Tải bản đầy đủ (.pdf) (8 trang)

ĐỊA LÝ TỈNH BÌNH ĐỊNH ĐỊA LÍ TỈNH BÌNH ĐỊNH pot

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (302.1 KB, 8 trang )

ĐỊA LÝ TỈNH BÌNH ĐỊNH -
ĐỊA LÍ TỈNH BÌNH ĐỊNH
Di

n t
í
ch : 6.025 km2 (n
ă
m 2003)
Dân số : 1.556,7 nghìn người (năm 2005)
T

nh l

: th
à
nh ph

Quy Nh
ơ
n
Mã điện thoại : 056
Biển số xe : 77
Vị trí địa lý: Bình Định là tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ, nằm trong vùng kinh tế trọng
điểm miền Trung, cách Hà Nội 1.065 km về phía Nam, cách TP.HCM 649 km về phía
B

c. Ph
í
a
đô


ng b

c gi
á
p t

nh Qu

ng Ng
ã
i, ph
í
a Nam gi
á
p t

nh Ph
ú
Y
ê
n, ph
í
a t
â
y gi
á
p
tỉnh Gia Lai và phía đông giáp biển Đông.
Diện tích tự nhiên 6.025,0 km2 (năm 2003)
D

â
n s

1.556,7 ngh
ì
n ng
ườ
i (s

li

u n
ă
m 2005), m

t
độ
258 ng
ườ
i/km2. Tr
ê
n
đị
a b
à
n
tỉnh có nhiều dân tộcchung sống, trong đó dân tộc Kinh chiếm 98% tổng dân số, 3
dân tộc thiểu số chiếm 2% chủ yếu là Ba Na, H’re, Chăm ở 113 làng/22 xã các huyện
miền núi, trung du
Bình Định có 11 đơn vị hành chính là thành phố Quy Nhơn và các huyện: An Lão,

Vĩnh Thanh, Vân Canh, Tây Sơn, Hoài An, Hoài Nhơn, Phù Mỹ, Phù Cát, An Nhơn,
Tuy Ph
ướ
c. To
à
n t

nh c
ó
157 x
ã
, ph
ườ
ng, th

tr

n.
Khí hậu: Bình Định có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa với nhiệt độ trung bình năm 26 –
28
độ
C, l
ượ
ng m
ư
a trung b
ì
nh 1.700

1.800 mm.

Tài nguyên thiên nhiên: Bình Định có các sông lớn là sông Kôn, Lại Giang, La Tinh,
Hà Thanh cùng hệ thống sông suối thuận lợi cho phát triển thủy lợi, thủy điện và cung
c

p n
ướ
c sinh ho

t.
Có 11 nhóm đất với 30 loại đất khác nhau, trong đó đất phù sa chiếm 71.000 ha. Hiện
có gần 117.000 ha đất nông nghiệp, 202.700 ha đất lâm nghiệp có rừng, gần 200.000
ha đất chưa sử dụng có thể khai thác để phát triển nông lâm nghiệp.
Bình Định có bờ biển dài 13 km, có 3 cửa lạch lớn là Quy Nhơn, Đề Gi, tam Quan; có
đầm Thị Nại và cá đầm khác, có nhiều loại thủy hải sản quý thuận lợi cho phát triển
đánh bắt, nuôi trồng thủy sản.
Bình Định không giàu về tài nguyên khoáng sản nhưng có một số khoáng sản có giá
tr

nh
ư đá
x
â
y d

ng, qu

ng titan, n
ướ
c su


i kho
á
ng, caolin, c
á
t tr

ng.
TƯ LIỆU THAM KHẢO
VỀ BÌNH ĐỊNH
Bình Định là một tỉnh thuộc vùng duyên hải Nam Trung BộViệt Nam. Trung tâm
h
à
nh ch
í
nh c

a t

nh l
à
th
à
nh ph

c

ng Quy Nh
ơ
n n


m c
á
ch th
ủ đô
H
à
N

i 1.065 km
về phía bắc và cách Thành phố Hồ Chí Minh 649 km về phía nam.
Vị trí địa lý
B
ì
nh
Đị
nh l
à
t

