Tải bản đầy đủ (.pdf) (16 trang)

Bài viết số 1: “HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM” ppt

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (439.68 KB, 16 trang )










Bài viết số 1:
“HỆ THỐNG NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM”








1/15
SVTH: Vũ Chu Bảo Ngọc- Lớp NH ngày 1


Bài viết số 1: “HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT
NAM”

GIÁO VIÊN BỘ MÔN: TS LẠI TIẾN DĨNH
Học viên thực hiện : VŨ CHU BẢO NGỌC.



PHẦN 1: CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI (NHTM)
1.1 Định nghĩa NHTM
Luật các tổ chức tín dụng do Quốc hội khoá X thông qua vào ngày 12 tháng 12 năm
1997, định nghĩa: NHTM là một loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động
ngân hàng và các hoạt động khác có liên quan. Luật này còn định nghĩa : Tổ chức tín dụng là
loại hình doanh nghiệp đuợc thành lập theo quy định của Luật này và các quy định khác của
pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi
và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán.
Luật tổ chức tín dụng không có định nghĩa hoạt động ngân hàng vì khái niệm này đã
được định nghĩa trong luật Ngân hàng Nhà nước (NHNN), cũng do Quốc hội khoá X thông
qua cùng ngày. Luật NHNN định nghĩa: Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền
tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này
để cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán.
1.2 Chức năng của NHTM:
- Chức năng trung gian tài chính: được thể hiện thông qua việc thực hiện các nghiệp
vụ về tín dụng, thanh toán, kinh doanh ngoại tệ, kinh doanh chứng khoán và các hoạt động
môi giới khác.
Trung gian được hiểu là trung gian giữa các khách hàng với nhau và trung gian giữa
Ngân hàng Trung ương với công chúng.
- Chức năng tạo ra tiền (tạo ra bút tệ):
Ngoài chức năng trung gian tài chính, NHTM còn có chức năng tạo tiền, tức là chức
năng sáng tạo ra bút tệ góp phần gia tăng khối tiền tệ phục vụ cho nhu cầu chu chuyển và
phát triển nền kinh tế. Theo Quỹ tiền tệ quốc tế (International Monetary Fund) gọi tắt lá IMF,
khối tiền tệ của một quốc gia bao gồm: Tiền giấy, tiền kim loạivà tiền gửi không kỳ hạn ở
ngân hàng. Còn tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi định kỳ không được xem là bộ phận của khối
tiền tệ mà chỉ được xem là “chuẩn tiền”, vì tính chất kém thanh khoản của bộ phận này.
Gọi U
1
là số tiền gửi đầu tiên cảu một khách hàng, số tiền gửi tổng cộng được tạo ra là
S

n
và được tính bằng công thức sau:
S
n
= U
1
/ (1- q)
2/15
SVTH: Vũ Chu Bảo Ngọc- Lớp NH ngày 1


Trong đó: q là công bội cấp số nhân; 1 - q là tỷ lệ dự trữ bắt buộc.
- Chức năng “sản xuất”:
Chức năng sản xuất của NHTM được hiểu là việc huy động các nguồn lực để sử dụng
tạo ra các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng cung cấp cho nền kinh tế. Tuy nhiên, chữ sản xuất
ở đây nên hiểu theo nghĩa trong ngoặc kép, vì có thể còn nhiều tranh cãi chưa thống nhất.
Mục đích nhấn mạnh “chức năng sản xuất” để cho các nhà quản trị NHTM cũng giống
như các doanh nghiệp sản xuất và điều này có thể làm thay đổi sâu sắc trong nhận thức chiến
lược và quản trị NHTM. Vì có sản xuất mới có sản phẩm và vì có sản phẩm nên phải chú ý
những điểm quan trọng sau đây trong quản trị NHTM:
Thứ nhất, NHTM muốn tồn tại và phát triển thì phải tiêu thụ được sản phẩm của mình,
do vậy cần chú ý đến tiếp thị, bán hàng. Khuyến mãi,và thậm chí đến cả dịch vụ hậu mãi nữa.
Thứ hai, NHTM phải chú ý đến nghiên cứu phát triển sản phẩm mới và thiết kế sản
phẩm sao cho thỏa mãn tối đa nhu cầu và thị hiếu của khách hàng.
Thứ ba, NHTM phải không ngừng quan tâm đến phát triển và đổi mới công nghệ ngân
hàng, đặc biệt trong thời đại công nghệ thông tin như hiện nay công nghệ ngân hàng thay đổi
rất chóng mặt. Một sự chậm chạp hoặc đầu tư công nghệ có thể dẫn đến tai họa cho NHTM
trong thời đại cạnh tranh gay gắt hiện nay.
1.3 Vai trò, vị trí của NHTM trong nền kinh tế:
NHTM là một trong những tổ chức tài chính có vai trò quan trọng của nền kinh tế.

