghỉ ngơi lên giảm dần sau mỗi lần lặp lại. Cơ sở thực
nghiệm, trong đó người ta nhận thấy cường độ a xít lắc tích của quá trình gluco phân
trong máu đạt mức cao không phải là trong thời gian làm việc mà là trong thời gian
nghỉ ngơi. Nợ dưỡng chiếm khoảng 95% nhu cầu oxi. Mục đích bài tập làm cho cả

cơ thể thích nghi trạng thái nợ ô xy thể hiện ở nồng độ axit lắc tích trong máu cao so
với khoảng cách nghỉ ngơi giảm dần.
1.2. Vai trò của vùng cường độ cực đại trong chạy 200m của nữ
a. Vai trò của vùng cường độ cực đại trong chạy 200m của nữ.
Vùng cường độ cực đại là một loại sức nhanh, do vậy nếu sức nhanh của
VĐV tốt có thể giúp cho VĐV tập luyện kỹ thuật trong chạy 200m được thực hiện
7
trong thời gian dài hơn, tốc độ cao hơn. Từ đó giúp VĐV có thể thực hiện tốt kỹ
thuật, mặt khác sức nhanh có thể giúp cho sự xuất hiện sự mệt mỏi chậm hơn, duy
trì và phát huy được tốc độ ở cuối cự ly, từ đó tạo ra thế rút đích một cách nhanh
nhất và có hiệu quả nhất. Vì vậy việc huấn luyện để nâng cao sức nhanh hay để đạt
được cường độ cực đại trong chạy 200m là rất cần thiết.
b. Những nhân tố ảnh hưởng tới tố chất sức nhanh trong chạy 200m .
- Tố chất sức nhanh của chạy 200m nữ có liên quan chặt chẽ với các tố chất
khác
- Những nhân tố ảnh hưởng sức nhanh ngoài yếu tố bẩm sinh di truyền của cơ
thể nhưng tỷ lệ giữa sợi cơ màu sáng với sơị cơ màu sẫm và loại hình thần kinh, còn
có các nhân tố ảnh hưởng khác như:
b.1. Đặc tính tâm lý của cá nhân:
Sự ham thích, động cơ tập luyện cũng như phẩm chất tâm lý khác của VĐV:
Tính tích cực chủ động, tính kiến trì ý chí nỗ lực trong đó VĐV nữ sớm xuất hiện
hơn VĐV nam đó là tình bạn tình yêu, nó vừa là nguồn động viên lớn vừa có ảnh
hưởng xấu và mất thời gian khi xuất hiện các mặt tiêu cực. Vì thế các hoạt động
diễn ra cũng có sự ảnh hưởng tiêu cực và ảnh hưởng lớn đến hoạt động của sức
nhanh.
b.2. Năng lực và chức năng trao đổi chất trong cơ thể của VĐV nữ kém
hơn VĐV nam:
Đó là nhân tố quan trọng chi phối tới sức nhanh của VĐV chạy 200m. Đặc
biệt là dự trữ các năng lượng của cơ thể VĐV cũng như năng lực huy động giải
phóng khi vận động, cũng là nhân tố ảnh hưởng lớn đến sức nhanh của VĐV nữ