nh duy
ê
n h

i mi

n Trung c

a Vi

t Nam. L

ã
nh th

c

a t

nh tr

i d
à
i 110
km theo hướng Bắc - Nam, có chiều ngang với độ hẹp trung bình là 55 km (chỗ hẹp
nhất 50 km, chỗ rộng nhất 60 km). Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Ngãi với đường ranh
gi

i chung 63 km (
đ
i

m c

c B

c c
ó
t

a
độ

: 14
°
42'10 B

c, 108
°
55'4
Đô
ng). Ph
í
a Nam
giáp tỉnh Phú Yên với đường ranh giới chung 59 km (điểm cực Nam có tọa độ:
13°30'10 Bắc, 108o54'00 Đông). Phía Tây giáp tỉnh Gia Lai có đường ranh giới
chung 130 km (điểm cực Tây có tọa độ: 14°27' Bắc, 108°27' Đông). Phía Đông giáp
biển Đông với bờ biển dài 134 km, điểm cực Đông là xã Nhơn Châu (Cù Lao Xanh)
thuộc thành phố Quy Nhơn (có tọa độ: 13°36'33 Bắc, 109°21' Đông). Bình Định
đượ
c xem l
à
m

t trong nh

ng c

a ng
õ
ra bi

n c


a c
á
c t

nh T
â
y Nguy
ê
n v
à
v
ù
ng nam
Lào.
Địa hình
Địa hình của tỉnh tương đối phức tạp, thấp dần từ tây sang đông. Phía tây của tỉnh là
vùng núi rìa phía đông của dãy Trường Sơn Nam, kế tiếp là vùng trung du và tiếp theo
là vùng ven biển. Các dạng địa hình phổ biến là các dãy núi cao, đồi thấp xen lẫn
thung lũng hẹp độ cao trên dưới 100 mét, hướng vuông góc với dãyTrường Sơn, các
đồng bằng lòng chảo, các đồng bằng duyên hải bị chia nhỏ do các nhánh núi đâm ra
bi

n. Ngo
à
i c
ù
ng l
à
c


n v
á
t ven bi

n c
ó độ
d

c kh
ô
ng
đố
i x

ng gi

a 2 h
ướ
ng s
ườ
n
đông và tây. Các dạng địa hình chủ yếu của tỉnh là:
 V
ù
ng n
ú
i: N

m v


ph
í
a t
â
y b

c v
à
ph
í
a t
â
y c

a t

nh.
Đạ
i b

ph

n s
ườ
n d

c h
ơ
n

20°. Có diện tích khoảng 249.866 ha, phân bố ở các huyện An Lão (63.367 ha),
Vĩnh Thạnh (78.249 ha), Vân Canh (75.932 ha), Tây Sơn và Hoài Ân (31.000 ha).
Địa hình khu vực này phân cắt mạnh, sông suối có độ dốc lớn, là nơi phát nguồn
c

a c
á
c s
ô
ng trong t

nh. Chi
ế
m 70% di

n t
í
ch to
à
n t

nh th
ườ
ng c
ó độ
cao trung
bình 500-1.000 m, trong đó có 11 đỉnh cao trên 1.000 m, đỉnh cao nhất là 1.202
m ở xã An Toàn (huyện An Lão). Còn lại có 13 đỉnh cao 700-1000m. Các dãy núi
ch


y theo h
ướ
ng B

c - Nam, c
ó
s
ườ
n d

c
đứ
ng. Nhi

u khu v

c n
ú
i
ă
n ra s
á
t bi

n
tạo thành các mỏm núi đá dọc theo bờ, vách núi dốc đứng và dưới chân là các dải
cát hẹp. Đặc tính này đã làm cho địa hình ven biển trở thành một hệ thống các dãy
núi thấp xen lẫn với các cồn cát và đầm phá.
 V
ù

ng
đồ
i: ti
ế
p gi
á
p gi

a mi

n n
ú
i ph
í
a t
â
y v
à
đồ
ng b

ng ph
í
a
đô
ng, c
ó
di

n t

í
ch
khoảng 159.276 ha (chiếm khoảng 10% diện tích), có độ cao dưới 100 m, độ dốc
t
ươ
ng
đố
i l

n t

10
° đế
n 15
°
. Ph
â
n b
ố ở
c
á
c huy

n Ho
à
i Nh
ơ
n (15.089 ha), An L
ã
o

(5.058 ha) và Vân Canh (7.924 ha).