Trước hết, với chức năng trung gian tài chính, NHTM thực hiện việc chuyển các khoản tiết
kiệm (chủ yếu hộ gia đình) thành các khoản tín dụng cho các tổ chức kinh doanh và các cá
nhân thực hiện các hoạt động đầu tư kinh doanh. Đồng thời, NHTM là người cung cấp các
khoản tín dụng cho người tiêu dung với quy mô lớn, là một trong những thành viên quan
trọng nhất của thị trường tín phiếu và trái phiếu do chính quyền Trung ương và địa phương
phát hành để tài chợ cho các chương trình công cộng.
NHTM cũng là một trong những tổ chức cung cấp vốn lưu động, vốn trung hạn và dài
hạn quan trọng cho các doanh nghiệp.
- Với vai trò thanh toán, NHTM thay mặt khách hàng thực hiện thanh toán cho việc
mua hàng hoá và dịch vụ như bằng cách phát hành và bù trừ séc, cung cấp mạng lưới thanh
toán điện tử, …
- Với vai trò người bảo lãnh, NHTM cam kết trả nợ cho khách hang khi khách hang
mất khả năng thanh toán.
- Với vai trò đại lý, các NHTM thay mặt khách hang quản lý và bảo lãnh phát hành
hoặc chuộc lại chứng khoán.
- Cuối cùng với vai trò thực hiện chính sách, các NHTM còn là một kênh quan trọng
để thực thi chính sách vĩ mô của Chính phủ, góp phần điều tiết sự tăng trưởng kinh tế.
1.4Các hoạt động chủ yếu của NHTM:
1.4.1. Hoạt động huy động vốn:
3/15
SVTH: Vũ Chu Bảo Ngọc- Lớp NH ngày 1


- Nhận tiền gửi của tổ chức, cá nhân và các tổ chức tín dụng khác dưới hình thức tiền
gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các loại tiền gửi khác,
- Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và giấy tờ có giá trị,
- Vay vốn của các tổ chức tín dụng trong nuớc và ngoài nước,
- Vay vốn của Ngân hàng Nhà nước,
- Các hoạt động huy động vốn khác theo quy định của NHNN.
1.4.2 Hoạt động cấp tín dụng:

- Cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn cho các tổ chức, cá nhân vay vốn đáp ứng
nhu cầu sản xuất, kinh doanh, dịch vù và đời sống,
- Bảo lãnh,
- Chiết khấu,
- Cho thuê tài chính,
- Bao thanh toán,
- Tài trợ xuất nhập khẩu,
- Cho vay thấu chi,
- Cho vay theo hạn mức tín dụng và hạn mức tín dụng dự phòng.
1.4.3 Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ:
- Cung cấp các phương tiện thanh toán,
- Thực hiện các dịch vụ thanh toán trong nước và các dịch vụ thanh toán khác theo
quy định của NHNN,
- Thực hiện các dịch vụ thanh toán quốc tế khi được NHNN cho phép,
1.4.4 Các hoạt động khác:
- Góp vốn và mua cổ phần,
- Tham gia thị trường tiền tệ,
- Kinh doanh ngoại tệ,
- Ủy thác và nhận ủy thác,
- Cung cấp dịch vụ bảo hiểm,
- Tư vấn tài chính,
- Bảo quản vật quý giá.

PHẦN 2: THỰC TRẠNG VỀ HOẠT ĐỘNG HỆ THỐNG NHTM VIỆT NAM
TRONG THỜI GIAN 2006-2008:
2.1 Hệ thống NHTM ở Việt Nam giai đoạn 2006 - 2008:
Đây là giai đoạn các NHTM đẩy mạnh tiến trình cơ cấu lại toàn diện hệ thống ngân
hàng để thích nghi với lộ trình cam kết mà Việt Nam đã trở thành thành viên của Tổ chức
Thương mại Thế giới (WTO) về tổ chức bộ máy, tăng cường năng lực hoạt động, quản lý
4/15