chạy 200m.
b.3. Tính ổn định của các chức năng của cơ thể VĐV:
Tính ổn định của các chức năng trong cơ thể sẽ giúp cho hệ thống trong cơ thể
khi mệt mỏi phát triển, môi trường bên trong cơ thể phát sinh sự biến đổi nếu các
chức năng vẫn duy trì ở mức độ cần thiết sẽ có thể giúp cho năng lực sức bền tốc độ
duy trì ổn định.
8
1.3. Đặc điểm biến đổi sinh lý của nội dung chạy cự ly 200m nữ.
Đặc điểm nổi bật của bài tập của vùng cường độ cực đại (tối đa) trong chạy
200m về thời gian hoàn thành không quá 30 giây.
Đặc điểm nổi bật của bài tập là sự phát lực của hệ cơ là lớn nhất nghĩa là cơ
bắp phải có sức mạnh,độ linh hoạt cao .
Ở vùng cường độ này khả năng phân giải năng lượng là lớn nhất.
Tần số và độ sâu hô hấp hầu như không tăng do thời gian hoạt động quá ngắn,
các chỉ số về tuần hoàn và hô hấp được xác định rõ trong thời gian làm việc . Thông
khí phổi và khối lượng máu tuần hoàn chưa đạt tới mức cực đại , Thông khí phổi đạt
80 lít / phút. Tần số co bóp tim có thể đạt tới 180- 200 lần / phút. Huyết áp tối đa
tăng 180- 200mmHg. Huyết áp tối thiểu tăng lên 5-15mmHg hoặc không thay đổi.
Thể tích tâm thu tăng lên chút ít.
Nguyên nhân làm giảm khả năng hoạt động với cường độ cực đại là do cơ thể
VĐV không thể duy trì tần số động tác cao như vậy trong khoảng thời gian dài.
Năng lượng ATP và CP có trong cơ đảm bảo cung cấp cho hoạt động khoảng 8-10
giây. Khả năng linh hoạt của các trung tâm thần kinh và dư trữ trong cơ là yếu tố
chủ yếu quyết định khả năng hoạt động của nữ VĐV chạy 200m ở vùng cường độ
này.
Xuất phát từ những đặc điểm sinh lý nói trên , vấn đề cần quan tâm trong quá
trình huấn luyện là phải rèn cho nữ VĐV quen dần với điều kiện yếm khí, tập với
tốc độ cực đai hay cả cự ly.
1.4. Đặc điểm tâm sinh lý của VĐV nữ lứa tuổi trường THCS.
* Đặc điểm sinh lý .

Đối với nữ VĐV ở lứa tuổi THCS là thời kỳ VĐV đã bước vào tuổi thanh,
thiếu niên vì vậy về mặt sinh lý có những đặc điểm sau:
- Hệ xương khớp.
9
Lứa tuổi nữ THCS chiều cao phát triển mạnh ,các em nữ ở tuổi 12-15 lớn rất
nhanh. Xương phát triển theo chiều dài và tiếp tục cốt hóa, khung chậu , lồng ngực,
cột sống tiếp tục phát triển.
- Hệ cơ bắp.
Lứa tuổi THCS về hệ cơ kém phát triển nhưng tính đàn hồi cao nên có thể
thực hiện động tác ở biên độ lớn.
- Hệ thống thần kinh .
Lứa tuổi THCS hệ thần kinh của nữ phát triển khá tốt não bộ là 1 tổ chức
phát triển sớm nhất của cơ thể, trọnglượng não bộ đã đạt sấp xỉ trình độ người
trưởng thành các trung khu, nhất là trung khu ngôn ngữ, chữ viết đã phát triển tốt
nên khả năng phân tích tư duy trừu tượng, tư duy lôgíc đã được nâng cao rõ rệt. Tính
linh hoạt của quá trình thần kinh tương đối cao, nhưng vẫn còn độ khuyết tán tương
đối cao. Hiện tượng lan tỏa hưng phấn so với ức chế chức năng của hệ thần kinh
chịu ảnh hưởng hoạt động của tuyến nội tiết trong tuổi dậy thì.
- Đặc điểm hệ thống tim mạch.
Hệ thống hô hấp của HS Nữ THCS chưa ổn định do nhu cầu trao đổi chất
tăng cường nên tần số mạch đập của tim còn cao hơn người trưởng thành 5-6L/P
- Hệ hô hấp.
Hệ hô hấp ở lứa tuổi THCS chưa hoàn thiện song sự phục hồi rất cao.