V
ù
ng
đồ
ng b

ng: T

nh B
ì
nh
Đị
nh kh
ô
ng c
ó
d

ng
đồ
ng b

ng ch
â
u th

m
à

ph

n
lớn là các đồng bằng nhỏ được tạo thành do các yếu tố địa hình và khí hậu, các
đồng bằng này thường nằm trên lưu vực của các con sông hoặc ven biển và được
ng
ă
n c
á
ch v

i bi

n b

i c
á
c
đầ
m ph
á
, c
á
c
đồ
i c
á
t hay c
á
c d

ã
y n
ú
i.
Độ
cao trung b
ì
nh
của dạng địa hình đồng bằng lòng chảo này khoảng 25-50 m và chiếm diện tích
khoảng 1.000 km². Đồng bằng lớn nhất của tỉnh là đồng bằng thuộc hạ lưu sông
K
ô
n, c
ò
n l

i l
à
c
á
c
đồ
ng b

ng nh

th
ườ
ng ph
â

n b

d

c theo c
á
c nh
á
nh s
ô
ng hay
dọc theo các chân núi và ven biển.
 V
ù
ng ven bi

n: Bao g

m c
á
c c

n c
á
t,
đụ
n c
á
t t


o th
à
nh m

t d
ã
y h

p ch

y d

c
ven biển với chiều rộng trung bình khoảng 2 km, hình dạng và quy mô biến đổi
theo thời gian. Trong tỉnh có các dãi cát lớn là: dãi cát từ Hà Ra đến Tân Phụng, dãi
cát từ Tân Phụng đến vĩnh Lợi, dãi cát từ Đề Gi đến Tân Thắng, dãi cát từ Trung
L
ươ
ng
đế
n L
ý
H
ư
ng. Ven bi

n c
ò
n c
ó

nhi

u
đầ
m nh
ư đầ
m Tr
à Ổ
,
đầ
m N
ướ
c Ng

t,
đầm Mỹ Khánh, đầm Thị Nại; các vịnh như vịnh Làng Mai, vịnh Quy Nhơn, vịnh
Vũng Mới ; các cửa biển như Cửa Tam Quan, cửa An Dũ, cửa Hà Ra, cửa Đề Gi
và cửa Quy Nhơn. Các cửa trên là cửa trao đổi nước giữa sông và biển. Hiện tại
ngoại trừ cửa Quy Nhơn và cửa Tam Quan khá ổn định, còn các cửa An Dũ, Hà Ra,
Đề Gi luôn có sự bồi lấp và biến động.
H

i
đả
o
Ven bờ biển tỉnh Bình Định gồm có 32 đảo lớn nhỏ được chia thành 10 cụm đảo hoặc
đảo một mình.
 T

i khu v


c bi

n thu

c th
à
nh ph

Quy Nh
ơ
n g

m c

m
đả
o C
ù
Lao Xanh l
à
c

m
đảo lớn gồm 3 đảo nhỏ; cụm Đảo Hòn Đất gồm các đảo nhỏ như Hòn Ngang, Hòn
Đất, Hòn Rớ; cụm Đảo Hòn Khô còn gọi là cù lao Hòn Khô gồm 2 đảo nhỏ; cụm
Đảo Nghiêm Kinh Chiểu gồm 10 đảo nhỏ (lớn nhất là Hòn Sẹo); cụm Đảo Hòn Cân
gồm 5 đảo nhỏ; Đảo đơn Hòn Ông Cơ.
 Tại khu vực biển thuộc huyện Phù Mỹ gồm cụm Đảo Hòn Trâu hay Hòn Trâu
Nằm gồm 4 đảo nhỏ; Đảo Hòn Khô còn gọi là Hòn Rùa. Ven biển xã Mỹ Thọ có 3