SVTH: Vũ Chu Bảo Ngọc- Lớp NH ngày 1


kinh doanh, năng lực tài chính, phân biệt chức năng cho vay của ngân hàng chính sách với
chức năng kinh doanh tiền tệ của NHTM.
Còn đối với các NHTM cổ phần đã được củng cố và phát triển theo hướng tăng cường
năng lực quản lý về tài chính, đồng thời giải thể, sát nhập, hợp nhất hoặc bán lại các NHTM cổ
phần yếu kém và hiệu quả kinh doanh thấp. Đối với các NHTM liên doanh và chi nhánh ngân
hàng nước ngoài, được bảo đảm quyền kinh doanh theo các cam kết đã được ký kết và hội nhập.
Thời kỳ này số lượng các ngân hàng cổ phần, các chi nhánh ngân hàng nước ngoài có
xu hướng tăng (xem bảng 2.1)
Bảng 2.1 Cơ cấu hệ thống NHTM ở Việt Nam thời kỳ 2005 – 2008
Loại hình ngân hàng 2005 2006 2007 2008
Ngân hàng thương mại Nhà nước 5 6 7 6
*
Ngân hàng thương mại cổ phần 37 37 36 37
Ngân hàng liên doanh 4 5 6 6
Chi nhánh ngân hàng nước ngoài 28 31 31 33
Tổng cộng 74 79 80 82
(Nguồn: Báo cáo của Ngân hàng Nhà nước)
(*: Ngân hàng công thương Việt Nam, Ngân hàng Nông nghiệp & phát triển Nông
thôn, Ngân hàng Đầu tư & Phát triển, Ngân hàng Phát triển nhà Đồng bằng song Cửu Long,
Ngân hàng Phát triển Việt Nam và Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam).
Dù vậy, trong giai đoạn này các NHTM Việt Nam đã tỏ rõ vai trò quan trọng đối với
nền kinh tế. Hiện NHTM đang là kênh huy động, cung ứng vốn cho nền kinh tế với 30% vồn
đầu tư phát triển hàng năm và 40% tổng nhu cầu vốn của doanh nghiệp được tài trợ bởi tín
dụng ngân hàng. Tuy còn thấp hơn sơ với một số nước khác, nhưng tổng dư nợ cho vay qua
hệ thống ngân hàng đề tăng và đến cuối năm 2008 đã đạt tốc độ tăng trưởng 53,7%, cao hơn
mức bình quân chung của các nước có thu nhập thấp.
Bảng 2.2 Dư nợ cho vay của hệ thống NHTM ở Việt Nam

đối với nền kinh tế thời kỳ 2006 - 2008
Năm 2006 2007 2008
GDP (tỷ đồng) 839.200 974.200 1.144.000

Dư nợ cho vay (tỷ đông) 732.023 992.013 1.124.723

Tốc độ tăng trưởng (%) 22,8 25,2 53,7
(Nguồn: Báo cáo của Ngân hàng Nhà nước)
Ngoài ra, các sản phẩm dịch vụ, nhất là dịch vụ ngân hàng bán lẻ, ngày càng đa dạng
và phong phú hơn. Sự cạnh tranh giữa các ngân hàng ngày càng gia tăng, các NHTM cổ
phần, ngân hàng nước ngoài ngày càng đóng vai trò tích cực.
5/15
SVTH: Vũ Chu Bảo Ngọc- Lớp NH ngày 1


Đối với tình hình cho vay, Với mức tăng trưởng tín dụng bình quân của ngành là 54%
năm 2007 thì giới hạn 30% tăng trưởng tín dụng năm nay được các ngân hàng đánh giá là
cào bằng tất cả, giống như chỉ thị 03 đối với cho vay chứng khoán và Quyết định số 02 của
NHNN về trần lãi suất huy động. Theo báo cáo tài chính năm 2007, tổng dư nợ cho vay của
ngân hàng Nam Á: 2.698 tỷ đồng, ngân hàng Thái Bình Dương: 2.700 tỷ đồng, ngân hàng
Việt Á: 5.764 tỷ đồng, ngân hàng An Bình: 6.858 tỷ đồng, ngân hàng Mỹ Xuyên: 1.264 tỷ
đồng … Hầu như tất cả các ngân hàng này đều đã sử dụng hết và vượt hạn mức qui định chỉ
trong 02 tháng đầu năm 2008. Hiện nay dư nợ của Ngân hàng Thái Bình Dương khoảng
4.800 tỷ đồng, tăng hơn 77% so với cả năm 2007 và đang bị buộc phải giảm dư nợ. Trong
khi đó ở các ngân hàng TMQD, hạn mức vẫn còn khá nhiều.
Hậu quả của việc bất chấp các nguyên tắc cơ bản của tín dụng, năm 2007 vừa qua dư nợ tại
các ngân hàng tăng vọt khi chất lượng tín dụng không đảm bảo. Dưới áp lực của lợi nhuận và
vì “lợi ích cá nhân”, công tác thẩm định được tiến hành sơ sài, chiếu lệ, tình trạng cán bộ tín
dụng và lãnh đạo ngân hàng “bắt tay” khách hàng, cò tín dụng trở nên phổ biến… là những
nguyên nhân đặt các khoản vay trong tình trạng “bất ổn”, có nguy cơ quá hạn hiện nay tại

hầu hết các ngân hàng.
Bảng 2.3 Thị phần các NHTM ở Việt Nam thời kỳ 2006 - 2008
2006 2007 2008

