Tải bản đầy đủ (.doc) (31 trang)

Phương pháp phân tích chất lượng sản phẩm trong doanh nghiệp

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (225.33 KB, 31 trang )

MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
LỜI MỞ ĐẦU
1.1.1.1 Theo quan niệm cổ điển: 5
1.1.1.2 Theo quan niệm hiện đại : 5
1.1.2.2 Nhóm chỉ êu không thể so sánh được 7
1.2 ĐẶC ĐIỂM CỦA CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM 11
1.3 CÁC LOẠI CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM 13
CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH CHẤT LƯỢNG SẢN
PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 17
2.1.2 Phương pháp đơn giá bình quân 17
2.1.3 Phương pháp hệ số phẩm cấp bình quân 18
2.2 PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH SAI HỎNG SẢN PHẨM TRONG SẢN XUẤT
18
2.2.1 Đánh giá chất lượng sản phẩm sản xuất của từng loại sản phẩm 19
2.2.2 Đánh giá chung chất lượng sản phẩm sản xuất của toàn doanh nghiệp 19
PHẦN III: 22
MỘT SỐ PHƯƠNG HƯỚNG NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
SẢN PHẨM NHẰM NÂNG CAO SỨC CẠNH TRANH Ở
VIỆT NAM 22
3.1 HIỆN ĐẠI HÓA CÔNG NGHỆ 22
3.2 NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ LAO ĐỘNG 22
3.3 LỰA CHỌN HỆ THỐNG CHẤT LƯỢNG ĐỂ ÁP DỤNG 23
3.3.2 Mô hình GMP 24
3.3.3 Mô hình đảm bảo chất lượng ISO 9000 25
3.3.4 Mô hình quản lý chất lượng tổng hợp TQM 26
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1
2
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT


Chữ viết tắt Chữ đầy đủ
TCN Tiêu chuẩn ngành
TCDN Tiêu chuẩn doanh nghiệp
TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam
GMB Thực hành sản xuất tốt
TQM Quản lý chất lượng tổng hợp
NVL Nguyên vật liệu
QTCL Quản trị chất lượng
QLCL Quản lý chất lượng
3
LỜI MỞ ĐẦU
Quá trình toàn cầu hóa, khu vực hóa đang diễn ra với tốc độ nhanh và bao
trùm lên tất cả là các hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội, môi trường. Việc nâng cao
chất lượng sản phẩm, hạ thấp giá thành sản xuất nâng cao năng lực cạnh tranh là
vấn đề sống còn của doanh nghiệp Việt Nam. Với chủ trương phát triển nền kinh tế
thị trường nhiều thành phần có sự quản lý nhà nước theo định hướng Xã hội chủ
nghĩa trong điều kiện “mở cửa” và “cạnh tranh” đòi hỏi tất cả các đơn vị sản xuất
kinh doanh phải quan tâm đến hai vấn đề cực kì quan trong đó là: Giá cả và chất
lượng sản phẩm hàng hóa, trong đó chất lượng sản phẩm như là một yếu tố quyết
định. Vậy làm thế nào để đảm bảo và nâng cao chất lượng một cách kinh tế nhất để
nâng cao sức cạnh tranh cho sản phẩm ở các doanh nghiệp trong điều kiện nền kinh
tế hiện nay?
Trong phạm vi giới hạn, cuốn đề án này chỉ xin đề cập tới việc nghiên cứu các
phương pháp phân tích chất lượng sản phẩm trong Doanh nghiệp.
Mục đích nghiên cứu của đề tài: là nhằm làm sáng tỏ hơn thực trạng và đưa ra
một số giải pháp chính nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm để nâng cao sức cạnh
tranh với các sản phẩm nước ngoài, trong nước cũng như trên thị trường thế giới.
Kết cấu đề tài gồm có 3 phần:
Phần I: Lý luận chung về chất lượng sản phẩm
Phần II: Các phương pháp phân tích chất lượng sản phẩm trong Doanh nghiệp

PHẦN III: Một số phương hướng nâng cao chất lượng sản phẩm nhằm nâng
cao sức cạnh tranh ở Việt Nam
Do thời gian có hạn nên nội dung bài viết không thể tránh khỏi những thiếu sót.
Rất mong được sự giúp đỡ của thầy để em khắc phục những thiếu sót và hoàn thiện
bài đề án này. Em xin chân thành cảm ơn!.
4
Quy Nhơn, ngày 15 tháng 12 năm 2013
Sinh viên thực hiện
PHẦN I:
LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM
1.1 TỔNG QUAN VỀ CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM
1.1.1 Khái niệm về chất lượng sản phẩm
1.1.1.1 Theo quan niệm cổ điển:
Chất lượng sản phẩm là tổng hợp những đặc tính bên trong của sản phẩm là
tổng hợp có thể đo được hoặc so sánh được nó được phản ánh giá trị sử dụng và
tính năng của sản phẩm đó đáp ứng những yêu cầu qui định trước cho nó trong
những điều kiện xác định về kinh tế xã hội
1.1.1.2 Theo quan niệm hiện đại :
* Philip Crosby : chất lượng là sự tuân thủ các yêu cầu.
Theo quan điểm này thì các nhà thiết kế phải đưa ra được yêu cầu đối với sản
phẩm và những người công nhân sản xuất phải tuân thủ những yêu cầu này . Chức
năng của chất lượng đây là chức năng thanh tra, kiểm tra xem những yêu cầu đưa ra
đã được tuân thủ một cách chặt chẽ hay chưa.
* Joseph juran : chất lượng là phù hợp với mục đích .
Định nghĩa này của juran đã đề cập tới nhu cầu của khách hàng về sản phẩm
mà doanh nghiệp định cung cấp. Chức năng của chất lượng đây không phải chỉ là
chức năng thanh tra , kiểm tra mà còn là một bộ phận của công tác quản lý của tất
cả các chức năng trong tổ chức .
* Deming và Ishikawa : Chất lượng là một quá trình chứ không phải là một cái
đích .

