Tải bản đầy đủ (.pdf) (8 trang)

Báo cáo nghiên cứu khoa học: "VIỆN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ XÂY DỰNG - 45 NĂM XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN (1963 - 2008)" ppt

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (3.16 MB, 8 trang )

VIỆN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ XÂY DỰNG - 45 NĂM XÂY DỰNG
VÀ PHÁT TRIỂN (1963 - 2008)

PGS. TS. CAO DUY TIẾN, PGS. TS. NGUYỄN BÁ KẾ,
TS. VŨ THỊ NGỌC VÂN, PGS. TS. ĐOÀN THẾ TƯỜNG,
TS. TRỊNH VIỆT CƯỜNG, PGS. TS. NGUYỄN VÕ THÔNG,
TS. NGUYỄN ĐỨC THẮNG, TS. PHẠM VĂN KHOAN,
TS. NGUYỄN ĐẠI MINH, KS. LÊ NGỌC ANH, KS. TRẦN MẠNH NHẤT
Viện KHCN Xây dựng

Ngày 18/11/2008, Viện Khoa học công nghệ (KHCN) Xây dựng tổ chức lễ kỷ niệm 45 năm thành
lập Viện và đón nhận Huân chương Độc lập hạng Nhất do Nhà nước trao tặng.
45 năm xây dựng và phát triển của Viện KHCN Xây dựng là chặng đường thấm đượm nhiều mồ
hôi, công sức của các thế hệ cán bộ công nhân viên của Viện. Các mốc son và thành tựu quan trọng
như sau:
1. Các chặng đường xây dựng và phát triển của Viện

- Giai đọan 1963

1974
là thời kỳ

"Hình thành và phát triển Viện
": Thành lập năm 1963, Viện
mang tên là Viện Thí nghiệm vật liệu xây dựng. Chức năng nhiệm vụ chủ yếu là thí nghiệm các tính
chất cơ - lý - hoá của vật liệu xây dựng và đất nền. Cơ cấu tổ chức của Viện thời kỳ đầu gồm có các
tổ, bộ môn với tổng số gần 60 CBCNV, trong đó có 12 người có trình độ đại học;
- Giai đoạn 1975

1995
là thời kỳ



"Tăng cường chức năng nhiệm vụ":

Ngày 16/10/1974 Viện
được đổi tên thành Viện Khoa học kỹ thuật xây dựng. Ngoài thí nghiệm vật liệu xây dựng và đất nền,
Viện được bổ sung thêm chức năng nghiên cứu khoa học, biên soạn tiêu chuẩn và đào tạo công nhân kỹ
thuật. Cũng trong giai đoạn này, ngày 16/5/1988 đã có sự hợp nhất Viện Khoa học kỹ thuật xây dựng
thuộc Bộ Xây dựng với Viện Khoa học kỹ thuật xây dựng cơ bản thuộc ủy ban XDCBNN thành Viện
chung là Viện Khoa học kỹ thuật xây dựng. Chức năng nhiệm vụ được mở rộng thêm là chuyển giao
công nghệ, đào tạo Tiến sỹ kỹ thuật, tư vấn kỹ thuật trong xây dựng và thiết kế thi công thực nghiệm.
Cơ cấu tổ chức của Viện bao gồm các phòng nghiệp vụ, các phòng nghiên cứu và thí nghiệm về vật liệu
xây dựng, nền móng, kết cấu, môi trường xây dựng và xưởng sản xuất thực nghiệm. Tổng số cán bộ
thời kỳ đầu của giai đoạn này là 213 người, với 7 cán bộ có trình độ trên đại học và 82 cán bộ có trình
độ đại học;
- Giai đoạn từ năm 1996 tới nay
là thời kỳ

