Đồ
án
công
nghệ
II GVHD:
Nguyễn
Thị
Lan
SVTH:
Lê
Thị
Thảo
Vi Trang
1 Thiết
kế
nhà
máy
sữa
MỞ
ĐẦU
Sữa
là
một
loại
thực
phẩm
có
giá
trị
dinh
dưỡng
cao.
Sau
sữa
mẹ,
sữa
bò
có
đầy
đủ
các
chất
dinh
dưỡng
như
protein,
glucid,
lipid,
chất
khoáng,
vitamin,…
với
một
tỉ
lệ
thích
hợp,
đáp
ứng
đầy
đủ
nhu
cầu
dinh
dưỡng
của
con
người.
Ngày
nay,
công
nghệ
chế
biến
sữa
đã
phát
triển
mạnh
mẽ,
cho
ra
đời
những
sản
phẩm
sữa
rất
đa
dạng.
Từ
nguyên
liệu
sữa
người
ta
có
thể
sản
xuất
ra
hàng
loạt
các
thức
uống
như
sữa
tiệt
trùng,
sữa
bột,
sữa
cô
đặc,
fomat…và
cũng
là
nguyên
liệu
cho
một
số
ngành
sản
xuất
bánh,
kẹo,
….
Nước
ta
có
vị
trí
địa
lý
thuận
lợi,
khí
hậu
nhiệt
đới
gió
mùa.
Đây
là
những
điều
kiện
rất
tốt
cho
việc
chăn
nuôi
gia
súc
mà
đặc
biệt
là
chăn
nuôi
bò
sữa.
Về
mặt
thị trường,
các
sản
phẩm
sữa
trên
thị
trường
Việt
Nam
hiện
nay
là
rất
đa
dạng,
nhu
cầu tiêu
dùng
trong
nhân
dân
ngày
càng
cao.
Tuy
nhiên,
ngành
chế
biến
sữa
nước
ta
còn non
trẻ,
việc
chăn
nuôi
chưa
đồng
bộ,
sản
lượng
sữa
chế
biến
trong
nước
đi
từ
sữa
tươi chưa
nhiều.
Trong
khi
đó,
nhu
cầu
thị
trường
ngày
càng
cao,
các
sản
phẩm
sữa
ngoại nhập
đang
chiếm
một
thị
phần
lớn.
Từ
thực
tế
trên,
Nhà
Nước
và
các
ngành
liên
quan cần
có
sự
đầu
tư
thích
đáng
để
phát
triển
tiềm
năng
từ
công
nghiệp
sữa.
Trong
giới
hạn
của
đề
tài,
em
chỉ
thiết
kế
nhà
máy
sản
xuất
sữa
cô
đặc
có đường
hiện
đại
đi
từ
nguyên
liệu
sữa
tươi.
Sữa
cô
đặc
có
đường
là
một
trong
những
sản phẩm
ra
đời
từ
rất
sớm
trong
ngành
chế
biến
sữa.
Do
có
hàm
lượng
đường
cao
nên
dễ bảo
quản,
dễ
vận
chuyển,
là
một
nguồn
dinh
dưỡng
thuận
tiện,
đồng
thời
đây
cũng
là
một
trong
những
nguyên
liệu
cho
một
số
ngành
khác.
SVTH:
Lê
Thị
Thảo
Vi Trang
2 Thiết
kế
nhà
máy
sữa
Đồ
án
công
nghệ
II GVHD:
Nguyễn
Thị
Lan
Chương
I.
GIỚI
THIỆU
VỀ
NGUYÊN
LIỆU
1.1
Nguyên
liệu
sản
xuất
chính
&
phụ:
1.1.1
Nguyên
liệu
chính:
Nguyên
liệu
chính
của
nhà
máy
đi
từ
sữa
bò
tươi.
Sữa
là
một
chất
lỏng
sinh
lý
được
tiết
ra
từ
tuyến
vú
của
bò.
Yêu
cầu
về
sữa
nguyên
liệu
trong
sản
xuất
sữa
cô
đặc:
-
Sữa
sử
dụng
trong
sản
xuất
sữa
cô
đặc
phải
đạt
các
chỉ
tiêu
về
cảm
quan,
hoá
lý
và
vi
sinh
tương
tự
như
trong
công
nghệ
sản
xuất
các
sản
phẩm
khác
từ
sữa.
-
Hàm
lượng
các
tế
bào
sinh
dưỡng
chịu
nhiệt
và
các
bào
tử
vi
khuẩn
trong
nguyên
liệu
càng
thấp
càng
tốt.
Quá
trình
cô
đặc
sữa
thường
được
thực
hiện
trong
điều
kiện
chân
không
ở nhiệt
độ
65÷70
0
C.
Trong
khoảng
nhiệt
độ
này,
các
tế
bào
VSV
chịu
nhiệt
không
bị
tiêu diệt,
chúng
có
thể
vẫn
tiếp
tục
trao
đổi
chất
với
môi
trường.
Hơn
nữa,
đây
là
khoảng nhiệt
độ
lý
tưởng
cho
sự
nảy
mầm
của
các
tế
bào
vi
khuẩn.
-
Sự
ổn
định
của
các
protein
sữa
với
tác
nhân
nhiệt
càng
bền
càng
tốt.
Trong
quá
trình
cô
đặc
bốc
hơi,
nhiệt
độ
có
thể
làm
biến
tính
protein
sữa,
ta
cần
hạn
chế
hiện
tượng
này.
Sự
ổn
định
của
phân
tử
protein
đối
với
tác
nhân
nhiệt
phụ
thuộc
vào
giá
trị
pH,
tỷ
lệ
hàm
lượng
các
muối
có
trong
sữa
cũng
như
thành
phần
thức
ăn
của
động
vật
và
chu
kỳ
tiết
sữa.
1.1.2
Đường
saccharose
(C
12
H
22
O
11
)
Saccharose
là
disaccharide
do
hai
phân
tử
glucose
và
fructose
liên
kết
với
nhau,
tách
bỏ
đi
một
phân
tử
nước.