A/ Tổng thị phần tiền gửi (%)
1. NHTM Nhà nước 72,2 68,4 65,1
2. NHTM Cổ phần 19,5 23,7 25,3
3. Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài và liên doanh 8,3 7,9 9,6
B/ Tổng thị phần tín dụng (%)
1. NHTM Nhà nước 62,1 57,4 49,2
2. NHTM Cổ phần 27,5 35,6 35,7
3. Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài và liên doanh 10,4 7,0 13,1
(Nguồn: Báo cáo của Ngân hàng Nhà nước)
Qua bảng số liệu cho thấy thị phần của NHTM Nhà nước có xu hướng giảm nhẹ
nhưng vẫn chiếm tỷ trọng cao đến tháng 12/2008 thị phần tiền gửi của các NHTM Nhà nước
là 65,% và thị phần tín dụng là 49,2%. Thị phần tiền gửi và tín dụng của các NHTM cổ phần
có xu hướng tăng tính đến tháng 12/2008 thị phần của các loại hình ngân hàng này tương
đương là 25,3%; 35,7% còn đối với NHTM nước ngoài và lien doanh thị phần tương đương
9,6%; 13,1%.
Về tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động của các NHTM qua các năm khá cao và cơ
cấu huy động cũng đa dạng hơn từ các hình thức huy động như tiết kiệm, chứng chỉ tiền gửi,
tiền gửi thanh toán đến việc phát hành kỳ phiếu, trái phiếu.
Bảng 2.4 Tốc độ tăng tín dụng (CRED) và huy động vốn (DEPO)
6/15
SVTH: Vũ Chu Bảo Ngọc- Lớp NH ngày 1


của hệ thống NHTM ở Việt Nam thời kỳ 2006 - 2008
Năm 2006 2007 2008
Tốc độ tăng huy động vốn (%) 40,21 30,68 27,14

Tốc độ tăng tín dụng (%) 53,70 25,44 22,03

Để có thêm minh chứng cụ thể trong điều hành hoạt động của Ngân hàng Thương mại
Việt Nam, chúng ta sẽ xem xét biểu lãi suất cơ bản mà NHNN đã đưa ra trong năm 2008:
Thời điểm áp dụng Lãi suất cơ bản
Tháng 01-2008 8,25%
Ngày 01-2-2008 8,75%
Tháng 03-2008 8,75%
Tháng 04-2008 8,75%
Từ 19- 05-2008 12%
Từ 11-06-2008 14%
Tháng 07-2008 14%
Tháng 08-2008 14%
Tháng 09-2008 14%
Ngày 20-10-2008 13%
Ngày 03-11-2008 12%
Ngày 05-12-2008
Ngày 22/12/2008
10%
8,5%

Qua bảng lãi suất trên cho ta thấy: năm 2008 là năm xảy ra nhiều biến động của
ngành Ngân hàng ở Việt Nam, đặc biệt là công tác điều hành từ phía Ngân hàng Nhà nước.
Do đó, việc nhận định và đưa ra định hướng phát triển cho Ngân hàng thương mại và một
vấn đề hết sức quan trọng.

2.2 Những hạn chế và nguyên nhân yếu kém của hệ thống NHTM Việt Nam hiện nay
2.2.1 Nguyên nhân khách quan
7/15
SVTH: Vũ Chu Bảo Ngọc- Lớp NH ngày 1



Lĩnh vực cải cách chậm nhất trong nền kinh tế Việt Nam thời gian qua chính là họat
động của ngành ngân hàng. Mặc dù, không hẳn đồng tình với nhận định này nhưng NHNN
cũng thừa nhận rằng họat động dịch vụ ngân hàng của Việt Nam xuất phát điểm còn thấp về
trình độ phát triển thị trường, tiềm lực về vốn yếu, công nghệ và tổ chức ngân hàng lạc hậu
và trình độ quản lý thấp hơn so với nhiều nước trong khu vực cũng như trên thế giới.
Một phần những yếu kém trên là do nền kinh tế Việt Nam có xuất phát điểm thấp, cơ
cấu kinh tế không hợp lý, thứ hạng cạnh tranh thấp. Môi trường pháp lý cho họat động kinh
doanh nói chung của Việt Nam và nói riêng cho họat động NHTM chưa hòan thiện.
Hơn nữa họat động của các NHTM ở Việt Nam nằm trong bối cảnh của một nền kinh
tế phát triển từ cơ chế tập trung chuyển sang cơ chế thị trường với những cơ chế chính sách
hoàn chỉnh và đồng bộ, chưa nhất quán và thích hợp với các quy định và chuẩn mực quốc tế;
các thị trường phát triển còn ở dạng sơ khai như thị trường chứng khóan, thị trường lao động,
thị trường bất động sản…
Cơ sở hạ tầng công nghệ và kỹ thuật còn nhiều hạn chế, đặc biệt là hệ thống công
nghệ thông tin và viễn thông qua gia đã có những ảnh hưởng khá nhiều đến hiệu quả họat
động của hệ thống NHTM ở Việt Nam.
Khuôn khổ pháp lý trong họat động của ngân hàng nói chung và họat động thanh tóan
ngân hàng nói riêng chưa phù hợp và đồng bộ, nhiều qui định và chính sách trong lĩnh vực
ngân hàng chưa phù hợp với nguyên tắc thị trường.
2.2.2 Nguyên nhân chủ quan: những yếu kém nảy sinh từ nội tại hệ thống NHTM Việt Nam
Xuất phát điểm hội nhập của hệ thống ngân hàng Việt Nam là thấp, thiếu chiến lược
phát triển tổng thể dài hạn cùng với lộ trình và các giải pháp triển khai cụ thể, cùng với tốc
độ cải cách thể chế, công nghệ, quản lý điều hành hệ thống ngân hàng diễn ra chậm, theo
kiểu lần mò, thiếu quyết sách mang tính đột phát. Cho đến nay, định hướng phát triển NHNN
và NHTM chủ yếu mang tính đối phó. Những chính sách biện pháp điều chỉnh của NHNN
phổ biến mang tính tình thế và ngắn hạn trong khi môi trường tiền tệ, ngân hàng luôn bị tác
động bởi quá trình cải cách hội nhập quốc tế.
Hơn nữa sự yếu kém của hệ thống ngân hàng Việt Nam còn xuất phát từ những yếu

