Tải bản đầy đủ (.pdf) (22 trang)

một số kinh nghiệm trong công tác chỉ đạo phong trào xây dựng trường học thân thiện- học sinh tích cực tại trường thpt lê quý đôn

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (255.71 KB, 22 trang )

ĐỀ TÀI :
MỘT SỐ KINH NGHIỆM TRONG CÔNG TÁC CHỈ ĐẠO PHONG TRÀO
“ XÂY DỰNG TRƯỜNG HỌC THÂN THIỆN- HỌC SINH TÍCH CỰC ”
TẠI TRƯỜNG THPT CHUN LÊ Q ĐƠN

PHẦN MỞ ĐẦU
I. Bối cảnh của đề tài.
Trong công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, Đảng chủ
trương thực hiện CNH, HĐH để đưa đất nước ta, dân tộc ta thoát khỏi nghèo
nàn, lạc hậu; đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp vào năm
2020, xứng đáng sánh vai với các cường quốc năm châu. Bởi thành cơng của
sự nghiệp trọng đại đó tuỳ thuộc phần lớn vào công tác đào tạo nguồn nhân
lực, vào sự nghiệp “trồng người”. Bối cảnh đó đặt ra cho ngành giáo dục, đội
ngũ thầy cô giáo, cán bộ quản lý và mỗi nhà trường trách nhiệm rất nặng nề.
Trong việc thực hiện sứ mệnh cao cả đó, mỗi trường học phải là một tập
thể đoàn kết phấn đấu nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức và chất lượng
dạy học đích thực, đào tạo thế hệ trẻ thành những cơng dân u nước, có văn
hố, có trình độ kiến thức, kỹ năng khoa học, có ý chí, hồi bão vươn lên
không cam chịu nghèo hèn làm giàu cho đất nước và cho bản thân. Để làm
được điều đó, mỗi trường học cần phải xây dựng cho được môi trường sư
phạm tích cực, thân thiện: Thân thiện giữa thầy với thầy; thân thiện giữa trò
với trò; thân thiện giữa thầy với trò, thân thiện giữa nhà trường với cộng đồng
theo nguyên lý: “Giáo dục nhà trường gắn liền với giáo dục gia đình và giáo
dục xã hội”.

II.Lý do chọn đề tài.
Nhằm tiếp tục thực hiện phong trào thi đua “ Xây dựng Trường học thân
thiện – Học sinh tích cực” trong năm học 2010 - 2011 và giai đoạn 2008-2013
do Bộ GD-ĐT phát động, trong phạm vi bài viết này, tôi muốn chia sẻ cùng
đồng nghiệp: Một số kinh nghiệm trong công tác chỉ đạo phong trào thi
-1-




đua “Xây dựng trường học thân thiện- học sinh tích cực ” tại trường
THPT chuyên Lê Quý Đôn - tỉnh Lai Châu

III. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu.
Từ sự nghiên cứu chỉ đạo thực hiện phong trào này tại trường THPT
chuyên Lê Quý Đôn, những giải pháp và kết quả mang lại có thể áp dụng linh
hoạt, vận dụng những nội dung phù hợp với điều kiện cụ thể của từng trường
THPT trong tồn tỉnh

IV. Mục đích nghiên cứu.
Với mong muốn mang đến sự hứng thú, phát triển những kĩ năng cho
học sinh, chủ động tiếp thu kiến thức, trong đó đặc biệt là phát huy khả năng
tự tìm hiểu, khám phá, tư duy sáng tạo cần có cho các em học sinh, làm cho
các em cảm nhận được rằng “ Mỗi ngày học sinh đến trường là một ngày
vui”.
Để tiếp tục tăng cường và nâng cao hiệu quả cơng tác giáo dục tồn diện
cho học sinh, tại chỉ thị 40/CT-BGDĐT về việc phát động phong trào thi đua
“Xây dựng Trường học thân thiện-học sinh tích cực” trong ngành học phổ
thông giai đoạn 2008-2013, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chỉ rõ mục tiêu và yêu
cầu cần đạt được qua đợt phát động này. Do vậy, để phong trào đạt hiệu quả
thì mỗi giáo viên chúng ta cần phải ý thức việc chủ động cùng với nhà trường,
ngành giáo dục phối hợp với các cấp chính quyền, các tổ chức đoàn thể xã hội
và mọi người dân cùng phối hợp “Xây dựng Trường học thân thiện – học sinh
tích cực” thành cơng

V. Điểm mới trong kết quả nghiên cứu.
Phù hợp với điều kiện thực tế nhà trường, phù hợp với đối tượng học sinh.
Trong quá trình chỉ đạo và triển khai vận dụng, các giải pháp thực hiện mang

tính khả thi, vừa sức.

-2-


PHẦN NỘI DUNG
I.

Cơ sở lý luận.
Ngay từ ngày đầu khai giảng năm học Chủ tịch nước Trương Tấn

Sang đã gửi thư chúc mừng đến các thầy giáo, cô giáo, cán bộ, công chức,
viên chức ngành giáo dục, các bậc phụ huynh và các em học sinh, sinh viên
cả nước.Chủ tich nhấn mạnh: “Đây là năm học đầu tiên thực hiện Nghị quyết
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI. Để thực hiện tốt sứ mệnh “nâng cao dân
trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát
triển đất nước, xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam”, cùng với sự
góp sức của tồn xã hội, ngành giáo dục cần đối mới căn bản, toàn diện, xây
dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục; đổi
mới mạnh mẽ nội dung, chương trình, phương pháp dạy và học ở tất cả các
cấp, bậc học; đẩy mạnh thi đua “dạy tốt, học tốt”; nâng cao chất lượng giáo
dục toàn diện, đặc biệt coi trọng giáo dục truyền thống lịch sử, đạo đức, lối
sống, ý thức trách nhiệm xã hội, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, tác
phong công nghiệp; xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh”.
Đồng hành cùng với bước đi trước, tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng
công nghệ thơng tin, đổi mới quản lý tài chính và triển khai phong trào xây
dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực, tiếp tục thực hiện cuộc vận
động “Mỗi thầy giáo, cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo”
nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục”.
Trong thời kỳ đất nước hội nhập quốc tế, giáo dục của chúng ta đang