Saccharose
được
bổ
sung
vào
trong
sản
phẩm
sữa
đặc
có
đường
nhằm
mục đích
tăng
độ
ngọt,
giá
trị
dinh
dưỡng
và
giá
trị
áp
lực
thẩm
thấu
bên
trong
sản
phẩm. Nhờ
đó,
sản
phẩm
sữa
đặc
có
đường
không
cần
qua
quá
trình
tiệt
trùng
nhưng
vẫn
có
SVTH:
Lê
Thị
Thảo
Vi Trang
3 Thiết
kế
nhà
máy
sữa
Đồ
án
công
nghệ
II GVHD:
Nguyễn
Thị
Lan
thể
bảo
quản
được
trong
thời
gian
dài.
SVTH:
Lê
Thị
Thảo
Vi Trang
4 Thiết
kế
nhà
máy
sữa
Đồ
án
công
nghệ
II GVHD:
Nguyễn
Thị
Lan
Hiện
nay,
các
nhà
sản
xuất
sử
dụng
đường
tinh
luyện
(Refined
extra
–
Re)
trong
sản
xuất
sữa
đặc
có
đường.
Dưới
đây
là
ví
dụ
về
mức
giá
trị
cho
các
chỉ
tiêu
hoá
lý
của
đường
saccharose:
-
Độ
ẩm:
không
lớn
hơn
0.05%
-
Hàm
lượng
saccharose:
không
nhỏ
hơn
99.8%
chất
khô
-
Hàm
lượng
tro:
không
lớn
hơn
0.03%
-
Độ
màu:
không
lớn
hơn
30
0
ICUMSA
1.1.3
Đường
lactose
Thường
được
sử
dụng
dưới
dạng
mầm
tinh
thể
trong
qui
trình
sản
xuất
sữa
đặc
có
đường.
Bổ
sung
lactose
vào
để
điều
khiển
quá
trình
kết
tinh
lactose
sao
cho
kích
thước
tinh
thể
đạt
được
giá
trị
theo
yêu
cầu.
Trước
khi
sử
dụng,
đường
lactose
được
sấy
khô
và
nghiền
nhỏ
với
kích
thước
vài
µm.
Ngoài
ra,
có
thể
sử
dụng
một
phần
sữa
cô
đặc
có
chứa
tinh
thể
lactose
mịn
của
mẻ
sản
xuất
trước
để
gây
mầm
kết
tinh
cho
mẻ
sau.
1.1.4
Các
phụ
gia:
Để
hạn
chế
hiện
tượng
đông
tụ
protein
dưới
tác
dụng
của
nhiệt
độ,
các
nhà
sản
xuất
thường
bổ
sung
muối
disodium
phosphate,
trisodium
phosphate
hoặc
sodium
citrate
vào
sữa.
Mục
đích
chính
là
làm
cân
bằng
trở
lại
hàm
lượng
các
cation
và
anion
có
trong
sữa.
Để
ổn
định
cấu
trúc
sản
phẩm,
tránh
hiện
tượng
tách
béo,
tách
muối
trong
quá
trình
bảo
quản,
người
ta
sử
dụng
các
chất
ổn
định
khác
nhau
như
lecithine(chất
tạo nhũ),
carraghenan
(chất
tạo
độ
nhớt)…
Để
tăng
giá
trị
dinh
dưỡng,
người
ta
bổ
sung
vào
sữa
cô
đặc
các
loại
vitamin
khác
nhau
như
vitamin
tan
trong
chất
béo
(A,
D),
vitamin
tan
trong
nước
(nhóm
B)…
1.2 Giớ
i
thiệu về nguyên
li
ệu sữa tươi:
1.2.1 Một số tính chất vật lý của sữa bò
SVTH:
Lê
Thị
Thảo
Vi Trang
5 Thiết
kế
nhà
máy
sữa
Đồ
án
công
nghệ
II GVHD:
Nguyễn
Thị
Lan
Mật
độ
quang
ở
15
0
C 1.030
-
1.034
Tỷ
nhiệt 0.93
Điểm
đông -0.55
0
C
pH 6.5
–
6.6
Độ
axit
được
tính
bằng
độ
Dornic 16
–
18
0
D
(decigam
axit
lactic/lit
sữa)
Chỉ
số
khúc
xạ
ở
20
0
C 1.35
1.2.2
Thành
phần
hoá
học
của
sữa
bò
1.
Đường
lactose
Đường
lactose
trong
sữa
có
hàm
lượng
trung
bình
50g/l
và
tồn
tại
dưới
hai
dạng
∀-
và
∃-lactoza.
Khi
bị
thuỷ
phân
lactoza
cho
ra
một
phân
tử
đường
glucoza
và
một
phân
tử
đường
galactoza
theo
phương
trình
tổng
quát:
C
12
H
22
O
11
+
H
2
O
→
C
6
H
12
O
6
+ C
6
H
12
O
6
Lactoza Glucoza Galactoza
Trong
sữa,
đường
lactoza
luôn
ở
trạng
thái
hoà
tan.
Những
đặc
điểm
về
khả năng
hoà
tan
và
kết
tinh
của
nó
rất
quan
trọng
cho
phép
áp
dụng
trong
công
nghiệp
chế biến
sữa
cô
đặc
có
đường.
Cơ
chế
của
sự
kết
tinh
đường
lactoza
có
ích
lớn
trong
công
nghiệp
sữa
cô
đặc
có
đường.
Đường
lactoza
là
một
gluxit
ít
hoà
tan
hơn
đường
saccharoza
là
đường
được
sử
dụng
để
bổ
sung
vào
trong
sữa
cô
đặc.
Khi
người
ta
làm
lạnh
sản
phẩm
này,
đường
lactoza
ban
đầu
sẽ
ở
trạng
thái
dung
dịch
quá
bão
hoà
rồi
sau
đó
chúng
kết
tinh.
Sự
kết
tinh
đường
này
ảnh
hưởng
đến
chất
lượng
của
sữa
cô
đặc.