Theo định nghĩa này thì chất lượng là một trạng thái liên quan tới sản phẩm,
dịch vụ, con người , quá trình đáp ứng hoặc vượt qua kì vọng của khách hàng . vì
vậy nó đòi hỏi các tổ chức phải liên tục cải tiến chất lượng .
* Chất lượng là lợi thế cạnh tranh của chúng ta :
Định nghĩa này cho rằng yếu tố chất lượng là yếu tố quan trọng nhất đem lại
thành công cho một tổ chức một lợi thế cho một tổ chức so với các đối thủ cạnh
tranh khác và nó cũng thể hiện sức mạnh cạnh tranh của một tổ chức trên thị trường
* Chất lượng là sự thoả mãn của khách hàng :
5
Định nghĩa này cho chúng ta thấy một sản phẩm được sản xuất ra có chất
lượng hay không hoàn toàn phụ thuộc vào sự đánh giá của khách hàng . Nếu sản
phẩm đó làm khách hàng thoả mãn và vượt trên sự mong đợi của họ thì sản phẩm
đó có chất lượng cao ,còn những sản phẩm không làm cho khách hàng hài lòng thì
những sản phẩm đó không có chất lượng .
*ISO 9000:2000: Chất lượng là mức độ của một tập hợp các đặc tính vốn có
đáp ứng các yêu cầu .
Các đặc tính bao gồm: vật lý, cảm quan, hành vi, thời gian, ergonomic, chức
năng và các đặc tính này phải đáp ứng được các yêu cầu xác định, ngầm hiểu chung
hay bắt buộc . Trong số các định nghĩa trên về chất lượng thì định nghiã theo ISO
9000:2000 là định nghĩa tổng quát và được hầu hết các quốc gia trên thế giới thừa
nhận .
1.1.2 Những chỉ tiêu đánh giá chất lượng sản phẩm
1.1.2.1 Nhóm chỉ tiêu có thể so sánh được:
Là chỉ tiêu có thể tính toán được dựa trên cơ sở các số liệu điều tra, thu thập
từ hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty .
Nhóm chỉ tiêu chất lượng này bao gồm :
+ Chỉ tiêu tỷ lệ sản phẩm sai hỏng : chỉ tiêu này dùng để đánh giá tình hình
chất lượng sản phẩm trong sản xuất kinh doanh .
- Dùng thước đo hiện vật:
Tỷ lệ SP hỏng

cá biệt
=
Số lượng sản phẩm hỏng
x100
Tổng số sản phẩm sản xuất
- Dùng thước đo giá trị :
Tỷ lệ SP hỏng
cá biệt
=
Chi phí về sản phẩm hỏng
x100
Tổng chi phí toàn bộ sản phẩm hàng hoá
+ Độ lệch chuẩn và tỷ lệ sản phẩm đạt chất lượng:
6
Độ lệch chuẩn =
( )
1
1
2



=
n
XX
n
i
i
Trong đó:
X

: là chất lượng sản phẩm tiêu chuẩn (lấy làm mẫu để so sánh ).
X
i
: là chất lượng sản phẩm đem ra so sánh.
n: là số lượng sản phẩm đem ra so sánh.
Tỉ lệ sản phẩm đạt chất lượng =
Số sản phẩm đạt chất lượng
x100%
Tổng số sản phẩm được kiểm tra
+ Chỉ tiêu hệ số phẩm cấp bình quân: chỉ tiêu này dùng để phân tích thứ hạng
của chất lượng sản phẩm.
H =


×
×
)(
)(
1
PQ
PQ
i
ii
Trong đó:
H : hệ số phẩm cấp bình quân
Q
i
: số lượng sản phẩm loại i
P
i

: đơn giá sản phẩm loại i
P
1
: đơn giá sản phẩm loại 1
1.1.2.2 Nhóm chỉ tiêu không thể so sánh được .
- Độ bền (tuổi thọ sản phẩm ) là thời gian sử dụng sản phẩm cho đến khi sản
phẩm đó hư hỏng hoàn toàn, nó được tính bằng thời gian sử dụng trung bình .
- Độ tin cậy của sản phẩm là thời gian sử dụng trong điều kiện bình thường vẫn
giữ nguyên được đặc tính của nó, các chỉ tiêu phản ánh bao gồm: xác suất sử dụng
không hỏng, cường độ xảy ra khi hỏng, khối lượng công việc trung bình đến khi
hỏng
7
1.1.3 Những nhân tố tạo nên chất lượng sản phẩm
Chất lượng sản phẩm được tạo nên từ nhiều yếu tố, nhiều điều kiện trong chu
kỳ sống của sản phẩm. Nó được hình thành trong suốt quá trình sản xuất kinh
doanh, hoạt động của một doanh nghiệp, một tổ chức do nhiều yếu tố quyết định
như:
• Chất lượng máy móc thiết bị sử dụng trong quá trình sản xuất
• Chất lượng lao động
Như vậy, chất lượng không phải chỉ là thuộc tính của sản phẩm hàng hóa mà ta
vẫn thường nghĩ. Chất lượng có thể áp dụng cho mọi thực thể đó là chất lượng
sản phẩm, chất lượng của một hoạt động, chất của một doanh nghiệp…
Từ đó chúng ta thấy rằng chất lượng sản phẩm được cấu thành từ rất nhiều các
nhân tố và các nhân tố này đều có vai trò quan trọng ảnh hưởng tới chất lượng
sản phẩm, chúng ta có thể thấy rõ hơn chuỗi giá trị
Cơ sở hạ tầng của công ty
Nguồn nhân lực
Phát triển công nghệ
Cung ứng
Hậu cần

nội bộ Sản xuất
Hậu cần
nội bộ
Marketing
và bán
hàng
Dịch vụ
8
Gía trị gia
tăng
1.1.4 Những nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm
1.1.4.1 Nhóm nhân tố bên trong
a. Lực lượng lao động
Con người là một nguồn lực, yếu tố con người ở đây phải hiểu là tất cả mọi
người trong doanh nghiệp từ lãnh đạo cao nhất đến nhân viên đều tham gia vào quá
trình tạo chất lượng.
b. Khả năng về kỹ thuật công nghệ
Yếu tố - công nghệ - thiết bị có một tầm quan trọng đặc biệt có tác dụng quyết
định đến sự hình thành chất lượng sản phẩm.Quá trình công nghệ là một quá trình
phức tạp làm thay đổi, cải thiện tính chất ban đầu của nguyên vật liệu theo hướng
phù hợp với các yêu cầu chất lượng. Quá trình công nghệ được thực hiện thông qua
hệ thống máy móc thiết bị. Nếu như công nghệ hiện đại, nhưng thiết bị không đảm
bảo thì không thể nào nâng cao chất lượng sản phẩm được. Nhóm yếu tố kỹ thuật -
công nghệ - thiết bị có quan hệ tương hỗ chặt chẽ với nhau. Để có được chất lượng
ta phải đảm bảo sự đồng bộ của nhóm yếu tố này.
c. Nguyên vật liệu và hệ thống tổ chức nguyên vật liệu
Đây là yếu tố cơ bản đầu vào, có ảnh hưởng quyết định đến chất lượng sản
phẩm. Muốn có sản phẩm có chất lượng thì nguyên liệu đầu vào phải đảm bảo
chấtlượng. Các yêu cầu về nguyên liệu đầu vào bao gồm đúng chủng loại, số lượng,
chất lượng và giao hàng đúng kỳ hạn.