đảo nhỏ gồm: Đảo Hòn Đụn còn gọi là Hòn Nước hay Đảo Đồn, Đảo Hòn Tranh
c
ò
n g

i l
à Đả
o Quy,
Đả
o H
ò
n Nh
à
n.
Trong các đảo nói trên thì chỉ đảo Cù Lao Xanh là có dân cư sinh sống, các đảo còn
lại là những đảo nhỏ một số đảo còn không có thực vật sinh sống chỉ toàn đá và cát.
Dọc bờ biển của tỉnh, ngoài các đèn hiệu hướng dẫn tàu thuyền ra vào cảng Quy
Nh
ơ
n, th
ì
B
ì
nh
Đị
nh c
ò
n c
ó
2 ng


n h

i
đă
ng: m

t ng

n
đượ
c x
â
y d

ng tr
ê
n m

ng b

c
của núi Gò Dưa thuộc thôn Tân Phụng xã Mỹ Thọ huyện Phù Mỹ, ngọn này có tên gọi
là Hải Đăng Vũng Mới hay Hải Đăng Hòn Nước; ngọn thứ hai được xây dựng trên đảo
Cù Lao Xanh thuộc xã Nhơn Châu thành phố Quy Nhơn.
Sông ngòi
C
á
c s
ô

ng trong t

nh
đề
u b

t ngu

n t

nh

ng v
ù
ng n
ú
i cao c

a s
ườ
n ph
í
a
đô
ng d
ã
y
Trường Sơn. Các sông ngòi không lớn, độ dốc cao, ngắn, hàm lượng phù sa thấp,
tổng trữ lượng nước 5,2 tỷ m³, tiềm năng thuỷ điện 182,4 triệu KW. Ở thượng lưu có
nhi


u d
ã
y n
ú
i b
á
m s
á
t b

s
ô
ng n
ê
n
độ
d

c r

t l

n, l
ũ
l
ê
n xu

ng r


t nhanh, th

i gian
truyền lũ ngắn. Ở đoạn đồng bằng lòng sông rộng và nông có nhiều luồng lạch, mùa
kiệt nguồn nước rất nghèo nàn; nhưng khi lũ lớn nước tràn ngập mênh mông vùng hạ
l
ư
u g
â
y ng

p
ú
ng d
à
i ng
à
y v
ì
c
á
c c

a s
ô
ng nh

v
à

c
á
c c
ô
ng tr
ì
nh che ch

n n
ê
n tho
á
t
lũ kém. Trong tỉnh có bốn con sông lớn là Côn, Lại Giang, La Tinh và Hà Thanh cùng
các sông nhỏ như Châu Trúc hay Tam Quan. Ngoài các sông đáng kể nói trên còn lại
l
à
h

th

ng c
á
c su

i nh

ch

ng ch


t th
ườ
ng ch

c
ó
n
ướ
c ch

y v

m
ù
a l
ũ
v
à
m

ng l
ướ
i
các sông suối ở miền núi tạo điều kiện cho phát triển thuỷ lợi và thuỷ điện. Độ che phủ
của rừng đến nay chỉ còn khoảng trên 40% nên hàng năm các sông này gây lũ lụt, sa
b

i, thu


ph
á
nghi
ê
m tr

ng. Ng
ượ
c l

i, m
ù
a kh
ô
n
ướ
c c
á
c s
ô
ng c

n ki

t, thi
ế
u n
ướ
c
tưới.

Hồ đầm
Toàn tỉnh Bình Định có nhiều hồ nhân tạo được xây dựng để phục vụ mục đích tưới
tiêu trong mùa khô. Trong đó có thể kể tên một số hồ lớn tại các huyện trong tỉnh như:
hồ Hưng Long (An Lão); hồ Vạn Hội, Mỹ Đức và Thạch Khê (Hoài Ân); hồ Mỹ Bình
(Ho
à
i Nh
ơ
n); h