Nếu
xảy
ra
sự
hình
thành
các
tinh
thể
lớn,
sản
phẩm
có
cấu
trúc
như
dạng
cát
và
không
thích
hợp
(dân
gian
gọi
là
“sạn
đường”).
Ngược
lại,
nếu
sự
kết
tinh
đường
lactoza
xảy
ra
dưới
dạng
hình
thành
các
tinh
thể
nhỏ
(kích
thước
hạt
kết
tinh
<
0.01mm),
sữa
cô
đặc
tồn
tại
dưới
một
cấu
SVTH:
Lê
Thị
Thảo
Vi Trang
6 Thiết
kế
nhà
máy
sữa
Đồ
án
công
nghệ
II GVHD:
Nguyễn
Thị
Lan
trúc
và
một
độ
bền
chắc
mong
muốn.
Điều
kiện
này
được
thực
hiện
trong
quá
trình
tạo
mầm
tinh
thể.
Với
hiệu
quả
này,
cần
phải
giữ
sữa
cô
đặc
có
đường
trong
trạng
thái
quá
bão
hoà
thích
hợp
và
khơi
mào
sự
kết
tinh
nhờ
bột
sữa
hoặc
mầm
kết
tinh
nhỏ
của đường
lactoza.
Đường
lactoza
của
sữa
rất
nhạy
cảm
với
nhiệt.
Giữa
110-130
0
C
xảy
ra
dạng
mất
nước
của
tinh
thể
đường.
Trên
150
0
C,
người
ta
nhận
được
màu
vàng
và
ở
170
0
C
màu
nâu
đậm
hình
thành
bởi
quá
trình
caramen
hoá.
Tuy
nhiên
ở
trong
sữa,
người
ta
nhận
thấy
rằng
sự
xuất
hiện
màu
vàng
xảy
ra
ở
những
nhiệt
độ
không
cao
lắm
(<130
0
C). Ngoài
ra
các
sản
phẩm
sinh
ra
do
sự
caramen
hoá
đường
lactoza,
cũng
còn
phải
kể
đến phản
ứng
của
đường
với
các
chất
chứa
nitơ
kéo
theo
sự
xuất
hiện
các
thành
phần
có màu
nâu
được
gọi
là
melanoidin.
2.
Các
hợp
chất
có
chứa
nitơ
Protein
của
sữa
do
các
acid
amin
trùng
ngưng
với
nhau
tạo
nên
.
Vì
thế,
khi
protein
chịu
tác
dụng
của
enzym
proteaza
tạo
thành
đầu
tiên
là
các
peptit
và
cuối
cùng
là
các
acid
amin
.
Các
Acid
amin
chủ
yếu
có
mặt
trong
sữa
:
glyxin
2,
7%
(tính
theo
sản
phẩm khô)/lít
sữa,
alanin
3,
0%,
valin
7,
2%,
lơxin
9,
2%,
izolơxin
6,
1%,
prolin
11,
3%, phenylamin
5,
0%,
cystein
0,
34%,
methionin
2,
8%,
triptophan
1,
7%,
arginin4,
1%, histidin
3,
1%,
lysin
8,
2%,
acidaspartic
7,
1%,
acid
glutamic
22,
4%,
serin
6,
3%, treonin
4,
9%,
tyrosin
6,
3%
.
Các
chất
chứa
nitơ
trong
một
lít
sữa
bao
gồm
:
protit
32-35g
và
các
chất
chứa
nitơ
phi
protit
0,
8-1,
2g
.
Trong
protit
gồm
có
hai
thành
phần
:
proteit
và
acid
amin
.
Trong
proteit
có
:
Cazein
toàn
phần
26-29g
α
-lactobumin
0,
8
-
1,
5g
β
-lactoglobulin
2,
5
-
4g
Imunoglobulin
0,
5
-
0,
8g
SVTH:
Lê
Thị
Thảo
Vi Trang
7 Thiết
kế
nhà
máy
sữa
Đồ
án
công
nghệ
II GVHD:
Nguyễn
Thị
Lan
Proteoze-pepton
0,
8
-
1,
5g
Một
số
các
chất
chỉ
có
vết.
Thành
phần
quan
trọng
nhất
của
các
chất
chứa
nitơ
là
cazein
hay
có
thể
nói
cazein
là
thành
tố
quan
trọng
nhất
của
protit
có
trong
sữa.
Dưới
kính
hiển
vi
điện
tử,
cazein
là
các
hạt
hình
cầu
có
đường
kính
thay
đổi
từ
40-200
μm.
Cazein
kết
tủa
dưới
dạng
các
hạt
mixen
lớn
nhờ
quá
trình
acid
hóa
sữa
đến
pH=4,
6
(điểm
đẳng
điện
của
cazein)
.
Cazein
được
chia
thành
ba
loại
:
α-cazein
:
60
%
cazein
toàn
phần
.
β
-cazein
:
30
%
cazein
toàn
phần
.
γ
-cazein
:
4
–
10
%
cazein
toàn
phần
.
3. Chất béo:
Chất
béo
của
sữa
có
hai
loại
:
Chất
béo
đơn
giản
(glyxerit
và
sterit)
có
hàm
lượng
35
-
45
g/l
gồm
acid
béo
no
và
không
no:
acid
oleic
(C
18
không
no);
acid
palmitic
(C
16
không
no);
acid
stearic
(C
18
không
no).
Chất
béo
phức
tạp
trong
sữa
thường
có
chứa
một
ít
P,
N,
S
trong
phân
tử.
Tên
gọi
chung
là
phosphoaminolipit,
đại
diện
là
lexitin
và
xephalin
.