tiến dần đến nền kinh tế tri thức, xu thế đó địi hỏi học sinh cần có những kĩ
năng tư duy sáng tạo, tự tin phát triển năng lực của mình. Phương pháp giáo
dục cũ khơng thể xây dựng và phát triển cho học sinh những kĩ năng đó, vì thế
cán bộ quản lý và giáo viên cần thực hiện tốt chủ đề năm học như trong Chỉ
thị thực hiện nhiệm vụ năm học đã chỉ rõ “ đổi mới quản lí và nâng cao chất
lượng giáo dục".
Phong trào thi đua “ Xây dựng Trường học thân thiện – học sinh tích
cực” giai đoạn 2008-2013 của Bộ GD-ĐT phát động nhằm xây dựng trường
-3-


học có chất lượng giáo dục tồn diện và hiệu quả giáo dục không ngừng được
nâng cao. Các thầy cô giáo phải thân thiện trong giảng dạy, thân thiện trong
đánh giá kết quả học tập và rèn luyện của học sinh, đánh giá công bằng, khách
quan với lương tâm và trách nhiệm của nhà giáo. Trường học thân thiện gắn
bó chặt chẽ với việc phát huy tính tích cực của học sinh. Trong mơi trường
phát triển tồn diện đó, học sinh hứng thú học tập, chủ động tìm hiểu kiến thức
dưới sự dìu dắt cuả người thầy, gắn chặt giữa học và hành, biết tổ chức thư
giãn khoa học, biết rèn luyện kỹ năng và phương pháp học tập, trong đó đặc
biệt là phát huy khả năng tự tìm hiểu, khám phá, tư duy sáng tạo. Trong suốt
quá trình thực hiện đổi mới giáo dục, thực hiện phong trào thi đua trên, các
biện pháp giáo dục tích cực là cơ sở để hình thành mơ hình lớp thân thiện trường thân thiện.
Vì thế, để kết quả của phong trào “Xây dựng trường học thân thiện, học
sinh tích cực” đạt hiệu quả thì các biện pháp giáo dục tích cực cần được quan
tâm, cụ thể hóa; trong đó các biện pháp giáo dục tích cực để xây dựng mơ hình
lớp học thân thiện – trường học thân thiện là điều quan trọng cần thực hiện.

II. Thực trạng của vấn đề.
Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực chính là sự cụ thể hóa
của yêu cầu “Dạy tốt, học tốt” mà chúng ta đã tiến hành thực hiện trước đây,

tuy nhiên trong hồn cảnh hiện nay dạy tốt khơng chỉ là hoạt động của các cá
nhân giáo viên, mà còn là hoạt động của tập thể thầy cô, là sự tham gia của gia
đình, đồn thể vào q trình sư phạm, là tạo môi trường thân thiện cho các em.
Dạy tốt khơng chỉ là nói cho các em nghe, chỉ cho các em làm mà còn là tạo
điều kiện để các em nói, để các em tự đề xuất việc mình cần làm và tự làm.
Dạy tốt khơng chỉ có các thầy cơ là người dạy, mà chính các em, qua các hoạt
động tích cực trong học tập, hoạt động tập thể, hoạt động xã hội mà tự giúp
nhau trưởng thành, tự rèn luyện. Các em không chỉ là đối tượng cần được giáo
dục mà thơng qua hoạt động tích cực của các em, các em chính là những

-4-


người ni dưỡng, gìn giữ văn hóa dân tộc, truyền thống cách mạng của đất
nước.
Các biện pháp giáo dục trước đây đã cho thấy những mặt hạn chế là
chưa phát huy được tính tích cực và sự hứng thú học tập cho học sinh. Qua hai
năm hưởng ứng phong trào thi đua “ Xây dựng Trường học thân thiện – học
sinh tích cực” cùng với những kinh nghiệm được tích lũy qua phong trào “ dạy
tốt học tốt” trước đây, cá nhân tơi đã có thêm hành trang tự tin để chỉ đạo đổi
mới dạy học áp dụng các biện pháp tích cực nhằm tạo mơ hình lớp học thân
thiện ở trường THPT chuyên Lê Quý Đôn, phát huy cao nhất khả năng tích
cực, chủ động và vốn sống của học sinh.
Thực trạng tại trường THPT chuyên Lê Quý Đôn là một trường chuyên
của tỉnh, đang từng bước xây dựng trở thành trường chuẩn quốc gia vào năm
2015 nên áp lực trong công việc rất lớn, kỳ vọng của phụ huynh khi gửi gắm
con em mình vào trường rất nhiều. Giữ vững uy tín của trường ln là lá cờ
đầu trong giáo dục tỉnh nhà, góp phần thi đua “Xây dựng Trường học thân
thiện – học sinh tích cực” đạt hiệu quả là trách nhiệm, nghĩa vụ của mỗi cán
bộ giáo viên học sinh trong nhà trường . Mặc dù điều kiện cơ sở vật chất của

nhà trường còn thiếu thốn, diện tích hẹp, khó khăn cho việc giáo dục thể chất
và tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp, ngoại khóa, các hoạt động tập thể
… Song với sự cố gắng khắc phục khó khăn, linh hoạt sáng tạo trong tổ chức
thực hiện mà các phong trào thi đua được triển khai có hiệu quả, thiết thực góp
phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện học sinh.

III. Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề
1. Nội dung nghiên cứu
Trường học thân thiện là mô hình do Quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc
(UNICEF) đề xướng. Năm học 2008-2009, Bộ GD-ĐT quyết định mở rộng
mơ hình này khơng ngồi mục đích nhằm tăng cường và nâng cao hiệu quả
cơng tác giáo dục tồn diện cho học sinh. Phong trào thi đua: “Xây dựng
Trường học thân thiện – học sinh tích cực” có tính chất gợi ý cho các trường,
-5-


tuy nhiên trong quá trình nhân rộng và triển khai phong trào, vận dụng một
cách linh hoạt, chủ động, sáng tạo phù hợp với tình hình thực tế của trường
mình, các trường cần phải bám chắc vào các nội dung chính của chị thị, có
như thế kết quả phong trào đạt được mới tập trung và hiệu quả cao. Trên cơ sở
đó, trước tình hình thực tế của trường, cá nhân tôi mạnh dạn đề ra các nội
dung thiết thực phù hợp tình hình thực tế của trường, khơng vượt q khả
năng, khơng sáo rỗng, mang tính khả thi cao, đó là:
* Xây dựng mơi trường, trường học thân thiện: bảo đảm các lớp
học an tồn, sạch sẽ, có cây xanh, thống mát và ngày càng đẹp hơn. Học sinh
tích cực tham gia tạo cảnh quan lớp học, giữ gìn vệ sinh lớp học và cá nhân.
* Giảng dạy tích cực: Các thầy, cơ giáo tích cực đổi mới phương
pháp giảng dạy nhằm khuyến khích sự chuyên cần, tích cực, chủ động, sáng
tạo và ý thức vươn lên, rèn luyện khả năng tự học của học sinh. Hiệu quả dạy
và học ngày càng cao.

* Rèn luyện kỹ năng học, sinh hoạt theo nhóm và kỹ năng ứng xử
hợp lý với các tình huống bằng trị chơi học tập tích cực.
* Hoạt động tập thể vui tươi, lành mạnh qua các tiết sinh hoạt tập
thể , ngoại khóa, các cuộc thi.
* Giáo dục truyền thống văn hóa dân tộc và anh hùng cách mạng,
uống nước nhớ nguồn qua các cuộc thi, các hoạt động tập thể.
Ngoài những nội dung trên, bản thân tôi luôn cố gắng xây dựng
phát triển mối quan hệ thân thiện giữa: Trò–Thầy, giữa Trò–Trò, giữa Thầy–
Trò –Phụ huynh nhằm cũng cố và duy trì, phát huy những thành quả đã xây
dựng được từ phong trào đã đề cập.
2. Những giải pháp :
2.1. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động, xây dựng kế
hoạch chương trình hành động và ban hành đi vào thực hiện phong trào này.
Các nội dung của phong trào được tuyên truyền sâu rộng đến toàn thể cán bộ,
giáo viên, nhân viên, học sinh và phụ huynh trong nhà trường, có sự phối hợp
với chính quyền địa phương, các tổ chức đồn thể trên địa bàn. Trong quá
-6-


trình thực hiện, được sự đồng tình ủng hộ, tạo điều kiện của địa phương, hội
cha mẹ học sinh góp phần thực hiện thành công một số nội dung của phong
trào, cụ thể :
Sự giao lưu, kết nghĩa giữa Đoàn trường với chi đồn Cảnh sát giao
thơng – Sở Cơng an mang lại ý nghĩa thiết thực trong giáo dục thực hiện văn
hóa giao thơng, tăng cường hiểu biết về luật giao thơng, ứng xử có văn hóa khi
tham gia giao thông, tăng cường kỹ năng giao tiếp, ứng xử, phối hợp tổ chức
các cuộc thi tìm hiểu về luật giao thông đường bộ.
Phối hợp với các phường trên địa bàn cùng với hội cha mẹ học sinh
quan tâm quản lý học sinh ngồi giờ học chính khóa, khơng để học sinh chơi
điện tử, game oline, các trò chơi bạo lực và phim ảnh không lành mạnh.

Thực hiện tốt quy chế dân chủ trong nhà trường, thường xuyên lắng nghe
ý kiến đóng góp của học sinh, của cha mẹ học sinh trong việc thực hiện nhiệm
vụ năm học.
2.2. Xây dựng môi trường học tập thân thiện
Trong nhà trường tồn tại hai hoạt động chính đó là dạy và học. Hai
hoạt động này thực hiện chủ yếu trong lớp. Học sinh phải ngồi học từ 4 đến 5
tiết một buổi và diễn ra trong hàng năm trời thì tránh sao khỏi nhàm chán. Vì
vậy học sinh cần được khuyến khích tự tạo ra mơi trường học tập trong lớp
theo sở thích của các em. Hãy để các em trang trí lớp học bằng tranh ảnh hay
các vật trang trí khác để lớp học thật gần gũi và ấm cúng như là góc họp tập ở
nhà của các em để tạo thêm hứng thú học tập cho các em. Hãy để các em tự
nêu ra khẩu hiệu học tập và rèn luyện cho chính mình.
Việc trang bị các phương tiện nghe nhìn hiện đại phục vụ cho việc dạy
và học là rất cần thiết nhưng nó khơng là yếu tố quyết định giúp tạo ra một
mơi trường học tập thân thiện, đó chỉ là phương tiện hỗ trợ cho dạy và học, hỗ
trợ đổi mới phương pháp dạy và học đạt hiệu quả. Hiện nhà trường đã có đủ
máy chiếu cố định tại các lớp học, thực hiện ứng dụng công nghệ thông tin,
phương pháp dạy học hiện đại nhằm nâng cao chất lượng và tạo sự mới mẻ
hứng thú cho học sinh.
-7-