kém nảy sinh trong họat động của hệ thống NHTM như: tiềm lực về vốn còn yếu, công nghệ
và tổ chức ngân hàng lạc hậu, trình độ quản lý thấp… phần dưới đây sẽ đánh giá một cách
đầy đủ những yếu kém hiện nay mà các NHTM ở Việt Nam đang phải đối mặt.
2.2.2.1. Tổ chức bộ máy còn nhiều bất cập:
Mô hình tổ chức hiện nay của hầu hết các NHTM Việt Nam được tổ chức theo kiểu
truyền thống đó là căn cứ vào lọai hình nghiệp vụ để phân định chức năng các phòng ban.
Trong khi ở các ngân hàng tiên tiến, các họat động hướng tới khách hàng của họ lại được
phân theo tiêu thức đối tượng khách hàng - sản phẩm nhằm đáp ứng tốt hơn các yêu cầu cùa
khách hàng và nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng. Trong điều kiện các NHTM họat
động với qui mô nhỏ , tính chất đơn giản như hiện nay thì mô hình trên vẫn tỏ ra phù hợp với
mức độ tập trung quyền lực cao. Song khi ngân hàng phát triển với qui mô ngày càng lớn,
8/15
SVTH: Vũ Chu Bảo Ngọc- Lớp NH ngày 1


với số luợng chi nhánh ngày càng mở rộng, khối lượng và tính chất công việc ngày càng
nhiều và phức tạp thì mô hình trên sẽ bộc lộ những điểm bất hợp lý.
2.2.2.2. Năng lực quản lý, điều hành còn nhiều hạn chế so với yêu cầu của NHTM hiện
đại
Các công cụ và cách thức quản lý điều hành cùa NHTM Việt Nam còn chưa theo kịp
với yêu cầu của NHTM hiện đại. Chiến lược kinh doanh của các NHTM Việt Nam hiện tập
trung chủ yếu đầu tư theo chiều rộng chứ không phải chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế.
Hệ thống thông tin, theo dõi nợ, quản lý rủi ro không kịp thời chính xác, dẫn tới sự
thiếu minh bạch trong họat động tài chính ngân hàng. Các NHTM Việt Nam chủ yếu vẫn coi
tài sản thế chấp là cơ sở đảm bảo tiền cho vay , kể cả đối với tín dụng ngắn hạn. các ngân
hàng còn xem nhẹ bảo đảm theo dự án, trong khi việc xừ lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ là
vấn đề khó khăn d0o vướng mắc về mặt pháp lý, vì vậy khó thu hồi được vốn vay. Khả năng
chi trả của các NHTM Việt Nam rất thấp.
2.2.2.3. Vốn điều lệ, vốn tự có và tỷ lệ an tòan vốn còn thấp
Vốn điều lệ là một chỉ tiêu phản ánh tiều lực tài chính, đảm bảo an toàn trong họat