* Tóm laị sự phát triển về sinh lý có thể cho phép vận đông viên hoàn thiện các nội
dung hoàn thiện
2.NHIỆM VỤ VÀPHƯƠNG PHÁP TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU .
a. Nhiệm vụ nghiên cứu.
Để giải quyết mục đích nghiên cứu trên, đề tài tiến hành giải quyết 2 nhiệm
vụ:

a1. Nhiệm vụ 1:
10
Đánh giá thực trạng sức nhanh trong chạy cự ly 200m của nữ vận động viên
đội tuyển điền kinh THCS Phú sơn
a.2. Nhiệm vụ 2.
Lựa chọn đánh giá hiệu quả ứng dụng của bài tập nhằm phát triển sức nhanh
trong chạy 200m cho nữ đội tuyển điền kinh trường THCS Phú Sơn – Ba vi -Hà
Nội .
b. Phương pháp nghiên cứu .
Để giải quyết nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, đề tài sử dụng các phương pháp
nghiên cứu sau:
b.1. Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu.
Phương pháp này được tôi sử dụng để tổng hợp tài liệu có liên quan đến vấn
đề cần nghiên cứu. Nhằm tìm hiểu và phát triển sức nhanh cho vận động viên trong
chạy 200m của trường THCS Phú Sơn .
Các tài liệu được tổng hợp phân tích trong đề tài này gồm các sách tạp chí lý
luận và phương pháp giảng dạy huấn luyện như: Lý luận và phương pháp giáo dục
thể dục thể thao, sinh lý học thể thao, sinh hoá học thể thao, tâm lý học thể thao.
Các sách thể dục dành cho giáo viên lớp 6,7,8,9; Giáo trình điền kinh trường
Đại Học TDTT Hà Nội.
b.2. Phương pháp phỏng vấn toạ đàm.
Phương pháp phỏng vấn là một phương pháp được sử dụng khá rộng rãi trong
nghiên cứu giảng dạy và huấn luyện thể thao. Trong đề tài này được sử dụng
phương pháp phỏng vấn một số thầy cô giáo giảng dạy môn thể dục có kinh nghiệm
ở trong và ngoài trường, các huấn luyện viên điền kinh giàu kinh nghiệm, có trình
độ, qua đó lựa chọn các bài tập nhằm phát triển sức bền tốc độ cho các em nữ đội
tuyển điền kinh trường THCS Phú Sơn .
b.3. Phương pháp quan sát sư phạm.
Phương pháp quan sát sư phạm được tiến hành bằng phiếu quan sát để khảo
sát về số lượng bài tập, lượng vận động của bài tập nhằm tìm hiểu thực trạng việc

11
tập luyện sức nhanh của nữ vận động viên đội tuyển điền kinh trường THCS phú
sơn
b.4. Phương pháp kiểm tra sư phạm .
Sử dụng phương pháp kiểm tra sư phạm để kiểm tra đánh giá trình độ sức
nhanh của VĐV trước và sau thực nghiệm trên 2 nhóm đối tượng.
b.5. Phương pháp thực nghiệm sư phạm.
Đề tài tiến hành thực nghiệm trên 10 VĐV nữ đội tuyển điền kinh trường
THCS Phú Sơn, chia thành 2 nhóm thực nghiệm.
Nhóm đối chứng ( nhóm 1 ) : 5 VĐV.
Nhóm thực nghiệm ( nhóm 2): 5 VĐV
Trước thực nghiệm đề tài kiểm tra thành tích chạy 200m và 100m để đánh giá
trình độ thể lực của các VĐV.
Thời gian thực nghiệm là 6 tuần, số buổi tập luyện là 3 buổi/tuần vào thứ 3,
thứ 5, thứ 7. Mỗi buổi tập là 120 phút.
Mục đích thực nghiệm các bài tập mà chúng tôi lựa chọn nhằm nâng cao
cường độ cực đại cho các VĐV nữ đội tuyển điền kinh.
Cách đánh giá: Sau thực nghiệm, đề tài tiến hành kiểm tra kết quả thực
nghiậm bằng 3 test: chạy 100m, chạy 200m, bật xa tại chỗ 10 bước.
* Kế hoạch huấn luyện tuần.
Các buổi tập được ứng dụng vào các ngày thứ 3, thứ 5, thứ 7, kế hoạch tuần
được thể hiện như sau:
Thứ 3:
- Phần chuẩn bị: + Khởi động nhẹ nhàng chạy 2 x 200m .
+ Các động tác khởi động chung: 6 động tác x 4 lần x 8 nhịp
+ Các động tác xoay các khớp, ép dây chằng.
+ Khời động chuyên môn: chạy bước nhỏ, nâng cao đùi,
chạy đạp sau, chạy tăng tốc độ 3 x 30m .
12
- Phần cơ bản: + Bật xa tại chỗ ( 1 bước, 3 bước, 5 bước, 7 bước, 10 bước ) x