d. Trình độ tồ chức quản lý và tổ chức sản xuất
Có nguyên vật liệu tốt, máy móc, trang thiết bị hiện đại song nếu không có
một phương pháp tổ chức, quản lý sản xuất kinh doanh thì không thể nào bảo đảm
và nâng cao chất lượng. Vấn đề quản lý chất lượng đã và đang được các nhà khoa
học, các nhà quản lý rất quan tâm. Vai trò của công tác quản lý chất lượng đã được
xác định là một yếu tố có tính chất quyết định đến chất lượng sản phẩm.
9
1.1.4.2 Nhóm nhân tố bên ngoài
a. Nhu cầu về chất lượng sản phẩm
Nhu cầu về chất lượng sản phẩm là xuất phát điểm của quản lý chất lượng vì
nó là một trong các căn cứ quan trọng để xác định các tiêu thức chất lượng cụ thể.
Cầu về chất lượng sản phẩm cụ thể phụ thuộc vào nhiều nhân tố trong đó có nhân tố
thu nhập của người tiêu dùng: người tiêu dùng có thu nhập cao thường có yêu cầu
cao về chất lượng sản phẩm và ngược lại, khi thu nhập của người tiêu dùng thấp thì
họ không mấy nhạy cảm với chất lượng sản phẩm. Hơn nữa, do tập quán, đặc tính
tiêu dùng khác nhau mà người tiêu dùng ở từng địa phương, từng vùng, từng nước
có nhu cầu về chất lượng sản phẩm khác nhau. Mặt khác, cầu về chất lượng sản
phẩm là phạm trù phát triển theo thời gian.
b. Trình độ phát triển của kỹ thuật công nghệ sản xuất
Nó phản ánh đòi hỏi khách quan về chất lượng sản phẩm. Trong quá trình phát
triển kinh tế theo hướng hội nhập với khu vực và quốc tế, cạnh tranh ngày càng gay
gắt và mang tính "quốc tế hoá". Chất lượng là một trong những nhân tố quan trọng
quy định lợi thế cạnh tranh, trình độ chất lượng sản phẩm cũng được "quốc tế hoá"
và ngày càng phát triển. Nếu doanh nghiệp không nghiên cứu kỹ và tính toán nhân
tố này, sản phẩm của doanh nghiệp sẽ bị bất lợi về chất lượng và do đó giảm sức
cạnh tranh của doanh nghiệp. Chất lượng sản phẩm của nhiều doanh nghiệp sử dụng
kỹ thuật công nghệ lạc hậu hiện nay ở nước ta là ví dụ điển hình về vấn đề này.
c. Cơ chế quản lý kinh tế
Đây là một nhân tố bên ngoài tác động mạnh mẽ đến phạm trù chất lượng sản
phẩm. Cơ chế kế hoạch hoá tập chung quy địmh tính thống nhất của chất lượng sản

phẩm. Trong điều kiện đó, chất lượng sản phẩm hầu như chỉ phản ánh đặc trưng
kinh tế - kỹ thuật của sản xuất mà không chú ý đến cầu và nhu cầu của người tiêu
dùng. Khi chuyển sang cơ chế thị trường, cạnh tranh là nền tảng, chất lượng sản
phẩm không còn là phạm trù của riêng nhà sản xuất mà là phạm trù phản ánh cầu
của người tiêu dùng. Chất lượng sản phẩm không phải là phạm trù bất biến mà thay
đổi theo những nhóm người tiêu dùng và thời gian. Với cơ chế đóng, chất lượng sản
10
phẩm là một phạm trù chỉ gắn liền với các điều kiện kinh tế kỹ thuật của một nước,
ít và hầu như không chịu ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế - kỹ thuật thuộc phạm
vi quốc tế. Do đó, yếu tố sức ỳ của phạm trù chất lượng thường lớn, chất lượng
chậm được thay đổi. Cơ chế kinh tế mở, hội nhập chất lượng là một trong những
nhân tố quan trọng quy định lợi thế cạnh tranh quốc tế. Vì vậy đòi hỏi chất lượng
sản phẩm mang tính "quốc tế hoá" .
d. Vai trò quản lý kinh tế vĩ mô
Trong cơ chế kinh tế thị trường hoạt động quản lý vĩ mô của nhà nước trước
hết là hoạt động xác lập các cơ chế pháp lý cần thiết vế chất lượng sản phẩm và
quản lý chất lượng sản phẩm. Pháp lệnh chất lượng hàng hoá quy định các vấn đề
pháp lý liên quan đến cơ quan quản lý chất lượng ban hành và áp dụng tiêu chuẩn,
trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân kinh doanh và quyền của người tiêu dùng về
chất lượng sản phẩm. Bên cạnh đó, hoạt động quản lý vĩ mô cũng không kém phần
quan trọng là kiểm tra, kiểm soát tính trung thực của người sản xuất trong việc sản
xuất các sản phẩm theo tiêu chuẩn chất lượng đã đăng ký, bảo vệ quyền lợi người
tiêu dùng. Với nhiệm vụ đó quản lý vĩ mô đóng vai trò quan trọng trong việc đảm
bảo ổn định chất lượng sản phẩm phù hợp với lợi ích người tiêu dùng, của xã hội.
1.2 ĐẶC ĐIỂM CỦA CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM
1.2.1 Chất lượng sản phẩm là một phạm trù kinh tế xã hội
Chất lượng sản phẩm là một phạm trù kinh tế xã hội, công nghệ tổng hợp
luôn thay đổi theo thời gian và không gian phụ thuộc chặt chẽ vào môi trường và
điều kiện kinh doanh cụ thể trong từng thời kỳ.
1.2.2 Chất lượng sản phẩm là một chỉ tiêu có thể đo lường