H

i S
ơ
n v
à
M

Thu

n (Ph
ù
C
á
t); h

Di
ê
m Ti
ê

u, H
ó
c Nh

n v
à
Ph
ú
H
à
(Phù Mỹ); hồ Định Bình, Thuận Ninh (Tây Sơn); hồ Núi Một (Vân Canh-An Nhơn); hồ
V
ĩ
nh S
ơ
n, h
ồ Đị
nh B
ì
nh (V
ĩ
nh Th

nh). Ngo
à
i ra B
ì
nh
Đị
nh c

ò
n c
ó
m

t
đầ
m n
ướ
c
ngọt khá rộng là đầm Trà Ổ (Phù Mỹ) và hai đầm nước lợ là Đề Gi (Phù Mỹ-Phù Cát)và
Thị Nại (Tuy Phước-Quy Nhơn). Hệ thống hồ đầm này tạo điều kiện thuận lợi cho việc
phát triển nông nghiệp và nuôi trồng thủy hải sản. Đặc biệt đầm Thị Nại là đầm lớn rất
thuận lợi cho việc phát triển cảng biển tầm cở quốc gia và góp phần phát triển khu
kinh tế Nhơn Hội, đầm còn được biết đến với cây cầu vượt biển dài nhất Việt Nam hiện
nay.
Kh
í
h

u
Khí hậu Bình Định có tính chất nhiệt đới ẩm, gió mùa. Do sự phức tạp của địa hình
nên gió mùa khi vào đất liền đã thay đổi hướng và cường độ khá nhiều.
 Nhi

t
độ
kh
ô
ng kh

í
trung b
ì
nh n
ă
m:

khu v

c mi

n n
ú
i bi
ế
n
đổ
i 20,1-26,1
°
C,
cao nhất là 31,7°C và thấp nhất là 16,5°C. Tại vùng duyên hải, nhiệt độ không khí
trung bình năm là 27,0°C, cao nhất 39,9°C và thấp nhất 15,8°C.
 Độ ẩ
m tuy

t
đố
i trung b
ì
nh th

á
ng trong n
ă
m: t

i khu v

c mi

n n
ú
i l
à
22,5-27,9%
và độ ẩm tương đối 79-92%; tại vùng duyên hải độ ẩm tuyệt đối trung bình là 27,9%
và độ ẩm tương đối trung bình là 79%.
 Ch
ế
độ
m
ư
a: m
ù
a m
ư
a b

t
đầ
u t


th
á
ng 9
đế
n th
á
ng 12. Ri
ê
ng
đố
i v

i khu v

c
miền núi có thêm một mùa mưa phụ tháng 5-8 do ảnh hưởng của mùa mưa Tây
Nguyên. Mùa khô kéo dài tháng 1-8. Đối với các huyện miền núi tổng lượng mưa
trung b
ì
nh n
ă
m 2.000-2.400 mm.
Đố
i v

i v
ù
ng duy
ê

n h

i t

ng l
ượ
ng m
ư
a trung
bình năm là 1.751 mm. Tổng lượng mưa trung bình có xu thế giảm dần từ miền núi
xuống duyên hải và có xu thế giảm dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam.
 V

b
ã
o: B
ì
nh
Đị
nh n

m

mi

n Trung Trung b

Vi

t Nam,

đâ
y l
à
mi

n th
ườ
ng c
ó
bão đổ bộ vào đất liền. Hàng năm trong đoạn bờ biển từ Quảng Nam - Đà Nẵng đến
Khánh Hòa trung bình có 1,04 cơn bão đổ bộ vào. Tần suất xuất hiện bão lớn nhất
tháng 9-11.
Lịch sử
Bình Định xưa là đất thuộc Việt Thường Thị và nền văn hóa Sa Huỳnh, sau đó người
Chăm đã tới chiếm lĩnh vùng đất này. Đến đời nhà Tần xứ này là huyện Lâm Ấp thuộc
Tượng Quận, đời nhà Hán là huyện Tượng Lâm thuộc quận Nhật Nam, năm Vĩnh Hoà
2 (137) ng
ườ
i trong qu

n l
à
m ch

c C
ô
ng T
à
o t
ê

n l
à
Khu Li
ê
n
đã
gi
ế
t vi
ê
n huy

n l

nh
chiếm đất và tự phong là Lâm Ấp vương. Đời nhà Tùy (605) dẹp Lâm Ấp đặt tên là
Xung Châu, sau đó lại lấy tên cũ là Lâm Ấp. Đời nhà Đường, năm 627 đổi tên là Lâm
Châu. Năm 803, nhà Đường bỏ đất này và nước Chiêm Thành của người Chăm ra đời,
đấ
t n
à
y
đượ
c
đổ
i l
à Đồ
B
à
n, Th