"Đổi mới và phát triển
": Ngày 24/10/1996, Thủ tướng
Chính phủ ban hành Quyết định số 782/TTg về việc sắp xếp các cơ quan nghiên cứu - triển khai
Khoa học và Công nghệ, Viện là một trong số 41 Viện có tên thuộc Quyết định này. Ngày
11/12/1996, Viện được đổi tên thành Viện Khoa học công nghệ xây dựng. Chức năng nhiệm vụ của
Viện được mở rộng ra hầu hết các lĩnh vực và với diện hoạt động trên cả 3 miền đất nước. Cơ cấu tổ
chức của Viện trong thời kỳ này bao gồm các phòng chức năng, các phòng nghiên cứu, các trung tâm
nghiên cứu - triển khai, xưởng sản xuất thực nghiệm và hai Phân viện Khoa học xây dựng tại miền
Trung và miền Nam. Tổng số cán bộ năm 2003 là 305 người, với 44 cán bộ có trình độ trên đại học và
138 cán bộ có trình độ đại học.
Để chuẩn bị bước vào thời kỳ phát triển mới theo hướng tự chủ về tài chính theo Nghị định
115/NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Xây dựng đã ra quyết định số 789/QĐ-BXD
ngày 23/5/2007 phê duyệt Đề án chuyển đổi tổ chức và hoạt động của Viện Khoa học công nghệ xây

dựng thành Tổ chức Khoa học công nghệ tự trang trải kinh phí. Chức năng và nhiệm vụ của Viện gồm
tất cả các lĩnh vực Viện có khả năng thực hiện. Cơ cấu tổ chức của Viện được phân thành hai khối:
Khối quản lý gồm 03 phòng chức năng; Khối các đơn vị hạch toán phụ thuộc gồm 01 Viện Nghiên
cứu cơ bản và Tiêu chuẩn hóa, 03 Viện chuyên ngành về Kết cấu, Bê tông và Địa kỹ thuật, 08 Trung
tâm theo lĩnh vực, 02 Phân Viện tại miền Trung và miền Nam và 01 Văn phòng đại diện tại Đà Nẵng.
Tổng số cán bộ của Viện tại thời điểm 1/11/2008 là 456 cán bộ, với 94 cán bộ có trình độ trên đại học
và 324 cán bộ có trình độ đại học.
Số cán bộ đầu tiên của Viện, những người đã đặt những viên gạch đầu tiên xây dựng Viện và khởi
động hoạt động Viện năm 1963 là 59 người. Viện trưởng đầu tiên của Viện là cụ Trịnh Tam Tỉnh. Kế
tục cụ, 7 đồng chí Viện trưởng đã cùng cán bộ, công nhân viên chức các thời kỳ đưa sự nghiệp của Viện
tới ngày hôm nay.
2. Cơ sở vật chất của Viện qua các thời kỳ
+ Trụ sở và nơi làm việc:

Ban đầu Viện chỉ có trụ sở chính tại số 81, đường Trần Cung, phường Nghĩa Tân, quận Cầu Giấy,
Hà Nội.
Năm 1997

2007 Viện đã xây dựng thêm trụ sở Phân Viện miền Trung tại đường Phan Chu Trinh
sau đó chuyển về khu Nam Vĩ Dạ, đường Phạm Văn Đồng, Tp. Huế và Phân Viện miền Nam tại
phường Hiệp Bình Phước, quận Thủ Đức, Tp. Hồ Chí Minh.
+ Các phòng thí nghiệm:
Giai đoạn đầu, Viện được trang bị một số thiết bị thí nghiệm vật liệu thép - hàn, gỗ tre, gạch đá,
silicat, bê tông, cơ đất - nền móng. Qua các thời kỳ, Viện được Nhà nước nâng cấp và đầu tư 11
phòng thí nghiệm hiện đại ngang tầm khu vực các nước ASEAN đặt tại 3 miền Bắc, Trung, Nam của
đất nước. 5 phòng thí nghiệm trong số đó mang các mã số đầu trong hệ thống các phòng thí nghiệm
toàn quốc. Đó là các phòng thí nghiệm:
1.

Phòng thí nghiệm Công trình( Las-xd 01);

2.

Phòng thí nghiệm Địa kỹ thuật (Las-xd 02);
3.

Phòng thí nghiệm Bê tông và Vật liệu xây dựng (Las-xd 03);
4.

Phòng thí nghiệm Môi trường (Las-xd 04);
5.

Phòng thí nghiệm Ăn mòn và bảo vệ công trình (Las-xd 05);
6.

Phòng thí nghiệm Tổng hợp Phân Viện KHCN Xây dựng miền Nam (Las- xd 30);
7.

Phòng thí nghiệm Phòng chống cháy (Las-xd 416);
8.