Mỗi sản phẩm được đặc trưng bằng các tính chất đặc điểm riêng biệt bên
trong của sản phẩm đó. Những đặc tính đó phản ánh tính khách quan của sản phẩm
thể hiện trong quá trình và sử dụng sản phẩm đó. Những đặc tính khách quan này
phụ thuộc rất lớn và trình độ thiết kế quy định cho sản phẩm đó. Mỗi tính chất được
biểu thị các chỉ tiêu lý hóa nhất định có thể đo lường đánh giá được. Vì vậy, nói đến
chất lượng phải đánh giá thông qua hệ thống chỉ tiêu, tiêu chuẩn cụ thể. Đặc điểm
11
này khẳng định những sai lầm cho rằng chất lượng sản phẩm là các chỉ tiêu không
thể đo lường, đánh giá được.
Nói đến chất lượng sản phẩm phải xem xét sản phẩm đó thõa mãn tới mức
độ nào nhu cầu của khách hàng. Mức độ thõa mãn phụ thuộc rất lớn vào chất lượng
thiết kế và những tiêu chuẩn kỹ thuật đặt ra cho mỗi sản phẩm. Ở các nước tư bản,
qua phân tích thực tế chất lượng sản phẩm trong nhiều năm đi đến kết luận rằng
chất lượng sản phẩm tốt hay xấu thì 75% phụ thuộc vào giải pháp thiết kế, 20% phụ
thuộc vào công tác kiểm tra kiểm soát và chỉ có 5% phụ thuộc vào kết quả nghiệm
thu cuối cùng.
1.2.3 Chất lượng sản phẩm mang tính dân tộc
Chất lượng sản phẩm còn mang tính dân tộc thể hiện ở truyền thống tiêu dùng. Mỗi
dân tộc, mỗi quốc gia và mỗi vùng đều có thị hiếu tiêu dùng khác nhau. Mỗi sản
phẩm có thể được xem được tốt ở nơi này nhưng lại được coi là không tốt ở nơi
khác. Trong kinh doanh không thể có một chất lượng như nhau ở tất cả các vùng mà
phải cần căn cứ vào hoàn cảnh cụ thể để đề ra các phương án về chất lượng cho phù
hợp. Chất lượng biểu thị ở hai cấp độ và phản ánh hai mặt khách quan và chủ quan
hay nói cách khác còn gọi là hai loại chất lượng:
- Chất lượng tuân thủ thiết kế: thể hiện ở mức độ sản phẩm đạt được so với tiêu
chuẩn thiết kế đề ra. Khi sản phẩm sản xuất ra có những đặc tính kinh tế kỹ
thuật càng gần với tiêu chuẩn thiết kế thì chất lượng cao, được phản ánh thông
qua các chỉ tiêu như:
• Tỷ lệ phế phẩm
• Sản phẩm không đạt yêu cầu thiết kế

Loại chất lượng này phản ánh những đặc tính bản chất khách quan của sản phẩm do
đó liên quan chặt chẽ đến khả năng cạnh tranh và chi phí.
- Chất lượng trong sự phù hợp: Nó phản ánh mức phù hợp của sản phẩm với nhu
cầu khách hàng. Chất lượng phụ thuộc vào mức độ phù hợp của sản phẩm thiết
kế so với nhu cầu và mong muốn của khách hàng. Mức độ phù hợp càng cao thì
chất lượng càng cao. Loại chất lượng này phụ thuộc vào mong muốn và sự đánh
12
giá chủ quan của người tiêu dùng, vì vậy nó tác động mạnh mẽ đến khả năng
tiêu thụ sản phẩm.
1.3 CÁC LOẠI CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM
Để hiểu đầy đủ và có những biện pháp không ngừng nâng cao chất lượng sản
phẩm, đòi hỏi các doanh nghiệp phải nắm chắc các loại chất lượng sản phẩm. Theo
hệ thống chất lượng ISO_9000 người ta phân các loại chất lượng sau:
- Chất lượng thiết kế: là giá trị riêng của các thuộc tính được phác thảo ra trên
cơ sở nghiên cứu trắc nghiệm của sản xuất và tiêu dùng. Đồng thời có so sánh với
các hàng tương tự của nhiều nước. Chất lượng thiết kế được hình thành ở giai đoạn
đầu của quá trình hình thành chất lượng sản phẩm.
- Chất lượng tiêu chuẩn: là giá trị riêng của những thuộc tính của sản phẩm
được thừa nhận, phê chuẩn trong quản lý chất lượng sản phẩm. Chất lượng sản
phẩm là nội dung tiêu chuẩn một loại hàng hoá. Chất lượng tiêu chuẩn có ý nghĩa
pháp lệnh buộc phải thực hiên nghiêm chỉnh trong quá trình quản lý chất lượng.
Chất lượng tiêu chuẩn có nhiều loại:
+ Tiêu chuẩn quốc tế là những tiêu chuẩn do tổ chức chất lượng quốc tế đề ra
được các nước chấp nhận và xem xét áp dụng cho phù hợp với điều kiện từng nước.
+ Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) là tiêu chuẩn nhà nước, được xây dựng trên
cơ sở nghiên cứu ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật, kinh nghiệm tiêu biểu và
tiêu chuẩn quốc tế phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội Việt Nam.
+ Tiêu chuẩn ngành (TCN) là các chỉ tiêu về chất lượng do các bộ, các tổng
cục xét duyệt và ban hành, có hiệu lực đối với tất cả các đơn vị trong nghành địa
phương đó.