2 tổ, hoặc bật ếch 3 x 30m nghỉ giữa 3

– 5

.
+ Chạy đạp sau (60m nhanh + 60 chậm) x 6 lần hoặc chạy
biến tốc ( 100m nhanh + 100 chậm) x 4 lần x 2 tổ, chạy
nhanh đạt 80 - 85% tốc độ tối đa .
- Phần kết thúc : Chạy nhẹ nhàng thả lỏng 5 - 7 phút .
Mục đích: nhằm phát triển sức mạnh bền.
Thứ 5:
- Phần chuẩn bị: + Khởi động nhẹ nhàng chạy 2 x 400m .
+ Các động tác khởi động chung: 6 động tác x 4 lần x 8 nhịp
+ Các động tác xoay ép dẻo các khớp.
+ Khời động chuyên môn: chạy bước nhỏ, nâng cao đùi,
chạy đạp sau, chạy tăng tốc độ 3 x 30m .
- Phần cơ bản : + Chạy 3 lần x 30 m tốc độ cao
+ Chạy 3 lần x 60m tốc độ cao
+ Chạy 3 lần x 100m tốc độ cao
Yêu cầu chạy 95 - 100% sức.
Nghỉ giữa mỗi lần 5 - 7 phút
Nghỉ giữa các tổ 10 - 12 phút
Mục đích: nhằm phát triển tốc độ.
- Phần kết thúc: Chạy nhẹ nhàng thả lỏng .
Thứ 7:
- Phần chuẩn bị : + Chạy nhẹ nhàng 2 x 400m
+ Các động tác khởi động tay không 6 động átc x 4 lần x 8 nhịp
+ Khởi động chuyên môn: chơi trò chơi với bóng 15 - 20 phút .
- Phần cơ bản: + Chạy biến tốc ( 100m nhanh + 100m chậm) x 3 lần x 2 tổ
Yêu cầu chạy nhanh đạt 75 - 80% sức.

13
Mục đích: nhằm nâng cao sức bền chung.
- Phần kết thúc: Chạy thả lỏng nhẹ nhàng.
Trên cơ sở huấn luyện như trên, ở các tuần sau giảm dần về số lượng vận
động, tăng dần cường độ vận động.
b.6. Phương pháp toán học thống kê.
Chúng tôi sử dụng phương pháp toán học thống kê được trình bày trong
cuốn " Đo lường thể thao" của Dương Ngiệp Chí. Các chỉ số mà chúng tôi quan tâm.
* Giá trị trung bình :
* Phương sai:
* Độ lệch chuẩn:
* So sánh 2 số trung bình với n< 30
IV. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU .
1. Xác định trình độ sức nhanh của các VĐV nữ đổi tuyển điền kinh trường
Để đánh giá trình độ thể lực nói chung, trình độ sức bền tốc độ nói riêng của
các VĐV nữ đội tuyển điền kinh, chúng tôi sử dụng các test: chạy 100m tôc độ cao,
chạy 200m, bật xa tại chỗ 5 bước, kết quả cụ thể được tại bảng 1.
Bảng 1. Kết quả đánh giá sức bền tốc độ của các nữ VĐV trường
STT Nội dung Kết quả (n=5)
Trung bình Đánh giá
1 Chạy 100m tốc độ cao 15

‘’ Yếu
2 Chạy 200m 32 ‘’ Trung bình yếu
3 Bật xa tại chỗ 5 bước 8m Trung bình
Từ kết quả bàng 1 chúng tôi cho rằng sức bền tốc độ của các VĐV nữ đội
tuyển điền kinh của trường THCS Phú Sơn còn ở mức khá khiêm tốn, các chỉ tiêu so
với trình độ thể lực chung của người Việt Nam cùng lứa tuổi thì còn ở mức độ thấp.
Thực tiễn này chứng tỏ cần phải có các bài tập phù hợp nhằm nâng cao và phát triển
sức bền tốc độ.