Phòng thí nghiệm Tổng hợp Phân Viện KHCN Xây dựng miền Trung (Las-xd 578);
9.

Phòng thí nghiệm Hiệu chuẩn thiết bị xây dựng (Vilas 264);
10.

Phòng thí nghiệm Gió bão;
11.



Phòng thí nghiệm Động đất.
3. Về các lĩnh vực và hoạt động khoa học nổi bật của Viện
Viện tập trung nghiên cứu, chuyển giao ứng dụng công nghệ vào thực tế. Qua thực tế, hoàn thiện
các kết quả nghiên cứu, biên soạn thành các Quy chuẩn, Tiêu chuẩn, Hướng dẫn kỹ thuật nhằm nâng
cao hiệu quả hoạt động xây dựng và quản lý.
Viện có thế mạnh và đạt nhiều thành tựu trên các lĩnh vực sau:
- Lĩnh vực địa kỹ thuật

Những đột phá và kết quả quan trọng trong lĩnh vực địa kỹ thuật là: Bản đồ địa chất công trình được
lập lần đầu tiên cho Hà Nội (1980); Áp dụng các phương pháp xuyên tĩnh, xuyên vít, xuyên động
trong khảo sát xây dựng; Gia cố nền đất yếu với công nghệ cọc đất-xi măng, bấc thấm cho nhà tới 7
tầng tại Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương; Công nghệ móng cọc tiết diện nhỏ, móng cọc ép (1985),
móng cọc nhồi cho nhà cao tầng (1992), móng nổi (2005); Công nghệ thi công, đánh giá chất lượng
cọc nhồi, cọc mở rộng gia cường đáy; Các phương pháp thí nghiệm cọc bằng nén tĩnh, siêu âm, biến
dạng nhỏ, biến dạng lớn; Công nghệ thi công công trình ngầm trong nền đất yếu đô thị Việt Nam
(1998

2002); Dự báo khả năng lún bề mặt đất khu vực Hà Nội do khai thác tập trung nước dưới đất
(1997), Điều kiện địa kỹ thuật môi trường TP. Hà Nội (2005), Điều kiện địa kỹ thuật môi trường khu
vực đới động ven sông Hồng địa phận Hà Nội và định hướng quy hoạch sử dụng hợp lý (2007);
Hướng dẫn lập hệ thống quan trắc địa kỹ thuật môi trường trong khu vực lưu trữ chất thải rắn và khai
thác tập trung nước dưới đất (2007); Cứu chữa các công trình hư hỏng do nguyên nhân nền và ứng
dụng các phần mềm Địa kỹ thuật hiện đại như Plaxis, Geoslope, SageScrip.
Các chuyên gia lĩnh vực Địa kỹ thuật đã biên soạn được nhiều tiêu chuẩn quan trọng như: Thí
nghiệm trong phòng - Các phương pháp xác định các chỉ tiêu cơ lý của đất, Thiết kế nền móng -
Nguyên tắc chung, Thiết kế móng cọc; Thiết kế, thi công và nghiệm thu cọc khoan nhồi; Tiêu chuẩn
kiểm tra chất lượng cọc khoan nhồi; Tiêu chuẩn thí nghiệm nén tĩnh cọc, Hướng dẫn kỹ thuật phòng
ngừa sự cố khi thi công các hố đào sâu trong vùng đất yếu.





Các nghiên cứu trên đã góp phần phục vụ quản lý nhà nước trên các công trình quan trọng như:
nhà máy xi măng Hải Phòng mới; Trung tâm Hội nghị Quốc gia; Bể đúc hầm dìm Thủ Thiêm; Xử lý
nền Nhà máy điện Nhơn Trạch; Xác định nguyên nhân và giải pháp thi công đào hố móng nhà máy xi
măng Thăng Long; Thiết kế xử lý lún Kho cảng Thị Vải; Giám định kỹ thuật sự cố hầm chui Văn
Thánh, cầu đường Nguyễn Hữu Cảnh; Xác định nguyên nhân sập 2 nhịp dẫn cầu Cần Thơ. Các hợp
tác quốc tế với Viện Địa kỹ thuật của Thụy Điển và các tổ chức quốc tế khác đã góp phần chuyển giao
được nhiều công nghệ trong lĩnh vực nền móng vào Việt Nam.
- Lĩnh vực kết cấu
Trong lĩnh vực này, Viện tập trung nghiên cứu các giải pháp kết cấu công trình chịu tác động của
các điều kiện tự nhiên của Việt Nam, chuyển giao và triển khai các kết cấu tiên tiến vào thực tiễn,
thiết lập các phần mềm tự động hoá thiết kế theo các tiêu chuẩn và điều kiện của Việt Nam.