Đặc
tính
lí-
hoá
của
chất
béo
:
Mật
độ
quang
ở
15
o
C 0,
91-0,
95
Nhiệt
độ
nóng
chảy 31-36
O
C
Nhiệt
độ
hoá
rắn 25-30
O
C
Chỉ
số
iot
(
theo
Hubl
) 25-45
Chỉ
số
xà
phòng
hóa
(
theo
Koettstorfer
) 218-235
Chỉ
số
Acid
bay
hơi
không
hòa
tan
(
Polenske
) 1,5-3
Chỉ
số
Acid
bay
hơi
hòa
tan
được(
Reichert) 26-30
Chỉ
số
khúc
xạ 1,453-1,462
Cấu
trúc
của
chất
béo
trong
sữa:
chất
béo
trong
sữa
tồn
tại
dưới
dạng
huyền
phù
của
các
hạt
nhỏ
hình
cầu
(tiểu
cầu)
hay
hình
ôvan
với
đường
kính
từ
2-10
µ
m
tuỳ
thuộc
SVTH:
Lê
Thị
Thảo
Vi Trang
8 Thiết
kế
nhà
máy
sữa
Đồ
án
công
nghệ
II GVHD:
Nguyễn
Thị
Lan
vào
giống
bò
sản
sinh
ra
sữa.
Dưới
kính
hiển
vi,
các
tiểu
cầu
được
vây
quanh
bởi
một
màng
(membrane)
protit,
gồm
hai
phần:
phần
có
thể
hòa
tan
được
và
phần
không
thể
hòa
tan
được
trong
nước.
Các
phần
này
rất
khác
nhau
trong
các
loại
sữa.
Bề
mặt
bên
trong
của màng
có
liên
quan
mật
thiết
với
một
lớp
phụ
có
bản
chất
phospholipit
có
thành
phần
chủ yếu
là
lexitinxephalin
(
là
các
chất
béo
phức
tạp
có
hàm
lượng
0,
3-0,
5
g
/
l
sữa)
.
Màng
tiểu
cầu
béo
còn
chứa
các
chất
khác
với
hàm
lượng
nhỏ,
trong
đó
chủ
yếu
là đồng,
sắt,
các
enzym
nhất
là
enzym
phosphataza
mang
tính
kiềm
tập
trung
trong
phần protit
và
enzym
reductaza
trong
phần
không
hòa
tan
được
.
Sự
phân
bố
các
glyxerit
trong
lòng
các
tiểu
cầu
mang
đặc
điểm
sau:
phần
trung tâm
của
tiểu
cầu
chứa
glyxerit
có
điểm
nóng
chảy
thấp,
giàu
acid
oleic
luôn
ở
dạng
lỏng trong
điều
kiện
nhiệt
độ
môi
trường.
Trong
khi
phần
ngoại
vi
nơi
tiếp
xúc
với
màng,
chứa
các
glyxerit
với
chỉ
số
iot
thấp
5-6
nhưng
có
điểm
nóng
chảy
cao
có
thể
đông
đặc
lại
ở
nhiệt
độ
môi
trường
.
Sự
toàn
diện
về
cấu
trúc
của
các
tiểu
cầu
béo
là
điều
kiện
quyết
định
cho
sự
ổn
định của
chất
béo
có
trong
sữa.
Đặc
biệt
sự
biến
chất
của
màng
sẽ
làm
tăng
cường
sự
hoạt
động trực
tiếp
của
một
số
loài
vi
sinh
vật
hay
sự
tăng
lên
của
chỉ
số
acid
hay
còn
làm
thay
đổi các
tính
chất
vật
lý
một
cách
sâu
sắc
gây
ra
việc
tiến
lại
gần
rồi
kết
dính
các
tiểu
cầu
lại
với nhau
dẫn
đến
quá
trình
tách
chất
béo
làm
mất
tính
đồng
nhất
của
sữa.
4. Khoáng:
Hàm
lượng
chất
khoáng
trong
sữa
dao
động
từ
8-10
g/l.
Các
muối
trong
sữa
ở
dạng
hoà
tan
hoặc
dung
dịch
keo
(kết
hợp
với
cazein).
Trong
số
các
nguyên
tố
khoáng
trong
sữa,
chiếm
hàm
lượng
cao
nhất
là
calci, phosphore
và
magie.
Một
phần
chúng
tham
gia
vào
cấu
trúc
micelle,
phần
còn
lại
tồn
tại dưới
dạng
muối
hoà
tan
trong
sữa.
Các
nguyên
tố
khoáng
khác
như
kali,
natri,
clore…
đóng
vai
trò
chất
điện
ly.
Cùng
SVTH:
Lê
Thị
Thảo
Vi Trang
9 Thiết
kế
nhà
máy
sữa
Đồ
án
công
nghệ
II GVHD:
Nguyễn
Thị
Lan
với
lactose.
Thông
thường
vào
cuối
chu
kỳ
tiết
sữa,
đặc
biệt
khi
con
vật
bị
viêm
vú,
hàm
lượng
NaCl
tăng
vọt
làm
cho
sữa
có
vị
mặn.
SVTH:
Lê
Thị
Thảo
Vi Trang
10 Thiết
kế
nhà
máy
sữa
Đồ
án
công
nghệ
II GVHD:
Nguyễn
Thị
Lan
Ngoài
ra,
sữa
còn
chứa
các
nguyên
tố
khác
như
Zn,
Fe,
I,
Cu,
Mn…
Chúng
cần
thiết
cho
quá
trình
dinh
dưỡng
của
con
người.
Một
số
nguyên
tố
độc
hại
như
Pb,
As…
đôi
khi
cũng
được
tìm
thấy
ở
dạng
vết
trong
sữa
bò.
5. Vitam
i
n
Các
vitamin
trong
sữa
được
chia
làm
hai
nhóm:
-
Vitamin
hoà
tan
trong
nước:
B
1
,
B
2
,B
3
,
B
4,
B
5
,
B
6,
C…
-
Vitamin
hoà
tan
trong
chất
béo:
A,
D,
E…
Nhìn
chung,
hàm
lượng
vitamin
nhóm
B
trong
sữa
bò
thường
ổn
định,
là
do
chúng được
tổng
hợp
chủ
yếu
bởi
các
vi
khuẩn
trong
ngăn
thứ
nhất
dạ
dày
của
nhóm
động
vật nhai
lại
và
không
phụ
thuộc
vào
điều
kiện
ngoại
cảnh.