Cảnh quan và môi trường trong trường được quan tâm chăm sóc hàng
ngày, vệ sinh sạch sẽ, có hệ thống cây xanh bóng mát tạo một mơi trường thân
thiện và an toàn cho học sinh khi ra chơi và các hoạt động ngồi trời.
Có hệ thống nhà vệ sinh hợp vệ sinh, nước sạch phục vụ sinh hoạt, khu
để xe của cán bộ giáo viên và học sinh được bố trí hợp lý, bảo vệ an tồn.
Các điều kiện hiện có của nhà trường đã đáp ứng tương đối tốt về một
môi trường học tập thân thiện cho các em học sinh. Vậy làm thế nào để duy trì
và khai thác tối đa những lợi thế đó. Đó chính và việc xây dựng kế hoạch và

thực hiện kế hoạch như:
- Giao Phó Hiệu trưởng phụ trách lao động, lên kế hoạch phân công lao
động, phối hợp với giáo viên chủ nhiệm kiểm tra công tác trực tuần, lao động
vệ sinh, chăm sóc cây cảnh.
- Giáo viên chủ nhiệm đơn đốc kiểm tra học sinh, ln đảm bảo vệ sinh
lớp mình sạch sẽ hàng ngày, giáo viên bộ môn giám sát phê sổ đầu bài về việc
trực nhật lớp.
- Yêu cầu giáo viên chủ nhiệm lớp trực tuần kiểm tra nhà vệ sinh cơng
cộng hàng ngày, báo cáo Phó Hiệu trưởng.
- Bảo vệ tài sản, tính mạng học sinh, tuyệt đối không cho những phần tử
phá rối vào nhà trường.
- Trang trí lớp học đẹp đẽ, mặc đồng phục áo trắng quần sẫm vào thứ 2, 5,
mặc trang phục đoàn thanh niên vào thứ 4, 7.
- Đoàn thanh niên kiểm tra đột xuất đồ dùng học tập của học sinh, nghiêm
cấm học sinh mang dao, cơn, vũ khí… khơng phải dụng cụ học tập đến
trường, không sử dụng điện thoại, máy quay, đài, máy nghe nhạc tới trường.
2.3. Phương pháp dạy học thân thiện
Phương pháp giảng dạy theo hướng “Lấy người học làm trung tâm”
thực sự là phương pháp giảng dạy “thân thiện” với người học vì người ta
quan niệm người thầy chỉ là người tổ chức và trợ giúp hoạt động tiếp thu kiến
-8-


thức cho học trị. Người thầy chỉ đóng vai trị là người gợi mở và bổ sung
thêm những điều các em chưa biết, chưa rõ và hiểu chưa đúng mà thơi. Học
trị thực sự là nhân vật trung tâm trên lớp học. Các em có thể lựa chọn kiến
thức và phương pháp học phù hợp với mình. Người thầy là người nêu vấn đề
và cùng học trò tranh luận cho tới khi học trị hiểu thấu đáo vấn đề đó. Học
sinh có thể được thầy cơ bộ mơn giao cho các bài tập làm chung theo nhóm
để các em có cơ hội cùng nhau chia sẻ và đóng góp kiến thức của cá nhân

mình cho nhóm. Người thầy cũng có thể nêu trước vấn đề và cho học trò về
nhà tự nghiên cứu từ sách giáo khoa và sách tham khảo khác về vấn đề đó để
đến buổi học trên lớp sau đó học trị thảo luận và tranh luận với nhau trong
cặp và trong nhóm. Việc tranh luận đó sẽ giúp các em hiểu sâu hơn và nhớ
nhanh hơn vì các em được tiếp thu kiến thức một cách chủ động, thoải mái.
Phương pháp giảng dạy này đã tạo nên nhu cầu tự học tự nghiên cứu bên
ngoài lớp học và rèn luyện cho học sinh thói quen đào sâu suy nghĩ về một
vấn đề nào đó. Dần dần học trị sẽ hình thành thói quen suy nghĩ một cách
chủ động, độc lập sáng tạo và biết chia sẻ những suy nghĩ của mình với người
khác.
Trong xã hội hiện đại đang biến đổi nhanh - với sự bùng nổ thông tin,
khoa học, kĩ thuật, công nghệ phát triển như vũ bão - thì khơng thể nhồi nhét
vào đầu óc học sinh khối lượng kiến thức ngày càng nhiều. Phải quan tâm dạy
cho học sinh phương pháp học ngay từ khi học sinh bước chân vào trường.
Trong các phương pháp học thì cốt lõi là phương pháp tự học. Nếu rèn luyện
cho người học có được phương pháp, kĩ năng, thói quen, ý chí tự học thì sẽ
tạo cho các em lịng ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi con người,
kết quả học tập sẽ được nhân lên gấp bội. Vì vậy, ngày nay ta phải nhấn mạnh
mặt hoạt động học trong quá trình dạy học, nỗ lực tạo ra sự chuyển biến từ
học tập thụ động sang tự học chủ động, đặt vấn đề phát triển tự học ngay
trong nhà trường, không chỉ tự học ở nhà sau bài lên lớp mà tự học cả trong
tiết học có sự hướng dẫn của giáo viên.

-9-


Trong một lớp học mà trình độ kiến thức, tư duy của học sinh khơng thể
đồng đều tuyệt đối thì khi áp dụng phương pháp tích cực buộc phải chấp nhận
sự phân hóa về cường độ, tiến độ hồn thành nhiệm vụ học tập, nhất là khi bài
học được thiết kế thành một chuỗi công tác độc lập, áp dụng phương pháp