Tiêu biểu trong số đó là các kết quả nghiên cứu về: Các giải pháp thiết kế nhà và công trình trong
vùng có động đất; Hướng dẫn xây dựng và sửa chữa nhà và công trình trong vùng có động đất tỉnh
Lai Châu; Nghiên cứu tăng cường khả năng chịu bão lụt cho nhà ở nông thôn các tỉnh miền Trung;
Đánh giá thực trạng về khả năng phòng chống cháy của các siêu thị; Kết cấu dàn lưới trong điều kiện
Việt Nam. Về lĩnh vực công nghệ, Viện đã nghiên cứu và chuyển giao nhiều công nghệ tiên tiến vào
thực tiễn xây dựng ở Việt Nam như công nghệ xây dựng sàn lắp ghép tấm nhỏ, công nghệ sản xuất
tấm lợp xi măng lưới thép, công nghệ xây dựng mái vỏ gạch lá nem, công nghệ dự ứng lực có bám
dính, công nghệ dự ứng lực không bám dính, công nghệ nâng các vật siêu trường, siêu trọng, công
nghệ gia cường, sửa chữa nhà và công trình, giải pháp kết cấu nhà máy điện nguyên tử. Viện cũng đã
thiết lập được nhiều phần mềm phân tích và tự động hoá thiết kế kết cấu có tính năng nổi trội, phù
hợp với các điều kiện Việt Nam như phần mềm thiết kế tự động kết cấu khung, khung - vách bê tông
cốt thép nhà cao tầng (ASD_IBST), phần mềm tính toán thiết kế kết cấu (khung-khung vách) nhà cao
tầng bằng BTCT có tính đến tải trọng động đất ở Hà Nội bằng phương pháp động theo tiêu chuẩn

