Tải bản đầy đủ (.pdf) (5 trang)

Giáo trình hướng dẫn tìm hiểu cơ bản về nguy cơ sinh hoạt nước hiện nay tại hà nội phần 2 ppsx

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (72.7 KB, 5 trang )



6

cải thiện môi trờng và ai hởng lợi từ việc môi trờng trong lành phải đóng
phí khắc phục ô nhiễm.
II.1. Nguyên tắc ngời gây ô nhiễm phải trả tiền (PPP).
Nguyên tắc này bắt nguồn từ sáng kiến do tổ chức hợp tác kinh tế và
phat triển (OECD) đề ra vào các năm 1972 và 1974. PPP qui định năm 1972
có quan điểm những tác nhân gây ô nhiễm phải trả mọi chi phí cho hoạt động
kiểm soát và phòng chống ô nhiễm. PPP năm 1974 chủ trơng rằng, các tác
nhân gây ô nhiễm thi ngoài việc tuân thủ theo các chỉ tiêu đối với việc gây ô
nhiễm thì còn phải bồi thờng thiệt hại cho những ngời bị thiệt hại do ô
nhiễm này gây ra. Nói tóm lại, theo nguyên tắc PPP thì ngời gây ô nhiễm
phải chịu mọi khoản chi phíđể thực hiện các biện pháp làm giảm ô nhiễm do
chính quyền thục hiện, nhằm đảm bảo môi trơng ở mức chấp nhận đợc.
II.2. Nguyên tắc ngời hởng lợi phải trả tiền(BPP)
Nguyên tắc BPP chủ trơng rằng việc phòng ngừa ô nhiễm và cải thiện
môi trờng cần đợc bảo trợ bởi những ngời muốn thay đổi hoặc những
ngời không phải trả giá cho việc gây ô nhiễm. Nguyên tắc BPP cũng tạo ra
một khoản thu cho nhà nớc, mức phí tính theo đầu ngời càng cao và càng
nhiều ngời nộp thì số tiền thu đợc càng nhiều. Số tiền thu đợc từ BPP đợc
thu theo nguyên tắc các cá nhân muốn bảo vệ môi trờng và những cá nhân
không phải trả cho việc gây ô nhiễm nhng khi môi trờng đợc cải thiện họ
là những ngời đợc hởng lợi cần đóng góp. Tuy nhiên số tiền này không
trực tiếp do ngời hởng lợi tự giác trả mà phải một chính sách do nhà nớc
ban hành qua thuế hoặc phí buộc những ngời hởng lời phải đóng góp, nên
ngyên tắc BPP chỉ khuyến khích việc bảo vệ môi trờng một cách gián tiếp.
Đây là nguyên tắc có thể đợc sử dụng nh một định hớng hỗ trợ
nhằm đạt đợc mục tieu môi trờng, dù đó là bảo vệ hay phục hồi môi trờng.
Tuy nhiên hiệu quả môi trờng có thể đạt đợc hay không, trên thực tế phụ


thuộc vào mức lệ phí, số ngời đóng góp và khả năng sủ dụng tiền hợp lí.