tích cực ở trình độ càng cao thì sự phân hóa này càng lớn. Việc sử dụng các
phương tiện công nghệ thông tin trong nhà trường sẽ đáp ứng yêu cầu cá thể
hóa hoạt động học tập theo nhu cầu và khả năng của mỗi học sinh, đáp ứng
được yêu cầu phân hóa đối tượng học sinh trong một lớp.
Tuy nhiên, trong học tập, không phải mọi tri thức, kĩ năng, thái độ đều
được hình thành bằng những hoạt động độc lập cá nhân. Lớp học là môi
trường giao tiếp thầy - trò, trò - trò, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá
nhân trên con đường chiếm lĩnh nội dung học tập. Thông qua thảo luận, tranh
luận trong tập thể, ý kiến mỗi cá nhân được bộc lộ, khẳng định hay bác bỏ,
qua đó người học nâng mình lên một trình độ mới. Bài học vận dụng được
vốn hiểu biết và kinh nghiệm sống của người thầy giáo. Trong nhà trường,
phương pháp học tập hợp tác được tổ chức ở cấp nhóm, tổ, lớp hoặc trường.
Được sử dụng phổ biến trong dạy học là hoạt động hợp tác trong nhóm nhỏ 4
đến 6 người. Học tập hợp tác làm tăng hiệu quả học tập, nhất là lúc phải giải
quyết những vấn đề gay cấn, lúc xuất hiện thực sự nhu cầu phối hợp giữa các
cá nhân để hoàn thành nhiệm vụ chung. Trong hoạt động theo nhóm nhỏ sẽ
khơng thể có hiện tượng ỷ lại; tính cách năng lực của mỗi thành viên được
bộc lộ, uốn nắn, phát triển tình bạn, ý thức tổ chức, tinh thần tương trợ. Mơ
hình hợp tác trong xã hội đưa vào đời sống học đường sẽ làm cho các thành
viên quen dần với sự phân công hợp tác trong lao động xã hội.
Trong nền kinh tế thị trường đã xuất hiện nhu cầu hợp tác xuyên quốc
gia, liên quốc gia; năng lực hợp tác phải trở thành một mục tiêu giáo dục mà
nhà trường cần phải chuẩn bị cho học sinh.
2.4. Phương pháp kiểm tra, đánh giá thân thiện.
- 10 -


Trong dạy học, việc đánh giá học sinh không chỉ nhằm mục đích nhận
định thực trạng và điều chỉnh hoạt động học của trò mà còn đồng thời tạo
điều kiện nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy. Trước

đây giáo viên giữ độc quyền đánh giá học sinh. Trong phương pháp tích cực,
giáo viên phải hướng dẫn học sinh phát triển kĩ năng tự đánh giá để tự điều
chỉnh cách học. Liên quan với điều này, giáo viên cần tạo điều kiện thuận lợi
để học sinh được tham gia đánh giá lẫn nhau. Tự đánh giá đúng và điều chỉnh
hoạt động kịp thời là năng lực rất cần cho sự thành đạt trong cuộc sống mà
nhà trường phải trang bị cho học sinh.
Theo hướng phát triển các phương pháp tích cực để đào tạo những con
người năng động, sớm thích nghi với đời sống xã hội, thì việc kiểm tra, đánh
giá khơng thể dừng lại ở yêu cầu tái hiện các kiến thức, lặp lại các kĩ năng đã
học mà phải khuyến khích trí thơng minh, óc sáng tạo trong việc giải quyết
những tình huống thực tế. Với sự trợ giúp của các thiết bị kĩ thuật, kiểm tra
đánh giá sẽ khơng cịn là một cơng việc nặng nhọc đối với giáo viên, mà lại
cho nhiều thông tin kịp thời hơn để linh hoạt điều chỉnh hoạt động dạy, chỉ
đạo hoạt động học.
Để có phương pháp kiểm tra thân thiện mà vẫn đánh giá đúng học lực và
khuyến khích học sinh tự vươn lên trong học tập chúng ta cần phân biệt hai
loại hình kiểm tra: kiểm tra đánh giá sự tiến bộ và kiểm gia đánh giá kết quả
học tập. Các bài kiểm tra 15 phút, 1tiết trong một học kỳ chỉ nên mang tính
chất đánh giá sự tiến bộ của học sinh. Điểm số và những nhận xét chi tiết, cụ
thể về sự tiến bộ học sinh, những phần kiến thức còn yếu và cách thức khắc
phục cần thông báo riêng tới từng học sinh thơng qua tiết trả bài để học sinh
biết mình nắm được cái gì, cịn thiếu cái gì để có hướng phấn đấu và tự ganh
đua với chính mình, cố gắng để kết quả cuối năm tốt hơn. Loại hình kiểm tra
thứ hai là kiểm tra đánh giá kết quả học tập. Nó được thực hiện cuối kỳ và
cuối năm để đánh giá kết quả học tập sau quá trình học tập sau một học kỳ,

- 11 -


một năm . Kết quả cần được thông báo công khai, minh bạch giúp học sinh

hiểu rõ bản thân mình đồng thời tự đánh giá mình và đánh giá bạn học.
2.5. Các mối quan hệ thân thiện
Mối quan hệ đầu tiên cần phải thân thiện đó là quan hệ thầy trò. Phương
pháp dạy học theo hướng “Lấy người dạy là trung tâm” lâu nay đã ảnh hưởng
sâu sắc đến quan hệ thầy trị. Nhiều thầy cơ vẫn duy trì quan niệm rằng thầy
là “người trên” và học trò là “người dưới”. Quan niệm này đã dẫn đến sự xa
cách trong quan hệ thầy trị. Học trị rất ít khi dám tranh luận với thầy cơ vì sợ
thầy cơ phật ý. Các thầy thường ít khi dám thừa nhận mình sai hay nhầm lẫn
vì sợ học sinh đánh giá. Do đó, họ thường có thái độ áp đặt và chủ quan với
học trị. Các thầy cơ rất khó có thể trở thành người bạn tin cậy để học sinh có
thể chia sẻ mọi vấn đề vì giữa họ và học sinh ln có khoảng cách về tuổi tác
và tri thức như vậy.
Việc thay đổi phương pháp giảng dạy theo hướng “Lấy người học làm
trung tâm” giúp các thầy cơ có được mối quan hệ thân thiện với học sinh vì
học sinh được xem là nhân vật trung tâm của quá trình giáo dục. Các em được
tôn trọng và được tự do bày tỏ ý kiến cá nhân mình. Mối quan hệ thầy trò sẽ
gần gũi hơn, thoải mái hơn. Người thầy cần học cách lắng nghe ý kiến của
học sinh và biết chấp nhận những ý kiến “đối lập” và cũng có thể hồn thiện
kiến thức thêm nhờ tranh luận với học trị. Người thầy có thể lấy ý kiến đánh
giá của học trị thơng qua các phiếu điều tra khơng ghi tên để khơng ngừng tự
hồn thiện mình.
Phương pháp giảng dạy theo hướng “Lấy người học làm trung tâm”
nhấn mạnh vào việc tự học, tự nghiên cứu của cá nhân với các hoạt động học
tập theo nhóm trong và ngồi giờ học. Mối quan hệ giữa các học trị khơng
chỉ là sự kết bạn cùng sở thích riêng mà cịn là mối quan hệ chia sẻ kiến thức
trong nhóm khi thảo luận trên lớp và các hoạt động theo nhóm ngoài lớp học
khi cùng làm một bài tập sưu tầm hay nghiên cứu ngoài lớp học. Mối quan hệ
- 12 -