Chống lún kho cảng LPG Thị Vải (Bà Rịa - Vũng Tàu)
Áp dụng công nghệ ƯLT cho các silo Nghiên cứu ứng dụng kết cấu dàn lưới không gian
SNIP II 81-96 (Hanoi_Building). Đặc biệt, phần mềm phân tích và thiết kế kết cấu phù hợp với tiêu
chuẩn xây dựng Việt Nam (PKPM-VNBC) đã đoạt cúp vàng tại hội chợ khoa học và công nghệ
Techmart Việt Nam 2005.
Về công tác biên soạn quy chuẩn, một số quy chuẩn, tiêu chuẩn kết cấu tiêu biểu đã được Viện
biên soạn là: Quy chuẩn an toàn sinh mạng cho công trình xây dựng; Hướng dẫn xây dựng phòng
chống thiên tai của Việt Nam; Tiêu chuẩn Kết cấu xây dựng và nền - Nguyên tắc cơ bản về tính toán;
ISO 2394 : 1998 Nguyên tắc chung về độ tin cậy của kết cấu xây dựng; TCVN 2737 : 1995 Tải trọng
và tác động - Tiêu chuẩn thiết kế; Chỉ dẫn tính toán tác động nhiệt khí hậu đối với kết cấu công trình;
Chỉ dẫn tính toán tải trọng sóng cho các công trình biển; TCXDVN 375 : 2006 Thiết kế nhà và công
trình chịu động đất; TCXDVN 356 : 2005 Kết cấu bê tông và bê tông cốt thép - Tiêu chuẩn thiết kế;
Kết cấu bê tông cốt thép ứng lực trước trong xây dựng dân dụng và công nghiệp - Tiêu chuẩn thiết kế;
TCXDVN 338 : 2005 Kết cấu thép - Tiêu chuẩn thiết kế; TCXDVN 373 : 2006 Đánh giá mức độ nguy
hiểm của kết cấu nhà; Chỉ thiết kế kết cấu nhà cao tầng; Công nghệ sử dụng lưới thép hàn; Công nghệ
nối cốt thép bằng kích ép, bằng ống nối.
Viện còn trực tiếp tham gia giải quyết và hỗ trợ các vấn đề kỹ thuật thuộc lĩnh vực kết cấu tại các
công trình quan trọng như: Trung tâm Hội nghị Quốc gia; Nhà Quốc hội; Phủ Chủ tịch; Nhà hát lớn
Hà Nội; Cầu Bãi Cháy; Đạm Phú Mỹ; Đường dây 500Kv, Toà án nhân dân Tối cao, Xi măng Bỉm
Sơn, Hoàng Thạch, Bút Sơn, Nghi Sơn, Hải Phòng; Nhà máy phân đạm Hà Bắc, supe Lâm Thao, sân
vận động Quốc gia Mỹ Đình, Các cầu lớn Sông Gianh, Bãi Cháy, Rạch Miễu, Thanh Trì, Vĩnh Tuy,
Cần Thơ; Đường Hồ Chí Minh, Đường hầm Thủ Thiêm.
Viện đã hợp tác hiệu quả trong lĩnh vực kết cấu với: Viện Hàn lâm Khoa học Xây dựng Trung
Quốc (CABR) về chuyển giao công nghệ dự ứng lực và thiết lập phần mềm PKPM-VNBC; Viện Tiêu
chuẩn Anh (BSI) về chuyển dịch tiêu chuẩn Eurocode; Viện Nghiên cứu Khoa học Hàn Quốc về kết
cấu thép khẩu độ lớn, và các loại kết cấu đặc biệt; Đại học Tổng hợp Menbơn (Australia) và Đại học
Bách khoa Tôkyô (Nhật) về lĩnh vực phòng chống cháy, gió và ống thổi khí động; Đại học Xây dựng
Xôphia (Bungari) về các giải pháp kháng chấn cho nhà cao tầng.
- Lĩnh vực công nghệ bê tông và vật liệu xây dựng
Trong lĩnh vực này, nhiều công nghệ tiến bộ gắn với điều kiện khí hậu, nguyên liệu của Việt nam

đã được nghiên cứu thành công. Một số kết quả tiêu biểu có thể kể đến là : Công nghệ bê tông trong
điều kiện khí hậu nóng ẩm Việt Nam; Công nghệ phun khô bê tông ; Chống thấm, sửa chữa các hư
hỏng và gia cố kết cấu bê tông và bê tông cốt thép; Công nghệ các loại bê tông đặc thù: bê tông cát
mịn ; bê tông cốt liệu nhẹ, bê tông khí ; bê tông đầm lăn, bê tông tự chảy, bê tông cốt sợi, bê tông
polystryol, bê tông bọt, bê tông khối lớn, bê tông chống thấm, bê tông tính năng cao; Công nghệ sản
xuất phụ gia bê tông LK1, LK1- RD, ICT – Super N, ICT Plast, vữa tự chảy không co GM- F; Công
nghệ sản xuất cột mốc biên giới.




Nhiều tiêu chuẩn quan trọng đã được biên soạn như: TCVN 7570 : 2006 Cốt liệu cho bê tông và
vữa - Yêu cầu kỹ thuật, TCVN 7572 : 2006 Cốt liệu cho bê tông và vữa - Các phương pháp thử;
Phương pháp thiết kế thành phần bê tông; TCXDVN 305 : 2004 Quy phạm thi công bê tông khối lớn;



Công nghệ phun khô bê tông Cột mốc biên giới
Tiêu chuẩn thí nghiệm hỗn hợp bê tông và bê tông nặng (TCVN 3105

3109; 3111

3120 và 5276 :
2006); TCXDVN 239 : 2006 Bê tông nặng - Chỉ dẫn xác định và đánh giá cường độ bê tông trên kết
cấu công trình; TCXDVN 318 : 2004 Bảo trì kết cấu bê tông.
Các nghiên cứu trong lĩnh vực này đã được áp dụng thành công tại nhiều công trình: Nhà máy Xi
măng Hà Tiên I, Xi măng Hải Phòng mới, Móng ống khói Phả Lại II, Dự án 239/2005, Chống thấm
hầm băng tải công trình Apatit Lào Cai, hầm gian máy thủy điện Yaly, chống thấm Phủ Chủ tịch,
Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, hầm thông gió Trung tâm Hội nghị Quốc gia;
Các hợp tác hiệu quả trong lĩnh vực này là: Hợp tác nghiên cứu về bê tông đầm lăn với công ty