14
2. Lựa chọn các bài tập nâng cao và phát triển sức nhanh vùng cường độ cực
đại cho nữ VĐV chạy 200m đội tuyển điền kinh trường .
Qua các phân tích tổng hợp cơ sở lý luận và thực tiễn giáo dục để lựa chọn
các bài tập, chúng tôi xây dựng các bài tập phải đáp ứng được những yêu cầu sau:
- Bài tập phải phù hợp với đặc điểm đối tượng.
- Bài tập phải phù hợp với cở khoa học bảo đảm về phương pháp và nguyên
tắc huấn luyện.
- Bài tập phải dựa vào đặc điểm các môn thể thao.
- Bài tập có đa số ý kiến giáo viên ủng hộ
* Các bài tập:
Bài tập 1: Chạy biến tốc .
( 100m nhanh + 100m chậm) x 4 lần x 2 đến 3 tổ.
Hoặc ( 200m nhanh + 200m chậm) x 3 lần x 2 tổ.
Yêu cầu:
Chạy nhanh tốc độ 75% - 85% tốc độ tối đa, đoạn chạy nhanh dài hơn đoạn
chạy chậm về bước chạy, nâng trọng tâm cơ thể, hít thở sâu.
Thời gian nghỉ giữa quãng các tổ 4 - 5 phút.
Nghỉ ngơi tích cực nhằm nâng cao khả năng thích nghi đối với các cơ quan
trong cơ thể, đối với sự thay đổi lượng vận động, đặc biệt giáo dục khả năng ưa khí
của VĐV.
Bài tập 2: Các bài tập chạy lặp lại các đoạn từ (60 - 100m) x2 - 3 lần x 2 - 3 tổ.
Yêu cầu: Tốc độ chạy đạt 90 - 95% tốc độ tối đa.
Thời gian nghỉ giữa các tổ đủ để tần số mạch trở về mức cơ sở (120-130
lần/phút)
Thời gian nghỉ giữa các bài tập lặp lại theo hình thức giảm dần
Mục đích: Nhằm nâng cao khả năng yếm khí glucô phân
15
Bài tập 3: Chạy lặp lại các đoạn từ 30m-> 100m x 3 - 4 lần x 2 x 3 tổ
Yêu cầu: Tốc độ đạt 98 - 100% tốc độ tối đa

Thời gian nghỉ giữa các tổ 8 - 10 phút
Nghỉ ngơi: hình thức nghỉ ngơi tích cực
Mục đích : Nhằm nâng cao khả năng yếm khí (phót pho creatin)
Bài tập 4: Các bài tập bật nhảy gồm:
- Bật xa tại chỗ 1 - 10 bước.
- nhảy dây 10s- 15s
- Hoặc ( lò cò) bật đổi chân 3 - 4 lần x 40 - 60m
Mục đích : nâng cao sức mạnh , phản ứng nhanh.
Bài tập 5: Các bài tập hỗn hợp (chạy cự ly giảm dần, tăng dần).
Yêu cầu: - Chạy theo tốc độ tuỳ vào quy định với từng loại.
Chạy 40m-60m-80m-100m x 2 -3 tổ.
Hoặc 100m-80m- 60m- 40m x2- 3 tổ.
- Thời gian nghỉ giữa các lần chạy 3 - 4 phút
- Thời gian nghỉ giữa các tổ 5 -7 phút.
3. Đánh giá sử dụng hiệu quả các bài tập được lựa chọn phát triển sức nhanh .
Đánh giá sử dụng hiệu quả các bài tập nhằm giáo dục sức bền tốc độ thông
qua các bài tập, chúng tôi sử dụng 10 học sinh phổ thông chia làm 2 nhóm: Nhóm
thực nghiệm, nhóm đối chiếu. Trong đó nhóm đối chiếu tập luyện bình thường theo
giáo viên giảng dạy, nhóm thực nghiệm tập luyện theo các bà tập đã lựa chọn.
Các chỉ số năng lực sức bền tốc độ thông qua các test kiểm tra tương đối
đồng đều dựa trên các chỉ số sau:
- Bật xa tại chỗ 5 bước ( tính bằng m)
- Chạy 100m tốc độ cao (tính bằng "s")
- Chạy 200m (tính bằng “s”)
16
Để làm rõ sự khác biệt về sự phát triển thành tích của 2 nhóm ở các nội dung
thực nghiệm, chúng tôi dùng công thức toán thống kê để tính toán.
Trước khi bước vào thực nghiệm chúng tôi tiến hành ổn định kiểm tra thành
tích ban đầu ( bằng các test) cả 2 nhóm đều thu được kết quả tương đương nhau, kết
quả được trình bày tại bảng 2