giữa học trị sẽ thân thiện hơn, gắn bó hơn do các em tham gia các hoạt động
không chỉ vui chơi giải trí mà cịn học tập với nhau, chia sẻ cơng việc và tri
thức cùng với nhau.
Ngồi hai mối quan hệ chính ở trên cịn các mối quan hệ giữa học trò
với các nhân viên phục vụ trong trường cũng cần phải thân thiện. Họ cần phải
biết cách tôn trọng học trò và chất lượng phục vụ cần được thường xuyên
đánh giá thông qua các phiếu điều tra định kỳ phát cho học trò.
Từ việc đổi mới phương pháp dạy học, ý thức trách nhiệm, lịng nhiệt
tình, kiến thức chuyên môn, thái độ của giáo viên, tác phong chuẩn mực sư
phạm, giao tiếp ứng xử và cách xử lý các tình huống sư phạm trên lớp đều
được học sinh phản ánh định kỳ bằng phiếu đóng góp ý kiến, ngồi ra có thể
phản ánh trực tiếp thơng qua giáo viên chủ nhiệm. Ban giám hiệu, tổ chuyên
môn xử lý các thơng tin đó và có biện pháp giúp đỡ kịp thời giáo viên, tăng
cường dự giờ, tư vấn giúp đỡ giáo viên tháo gỡ khó khăn vướng mắc. Triển
khai học sinh đánh giá giáo viên, giáo viên đánh giá hiệu trưởng, thực hiện
chuẩn hiệu trưởng và chuẩn nghề nghiệp giáo viên.
2.6. Những yêu cầu xây dựng quy tắc ứng xử trong nhà trường:
a. Xây dựng mối quan hệ thân thiện giữa thầy và trị:
+ Thầy cơ giáo phải hết lòng thương yêu giúp đỡ học sinh, tạo nhiều cơ hội
để các em có điều kiện gần gũi, giao tiếp, tâm sự.
+ Thể hiện được sự công bằng trong đánh giá, dành nhiều cảm thông và sự
quan tâm đến những học sinh bị hạn chế về học lực, khó khăn trong cuộc
sống.
+ Thầy cơ, lãnh đạo nhà trường phải hịa mình vào các buổi sinh hoạt tập
thể, các buổi lao động, các hoạt động ngoài giờ lên lớp cùng với học sinh.

- 13 -


+ Phải bình tĩnh, suy nghĩ chín chắn khi giải quyết các tình huống liên quan

đến học sinh, để làm sao sau khi giải quyết học sinh cảm thấy mến phục,
mang được tính giáo dục cao.
+ Lãnh đạo nhà trường sắp xếp thời gian để tiếp xúc nhiều với học sinh, kịp
thời giải quyết mọi nguyện vọng chính đáng của học sinh.
+ Giáo viên chủ nhiệm là cầu nối giữa học sinh và nhà trường.
b. Xây dựng môi trường quan hệ thân thiện giữa trị và trị:
+ Thầy cơ giáo mà trước hết là GVCN phải kịp thời phát hiện và ngăn chặn
những mâu thuẫn xảy ra giữa học sinh với nhau.
+ Tạo mơi trường để cho các em có điều kiện giao tiếp giữa các học sinh
trong lớp, giữa lớp này và lớp khác.
+ Tạo điều kiện cho học sinh quan tâm, giúp đỡ lẫn nhau khi có hồn cảnh
khó khăn, trong học tập cũng như trong rèn luyện.
+ Quan tâm rèn luyện ý thức tự giác cho học sinh.
+ Luôn luôn tạo cơ hội cho mỗi học sinh sửa chữa lỗi lầm.
+ Xây dựng đội ngũ cán bộ lớp đáng tin cậy, có uy tín với lớp.
c. Xây dựng mối quan hệ thân thiện giữa thầy với thầy:
+ Trước hết là thực hiện tốt quy chế dân chủ trường học, công khai minh
bạch các hoạt động, đặc biệt là nguồn tài chính.
+ Xây dựng tốt mối quan hệ giữa các thành viên trong lãnh đạo nhà trường
và với tập thể CBCNVC.
+ Xây dựng nội quy cơ quan, quy chế làm việc, quy chế dân chủ, quy chế
chi tiêu nội bộ, các quy định về đạo đức nhà giáo
+ Lãnh đạo phải công tâm và gương mẫu.
+ Lãnh đạo tạo mọi cơ hội để cho cán bộ, giáo viên có cơ hội giao tiếp, tâm
sự.
- 14 -


+ Lãnh đạo giải quyết công việc cần nhẹ nhàng, hợp tình hợp lý; phải lắng
nghe dư luận để chọn lọc, tôn trọng những ý kiến của đồng nghiệp.