N

i.
Đờ
inh
à
L
ê
n
ă
m H

ng
Đứ
c 2 (1471) vua L
ê
Th
á
nh
Tông đánh phá Chiêm Thành tới núi Thạch Bi chiếm đất này và chia thành 3 huyện:
Bồng Sơn, Phù Ly, Tuy Viễn của phủ Hoài Nhơn thuộc thừa tuyên Quảng Nam. Năm
1602 Ch
ú
a Nguy

n Ho
à
ng cho
đổ

i ph

Ho
à
i Nh
ơ
n th
à
nh Ph

Quy Nh
ơ
n thu

c dinh
Quảng Nam. Năm 1651, chúa Nguyễn Phúc Tần, đã đổi tên phủ Quy Nhơn thành phủ
Quy Ninh.
N
ă
m 1742, ch
ú
a Nguy

n Ph
ú
c Kho
á
t cho l

y l


i t
ê
n c
ũ
l
à
Quy Nh
ơ
n. N
ă
m 1744, ch
ú
a
Nguyễn Phúc Khoát đặt các đạo làm dinh, nhưng cấp phủ vẫn giữ nguyên. Phủ Quy
Nhơn vẫn thuộc về dinh Quảng Nam, đặt các chức tuần phủ và khám lý để cai trị. Phủ
lỵ dời ra phía Bắc thành Đồ Bàn, đóng tại thôn Châu Thành (nay là xã Nhơn Thành,
huy

n An Nh
ơ
n). N
ă
m 1725,

ph

Quy Nh
ơ
n

đặ
t c
á
c ch

c quan tr
ô
ng coi: Ch
á
nh h

,
Khám lý, Đề đốc, Đề lãnh, Ký lục, Cai phủ, Thư ký, mỗi chức đặt một người; mỗi
huy

n
đặ
t cai tri, th
ư
k
ý
, m

i ch

c m

t ng
ườ
i v

à
2 vi
ê
n l

c l

i; m

i t

ng c
ó
cai t

ng. T

1773 đến 1797, nhà Tây Sơn chiếm cứ đất này, sau khi lấy lại đất này Nguyễn Ánh đổi
tên đất này là dinh Bình Định, sai Võ Tánh và Ngô Tùng Châu trấn thủ và đặt quan cai
trị gọi là Lưu Thủ, Cai Bộ, Ký Lục. Năm 1808 đổi dinh Bình Định thành Trấn Bình
Định. Năm 1825 đặt tri phủ Quy Nhơn, năm 1831 lại đổi thành phủ Hoài Nhơn.
Năm 1832 tách huyện Tuy viễn thành hai huyện Tuy Viễn và Tuy Phước, tách huyện
Ph
ù
Ly th
à
nh hai huy

n Ph
ù

M

v
à
Ph
ù
C
á
t
đồ
ng th

i B
ì
nh
Đị
nh v
à
Ph
ú
Y
ê
n th
à
nh
liên tỉnh Bình Phú, sau đó bỏ liên tỉnh này. Năm 1888 đặt huyện Bình Khê. Vào năm
1885 Bình Định là một tỉnh lớn ở Trung Kỳ, nhiều vùng đất của Gia Lai-Kon Tum còn
thu

c v


B
ì
nh
Đị
nh. N
ă
m 1890, th

c d
â
n Ph
á
p s
á
t nh

p th
ê
m Ph
ú
Y
ê
n v
à
o t

nh B
ì
nh

Định thành tỉnh Bình Phú, tỉnh lỵ là Quy Nhơn. Nhưng đến năm 1899, Phú Yên tách
ra khỏi Bình Phú. Ngày 4 tháng 7 năm 1905, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định
thành lập tỉnh tự trị Pleikou Derr, tỉnh lỵ đặt tại làng Pleikan Derr của dân tộc Gia Lai.
Địa bàn tỉnh Pleikou Derr bao gồm các vùng cư trú của đồng bào thiểu số Xơ đăng,
Bana, Gialai tách từ tỉnh Bình Định ra. Ngày 25 tháng 4 năm 1907 xoá bỏ tỉnh
Pleikou Derr.
Toàn bộ đất đai của tỉnh này chia làm hai phần: một là Đại lý Kontum cho sát nhập trở
lại tỉnh Bình Định và đặt dưới sự cai trị của Công sứ Bình Định; một gọi là Đại lý Cheo
Reo, cho sát nhập vào tỉnh Phú Yên và đặt dưới sự cai trị của Công sứ Phú Yên. Năm
1913, th