Bảng 2 : Kết quả thực nghiệm .
TT
test
Thành tích bật xa
tại chỗ 5 bước (xa)
Chạy 100m Chạy 200m
Đối
chiếu
(n=5)
Thực
nghiệm
(n=5)
Đối
chiếu
(n=5)
Thực
nghiệm
(n=5)
Đối
chiếu
(n=5)
Thực
nghiệm
(n=5)
1 x 8,22 8.44 15,1 15,022 32,1 3,072
2
δ
0,263 0,263 0,079 0,019 0,079 0,019
3 T/ tính 1,76 2,143 2,143
4 T/ bảng 2,571

Nhìn vào bảng 2. ta thấy T /tính < T bảng nên sự khác nhau về thành tích
giữa nhóm đối chiếu và nhóm thực nghiệm là không có ý nghĩa ở ngưỡng xác suất
P<5% .
* Sau khi thực nghiệm chúng tôi kiểm tra thành tích tại tuần 6 .
Buổi thứ nhất:
Sau khi khởi động chung và chuyên môn như phần khởi động ở tuần thứ 5
và thứ 6. Chúng tôi tiến hành kiểm tra thành tích chạy 100m tốc độ cao để so sánh
với nhóm đối chiếu .
Buổi thứ hai:
Sau khi khởi động chung và chuyên môn như buổi thứ nhất. Tôi tiến hành
kiểm tra thành tích tại chỗ bật xa 5 bước để so sánh với thành tích của nhóm đối
chiếu.
Buổi thứ ba:
Sau phần khởi động chúng tôi tiến hành thực nghiệm để so sánh thành tích
chạy 200m với nhóm đố chiếu.
17
Kết quả các thành tích chạy 100m, tại chỗ bật xa 5 bước, chạy 200m được
thể hiện trên bảng 2
Bảng 3. kết quả sau thực nghiệm
T
T
test
Thành tích bật xa
tại chỗ 5 bước
Thành tích chạy 100m Thành tích chạy
200m
Đối
chiếu
Thực
nghiệm