động tài chính của NHTM và tạo lòng tin với công chúng. Tuy nhiên, hiện nay vốn điều lệ
của NHTM Việt Nam còn nhỏ bé, kể cả các NHTM nhà nước.
Mặc dù trong quá trình thực hiện đề án cơ cấu lại các ngân hàng thương mại nhà
nước, Nhà nước đã “ bơm” vốn cho các ngân hàng này tới 4 lần, nhưng tổng vốn điều lệ của
các ngân hàng thương mại nhà nước gồm 5 ngân hàng thương mại nhà nước và một ngân
hàng chính sách xã hội tính đến năm 2005 mới đạt khỏang 22.394 tỷ đồng, làm hạn chế khả
năng huy động và cung ứng tín dụng cho tòan nền kinh tế.
Năng lực tài chính và qui mô hoạt động của các tổ chức tín dụng nhìn chung thấp so
với ngân hàng trong khu vực và thông lệ quốc tế. Do vốn tự có thấp, nên tỷ lệ an toàn vốn
thấp, theo thông lệ quốc tế thì tỷ lệ vốn tự có so với tổng tài sản có rủi ro tối thiểu là 8%. Tuy
nhiên hiện nay trong thực tế, nếu sử dụng tổng vốn chủ sở hữu / tổng tài sản có để phản ánh
tỷ lệ an toàn vốn thì hầu hết các ngân hàng Việt Nam, nhất là hệ thống các NHTM Nhà nước,
chỉ đáp ứng được ở tỷ lệ khoảng 5%, thấp xa so với yêu cầu của chuẩn mực quốc tế là 8%.
Với vốn tự có thấp, vốn được phép huy động cũng sẽ thấp, do đó hạn chế hoạt động đầu tư,
nhất là đầu tư vào các dự án lớn, nguy cơ rủi ro, nhất là đối với các tổ chức tín dụng loại nhỏ
đang chiếm đa số về số lượng. mức vốn tự có nhỏ còn làm hạn chế khà năng mở rộng cho
vay bảo lãnh đối với các dự án lớn của các NHTM vì theo của Luật các tổ chức tín dụng
(Điều 79) quy định tổng số dư nợ cho vay đối với một khách hàng không được quá 15% vốn
tự có của tổ chức tín dụng. Hơn nữa, tỷ lệ vốn an toàn tối thiểu không những phản ánh năng
lực vốn của các ngân hàng ở dạng tĩnh mà còn thể hiện năng lực này trong mối quan hệ với
hiện quả của quá trình sử dụng vốn.
2.2.2.4 Trình độ cán bộ nhân viên ngân hàng chưa đáp ứng được yêu cầu của cơ chế thị
trường
9/15
SVTH: Vũ Chu Bảo Ngọc- Lớp NH ngày 1


Hiện nay chất lượng và trình độ cán bộ được các NHTM Việt Nam đặc biệt quan tâm và
coi đó là một yếu tố quan trọng của việc nâng cao năng lực cạnh tranh. Trong thời gian qua do
các ngân hàng mở rộng mạng lưới hoạt động quá nhanh do vậy có nhu cầu cần tuyển dụng thêm

cán bộ tăng rất mạnh tuy nhiên việc tuyển dụng đội ngũ cán bộ, nhân viên mới vẫn theo truyền
thống kiểu cũ, trình độ hạn chế về mọi mặt, làm cho chí phí hoạt động tăng và ảnh hưởng đến
hiệu quả hoạt động của hệ thống NHTM Việt Nam. Nhiều cán bộ ngân hàng chưa hình dung
được những dịch vụ ngân hàng tiên tiến trên thế giới được giới thiệu qua báo, đài. Tiềm ẩn rủi ro
tín dụng cao là một minh chứng cho sự thành thạo nghiệp vụ tín dụng. Số người hiểu biết tường
tận luật quốc tế, các quy định chung của tổ chức thế giới không nhiều.
2.2.2.5 Máy móc, công nghệ ngân hàng còn lạc hậu
Máy móc. công nghệ là những yếu tố căn bản thuộc về “lực lượng sản xuất’ của hoạt
động ngân hàng hiện nay còn yếu kém, các công nghệ chủ yếu vẫn còn dựa và kỹ năng
truyền thống, các tiện ích ngân hàng còn nghèo nàn.
Chẳng hạn: Năm 2005 các NHTM Việt Nam đã phát hành tương ứng được 2,5 triệu
thẻ nội địa và 134,7 ngìn thẻ quốc tế nhưng mới chỉ có 1.738 máy ATM được lắp đặt trên
toàn quốc. Đến cuối năm 2006 số lượng thẻ đã là 4,2 triệu thẻ nội địa và 242,5 nghìn thẻ
quốc tế. Tuy nhiên, mỗi ngân hàng lại phát triển hệ thống ATM theo cách riêng của mình,
mặc dù hiện nay đã có 4 liên minh thẻ gồm: Liên minh thẻ của ngân hàng ngoại thương Việt
Nam (Vietcombank); công ty cổ phần chuyển mạch tài chính quốc gia (Banknet Việt Nam);
liên minh thẻ NHTM Cổ phần Đông Á, NHTM Cổ phần Sài Gòn công thương và Ngân hàng
Phát triển nhà ĐBSCL; Liên minh thẻ NHTM CP Sài Gòn Thương tín (Sacombank) và ANZ.
Chính vì vậy chưa tạo sự liên kết mạnh giữa các ngân hàng trong huy được hiệu quả của hệ
thống máy móc thiết bị, nâng cao sức cạnh tranh, tiết kiệm chi phí …. Đồng thời việc ứng
dụng công nghệ của các ngân hàng ở các mức độ khác nhau, tạo chênh lệch khá cao về trình
độ công nghệ ở một số ngân hàng.
2.2.2.6 Năng lực cạnh tranh của các NHTM Việt Nam còn yếu
Việt Nam đang theo tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, trong đó có hội nhập tài chính
- ngân hàng. Hội nhập tài chính - ngân hàng lại đòi hỏi tự do hoá tài chính Tự do hoá tài
chính cũng đồng nghĩa với việc mở rộng cạnh tranh trong các hoạt động tài chính mang tính
chất trung gian. Điều này đồng nghĩa với việc xoá bỏ sự phân biệt đối xử về pháp lý giữa các
loại hình hoạt động khác nhau.
Theo hiệp định thương mại Việt - Mỹ cam kết lộ trình 9 năm với 7 cột mốc tháo dỡ
mọi hạn chế đối với các ngân hàng của Mỹ đuợc bãi bỏ hoàn toàn và lộ trình cam kết Tổ