c d
â
n Ph
á
p l

i s
á
t nh

p Ph
ú
Y
ê
n v
à
o B
ì
nh

Đị
nh th
à
nh t

nh B
ì
nh Ph
ú
v
à
thành lập tỉnh Kontum làm tỉnh riêng; địa bàn tỉnh Kontum bao gồm Đại lý Kontum
tách từ tỉnh Bình Định, Đại lý Cheo Reo tách từ tỉnh Phú Yên và Đại lý Đắc Lắc. Ngày
28 tháng 3 năm 1917 cắt tổng Tân Phong và tổng An Khê thuộc cao nguyên An Khê,
tỉnh Bình Định, sát nhập vào tỉnh Kontum. Năm 1921, thực dân Pháp cắt tỉnh Phú
Yên ra khỏi tỉnh Bình Định và kéo dài cho đến năm 1945. Thời chính quyền Sài gòn
đổi các huyện thành quận, tỉnh Bình Định có 11 quận, 1 thị xã, trong đó có 4 quận
miền núi. Tháng 2 năm 1976 Chính phủ lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam đã ra
nghị định về việc giải thể khu, hợp nhất tỉnh ở miền Nam Việt Nam theo đó hai tỉnh
Qu

ng Ng
ã
i v
à
B
ì
nh
Đị
nh h


p nh

t th
à
nh t

nh Ngh
ĩ
a B
ì
nh. N
ă
m 1989 B
ì
nh
Đị
nh t
á
ch
ra từ tỉnh Nghĩa Bình để tái lập lại tỉnh và kéo dài như vậy cho đến nay.
H
à
nh ch
í
nh
Bình Định bao gồm 1 thành phố trực thuộc và 10 huyện:
 Thành phố Qui Nhơn

Huy


n An L
ã
o
 Huy

n An Nh
ơ
n
 Huyện Hoài Ân

Huy

n Ho
à
i Nh
ơ
n
 Huy

n Ph
ù
C
á
t
 Huyện Phù Mỹ

Huy

n Tuy Ph

ướ
c
 Huy

n T
â
y S
ơ
n
 Huy

n V
â
n Canh
 Huy

n V
ĩ
nh Th

nh
Dân số, dân tộc
Theo số liệu niên giám thống kê năm 2005, toàn tỉnh có 1.562.400 người, trong đó
nam là (761.000 người) chiếm 48,7%, nữ là (801.400 người) chiếm: 51,3%. Dân số ở
thành thị là (393.000 người) chiếm 25,2%, nông thôn là (1.169.400 người) chiếm
74,8%, m

t
độ
d

â
n s

l
à
259,4 ng
ườ
i/km2 v
à
d
â
n s

trong
độ
tu

i lao
độ
ng chi
ế
m
khoảng (793.687 người) chiếm: 50,8% dân số toàn tỉnh. Ngoài dân tộc Kinh, còn có
các dân tộc khác nhưng chủ yếu là Chăm, Ba Na và Hrê, bao gồm khoảng 2,5 vạn
dân.
Văn hóa
Bình Định là mảnh đất có bề dày lịch sử với nền văn hoá Sa Huỳnh, từng là cố đô của
v
ươ
ng qu


c Ch
ă
mpa m
à
di s

n c
ò
n l
ư
u gi

l
à
th
à
nh
Đồ
B
à
n v
à
c
á
c th
á
p Ch
à
m v


i
nghệ thuật kiến trúc độc đáo. Đây cũng là nơi xuất phát phong trào nông dân khởi
nghĩa vào thế kỷ 18 với tên tuổi của anh hùng Nguyễn Huệ; là quê hương của các
danh nhân như Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân, Nguyễn Trung Trực, Đào Tấn, Hàn
Mặc Tử, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Yến Lan Bình Định còn nổi tiếng bởi truyền
thống thượng võ và có nền văn hoá đa dạng phong phú với các loại hình nghệ thuật
nh
ư
b
à
i ch
ò
i, h
á
t b