+ Tiêu chuẩn doanh nghiệp (TCDN) là các chỉ tiêu về chất lượng do doanh
nghiệp tự nghiên cứu và áp dụng trong doanh nghiệp mình cho phù hợp với điều
kiện riêng của doanh nghiệp đó.
- Chất lượng thực tế: chỉ mức độ thực tế đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của sản
phẩm, bao gồm chất lượng thực tế trong sản xuất và chất lượng thực tế trong tiêu
dùng.
13
- Chất lượng cho phép: là dung sai cho phép giữa chất lượng thực tế với chất
lượng tiêu chuẩn. Chất lượng cho phép phụ thuộc vào điều kiện kỹ thuật của từng
nước, phụ thuộc vào trình độ lành nghề của công nhân. Khi chất lượng thực tế của
sản phẩm vượt quá dung sai cho phép thì hàng hoá sẽ trở thành hàng hoá phế phẩm.
- Chất lượng tối ưu: biểu thị khả năng thoả mãn toàn diện nhu cầu của thị
trường trong những điều kiện xác định với chi phí xã hội thấp nhất. Thường người
ta phải giải quyết mối quan hệ chi phí và chất lượng sao cho chi phí thấp mà chất
lượng vẫn đảm bảo có như vậy doanh nghiệp mới có lợi thế cạnh tranh và tăng được
sức cạnh tranh.
1.4 TẦM QUAN TRỌNG VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM
1.4.1 Tầm quan trọng của chất lượng sản phẩm
Cơ chế thị trường tạo động lực mạnh mẽ và thúc đẩy sự phát triển của các
doanh nghiệp và nền kinh tế. Đồng thời cũng đặt ra những thách thức đối với các
doanh nghiệp. Hoạt động của các doanh nghiệp chịu sự chi phối một cách mạnh
nhất, đòi hỏi các doanh nghiệp phải nắm vững nhu cầu thị trường cả về mặt không
gian, thời gian, số lượng, chất lượng.
Thế mạnh của kinh tế thị trường là hàng hóa phong phú đa dạng, cạnh tranh
gay gắt, người tiêu dùng được các sản phẩm theo nhu cầu, sở thích, khả năng mua
của họ. Trong doanh nghiệp, chất lượng sản phẩm luôn là một trong những nhân tố
quan trọng quyết định khả năng trên thị trường
Chất lượng sản phẩm là cơ sở để doanh nghiệp thực hiện các chiến lược
Marketing, mở rộng thị trường, tạo uy tín, danh tiếng cho sản phẩm của doanh

nghiệp, khẳng định vị trí của sản phẩm đó trên thị trường. Từ đó làm cơ sở cho sự
tồn tại và phát triển lâu bền của doanh nghiệp.
Hiệu quả kinh tế, sự thành công của một doanh nghiệp không chỉ phụ thuộc
vào sự phát triển sản xuất có năng suất, chất lượng mà còn được tạo thành bởi sự
tiết kiệm, đặc biệt là tiết kiệm nguyên vật liệu, thiết bị, lao động trong quá trình sản
xuất và không sản xuất ra các phế phẩm. Nâng cao chất lượng chính là điều kiện để
đạt được sự tiết kiệm đó. Nhờ tăng chất lượng sản phẩm dẫn đến tăng giá trị sử
14
dụng và lợi ích kinh tế xã hội trên một đơn vị chi phí đầu vào, giảm lượng nguyên
vật liệu sử dụng, tiết kiệm tài nguyên, giảm ô nhiễm môi trường. Như vậy, nâng cao
chất lượng sản phẩm chính là con đường ngắn nhất và tốt nhất đem lại hiệu quả
kinh tế.
Chất lượng sản phẩm được nâng cao giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu
kinh doanh của mình là lợi nhuận. Đây đồng thời là điều kiện để doanh nghiệp tồn
tại và phát triển. Chất lượng sản phẩm góp phần đẩy mạnh tiến bộ sản xuất, tổ chức
lao động trong một doanh nghiệp nói riêng cũng như trên phạm vi quốc gia nói
chung. Khi doanh nghiệp đã được lợi nhuận thì có điều kiện để đảm bảo việc làm
cho người lao động, tăng thu nhập cho họ và làm cho tin tưởng gắn bó với doanh
nghiệp, góp hết công sức để sản xuất những sản phẩm có chất lượng tốt giúp doanh
nghiệp kinh doanh hiệu quả hơn.
Chất lượng sản phẩm tốt đảm bảo hướng dẫn và kích thích tiêu dùng. Riêng
đối với sản phẩm là tư liệu sản xuất thì chất lượng sản phẩm tốt sẽ đảm bảo cho việc
trang bị kỹ thuật hiện đại cho nền kinh tế quốc dân, tăng năng suất lao động. Chất
lượng sản phẩm không những làm nâng cao uy tín hàng hóa của nước ta trên thị
trường quốc tế mà còn tạo điều kiện để tăng cường thu nhập ngoại tệ cho đất nước.
1.4.2 Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng sản phẩm
1.4.2.1 Do yếu tố cạnh tranh
Hội nhập vào kinh tế thị trường thế giới, nghĩa là chấp nhận sự cạnh tranh,
chịu sự tác động của quy luật cạnh tranh. Với chính sách mở cửa, tự do hóa thương
mại các nhà sản xuất kinh doanh muốn tồn tại và phát triển thì sản phẩm của họ