Tuy
nhiên,
hàm
lượng
vitamin
tan trong
chất
béo
bị
ảnh
hưởng
sâu
sắc
bởi
thành
phần
thức
ăn
và
điều
kiện
thời
tiết…
6. Hormone:
Hormone
do
các
tuyến
nội
tiết
tiết
ra
và
giữ
vai
trò
quan
trọng
trong
quá
trình
sinh
trưởng
của
động
vật.
Chúng
được
chia
thành
ba
nhóm
là
proteohormone,
hormone
peptide
và
hormone
steoride,
trong
số
đó
prolactine
được
nghiên
cứu
nhiều
hơn
cả. Hàm
lượng
trung
bình
prolactine
trong
sữa
bò
là
50
µg/l,
trong
sữa
non
là
230
µg/l.
7.Các hợp chất khác:
Trong
sữa
bò
còn
chứa
các
chất
khí,
chủ
yếu
là
CO
2
,
O
2
và
N
2
.
Tổng
hàm
lượng
của
chúng
chiếm
từ
5%
đến
6%
thể
tích
sữa.
Các
chất
khí
trong
sữa
tồn
tại
ở
ba
dạng:
dạng
hoà
tan,
dạng
liên
kết
hoá
học
với
các
chất
khác
và
dạng
phân
tán.
Khí
ở
dạng
hoà
tan
hoặc
phân
tán
thường
gây
ra
một
số
khó
khăn
trong
các
qui
trình
chế
biến
sữa.
Do
đó,
sữa
tươi
thường
được
qua
xử
lý
bài
khí
trước
khi
chế
biến.
SVTH:
Lê
Thị
Thảo
Vi Trang
11 Thiết
kế
nhà
máy
sữa
Đồ
án
công
nghệ
II GVHD:
Nguyễn
Thị
Lan
Chương II. CHỌN VÀ THUYẾT MINH DÂY CHUYỀN CÔNG NGHỆ
2.1
Dây
chuyền
công
nghệ:
Nguyên
liệu
Kiểm
tra,
lọc
Định
lượng
Gia
nhiệt,
làm
nguội
Sữa
tiệt
trùng
hương
cam
Phối
trộn
Cô
đặc
Siro
saccharose
Đồng
hoá
Làm
nguội
và
kết
tinh
cấy
mầm
tinh
thể
lactose
Rót
sản
phẩm
Bao
bì
vô
trùng
Ghép
mí
Hoàn
thiện
sản
phẩm
Sữa
đặc
có
đường
2.2
Thuyết
minh
dây
chuyền
công
nghệ:
2.2.1
Thu
mua
nguyên
liệu:
Sữa
tươi
nguyên
liệu
được
thu
mua
tại
nhà
máy
và
các
trạm
thu
mua
gần
trang
trại
chăn
nuôi.
Do
sữa
chứa
nhiều
chất
dinh
dưỡng,
hệ
vi
sinh
vật
sữa
sẽ
trưởng
thành
nhanh
chóng
tạo
ra
nhiều
sản
phẩm
trao
đổi
chất
ngoại
bào
làm
thay
đổi
thành
phần
hoá
học
và
giá
trị
cảm
quan
của
sữa.
Để
đảm
bảo
chất
lượng
sữa,
trong
quá
trình
thu
mua
và
vận
chuyển,
sữa
phải
được
làm
lạnh
ở
nhiệt
độ
không
lớn
hơn
4
o
C.
2.2.2
Kiểm
tra,
lọc:
Sữa
trước
khi
đưa
vào
chế
biến
phải
tiến
hành
lọc
để
loại
bỏ
các
tạp
chất
ở
dạng
lơ
lửng
trong
dịch
sữa.
Dịch
sữa
được
bơm
qua
thiết
bị
lọc
thuỷ
tĩnh
có
đường
kính
lưới
lọc
100
µ
m.
Trong
quá
trình
lọc,
các
tạp
chất
sẽ
bị
giữ
lại
trên
lưới
lọc
và
cần được
vệ
sinh
định
kỳ.
2.2.3
Định
lượng:
Sữa
từ
bồn
chứa
được
bơm
định
lượng
bơm
qua
đưa
vào
thiết
bị
gia
nhiệt.
Quá
trình
định
lượng
nhằm
để
điều
chỉnh
năng
suất
nhà
máy.
2.2.4
Xử
lý
nhiệt:
Quá
trình
xử
lý
nhiệt
nhằm
tiêu
diệt
vi
sinh
vật,
vô
hoạt
enzim
và
làm
biến
tính
một
số
phân
tử
protein
có
trong
sữa.
Trong
quá
trình
xử
lý
nhiệt,
các
phân
tử
protein
kém
bền
nhiệt,
đặc
biệt
là
nhóm
protein
của
huyết
thanh
sữa
sẽ
bị
biến
tính,
các
muối
calci
kết
tủa
.
Sự
biến
tính
này
có
lợi
cho
chất
lượng
thành
phẩm
do
nó
ổn
định
thành
phần
protein
trong
sữa.
Sau
quá
trình
xử
lý
nhiệt,
sữa
được
làm
nguội
về
70
o
C
rồi
đưa
đi
phối
trộn.
2.2.5
Phối
trộn:
Dịch
sữa
được
phối
trộn
với
sirô
saccharose
70%.
Saccharose
được
bổ
sung
trong
sản
phẩm
sữa
đặc
có
đường
nhằm
mục
đích
tăng
độ
ngọt,
giá
trị
dinh
dưỡng
và
giá
trị
áp
lực
thẩm
thấu
bên
trong
sản
phẩm.
Nhờ
đó,
sản
phẩm
sữa
đặc
có
đường
có
thể
bảo
quản
được
trong
thời
gian
dài.
Đường
saccharose
sử
dụng
trong
nhà
máy
là
đường
tinh
luyện
RE
có
hàm
lượng
chất
khô
không
nhỏ
hơn
99,8%.