i, nh

c v
õ
T
â
y S
ơ
n, h
ò
b
á
tr


o c

a c
ư
d
â
n v
ù
ng bi

n c
ù
ng v

i
các lễ hội như: lễ hội Đống Đa, lễ hội cầu ngư, lễ hội của các dân tộc miền núi
Thành phố Qui Nhơn có trường Đại học Qui Nhơn, Trường Cao Đẳng sư phạm Bình
Đị
nh, Tr
ườ
ng
Đạ
i h

c Quang Trung (t
ư
th

c), Tr

ườ
ng Cao
Đẳ
ng K

thu

t, h
à
ng n
ă
m
đào tạo hàng ngàn sinh viên khoa học kỹ thuật cho tỉnh và khu vực miền trung Tây
Nguyên .
Tu

ng B
ì
nh
Đị
nh
Bình Định là nơi có nghệ thuật tuồng rất phát triển gắn liền với tên tuổi của Đào Duy
Từ (Hiện Nay đền thờ danh nhân Đào Duy Từ ở tại xã Hoài Thanh Tây huyện Hoài
Nhơn, cách quốc lộ 1A 2km), Đào Tấn. Các đoàn hát tuồng trong tỉnh được hình
thành ở khắp các huyện. Với sự giao lưu của nghệ thuật tuồng và võ Bình Định đã đưa
tuồng Bình Định lên một tầm cao mới khác lạ hơn so với các đoàn tuồng của Huế hay
Nguy

n H


u D

nh c

a Qu

ng Nam. Tu

ng c
ò
n g

i l
à
"h
á
t b

i" hay h
á
t b

s

d
ĩ
n
ó
c
ó

tên gọi như thế là vì ngoài việc hát thì yếu tố quan trọng góp phần tạo nên một vở
tuồng hay và đặc sắc là hành động điệu bộ của các đào kép. Việc kết hợp võ thuật vào
các màng nhào lộn, đánh trận ở mỗi đoàn có khác nhau tùy theo trình độ của đào kép.
Trước kia khi hát bội còn thịnh hành thì có nhiều đoàn hát nhưng những năm gần đây
dưới sự biến động của kinh tế thị trường thì nhiều đoàn dần giải tán. Lúc còn thịnh
hành các đoàn hát bội thường được các làng, những gia chủ giàu có hay các lăng, đình
ven bi

n m

i v

bi

u di

n.Sau nh

ng
đ
o

n di

n hay ng
ườ
i c

m ch


u n
é
m ti

n th
ưở
ng
lên sân khấu. Vì thế mới có câu "Ở đời có bốn cái ngu làm mai, lãnh nợ, gác cu, cầm
chầu" Thường thì sau đêm hát cuối cùng các đoàn hay hát màn "tôn vương" để chúc
t

ng gia ch

, l
à
ng x
ó
m g

p nhi

u may m

n v
à
cu

i m
à
n "t

ô
n v
ươ
ng" th
ì
th
ườ
ng h
á
t
câu: "rày mừng hải yến Hà Thanh-nhân dân an lạc thái bình âu ca" hay "ngũ sắc
tường vân khai bắc khuyết-nhất bôi thọ tửu chúc nam sang".
Đặc sản
Ngoài các đặc sản về lâm, thổ, thuỷ, hải sản của duyên hải miền Trung nói chung,
Bình Định còn nổi tiếng có: rượu Bàu Đá (An Nhơn), cá chua nước lợ (Phù Mỹ, Đề Gi),
b
á
nh tr
á
ng n
ướ
c d

a (Tam Quan. Ng
à
y nay

huy

n Ho

à
i Nh
ơ
n c
ò
n c
ó
th
ê
m
đặ
c s

n
Cá Ngừ Đại Dương dân địa phương gọi là cá "Bò Gù" )

×