Đối chiếu Thực nghiệm Đối
chiếu
Thực
nghiệm
1 x 8,37 8,72 14,85 14,48 31 28
2
δ
0,1 0,29 0,111 0,115 0,07 0,12
3 T/tính 3,22 5,15 2,72
4 T/bảng 2,571
Sau khi thực nghiệm ta thấy t/tính > t/bảng nêm sự khác nhau về thành tích
giữa nhóm đối chiếu và nhóm thực nghiệm thực sự có ý nghĩa ở ngưỡng xác suất
P<5% .
Qua những bài tập ứng dụng, lớp thực nghiệm đạt thành tích cao hơn lớp không
thực nghiệm
* Dưới đây là danh sách đã đạt giải cấp huyện mà tôi đã bồi dưỡng trong thời gian
thực hiện đề tài 2009- 2010 .
1. Phùng Thị tuyết Trinh- Chạy 100m (giải nhì)
2. Chu Thị Thoa – Chạy 200m ( giải nhất)
3. Trương Thị Thùy Linh- Chạy 100m ( giải nhì)
V. KẾT KUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. KẾT LUẬN:
18
Sức nhanh là yếu tố quan trọng đến thành tích chạy cự ly 200m. Vì vậy
trong công tác huấn luyện nói chung, trong huấn luyện cho VĐV nữ chạy 200m đội
tuyển điền kinh trường phải quan tâm đến việc nâng cao vùng cường độ cực đại .
Để nâng cao sức nhanh cần phải sử dụng nhiều dạng bài tập khác nhau. Các
bài tập được lựa chọn, sử dụng trong đề tài phần nào khẳng định được giá trị của nó.
Kết quả đề tài đã nghiên cứu và lựa chọn 5bài tập nâng cao vùng cường độ
cực đại (tốc độ tối đa ) trong chạy 200m cho nữ VĐV đội tuyển điền kinh trường

* Các bài tập là:
BÀI TẬP 1: Chạy biến tốc .
Bài tập 2: Các bài tập chạy lặp lại các đoạn từ (60 - 100m) x3- 5lần x 2 - 3 tổ.
BÀI TẬP 3: Chạy lặp lại các đoạn từ (30m - 100m) x 3 - 4 lần x 2 - 3 tổ .
BÀI TẬP 4: Các bài tập bật nhảy .
BÀI TẬP 5: Các bài tập hỗn hợp ( chạy với cự ly giảm dần) .
2. KIẾN NGHỊ:
Các kết quả nghiên cứu trên chúng tôi hy vọng rằng các bài tập đã lựa chọn
sẽ đóng góp một phần nào trong chương trình huấn luyện nội dung chạy nhanh nói
chung, đặc biệt là nội dung chạy cự ly 200m cho nữ VĐV đội tuyển điền kinh
trường nói riêng.
Do điều kiện vật chất, sân bãi, dụng cụ ở trường còn nhiều thiếu thốn, các
em VĐV lựa chọn vào đội tuyển còn bị chi phối bởi thời gian cho học văn hoá nên
thời gian tập luyện còn hạn hẹp ( Chỉ có thể thực hiện 3 buổi /tuần). Do vậy độ
chính xác trong thực nghiệm chưa cao, đề nghị các đồng nghiệp tiếp tục tiến hành
thực nghiệm để nâng cao gía trị khoa học của các bài tập cũng như kế hoạch huấn
luyện mà đề tài đã lựa chọn.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
19
1: Lưu Quang Hiệp, Phạm Thị Uyên (1995), sinh lý học TDTT, NXB TDTT
Hà Nội.
2 Lê Thanh (2004) " Giáo trình phương pháp thống kê trong thể dục thể
thao". NXB TDTT Hà Nội .
3: Phạm Ngọc Viễn, Lê Văn Xem, Nguyễn Thanh Nữ (1991) " Tâm lý học
TDTT: NXB TDTT Hà Nội.
4: Trịnh Hùng Thanh (1988) " Sinh cơ và huấn luyện thể thao" NXB TDTT
Hà Nội.
5: Phạm Khắc Học cùng các cộng sự (2004) " Giáo trình điền kinh " trường
Đại học sư phạm TDTT Hà Tây, NXB TDTT Hà Nội.
6: Nguyễn Mậu Loan, Hoàng Thị Đông (2001) " Giáo trình lý luận và

phương pháp giáo dục thể chất , NXB TDTT
7: Sách Giáo Viên Thể Dục Lớp 10, 11, 12.
Phú Sơn, ngày 30 tháng 04 năm 2010
Người thưc hiện
Chu Thi Sen

20
ý kiến nhận xét đánh giá và xếp loại
của hội đồng khoa học cơ sở









Ngày tháng năm 2010
Chủ tịch Hội đồng
đánh giá và xếp loại của hội đồng khoa học
Ngành giáo dục đào tạo huyện










Ngày tháng năm 2010
Chủ tịch Hội đồng
21

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×