2.2.6
Cô
đặc:
Mục
đích
của
quá
trình
cô
đặc
là
tách
bớt
nước
ra
khỏi
sữa
dưới
tác
dụng
của
nhiệt
độ
cao.
Thiết
bị
cô
đặc
trong
điều
kiện
chân
không
để
tránh
sử
dụng
nhiệt
quá
cao,
dễ
làm
tổn
thất
các
chất
dinh
dưỡng
kém
bền
nhiệt
có
trong
sữa.
Nhiệt
độ
cô
đặc
sữa
không
được
vượt
quá
65÷70
o
C.
Thời
điểm
kết
thúc
quá
trình
cô
đặc
sữa
được
xác
định
thông
qua
việc
đo
tỷ
trọng
và
độ
nhớt
của
sữa.
2.2.7
Đồng
hoá:
Mục
đích
quá
trình
đồng
hoá
là
làm
giảm
kích
thước
và
phân
bố
đều
các
hạt
cầu
béo
trong
sữa
đặc.
Áp
lực
đồng
hoá
thường
sử
dụng
từ
150
–
250
bar.
Kích
thước
các
hạt
cầu
béo
sau
đồng
hoá
không
lớn
hơn
1
µ
m
.
2.2.8
Làm
nguội
và
kết
tinh
Độ
ẩm
và
tổng
hàm
lượng
chất
khô
trung
bình
của
sữa
đặc
có
đường
là
26%
và
74%
tương
ứng.
Nhờ
tạo
ra
được
giá
trị
áp
lực
thẩm
thấu
cao
nên
các
VSV
nhiễm
vào
sản
phẩm
bị
ức
chế,
do
đó
ta
hạn
chế
được
sự
hư
hỏng
sản
phẩm
trong
quá
trình
bảo
quản.
Tuy
nhiên,
do
độ
ẩm
thấp,
chỉ
có
50%
lượng
lactose
trong
sữa
đặc
có
đường
tồn
tại
ở
trạng
thái
hoà
tan.
Phần
lactose
còn
lại
tồn
tại
dưới
dạng
tinh
thể.
Ta
phải
điều
khiển
quá
trình
sản
xuất
sao
cho
những
tinh
thể
lactose
thu
được
phải
thật
mịn
và
đồng
nhất.
Kích
thước
của
chúng
không
được
vượt
quá
10
µm.
Có
như
thế,
người
tiêu
dùng
sẽ
không
cảm
nhận
được
trạng
thái
hạt
của
các
tinh
thể
lactose
khi
sử
dụng
sữa
đặc
có
đường.
Để
thực
hiện
quá
trình
kết
tinh
lactose,
ta
làm
nguội
sữa
cô
đặc
về
28÷30
o
C
rồi
cấy
mầm
tinh
thể
lactose.
Sử
dụng
các
mầm
tinh
thể
với
kích
thước
vài
µm.
Trong
quá
trình
kết
tinh,
các
tinh
thể
lactose
sẽ
lớn
lên
với
kích
thước
tối
đa
10
µm.
Khi
đó,
trong
1
mm
3
sữa
có
đến
300.000
tinh
thể.
Ngược
lại,
nếu
để
kích
thước
tinh
thể
tăng
lên
đến
15
µm,
tổng
số
tinh
thể
trong
1
mm
3
sữa
cô
đặc
sẽ
không
vượt
quá
100.000.
Trong
trường
hợp
này,
khi
sử
dụng
ta
sẽ
cảm
nhận
được
trạng
thái
hạt
của
các
tinh
thể
lactose
nơi
đầu
lưỡi.
Do
sản
phẩm
có
độ
nhớt
cao
nên
thiết
bị
sử
dụng
nhất
định
phải
có
cánh
khuấy. Sau
cùng,
sữa
sẽ
được
làm
nguội
về
15÷18
o
C
rồi
được
bơm
qua
thiết
bị
rót
sản
phẩm.
2.2.9
Rót
sản
phẩm:
Sản
phẩm
được
rót
vào
bao
bì
kim
loại.
Bao
bì
phải
được
vệ
sinh
và
vô
trùng
cẩn
thận
trước
khi
rót
sản
phẩm
để
hạn
chế
sự
tái
nhiễm
VSV.
Sữa
đặc
có
đường
với
tổng
hàm
lượng
chất
khô
74%,
khi
đó
chỉ
có
nhóm
VSV
chịu
áp
lực
thẩm
thấu
cao
(halophile)
như
một
số
nấm
men
và
nấm
sợi
là
có
thể
phát
triển
được
trong
môi
trường
này.
Do
đó,
để
khống
chế
hiện
tượng
này,
ta
cần
thực
hiện
quá
trình
rót
sản
phẩm
trong
điều
kiện
kín.
Các
thiết
bị
rót
sản
phẩm
hiện
nay
đều
thực
hiện
trong
chu
trình
kín
và
ghép
mí
tự
động.
2.2.10
Sản
phẩm
sữa
cô
đặc:
Người
ta
đánh
giá
chất
lượng
sữa
cô
đặc
thông
qua
những
chỉ
tiêu
cơ
bản
sau:
-
Chỉ
tiêu
cảm
quan:
màu
sắc,
mùi,
vị,
trạng
thái
đồng
nhất…
-
Chỉ
tiêu
hoá
lý:
độ
ẩm,
độ
nhớt,
hàm
lượng
chất
béo
và
chất
khô
không
béo.
Trên
bao
bì
sản
phẩm
thường
được
ghi
thêm
các
giá
trị
về
tổng
hàm
lượng
glucid,
protein
và
một
số
vitamin.
-
Chỉ
tiêu
vi
sinh:
tổng
số
vi
khuẩn
hiếu
khí,
nấm
men,
nấm
sợi
và
một
số
vi
sinh
vật
gây
bệnh.
Sản
phẩm
sữa
cô
đặc
phải
được
bảo
quản
nơi
thoáng
mát.
Thời
gian
bảo
quản
sữa
cô
đặc
kéo
dài
đến
một
năm.