phải mang tính cạnh tranh về nhiều mặt. Một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát
triển thì việc liên tục hạ giá thành sản phẩm và không ngừng hoàn thiện chất lương
là một trong những mục tiêu quan trọng trong các hoạt động của mình.
1.4.2.2 Do yêu cầu của người tiêu dùng
Trong nền kinh tế thị trường, người tiêu dùng có vai trò quyết định trong
việc lựa chọn sản phẩm tiêu dùng. Các sản phẩm muốn thỏa thuận yêu cầu người
tiêu dùng, được người tiêu dùng tín nhiệm phải phù hợp về kiểu dáng, hiệu suất cao
15
khi sử dụng, giá cả, sự an toàn, dịch vụ sau khi bán hàng …hơn nữa trong buôn bán
quốc tế ngày càng được mở rộng, sản phẩm hàng hóa phải tuân thủ những quy định,
luật lệ quốc tế, thống nhất về yêu cầu chất lượng. Với sự ra đời của hiệp hội quốc tế
người tiêu dùng IOCU (International Organization Consumer Union) vào năm
1962, vai trò của người tiêu dùng trở nên quan trọng trong việc toàn cầu hóa thị
trường. Từ đó cho đến nay nhiều nước đã có luật bảo vệ người tiêu dùng. Đặc biệt
là sự thông tin kịp thời, sự kiểm tra nghiêm ngặt về an toàn vệ sinh môi trường.
1.4.2.3 Do yêu cầu tiết kiệm
Hiệu quả kinh tế, sự phồn thịnh của một công ty không chỉ phụ thuộc vào sự
phát triển của nền sản xuất có năng suất cao, sự hùng hậu của lao động mà còn phụ
thuộc rất nhiều vào sự tiết kiệm (cả tầm vĩ mô và vi mô). Kinh nghiệm của Nhật
Bản và các con rồng Châu Á đã cho thấy một trong những nguyên nhân thành công
của họ là nhờ vào sự tiết kiệm.
Tiết kiệm trong kinh tế là tìm các giải pháp sản xuất kinh doanh hợp lý cho
phép hạ giá thành sản phẩm mà vẫn đảm bảo chât lượng, đủ sức cạnh tranh với giá
cả sản phẩm trong nước cũng như ngoài nước.
1.4.2.4 Do đòi hỏi của một hệ thống quản lý kinh tế thống nhất
Thực tế chứng minh rằng ở bất kỳ nền sản xuất nào, dù phát triển đến đâu đi
nữa người ta vẫn còn thấy có những vấn đề liên quan đến chất lượng cần phải giải
quyết nhằm nâng cao hơn nữa tính cạnh tranh của sản phẩm, nâng cao hiệu quả
chung của nền sản xuất xã hội ( vấn đề thị trường, nguyên liệu, trao đổi quốc tế,
tranh giành ảnh hưởng, vấn đề ô nhiễm môi trường…) vì vậy vấn đề chất lượng

luôn được xem xét, cân nhắc trong các chương trình phát triển chung của các doanh
nghiệp và các quốc gia.
16
PHẦN II:
CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH CHẤT LƯỢNG
SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
2.1 PHÂN TÍCH THỨ HẠNG CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM
2.1.1 Phương pháp tỷ trọng
Chỉ áp dụng với những sản phẩm phân chia thành 2 thứ hạng.
Tiến hành phân tích bằng cách so sánh tỷ trọng thực tế với tỷ trọng kế hoạch
của từng thứ hạng sản phẩm. Nếu tỷ trọng của sản phẩm có thứ hạng tốt cao hơn kỳ
gốc thì đánh giá chất lượng sản phẩm kỳ này tốt hơn và ngược lại.
Ưu, nhược điểm: đơn giản, dễ áp dụng nhưng bị hạn chế về mặt số lượng thứ
hạng sản phẩm và không phản ánh được mối quan hệ giữa chất lượng sản phẩm và
kết quả sản xuất (qua chỉ tiêu Tổng giá trị sản xuất)
2.1.2 Phương pháp đơn giá bình quân
Phương pháp này khắc phục được nhược điểm của phương pháp tỷ trọng vì nếu
chất lượng sản phẩm được nâng cao thì đơn giá bình quân cũng sẽ tăng lên.
Bước 1: Xác định và so sánh đơn giá bình quân từng kỳ:


=
=
=
n
i
i
n
i
ii

Q
pQ
P
1
1
Bước 2: Xác định ảnh hưởng do chất lượng sản phẩm thay đổi đến Tổng sản lượng:
( )

=
×−=∆
n
i
li
QPPG
1
01
Trong đó: p là đơn giá sản phẩm
Q là sản lượng sản phẩm
i là thứ hạng sản phẩm
17
2.1.3 Phương pháp hệ số phẩm cấp bình quân
Ưu diểm của phương pháp này tương tự phương pháp đơn giá bình quân
Bước 1: Xác định hệ số phẩm cấp bình quân:


=
=
=
n
i

ii
n
i
ii
pQ
pQ
H
1
0
1
0
Trong đó:

p
0i
là đơn giá sản phẩm có thứ hạng cao nhất ở kỳ kế hoạch hoặc
đơn giá cố định của thứ hạng chất lượng cao nhất.
Hệ số này luôn nhỏ hơn hoặc bắng 1. Nếu bằng 1 chứng tỏ tất cả các sản phẩm
sản xuất ra đều là loại có chất lượng cao nhất.
Bước 2: Xác định ảnh hưởng do chất lượng sản phẩm thay đổi đến Tổng sản lượng:
( )

=
×−=∆
n
i
ii
pQHHG
1
0101

2.2 PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH SAI HỎNG SẢN PHẨM TRONG SẢN XUẤT
Trong sản xuất có những chi tiết, bộ phận sản phẩm được sản xuất không đúng
quy cách, tiêu chuẩn kỹ thuật, cần phải tiến hành sửa chữa hoặc hủy bỏ do không
sửa chữa được. Số lượng sản phẩm hỏng trong sản xuất tăng lên sẽ phản ánh chất
lượng của sản phẩm sản xuất trong kỳ kém đi. Hơn nữa, việc phát sinh nhiều sản
phẩm hỏng còn làm cho doanh nghiệp phải gánh chịu những tổn thất nhất định về
chi phí, về uy tín
Việc phân tích tình hình sai hỏng trong sản xuất nhằm đánh giá đúng chất
lượng từng loại sản phẩm cũng như tất cả các loại sản phẩm, qua đó tìm ra các
nguyên nhân và xây dựng các biện pháp nhằm phấn đấu giảm bớt tình hình sai hỏng
trong sản xuất.
Sản phẩm sản xuất trong kỳ bao gồm:
- Thành phẩm.
- Sản phẩm hỏng
+ Sản phẩm hỏng có thể sửa chữa được
18
+ Sản phẩm hỏng không sửa chữa được
2.2.1 Đánh giá chất lượng sản phẩm sản xuất của từng loại sản phẩm
Khi phân tích người ta thường đánh giá qua 2 thước đo giá trị và hiện vật.
Thước đo hiện vật:
Tỷ lệ sản phẩm
hỏng cá biệt
=
Số lượng sản phẩm hỏng
x100
Tổng số sản phẩm sản xuất
Thước đo giá trị:
Tỷ lệ sản phẩm
hỏng cá biệt
=