chức Thương mại thế giới (WTO). Cho đến tháng 12/2004, các nhà cung cấp dịch vụ Mỹ (trừ
ngân hàng và công ty thuê mua tài chính) chỉ được hoạt động tại Việt Nam dưới hình thức
liên doanh với đối tác Việt Nam dưới hình thức liên doanh với đối tác Việt Nam, sau thời
gian đó những hạn chế này đã bị bãi bỏ. Sau 9 năm tức là từ tháng 12/2010, các ngân hàng
Mỹ được phép thành lập ngân hàng con 100% vốn của Mỹ tại Việt Nam. Trong thời gian 9
năm đó, các ngân hàng Mỹ có thể thành lập ngân hàng liên doanh với đối tác Việt Nam theo
tỷ lệ góp vốn 30-49% vốn điều lệ của ngân hàng liên doanh. Theo đó các nhà cung cấp dịch
10/15
SVTH: Vũ Chu Bảo Ngọc- Lớp NH ngày 1


vụ tài chính Mỹ đuợc phép cung cấp 12 phân ngành dịch vụ ngân hàng theo lộ trình với 7 cột
mốc. Lộ trình này xác định rõ mức độ tham gia các loại hình dịch vụ ngân hàng và hình thức
pháp lý mà các nhà cung cấp dịch vụ Mỹ đuợc hoạt động tại Việt Nam, điều này cũng đồng
nghĩa với yêu cầu cắt giảm bảo hộ về kinh doanh dịch vụ ngân hàng của Mỹ, cho phép họ
được tham gia với mức độ tăng dần vào hoạt động ngân hàng tại Việt Nam.
Như vậy, trong thời gian tới các hạn chế đối với các ngân hàng nước ngoài hoạt động
trên lãnh thổ Việt Nam sẽ đuợc loại bỏ và các ngân hàng nước ngoài sẽ từng bước tham gia
vào lĩnh vực hoạt động ngân hàng tại nước ta. Điều này có nghĩa là sẽ tạo sức ép cạnh tranh
trong ngành Ngân hàng và buộc ngân hàng Việt Nam phải tăng thêm vốn, đầu tư kỹ thuật, cải
tiến phương thức quản trị và hiện đại hoá hệ thống thanh toán để nâng cao hiệu quả hoạt
động và năng lực cạnh tranh.
Thách thức về cạnh tranh đối với các ngân hàng Việt Nam trong thời gian tới là khá lớn,
đặc biệt trong phạm vi hoạt động kinh doanh của các lĩnh vực mà các ngân hàng nước ngoài có ưu
thế như: thanh toán quốc tế, tài trợ thương mại, đầu tư dự án và các khách hàng chiến lược như
các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các doanh nghiệp xuất khẩu… mặt khác các ngân
hàng nước ngoài còn hơn hẳn chúng ta về vốn, công nghệ, năng lực tổ chức quản lý cũng như kinh
nghiệm… Trong khi điểm mạnh của các ngân hàng nước ngoài là dịch vụ (chiếm tới trên 40%
tổng thu nhập) thì tình trạng “độc canh” tín dụng vẫn còn phổ biến ở hầu hết các ngân hàng Việt
Nam, thu lãi cho vay của toàn bộ hệ thống NHTM Việt Nam vào năm 2005 chiếm 88% (với ngân