TEPCO – Nhật Bản; Hợp tác nghiên cứu với công ty Elkem AS Materials của Nauy về nghiên cứu sử
dụng phụ gia microsilica trong điều kiện Việt Nam;
- Lĩnh vực chống ăn mòn và bảo vệ công trình xây dựng
Tiền thân là tổ bộ môn hóa phòng thủy, qua quá trình phát triển, Viện đã đạt được nhiều thành tựu.
Đó là các kết quả: Nghiên cứu sử dụng cát biển làm cốt liệu bêtông (1983) ; Nghiên cứu lớp phủ vôi
trang trí mặt ngoài công trình xây dựng (1992) ; Chống rêu mốc lớp trang trí mặt ngoài các công trình
xây dựng (1994) ; Chống ăn mòn và bảo vệ các công trình bê tông và bê tông cốt thép vùng biển
(2000); Nghiên cứu chế tạo và ứng dụng chất ức chế ăn mòn Canxi nitơrit cho sản xuất vữa, bê tông
chống ăn mòn dùng trong môi trường xâm thực (2001); Nghiên cứu chế tạo các sản phẩm vật liệu
cách âm, cách nhiệt trên cơ sở chế phẩm Polyuretan (2001); Nghiên cứu chế tạo và ứng dụng chất làm
sạch gỉ và bảo quản thép xây dựng (2004); Đánh giá tình trạng ăn mòn công trình xây dựng dưới tác
dụng môi trường biển Việt Nam (2007); TCXD 236 : 1999 Lớp phủ mặt kết cấu xây dựng - Phương
pháp kéo đứt thử độ bám dính nền (1999); TCXD 238 : 1999 Cốt liệu bê tông - Phương pháp hoá học
xác định khả năng phản ứng kiềm – silic (1999); TCXDVN 294 : 2003 Bê tông cốt thép - Phương
pháp điện thế kiểm tra khả năng cốt thép bị ăn mòn (2003); TCXDVN 327 : 2004 Kết cấu bê tông và
bê tông cốt thép – yêu cầu về chống ăn mòn trong môi trường biển; TCXDVN 352 : 2005 Sơn -
Phương pháp không phá huỷ xác định chiều dày màng sơn khô (2005); TCXDVN 360 : 2005 Bê tông
nặng - xác định độ thấm ion clo bằng phương pháp đo điện lượng (2005).



Các kết quả trên đã được ứng dụng hiệu quả tại các công trình : Lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt; Lễ
đài lăng Hồ Chủ tịch; Bảo tàng Hồ Chí Minh; Mái chợ Rồng (Nam Định), Đài Phát thanh và truyền
hình Hà Nội; Rạp xiếc Hà Nội; Nhà máy Đạm Phú Mỹ; Công ty cổ phần nhiệt điện Phả Lại, Uông Bí,
Thác Bà, Ninh Bình; Chống thấm mái nhà A - Ngân hàng nhà nước Việt Nam (2005); Chống ăn mòn
hệ thống đường ống, thiết bị và cấu kiện kim loại Nhà máy Đạm Phú Mỹ (2006

2007); Chống thấm
mái silô Công ty cổ phần ximăng Cẩm Phả (2008); Giải pháp chống ăn mòn cầu Bãi Cháy.
Các hợp tác quốc tế với các Viện nghiên cứu của Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc về công nghệ

và vật liệu chống ăn mòn đã mang lại nhiều kết quả tốt.
- Lĩnh vực Môi trường và hạ tầng
Viện đã thực hiện một số nghiên cứu tình trạng và giải pháp khắc phục ô nhiễm cho các đối tượng:
Môi trường khu chung cư; Ô nhiễm nước mặt một số hồ của Hà Nội; Ô nhiễm tại các cơ sở sản xuất
vật liệu xây dựng; Xây dựng Quy trình sản xuất sạch hơn cho sản xuất vật liệu xây dựng; Xử lý các
bãi rác thải gây ô nhiễm theo QĐ/64/2003 QĐ-TTg của Chính phủ; Chống nồm cho nhà ở; Khai thác
nguồn năng lượng sạch từ dưới lòng đất. Trong lĩnh vực này hợp tác vói Đan Mạch, Úc đã đưa lại
nhiều hiệu quả thiết thực.