Sau
mỗi
mẻ
sản
xuất
tại
nhà
máy,
người
ta
lấy
một
số
mẫu
sản
phẩm
để
kiểm
tra
đánh
giá
các
chỉ
tiêu
chất
lượng.
Một
số
mẫu
thành
phẩm
được
thực
hiện
lưu
mẫu trong
một
năm
để
có
thể
nhận
xét
khái
quát
về
chất
lượng
sản
phẩm.
Chương
III.
TÍNH
CÂN
BẰNG
VẬT
CHẤT
3.1
Kế
hoạch
sản
xuất
nhà
máy:
3.1.1
Biểu
đồ
nhập
nguyên
liệu:
Trong
năm
sữa
được
thu
hoạch
theo
sơ
đồ
:
Tháng
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12
Sữa
tươi
nguyên
liệu
x x x x x x x x x x x x
Biểu
đồ
nhập
nguyên
liệu:
Tháng
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12
Sữa
tươi
nguyên
liệu
x x x x x x x x x x x
Sữa
tươi
nguyên
liệu
có
thể
cung
ứng
vào
mọi
thời
điểm
trong
năm.
Tuy
nhiên,
các
loại
máy
móc,
thiết
bị
cần
phải
có
thời
gian
tu
sửa,
đảm
bảo
duy
trì
sản
xuất.
Do
đó,
nhà
máy
chọn
thời
điểm
ngừng
hoạt
động
để
bảo
trì
là
tháng
11.
Sở
dĩ
thời
điểm
này
cũng
là
mùa
mưa,
lụt
kéo
dài
có
thể
gây
ảnh
hưởng
đến
sản
xuất.
3.1.2
Biểu
đồ
kế
hoạch
sản
xuất
của
nhà
máy:
Sản
phẩm Tháng
Ca
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12
Sữa
tư
ơi
tiệt
trùng
I X X X X X X X X X X X
II X X X X X X X X X X X
III X X X X X X
Sữa
cô
đặc
I X X X X X X X X X X X
II X X X X X X X X X X X
III X X X X X X
Công
nhân
trong
phân
xưởng
được
nghỉ
ngày
chủ
nhật
và
các
dịp
lễ
Tết.
Mỗi
ngày
có
thể
làm
việc
2
hoặc
3
ca
tùy
thuộc
vào
nguyên
liệu,
thời
tiết,
đặc
biệt
là
nhu
cầu
thị
trường
tiêu
thụ.
Khí
hậu
của
Việt
Nam
có
2
mùa
rõ
rệt
:mùa
khô
và
mùa
mưa.
Vào
mùa
khô
nhu
cầu
tiêu
dùng
sữa
tăng
vọt,
sức
mua
lớn
nên
để
đáp
ứng
nhu
cầu
của
người
tiêu
dùng
và
tăng
doanh
thu
thì
nhà
máy
làm
việc
hết
công
suất,
tức
3
ca/ngày,
các
tháng
còn
lại
có
thể
làm
việc
2
ca/ngày.
Tháng
11
được
chọn
làm
tháng
để
tu
sữa,
bảo
trì,
bảo
dưỡng
máy
móc
thiết
bị.
Biểu
đồ
bố
trí
sản
xuất
cho
từng
mặt
hàng:
Tháng
Số
ng
ày
sản
xuất
Sữa
tươi
tiệt
trùng
hương
cam
Sữa
cô
đặc
có
đường
Ca/ngày Ca/tháng Ca/ngày Ca/tháng
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
25
19
27
26
25
26
27
27
25
26
27
2
2
3
3
3
3
3
3
2
2
2
50
38
81
78
75
78
81
81
50
52
54
2
2
3
3
3
3
3
3
2
2
2
50
38
81
78
75
78
81
81
50
52
54
1
năm 280 718 718
3.2
Tính
cân
bằng
vật
chất
cho
dây
chuyền
sản
xuất
sữa
cô
đặc
có
đường:
3.2.1
Các
số
liệu
ban
đầu:
Năng
suất
nhà
máy: 12.000
lit
sản
phẩm/ca
Nguyên
liệu
sữa
tươi: hàm
lượng
chất
béo:
3,5%
tổng
chất
khô:
12%
Sản
phẩm
sữa
đặc
có
đường:
đường:
40%
tổng
khô
không
đường:
34%
nước
26%
3.2.2
Tính
cân
bằng
vật
chất:
Tỉ
trọng
của
sữa
thành
phẩm:
d
=
100
(g/cm
3
)
F
0,93
+
SNF
+
W
1,608
F:
hàm
lượng
chất
béo
trong
sữa
(%
khối
lượng)
SNF:
hàm
lượng
các
chất
khô
không
béo
trong
sữa
(%
khối
lượng)
W:
hàm
lượng
nước
trong
sữa
(%
khối
lượng)
d
=
100
=
1,359
(g/cm
3
)
3,5
0,93
+
70,5
1,608
+
26
Năng
suất
tính
theo
khối
lượng:
12.000
x
1,359
=
16.302,86
(kg/ca)
Bảng
tiêu
hao
qua
các
công
đoạn:
STT Công
đoạn
tiêu
hao Hao
hụt
(%)
1 Nguyên
liệu 0,5
2 Kiểm
tra,
lọc 1,5
3 Định
lượng 0,5
4 Xử
lý
nhiệt,
làm
nguội 1
5 Phối
trộn 1
6 Cô
đặc 2
7 Đồng
hoá 1
8 Làm
nguội,
kết
tinh 1
9 Rót
sản
phẩm 1
10 Ghép
mí 1,5
11 Hoàn
thiện
sản
phẩm 1
Theo
giả
thuyết
về
hao
hụt,
lượng
sữa
khi
vào
giai
đoạn
hoàn
thiện
sản
phẩm
là:
16.302,860
×
100
100
−
1
=
16.466,667
(kg/ca)
Lượng
sữa
vào
giai
đoạn
ghép
mí:
16.466,667
×
100
100
−
1,5
=
16.717,428
(kg/ca)
Lượng
sữa
vào
giai
đoạn
rót
sản
phẩm:
16.717,428
×
100
=
100
−
1
16.886,291
(kg/ca)
Lượng
sữa
vào
giai
đoạn
làm
nguội
và
kết
tinh:
16.886,291×
100
=
100
−
1
17.056,860
(kg/ca)
Lượng
sữa
đi
vào
thiết
bị
đồng
hoá:
17.056,860
×
100
100
−
1
=
17.229,151
(kg/ca)
Tính
toán
cho
quá
trình
cô
đặc:
Lượng
đường
saccharose
khô
cần
bổ
sung:
17.229,151×
40
100
=
6.891,660
(kg/ca)
hụt
là
2%:
Lượng
đường
saccharose
khô
cần
bổ
sung
tại
quá
trình
cô
đặc
khi
hao
6.891,660
×
100
100
−
1
=
6.961,273
(kg/ca)
xirô
là:
Hao
hụt
tại
nấu
xirô
là
1%
nên
lượng
đường
saccharose
khô
cần
nấu
6.961,273
×
100
100
−
1
=
7.031,590
Lượng
đường
sac
khô
99,8%
ban
đầu
cần
là:
7.031,590
×
100
=
99,8
7.045,681
(kg/ca)
Sản
phẩm
sữa
cô
đặc
có
tổng
khô
không
đường
chiếm
34%.