7

III. Nguyên tắc xác định phí nớc thải.
Theo nghị định 67/2003/NĐ-CP của chính phủ ban hành việc thu phí
nớc thải và thông t 125/2003/TTLT-BTC-BTNMT hớng dẫn thi hành nghị
định 67. Nghị định 67 quy định về phí bảo vệ môi trờng đối với nớc thải;
chế độ thu, nộp, quản lí và sử dụng phí bảo vệ môi trờng đối với nớc thải.
Còn thông t 125 hớng dẫn thi hành nghị định 67. trong đó quy định rõ đối
tợng phải chịu phí bảo vệ môi trờng với nớc thải và cách tính phí.
Đối với nớc thải công nghiệp cách tính phí đợc tính:
Số phí = tổng lợng nớc thải * hàm lợng chất gây ô nhiễm trong
nớc thải(mg/l)*10
-3
* mức thu đối với chât gây ô nhiễm ra MT(đồng/kg)
Đối với sinh hoạt:
Số phí = lợng nớc sử dụng * giá bán(đồng/m
3
) * tỉ lệ thu phí(%)
Qua các văn bản pháp luật có thể thấy phí nớc thải nớc ta đợc tính
dựa vào các tiêu chí:
+ Tổng lợng thải
+ hàm lợng các chất gây ô nhiễm có trong nớc tính bằng mg/l
+ Đặc tính các chất gây ô nhiễm. Mỗi chất gây ô nhiễm khác nhau có
một mức thu phí tối đa và tối thiểu khác nhau, tuỳ theo mức độ độc hại của
mỗi loại chất và đợc quy đinh tại nghị định 67. Các chất gây ô nhiễm chủ
yếu đợc qui đinh trong luật là: BOD, COD, TSS, Hg, Pb, As, Cd.

Chất gây ô nhiễm có trong nớc
thải
Mức thu
(đồng/kg chất gây ô nhiễm có trong
nớc thải)
Stt

Tên hoá chất Kí hiệu

Tối thiểu Tối đa
1 Nhu cầu ô xy sinh hoá A
BOD
100 300
2 Nhu cầu ô xy hoá học A
COD
100 300
3 Chất rắn lơ lửng A
TSS
200 400
4 Thuỷ ngân A
Hg
10.000.000 20.000.000
5 Chì A
Pb
300.000 500.000
6 Arsenic A
As
600.000 1.000.000
7 Cadmium A
Cd

600.000 1.000.000



8

Việc thực thi phí nớc thải ở nhiều nớc trên thế giới đã thu đợc nhiều
thành tựu đáng khích lệ. Do đó việc thực thi phí nớc thải với nớc ta cũng có
nhiều ảnh hởng tác động đến môi trờng nớc mặt. Mà cụ thể ở đây là nớc
mặt và môi trờng sông Tô Lịch. Nó có thể giúp mọi ngời nâng cao ý thức
bảo vệ môi trờng. Nhà nớc và địa phơng có thêm nguồn thu từ đó đầu t
trở lại vào môi trờng nhằm bảo vệ môi trờng. Kích thích các doanh nghiệp
đầu t vào hệ thống sử lí nớc thải hoặc đổi mới công nghệ nhằm làm giảm
lợng ô nhiễm, từ đó nâng cao chất lợng môi trờng.
Hiện nay tổng lợng nơc thải sinh hoạt của khu vực nội thành Hà Nội
khoảng 500.000m
3
/ngày đểm trong đó có khoảng 100.000m
3
ngày đêm là nớc
thải của các cơ sở công nghiệp, dịch vụ, bệnh viên. toàn bộ lợng nớc thải
này đợc tiêu thoát chủ yếu qua 4 con sông chính cẩu thành phố là: sông Tô
Lịch, sông Sét, sông Kim Ngu và sông Lừ. Nớc thải sinh hoạt phần lớn qua
sử lí sơ bộ tại các bể tự hoại trớc khi thải vào tuyến cống chung, kênh,
mơng, ao, hồ. Tuy nhiên các bể tự hoại này làm việc kém hiệu quả do xây
dựng không đúng quy cách, không hút phân cặn thờng xuyên nên hàm lợng
chất bẩn trong nớc cao, gây ảnh hởng xấu trong chất lợng nớc trong các
kênh mơng.
Sông Tô lịch là con sông lớn nhất trong bốn con sông tiêu thoát nớc
chính của thành phố Hà Nội. Qua đánh giá thực tế ban đầu bằng việc quan sát