+ Kịp thời chia sẻ những hồn cảnh khó khăn giữa đồng nghiệp với nhau.
+ Phát huy vai trò “ tổ ấm” của tổ cơng đồn trong xây dựng mối quan hệ
giữa các thành viên trong nhà trường
d. Rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh :
+ Tổ chức tốt các hoạt động GDNGLL, các cuộc thi, các phong trào văn
nghệ, thể thao, diễn đàn, câu lạc bộ.
+ Tạo môi trường giao tiếp.
+ Tổ chức cho học sinh tham quan, giao lưu với các trường bạn.
+ Tổ chức tư vấn cho học sinh thông qua các buổi HĐGDNGLL.
3.7. Nội dung Quy tắc ứng xử văn hố trong trường THPT chun Lê
Q Đơn
a. Đối với học sinh:
- Quan hệ bạn bè mật thiết, cởi mở trên tinh thần động viên tích cực học
tập, rèn luyện.
- Khơng phát ngơn bừa bãi, lời nói khi diễn đạt có văn hóa.
- Hàng ngày đến trường, lớp, bạn bè chào hỏi thân thiện, vui vẻ.
- Có thái độ kính trên nhường dưới, sẵn sàng chia sẻ với mọi người.
- Khi gặp thầy cô giáo, cán bộ nhân viên chào hỏi niềm nở.
- Tuyệt đối không gây gổ, xích mích, xâm phạm thân thể lẫn nhau.
- Có thái độ bình tĩnh khi đề nghị thầy cơ giáo, cán bộ nhân viên trong nhà
trường giải quyết các vấn đề liên quan đến quyền lợi của bản thân.
- Tự giác sửa chữa lỗi lầm khi vi phạm các điều nội quy của nhà trường.
- Ln có ý thức xây dựng bảo vệ trường lớp ngày càng xanh sạch đẹp hơn.
- 15 -


- Có ý thức tham gia bảo vệ các cơng trình văn hóa, di tích lịch sử của địa
phương.
- Khi có khách đến thăm trường phải biết chào hỏi lịch sự.
- Mỗi học sinh cần phải có ý thức rèn luyện kỹ năng sống và học tập.

b. Đối với cán bộ, giáo viên, nhân viên
- Xây dựng lối sống lành mạnh, vui vẻ hòa đồng.
- Mỗi khi gặp nhau chào hỏi thân thiện, cấp dưới chào hỏi trước cấp trên,
người nhỏ chào hỏi trước ngưịi lớn .
- Ai cũng có ý thức xây dựng tập thể đoàn kết, xây dựng nhà trường ngày
một vững mạnh.
- Ln ln có ý thức tôn trọng đồng nghiệp và học sinh.
- Chào hỏi ân cần, niềm nở lịch sự mỗi khi có khách đến trường.
- Có thái độ bình tĩnh nhẹ nhàng khi bày tỏ ý kiến, khơng phát ngơn lời lẽ
thiếu văn hóa.
- Mỗi người đều có trách nhiệm giữ gìn vệ sinh sạch sẽ, chăm lo cảnh quan,
bảo vệ cơ sở vật chất của nhà trường.
- Tác phong, đạo đức, lối sống mẫu mực để học sinh noi theo.
- Không xâm phạm đến thân thể đồng nghiệp và học sinh.
- Sẵn sàng chia sẻ với mọi hoàn cảnh liên quan đến đồng nghiệp và học
sinh.
- Kịp thời trao đổi, đề xuất với lãnh đạo khi có những tình huống bất thường
xảy ra trong nhà trường.
- Mỗi cán bộ, giáo viên và nhân viên phải tự mình rèn luyện tốt về kỹ năng
sống để học sinh noi theo.

- 16 -


IV. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
Tình hình đội ngũ:
Đã có những bước chuyển biến đáng kể về nhận thức, nêu cao tinh thần
đoàn kết nội bộ, quan hệ giữa đồng nghiệp hòa nhã thân thiện, cởi mở, nêu
cao ý thức trách nhiệm hơn trong công tác nhất là việc thực hiện quy chế
chun mơn, tạo bầu khơng khí vui tươi, phấn khởi, dân chủ, thoải mái trong

môi trường cơng tác, có ý thức tự học, tự bồi dưỡng, tự điều chỉnh hành vi
thái độ cho phù hợp với u cầu, có thái độ tơn trọng, lắng nghe, cầu tiến và
ln có ý thức phấn đấu vươn lên hồn thành tốt nhiệm vụ được giao.
Tình hình học sinh:
Qua thực hiện phong trào “ Xây dựng trường học thân thiện – học sinh tích
cực” và thực hiện đề tài này tại nhà trường trong năm hoc vừa qua, các em
được thể hiện nhiều hơn, mạnh dạn và tự chủ hơn, có cơ hội học tập lẫn nhau,
rèn luyện thêm nhiều về kỹ năng sống, giao tiếp, ứng xử, đối phó với những
tình huống xấu, …Chính vì vậy chất lượng giáo dục của nhà trường đã có
chuyển biến tích cực, tỉ lệ và chất lượng chuyển lớp đạt 100%, tỷ lệ tốt nghiệp
100%, tỉ lệ học sinh giỏi năm sau cao hơn năm trước, tỷ lệ học sinh đỗ vào
các trường ĐH, CĐ tăng dần.
Các hoạt động bổ ích nhằm thu hút đơng đảo học sinh tham gia, tạo
khơng khí vui tươi phấn khởi, tăng cường tình đồn kết, ý thức trách nhiệm vì
tập thể như : Tổ chức tốt lễ tri ân và trưởng thành cho học sinh khối 12, được
nhân dân và cha mẹ học sinh đồng tình ủng hộ, để lại nhiều ấn tượng tốt đẹp
trong lòng học sinh sắp dời xa mái trường phổ thông gần gũi thân yêu. Cuộc
thi “Giai điệu tuổi hồng” giành cho bậc THPT năm 2011 nhà trường đạt giải
nhất toàn đoàn, trong đó có 02 tiết mục đạt giải xuất sắc. Năm học 2009 2010 trường được công nhận “ Trường học thân thiện, học sinh tích cực ” và
tiếp tục giữ vững, phát triển phong trào này trong những năm học tiếp theo.