Do
đó
lượng
khô
không
đường
sau
khi
cô
đặc
phải
đạt
34%
so
với
sữa
đi
vào
thiết
bị
đồng
hoá.
Suy
ra
lượng
chất
khô
không
đường
khi
ra
khỏi
thiết
bị
cô
đặc:
17.229,151×
34
=
100
5.857,911
(kg/ca)
Hao
hụt
tại
công
đoạn
cô
đặc
là
2%
nên
lượng
chất
khô
không
đường
khi
vào
thiết
bị
cô
đặc:
5.857,911×
100
=
100
−
2
5.977,460
(kg/ca)
Hàm
lượng
chất
khô
chiếm
12%
trong
sữa
nguyên
liệu,
do
đó
ta
tính
được
lượng
sữa
tươi
đi
vào
thiết
bị
cô
đặc:
5.977,460
×
100
=
12
49.812,171
(kg/ca)
Theo
giả
thuyết
hao
hụt,
ta
tính
được
lượng
sữa
khi
vào
phối
trộn:
49.812,171×
100
=
100
−
1
50.315,324
(kg/ca)
Lượng
sữa
khi
vào
giai
đoạn
xử
lý
nhiệt,
làm
nguội:
50.315,324
×
100
100
−
1
=
50.823,560
(kg/ca)
Lượng
sữa
khi
vào
định
lượng:
50.823,560
×
100
=
100
−
0,5
51.078,955
(kg/ca)
Lượng
sữa
khi
kiểm
tra,
lọc:
51.078,955
×
100
=
100
−
1,5
51.856,807
(kg/ca)
Sữa
nguyên
liệu:
51.856,807
×
100
=
52.117,394
(kg/ca)
100
−
0,5
Vậy
lượng
sữa
tươi
nguyên
liệu
đảm
bảo
năng
suất
cho
nhà
máy
là
52.117,394
kg/ca
Nồng
độ
hỗn
hợp
đường
-
sữa
trước
khi
cô
đặc:
x
=
m
ct
100
%
d
m
d
m
ct
:
khối
lượng
chất
tan
trong
dung
dịch
(kg/ca)
m
d
:
khối
lượng
hỗn
hợp
dung
dịch
(kg/ca)
Lượng
dịch
đường
saccharose
đi
vào
thiết
bị
cô
đặc:
6.961,273
×
100
=
9.944,676
(kg/ca)
70
x
d
=
6.961,273
+
5.977,460
100
=
21,65%
9.944,676
+
49.812,171
Lượng
nước
bốc
hơi
trong
quá
trình
cô
đặc:
x
W=
y
1
−
d
x
c
x
d
,
x
c
:
nồng
độ
hỗn
hợp
sữa,
đường
trước
và
sau
khi
cô
đặc
(%)
y:
khối
lượng
dung
dịch
trước
khi
cô
đặc
(kg/ca)
y=
9.944,676
+
49.812,171
=
59.756,847
(kg/ca)
w
=
59.756,847
1
−
21,65
=
42.273,931
(kg/ca)
100
−
26
Lượng
đường
lactose
bổ
sung
để
gây
mầm
tinh
thể:
0,02
×
17.229,151
=
3,446
100
(kg/ca)
(chọn
lượng
đường
lactose
chiếm
2%
khi
ra
khỏi
thiết
bị
cô
đặc)
Bảng
tổng
kết
cân
bằng
vật
chất
qua
các
công
đoạn
(bảng
1)
Công
đoạn
Tiêu
hao
(%)
Tiêu
hao
khối
lượng
(kg/ca)
Khối
lượng
nguyên
liệu
(kg/ca)
Nguyên
liệu 0,5 260,587 52.117,394
Kiểm
tra,
lọc 1,5 777,852 51.856,807
Định
lượng 0,5 255,395 51.078,955
Xử lý nhiệt, làm
nguội
1 508,236 50.823,560
Phối
trộn 1 503,153 50.315,324
Cô
đặc
2 249,061 49.812,171
42.278,635
(nước
bốc
hơi)
9.944,676
(đường
bổ
sung)
Đồng
hoá 1 172,291 17.229,151
Làm
nguội,
kết
tinh 1 170,569 17.056,860
Rót
sản
phẩm 1 168,863 16.886,291
Ghép
mí 1,5 250,761 16.717,428
Hoàn
thiện
sản
phẩm 1 162,807 16.466,667
Sản
phẩm 16.302,860
Bảng
tổng
hợp
nguyên
liệu
phụ
(bảng
2)
Nguyên
liệu Kg/ca Kg/h Kg/năm
Đường
saccharose 7.045,681 880,710 5.058.798,958
Đường
lactose 3,446 0,431 2.474,228