Khảo sát ăn mòn cầu Phan Thiết
Ch
ống thấm mái nh
à A

Ngân hàng
Trung ương




Giám sát các hệ thống kỹ thuật công trình
- Lĩnh vực Trắc địa, Thiết bị xây dựng

Viện đã nghiên cứu ứng dụng một số công nghệ mới như: Công nghệ GPS, GPS kết hợp toàn đạc
điện tử trong xây dựng công trình công nghiệp và nhà cao tầng. Đã biên soạn các tiêu chuẩn:
TCXDVN 309 : 2004 Công tác Trắc địa trong xây dựng công trình - Yêu cầu chung; TC XDVN 271 :
2002 Quy trình kỹ thuật xác định độ lún công trình dân dụng và công nghiệp bằng phương pháp đo
cao hình học; TCXDVN 351 : 2005 Quy trình kỹ thuật quan trắc chuyển dịch ngang nhà và công
trình; TCXDVN 357 : 2005 Nhà và công trình dạng tháp - Quy trình quan trắc độ nghiêng bằng
phương pháp Trắc địa; TCXDVN 364 : 2006 Tiêu chuẩn kỹ thuật đo và xử lý số liệu GPS trong Trắc

địa công trình.

Sử dụng công nghệ GPS xây dựng lưới trục UV phục
vụ thi công xây lắp dây chuyền 3 Nhà máy xi măng
Hoàng Thạch

Kiểm tra các điểm toạ độ do nhà thầu lập trong mặt
bằng Nhà máy lọc dầu Dung Quất – Quảng Ngãi

Trong lĩnh vực thiết bị xây dựng, Viện đã thiết kế chế tạo dây chuyền và máy rung gạch không
nung thế hệ RG-1 dến RG-1000; thiết kế, chế tạo thiết bị cho dây chuyền sản xuất bê tông khí cách
nhiệt, áp dụng công nghệ xây dựng nhà cao tầng bằng phương pháp nâng sàn lần đầu ở Việt Nam;
thiết kế chế tạo dây chuyền sản xuất sơn bi tum cao su chống thấm, thiết kế chế tạo nhiều thiết bị,
dụng cụ thí nghiệm như: Máy dằn mẫu xi măng chuẩn; Cần BELKENMAM; máy nén uốn xi măng
loại không dùng điện và loại hiển thị số; Thiết bị đo modul đàn hồi nền đường; Máy thử mài mòn Los
Angeles và nhiều thiết bị, dụng cụ thử cốt liệu, bê tông, xi măng, đất theo tiêu chuẩn ASTM.


Lĩnh vực trùng tu di tích
Trong lĩnh vực này, các công nghệ trùng tu các di tích kiến trúc gỗ, gạch đá, tháp chăm, chống thấm
mái, các lớp phủ sơn, sơn thếp, chế tạo và thay thế các vật liệu lát, gốm, kính đi đôi với việc thực hiện
quy trình trùng tu theo chuẩn mực đã góp phần quan trọng trong việc bảo tồn, tôn tạo các di tích văn hóa
trên cả nước, đặc biệt là các di tích cố đô Huế như: Lăng Khải Định, Chùa Thiên Mụ; Cung Diên Thọ,
Thế miếu; Hệ thống hành lang; Các cổng thành và nhiều công trình khác.
- Lĩnh vực Đào tạo - Thông tin