- 17 -


PHẦN KẾT LUẬN
I. Những bài học kinh nghiệm
Qua công tác chỉ đạo thực hiện phong trào “ Xây dựng trường học
thân thiện, học sinh tích cực ” tại trường THPT chuyên Lê Quý Đôn, cá nhân
tôi rút ra các bài học kinh nghiệm sau đây:
1. Xây dựng chương trình hành động và kế hoạch thực hiện cuộc vận

động cụ thể trong từng giai đoạn, từng năm học, trong đó thể hiện rõ vai trò
trách nhiệm của các thành viên trong ban chỉ đạo, các tổ chức đoàn thể, các
giáo viên chủ nhiêm,
2. Tăng cường kiểm tra đôn đốc việc thực hiện, phối hợp và phát huy
vai trò của các tổ chức đoàn thể, kịp thời khắc phục những yếu kém khuyết
điểm sau mỗi đợt sơ kết thực hiện phong trào. Phát huy tốt vai trò của ban
kiểm tra nội bộ trường học.
3. Quan tâm chỉ đạo môi trường giáo dục ngày càng thân thiện - hoạt
động dạy và học ngày càng tích cực.
4. Ln có sự chỉ đạo đổi mới trong các hình thức rèn luyện, thi đua, giáo
dục tạo hứng thú mới mẻ đối với học sinh.
5. Yêu cầu GVCN phải hiểu rõ tâm sinh lý, tính cách của từng học sinh
có những biện pháp giáo dục cụ thể, thích hợp. Tùy theo năng lực giáo viên
có thể bố trí chủ nhiệm đuổi và dạy đuổi theo cả cấp học.
6. Tranh thủ sự giúp đỡ của cấp trên, sự đồng thuận của cha mẹ học sinh
tạo nên sự phối hợp chặt chẽ giữa gia đình – nhà trường – xã hội

II.Ý nghĩa của sáng kiến kinh nghiệm
Để có một “Ngôi trường thân thiện” thực sự nếu như chỉ chú trọng đưa
vào các hoạt động vui chơi các trò chơi dân gian, tìm hiểu và chăm sóc di tích
lịch sử hay các hoạt động ngoại khố khác thì khơng đủ. Vì đó cũng chỉ là
những hoạt động bổ trợ cho nhiệm vụ chính là học tập của các em. Điều các
em cần là môi trường học tập thân thiện, phương pháp học tập và phương
- 18 -


pháp giảng dạy thân thiện, các mối quan hệ thân thiện và những sự phục vụ
thân thiện của nhà trường. Có như vậy các em mới thấy thật sự thoải mái và
yêu mến trường như nhà của mình. Mỗi khi xa trường một ngày các em chỉ
mong chóng trở lại trường. Học sinh sẽ gắn bó với trường học và mỗi ngày

đến trường mới thực sự là một ngày vui của các em.
III. Khả năng ứng dụng, triển khai.
Phong trào thi đua “ Xây dựng trường học thân thiện – học sinh tích cực”
đã được triển khai thực hiện tương đối tốt ở trường THPT chuyên Lê Quý
Đôn, phong trào này cũng đã và đang được thực hiện ở tất cả các trường
THPT, tuy nhiên mục đích có thể giống nhau nhưng hiệu quả và cách làm có
thể khơng giống nhau, hy vọng qua bài viết này các trường phổ thơng có thể
lựa chọn nội dung, cách làm, cách tư duy chỉ đạo từ trường THPT chuyên Lê
Quý Đôn để áp dụng phù hợp với điều kiện thực tế trường mình, góp phần
nâng cao chất lượng giáo dục tồn diện học sinh, hoàn thành tốt nhiệm vụ
năm học.

V. Những kiến nghị đề xuất.
+ Trong hướng dẫn thi đua thực hiện cuộc vận động này, thường trực thi
đua ngành nên cụ thể hóa các tiêu chí cuộc vận động thi đua “Xây dựng
trường học thân thiện – học sinh tích cực” đối với các nhà trường trong từng
năm, thể hiện rõ mức độ yêu cầu cần đạt được.
+ Trong sơ, tổng kết cuộc vận động thi đua “Xây dựng trường học thân
thiện – học sinh tích cực” hàng năm có thể nêu các gương điển hình thực hiện
tốt cuộc vận động, các nhà trường thực hiện tốt, các yếu điểm cần khắc phục
để các nhà trường phấn đấu tốt hơn trong năm sau.

- 19 -


TÀI LIỆU THAM KHẢO

+ Chỉ thị số 40/CT-BGD-ĐT của Bộ GD-ĐT v/v thực hiện Phong trào thi
đua “Xây dựng trường học thân thiện– học sinh tích cực”
+ Kế hoạc số 307/KH-BGD-ĐT của Bộ GD-ĐT ngày 22/7/2008 v/v thực

hiện Phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện– học sinh tích cực”
+ Kế hoạch Số: 533/KH/BGDĐT-BVHTTDL - TƯĐTN - HLHPNVN HKHVN, ngày 01 tháng 9 năm 2010
+ Kế hoạch số574/KH – SGD&ĐT Lai Châu ngày 11/08/2008 về việc triển
khai phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện– học sinh tích cực”
trong các trường phổ thơng giai đoạn 2008 -2013.
+ Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học 2010 - 2011 của Sở GD-ĐT Lai
Châu
+ Một số bài báo viết về Phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân
thiện – học sinh tích cực” trên báo Giáo dục-Thời đại

- 20 -


MỤC LỤC

Thứ tự

Nội dung

Trang

1

Tên đề tài…………………………………………

1

Phần mở đầu……………………………………..

1


I

Bối cảnh của đề tài……………………………….

1

II

Lý do chọn đề tài…………………………………

1

III

Phạm vi và đối tượng nghiên cứu……………….

2

IV

Mục đích nghiên cứu…………………………….

2

V

Điểm mới trong kết quả nghiên cứu…………….

2


Phần nội dung……………………………..

3

I

Cơ sở lý luận………………………………………

3

II

Thực trạng của vấn đề……………………………

4

III

Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề.

5

IV

Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm …………...

17

Phần kết luận……………………………


18

I

Những bài học kinh nghiệm……………………...

18

II

Ý nghĩa của sáng kiến kinh nghiệm …………….

18

III

Khả năng ứng dụng, triển khai …………………

19

IV

Những kiến nghị đề xuất ………………………...

19

Tài liệu tham khảo……………………………….

20


Mục lục……………………………………………

21

- 21 -


- 22 -



×