Chi phí về sản phẩm hỏng i
x100
Giá thành sản xuất của sản phẩm i
100×=
i
i
i
z
c
S
(đơn vị tính:%)
iii
szC
×=
Nếu tỷ lệ sản phẩm hỏng cá biệt của từng sản phẩm tăng, có nghĩa là chất
lượng của từng sản phẩm giảm, và ngược lại.
2.2.2 Đánh giá chung chất lượng sản phẩm sản xuất của toàn doanh nghiệp
Để đánh giá chung chất lượng sản phẩm sản xuất của toàn doanh nghiệp chỉ có
thể dùng thước đo giá trị. Chất lượng sản phẩm sản xuất được phản ánh qua chỉ tiêu
Tỷ lệ sản phẩm hỏng bình quân:
Tỷ lệ sp hỏng bq =
Tổng CP về sản phẩm hỏng của tất cả các
sản phẩm
x100%
Tổng Giá thành sản xuất của tất cả các
sản phẩm
19





=
=
=
=
=×=
n
i
ii
n
i
iii
n
i
ii
n
i
ii
zQ
szQ
zQ
cQ
S
1
1
1
1
100
(đơn vị tính:%)
So sánh Tỷ lệ sản phẩm hỏng bình quân giữa kỳ phân tích và kỳ gốc, nếu tỷ lệ

này tăng thì có thể đánh giá chất lượng sản phẩm giảm và ngược lại.
Tuy nhiên, tỷ lệ sản phẩm hỏng bình quân không chỉ bị ảnh hưởng bởi tỷ lệ
sản phẩm hỏng cá biệt của từng loại sản phẩm mà nó còn chịu ảnh hưởng của nhân
tố kết cấu sản phẩm. Do vậy cần sử dụng phương pháp thay thế liên hoàn để xác
định ảnh hưởng của các nhân tố như sau:
- Ảnh hưởng của nhân tố kết cấu sản phẩm đến tỷ lệ sản phẩm hỏng bình
quân:




−=∆
ii
iii
ii
iii
KC
zQ
szQ
zQ
szQ
S
00
000
11
01
Nếu mức biến động này < 0: doanh nghiệp đã thay đổi kết cấu sản phẩm sản
xuất theo xu hướng tăng cường sản xuất các sản phẩm có tỷ lệ sản phẩm hỏng cá
biệt thấp hoặc giảm sản xuất sản phẩm có tỷ lệ sản phẩm hỏng cá biệt cao và ngược
lại.

Từ đó có thể tính được mức biến động của chi phí về sản phẩm hỏng:


∆×=∆
KCii
SzQC
11
- Ảnh hưởng của nhân tố tỷ lệ sản phẩm hỏng cá biệt của từng loại sản phẩm
đến tỷ lệ sản phẩm hỏng bình quân:
Nếu mức biến động này < 0: do chất lượng sản phẩm sản xuất của nhiều loại
sản phẩm đã được nâng cao đã làm cho chất lượng chung của toàn doanh nghiệp
được nâng cao và ngược lại.
Từ đó có thể tính được mức biến động của chi phí về sản phẩm hỏng:

∆×=∆
i
Sii
SzQC
11
20
- Ảnh hưởng của nhân tố tỷ lệ sản phẩm hỏng cá biệt của từng loại sản phẩm
đến tỷ lệ sản phẩm hỏng bình quân:




−=∆
ii
iii
ii

iii
KC
zQ
szQ
zQ
szQ
S
11
011
11
111
Nếu mức biến động này < 0: do chất lượng sản phẩm sản xuất của nhiều loại
sản phẩm đã được nâng cao đã làm cho chất lượng chung của toàn doanh nghiệp
được nâng cao và ngược lại.
Từ đó có thể tính được mức biến động của chi phí về sản phẩm hỏng:

∆×=∆
i
Sii
SzQC
11
21
PHẦN III:
MỘT SỐ PHƯƠNG HƯỚNG NÂNG CAO CHẤT
LƯỢNG SẢN PHẨM NHẰM NÂNG CAO SỨC
CẠNH TRANH Ở VIỆT NAM
3.1 HIỆN ĐẠI HÓA CÔNG NGHỆ
Như chúng ta đã thấy chất lượng sản phẩm phụ thuộc rất lớn vào công nghệ sử
dụng vì thế công nghệ hiện đại sẽ giải quyết tốt điều này, để thực hiện điều đó có
thể:

+ Nhập các thiết bị nước ngoài, học tập nguyên tắc thiết kế, tự thiết kế lại,
cải tiến cho phù hợp với điều kiện sản xuất và chế tạo tại Việt Nam. Một số bộ phận
chưa đủ sức chế tạo thì nhập của nước ngoài.
+ Khuyến khích đầu tư nước ngoài có sử dụng công nghệ tiên tiến.
+ Mua thiết bị có công nghệ tương đối hiện đại, song mức độ tự động hoá
còn thấp (do đó tiết kiệm hơn). Ta tự nâng cấp trình độ tự động hoá bằng thiết kế
của người Việt Nam.
+ Tận dụng khả năng đóng góp của các chuyên gia khoa học công nghệ
người Việt Nam ở nước ngoài muốn góp sức xây dựng quê hương.
3.2 NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ LAO ĐỘNG
Hiện nay, nguồn lao động của nước ta rất dồi dào nhưng trình độ tay nghề còn
thấp đa số là lao động phổ thông chưa được qua đào tạo do đó ảnh hưởng không
nhỏ tới hiệu quả sản xuất kinh doanh và sức cạnh tranh của doanh nghiệp.
Do đó, để có được nguồn lao động đủ trình độ để sản xuất kinh doanh có hiệu
quả nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp cần phải cải cách mạnh mẽ hệ thống
đào tạo nghề và các tổ chức xúc tiến việc làm. Định hướng cải cách hệ thống dạy
nghề ở Việt Nam mới được các cơ quan quản lý lao động đưa ra gồm các công việc:
+ Người sử dụng lao động tham gia chương trình đào tạo nghề sao cho các
chương trình này đấp ứng được nhu cầu của thị trường lao động
22
+ Các chương trình giảng dạy trong hệ thống đào tạo nghề sẽ được xây dựng
thống nhất và hợp lý trong toàn quốc nhằm đáp ứng mọi nhu cầu đào tạo, tránh
chồng chéo, trùng lặp.
+ Nội dung giảng dạy được thiết kế dựa trên sự phân tích công việc, nhiệm
vụ và kỹ năng.
+ Các lao động lành nghề sẽ tham gia vào việc đưa ra các nội dung giảng dạy
sau khi đã tham khảo ý kiến của chuyên gia nước ngoài
+ Giáo án dạy nghề sẽ được tổ chức thành nhiều học phần, trong đó một số
học phần sẽ quy định năng lực phải đạt của mỗi học viên
+ Ưu tiên phát triển phần thực hành, trình độ học viên được đánh giá căn cứ