Máy dằn mẫu xi măng theo TCVN 6017 Cần BELKENMAM



Máy nén uốn xi măng không dùng
điện
Máy nén uốn xi măng hiển thị số



Máy trộn bê tông cưỡng bức Máy thử mài mòn Losangeles


Một số thiết bị do Viện thiết kế cải tiến và chế tạo
Viện đã thực hiện đào tạo được 85 thạc sỹ, 57 tiến sỹ, 3500 thí nghiệm viên và tập huấn nghiệp vụ
kỹ thuật cho trên 6000 cán bộ. Hệ thông thông tin lưu trữ của Viện có trên 30.000 đầu sách và tài liệu,
cập nhật hệ thông tiêu chuẩn của các nước Nga, Trung Quốc, Mỹ, Úc, Anh và một số nước tiên tiến trên
thế giới. Viện còn có Tạp chí Khoa học công nghệ xây dựng là nơi giới thiệu các kết quả nghiên cứu,
triển khai, các đề tài khoa học, phổ biến thông tin về tiến bộ KHKT trong xây dựng. Trang website của
Viện được hình thành từ rất sớm, được cập nhật thông tin hàng ngày về hoạt động KHCN và triển khai
tiến bộ kỹ thuật của Viện.



Một số ấn phẩm của Viện


4. Hoạt động triển khai
Viện đã đi tiên phong trong việc gắn nghiên cứu với triển khai từ các năm 1974

1975 thông qua mô
hình xí nghiệp xây dựng thực nghiệm. Từ đó tới nay, hoạt động này ngày càng phát triển mạnh mẽ.
Thực hiện chỉ đạo của Bộ về lộ trình chuyển đổi hoạt động của Viện theo mô hình tổ chức nghiên cứu
khoa học tự trang trải kinh phí, năm 2007 Viện đã phấn đấu đạt doanh thu 134,1 tỷ đồng, tự chủ 20%

kinh phí sự nghiệp; năm 2008 Viện đang thực hiện sản lượng ước đạt 150 tỷ đồng và tự chủ 60% kinh
phí sự nghiệp. Năm 2010 Viện sẽ tự chủ 100% kinh phí từ nguồn hoạt động này. Các lĩnh vực triển khai
Viện có thế mạnh gồm: Khảo sát, thiết kế công trình; Thí nghiệm đất, vật liệu, kết cấu; Quan trắc
nghiêng, lún, chuyển vị công trình; Kiểm định chất lượng, xử lý sự cố công trình; Giám sát thi công;
Sửa chữa công trình; Trùng tu di tích.
Trong 45 năm qua, hiệu quả hoạt động của Viện không tách rời sự chỉ đạo sát sao của Lãnh đạo
Bộ Xây dựng, Đảng ủy cơ quan Bộ Xây dựng, các Cục, Vụ, tổ chức Công đoàn và Đoàn thanh niên
thuộc Bộ và sự giúp đỡ, hợp tác của các đơn vị bạn - các Tổng Công ty, các Công ty, các Sở Xây
dựng địa phương và các ban, ngành, đoàn thể khác.
Bằng cố gắng và nỗ lực cao của các thế hệ cán bộ, Viện KHCN Xây dựng đã nhận được nhiều
bằng khen, cờ thi đua, huân chương lao động, huân chương độc lập, danh hiệu Anh hùng lao động
thời kỳ đổi mới. Và ngày 18/11/2008, kỷ niệm 45 năm thành lập, Viện KHCN Xây dựng vinh dự
được nhận Huân chương Độc lập hạng Nhất do Nhà nước trao tặng.
Với mỗi cán bộ của Viện, thuộc thế hệ đi trước hay đang công tác, Viện luôn là hình ảnh thiêng
liêng tập hợp đoàn kết mọi người, cùng nhau hoàn thành tốt các nhiệm vụ, tự hào về từng bước trưởng
thành của Viện. Đây là nét đẹp truyền thống của Viện đã được các thế hệ cán bộ của Viện vun đắp từ
lúc thành lập tới nay.
Toàn thể cán bộ công nhân viên Viện KHCN Xây dựng có thể tin tưởng rằng, với sự chỉ đạo của
Bộ Xây dựng, với sự động viên của các thế hệ cán bộ đi trước, Viện KHCN Xây dựng hôm nay sẽ
tiếp bước vững chắc trên các chặng đường mới. Tập thể cán bộ công nhân viên sẽ đoàn kết, gắn bó
hơn, làm việc với chất lượng tốt hơn, hiệu quả hơn vì sự phát triển của Viện KHCN Xây dựng, giữ
vững vai trò là một Viện KHCN Xây dựng đầu đàn của Ngành Xây dựng.


×