trực tiếp sông, có thể nói sông đang bị ô nhiễm nặng dù mùa khô hay mùa
ma. vào những ngày nóng bức mùi từ sông bốc lên gây ảnh hởng nghiêm
trọng tới đời sống, sức khoẻ, cũng nh sản xuất của ngòi dân hai bên bờ
sông. Không những thế nó còn gây mất mĩ quan đô thị làm giảm hình ảnh thủ
đô cũng nh môi trờng của thành phố.
Tuy nhiên với việc áp dụng phí nớc thải với các cơ sở sản xuất và các
hộ gia đình, sẽ có những tác động tích cực tới môi trờng. Phí nớc thải có thể
buộc các doanh nghiệp phải làm giảm lợng gây ô nhiễm, từ đó nâng cao chất
lợng môi trờng. Với nguồn thu từ phí nớc thải, chinh phủ có thể đầu t trở
lại môi trờng thực hiện các công việc khảo sát đo đạc, lập báo cáo, thực hiện


9

các công việc quản lí cũng nh các công trình về môi trờng. Khuyến khích
các doanh nghiệp thực hiện các biện pháp cũng nh xây dựng hệ thống sử lí
nớc thải, đổi mới công nghệ.
Song vấn đề đặt trong giai đoạn đầu của chơng trình thu phí ô nhiễm
đối với nớc thải là có thể xác định phí nói trên với tất cả các cơ sở sản xuất
gây ô nhiễm ở Hà Nội hay không?




10

Phần II. HIệN TRạNG Ô NHIễM

I. Khái quát chung
I.1. Đặc điểm tự nhiên của thành phố Hà Nội

Hà nội nằm ở 20 độ 57 phút vĩ bắc và 105 độ 35 phút 106 độ 25 phút
độ kinh đông. Từ bắc xuống nam dài nhất khoảng 93 km, từ đông sang tây
rộng nhất khoảng 30 km.
Hà Nội nằm trong vùng nhiệt đới gío mùa, độ ẩm trung bình trong năm
là 81-82% tháng cao nhất vào khoảng 85-86%. Nhiệt độ trung bình có chiều
hớng tăng, năm 1985 là 23,5 độ C, từ năm 1990-1995 nhiệt độ trung binh là
24 độ C ( có năm lên tới 24,1 độ C ) hàng năm bình quân có từ 8-10 cơn bão
và áp thấp nhiệt đới đi qua. Tổng lợng ma trong năm, theo thống kê thì
trong những năm gần đây có nhiều biến động, tuy nhiên trung bình hàng năm
khoảng 1500 mm. Số ngày ma từ 140-160 ngày trong năm.
Sông Tô Lịch thuộc nội thành Hà Nội, nó dài 13.5 km rộng từ 30-40m
sâu khoảng từ 3-4 m. Đầu nguồn bắt đầu từ kênh đào cũ Thụy Khê thuộc khu
vực Phan Đình Phùng. Nó qua Từ Liêm và dịa hạt quận Thanh Trì rồi cùng ba
con sông khác chảy đổ vào sông Nhuệ qua Đầm Thanh Liệt. Sông đợc cải
tạo bằng nguồn vốn vay ODA, hai bên bờ sông đợc thành phố cải tạo có xây
kè đá và các hệ thống thoát nớc thải trực tiếp vào trong lòng sông qua rất
nhiều các ống cống lớn nhỏ của các hộ dân c và các doanh nghiệp trên địa
bàn.
Tình trạng ô nhiễm do nớc thải của thành Phố Hà Nội. Nớc thải của
thành phố Hà Nội thải ra hệ thống thoát nớc hàng ngày khoảng 500.00m
3
ngày/đêm trong đó có khoảng 100.000 m
3
ngày/đêm là nớc thải công nghiệp,
của các cơ sở dịch vụ và bệnh viện
Thực trạng ô nhiễm tại sông Tô Lịch
Sông Tô Lịch là con sông lớn nhất trong bốn con sông và cũng là con
song bị ô nhiễm nặng nhất, điều này đợc thể hiện thông qua nớc thải đổ vào
sông Tô Lịch mỗi ngày là 242.506m
3

ngày/đêm. Trong đó nớc thải công

×