vào trình độ ứng dụng và kiểm tra viết, xây dựng quy trình giám sát nhằm thông
báo cho học viên và cơ quan chủ quản biết tiêu chuẩn đáp ứng cho mỗi chương
trình và mỗi cơ quan
Sớm cải cách hệ thống dạy nghề là điều kiện tiên quyết để nguồn nhân lực
Việt Nam có thể đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của sản xuất và nền kinh tế
hội nhập.
3.3 LỰA CHỌN HỆ THỐNG CHẤT LƯỢNG ĐỂ ÁP DỤNG
Điều quan trọng đối với doanh nghiệp trong vấn đề QTCL là phải lựa chọn
được mô hình QTCL phù hợp. Bởi sự lựa chọn đúng đắn sẽ giúp doanh nghiệp phát
huy hiệu quả mô hình quản lý, tiết kiệm được thời gian và tiền bạc, đạt được chính
sách và nhiệm vụ kinh doanh đã đề ra.
Để áp dụng một cách có hiệu quả hệ thống QTCL thì các doanh nghiệp phải
dựa vào tiêu chuẩn để lựa chọn.
- Dựa vào quy mô, loại hình, tính chất sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
- Theo dự đoán thì phải bảo đảm hiệu quả và lợi ích sau khi áp dụng.
Một số mô hình QTCL các doanh nghiệp Việt Nam có thể áp dụng:
23
3.3.1 Mô hình 5S
- Seiri: Sàng lọc
- Seiso: Sạch sẽ
- Seiton: Sắp xếp
- Seiketsu: săn sóc
- Shisube: sẵn sàng
5S là nội dung quan trọng của TQM. Là
bước đầu tiên trước khi áp dụng TQM và
là nền tảng cho cải tiến chất lượng của
một công ty.
Phạm vi áp dụng: Tất cả lĩnh vực sản xuất kinh doanh.
Đối tượng: Phù hợp doanh nghiệp nhỏ
Đây là cơ sở của một quá trình quản lý có hệ thống khoa học và nề nếp.

Nếu mô hình này áp dụng thì phòng ban, thông tin, phân xưởng sản xuất, hoạt
động nhanh đỡ tốn thời gian chính xác và có thể là bộ máy tinh gọn hơn.
3.3.2 Mô hình GMP
Mô hình thực hành sản xuất tốt (GMP) áp dụng cho cơ sở sản xuất thực phẩm
và dược phẩm, mục đích của nó là kiểm soát tất cả các yếu tố ảnh hưởng tới quá
trình hình thành chất lượng từ khâu thiết kế, xây lắp nhà xưởng, thiết bị dụng cụ chế
biến, điều kiện phục vụ và điều kiện chế biến. GMP có thể áp dụng đối với doanh
nghiệp vừa, nhỏ, lớn.
Nội dung của phương pháp như sau:
a) Điều kiện nhà xưởng và phương tiện chế biến bao gồm:
+ Khu xử lý thực phẩm
+ Phương tiện vệ sinh
+ Phương tiện chiếu sáng thông gió, đo độ ẩm
+ Thiết bị và dụng cụ
+ Hệ thống an toàn.
b) Kiểm soát vệ sinh nhà xưởng bao gồm:
+ Bảo quản hóa chất nguy hiểm
+ Đồ dùng cá nhân.
c) Kiểm soát quá trình chế biến đối với
+ Nguyên vật liệu
24
+ Hoạt động sản xuất
d) Về con người bao gồm
+ Điều kiện sức khoẻ
+ Chế độ vệ sinh
+ Giáo dục cho đào tạo và đầu tư cho đào tạo.
e) Kiểm soát khâu phân phối
Việc kiểm soát khâu phân phối nhằm bảo đảm để tránh nhiễm bẩn thực phẩm
bởi tác nhân vật lí hoá học, vi sinh… và không làm phân huỷ thực phẩm. Hiện nay
ngành y tế và thuỷ sản đã có quyết định áp dụng hệ thống này đối với các xí nghiệp

dược phảm và thuỷ sản xuất khẩu. Việc thực hiện tốt GMP sẽ là tiền đề thuận lợi
cho việc triển khai mô hình QLCL- HACCP.
3.3.3 Mô hình đảm bảo chất lượng ISO 9000
Mô hình đảm bảo chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 9000 là mô hình hệ
chất lượng trong đó đề cập tới những yêú tố ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm
hoặc dịch vụ trong phạm vi công ty, nhưng phương thức nhằm ngăn ngừa và loại
trừ sự không phù hợp với những quy định đề ra.
Sự ra đời của bộ tiêu chuẩn ISO 9000 đã tạo ra một bước ngoặt trong hoạt
động tiêu chuẩn hoá và chất lượng trên thế giới nhờ nội dung thiết thực và ở sự
hưởng ứng rộng rãi nhanh chóng của nhiều nước trên thế giới đặc biệt là trong các
ngành công nghiệp.
Lợi ích việc áp dụng ISO 9000
- ISO 9000 có thể coi là giấy thông hành trong các hợp đồng kinh tế vì thế tạo
điều kiện cho các doanh nghiệp mở ra thị trường mới. Mối quan hệ thương mại trở
nên dễ dàng và thuận tiện hơn.
- Vì thực hiện ngay nguyên tắc "làm đúng ngay từ đầu" nên tăng khả năng
tránh lãng phí, doanh nghiệp sẽ giảm được chi phí do sai hỏng, bồi thường khách
hàng chi phí cho sửa chữa sản phẩm hỏng… vì thế giảm giá thành tăng lợi nhuận
của doanh nghiệp.
Khi một doanh nghiệp áp dụng ISO 9000 chứng tỏ doanh nghiệp đó có một cơ
cấu quản lý chất lượng nghiêm chỉnh.
25

×