hàng ngoại thương thỉ tỷ trọng này cũng chiếm đến 79,8%) và tại thời điểm 8/2006 là 89%, thu về
hoạt động dịch vụ vhỉ chếm tỷ trọng nhỏ 12% năm 2005 và 11% vào thời điểm 8/2006. Rõ ràng
các sản phẩm dịch vụ còn nghèo nàn, thiều các định chế quản lý theo tiêu chuẩn quốc tế như quản
trị rủi ro, quản trị tài sản có, nhóm khách hàng, loại sản phẩm, kiểm toán nội bộ.
Hơn nữa, tình trang các ngân hàng Việt Nam (đặc biệt là các NHTM nhà nước) đầu tư
tập trung quá nhiều vào các DNNN mà phần lớn các doanh nghiệp này đều có thứ bậc xếp
hạng tài chính thấp thuộc các ngành có khả năng cạnh tranh yếu. Đây là nguy cơ rủi ro rất
lớn đối với các NHTM nói chung và các NHTM nhà nước nói riêng.
Ngoài ra, hội nhập quốc tế làm tăng các giao dịch vốn và rủi ro của hệ thống ngân hàng,
trong khi đó cơ chế quản lý và hệ thống thông tin giám sát ngân hàng còn rất đơn giản, chưa phù
hợp với thông lệ quốc tế, Luật hoạt động của các tổ chức tín dụng hiện hành còn có một số điểm
chưa phù hợp với nội dung của GATS, Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ và cam kết WTO để
đảm bảo việc tuân thủ nghiêm pháp luật về ngân hàng và sự an toàn của hệ thống ngân hàng,
nhất là trong việc ngăn nhặn và cảnh báo sớm các rủi ro trong hoạt động ngân hàng.
2.2.2.7. Cơ chế và thể chế quản lý còn nhiều hạn chế
Luật ngân hàng nhà nước và Luật các tổ chức tín dụng còn nhiều nội dung bất cập với
xu hướng phát triển hoạt động ngân hàng - đặc biệt là những nội dung về vị thế của NHNN,
chức năng, nhiệm vụ của Thống đốc và một số quan hệ giữa ngân hàng với các cấp ngành
trong nền kinh tế quốc dân còn bị gò bó và lệ thuộc rất lớn. Theo đó, việc tổ chức, điều hành
còn bị chồng chéo, công kềnh, còn nhiều hiện tượng lẫn lộn giữa luật với lệnh, giữa hoạt
động kinh doanh với hoạt động chính sách, các tổ chức tín dụng phi ngân hàng hoặc nhiều
11/15
SVTH: Vũ Chu Bảo Ngọc- Lớp NH ngày 1


hoạt động ngân hàng phi chính thức còn tiếp tục tồn tại ngoài vòng kiểm soat của ngành. Cấu
trúc hệ thống ngân hàng tuy phát triển mạnh mẽ về chiều rộng (cả khu vực quản lý lẫn khu
vực kinh doanh) nhưng hiệu quả và chất lượng hoạt động kém.
Quyền hạn của một giám đốc NHTM nhà nước là quá lớn, trong khi trách nhiệm rất
khó xác định, dẫn đến các khoản tín dụng mới liên tục tăng nhưng chẳng mấy ai quan tâm

đến nợ xấu.
2.2.2.8. Cơ cấu khách hàng không cân đối
Hiện nay dịch vụ ngân hàng của các NHTM Việt Nam còn đơn điệu, nghèo nàn, tính
tiện lợi chưa cao, chưa tạo thuận lợi và cơ hội bình đẳng cho các khách hàng thuộc các thành
phần kinh tế trong việc tiếp cận và sử dụng dịch vụ ngân hàng. Tín dụng vẫn là họat động
kinh doanh chủ yếu tạo thu nhập cho các ngân hàng, các nghiệp vụ mới như dịch vụ thanh
toán qua ngân hàng, môi giới kinh doanh, tư vấn dự án chưa phát triển. Cho vay theo chỉ định
của nhà nước vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu tín dụng của các NHTM nhà nước.
Tuy việc mở rộng tín dụng cho khu vực kinh tế ngòai quốc doanh đã có chuyển biến
tích cực nhưng vẫn còn nhiều vướng mắc. hầu hết các chủ trang trại và công ty tư nhân khó
tiếp cận được nguồn vốn ngân hàng và vẫn phải huy động vốn bằng các hình thức khác.
Theo điều tra mới nhất của Tổng cục thống kê hiện tại cả nước có hơn 200.000 DN
vừa và nhỏ, đóng góp 40 %v GDP, tạo trên 12 triệu việc làm cho xã hội. Tốc độ tăng trưởng
tín dụng dành cho khối doanh nghiệp vừa và nhỏ đã có xu hướng tăng. Riêng hai năm gần
đây, số vốn mà các NHTM cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ vay chiếm bình quân 40% tổng
dư nợ, thậm chí có những trường hợp chiếm từ 50 - 60 % tổng dư nợ như ngân hàng Công
thương Việt Nam. Tuy nhiên, Bộ Kế họach & Đầu tư công bố mới đây cho thấy, chỉ có
32,38% số doanh nghiệp cho biết khả năng tiếp cận được nguồn vốn các NHTM, khoảng
35,24% số doanh nghiệp không tiếp cận được.


PHẦN 3: NHỮNG KIẾN NGHỊ, GIẢI PHÁP ĐỂ HOÀN HIỆN VÀ PHÁT TRIỂN HỆ
THỐNG NHTM Ở VIỆT NAM.


3.1 Định hướng phát triển của hệ thống ngân hàng Việt Nam
3.1.1. Mục tiêu phát triển Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam đến năm 2010 và định
hướng đến năm 2020.
Đổi mới tổ chức và họat động của NHNN để hình thành bộ máy tổ chức tinh gọn,
chuyên nghiệp, có nguồn lực, năng lực xây dựng và thực thi chính sách tiền tệ ( CSTT) theo

nguyên tắc thị trường dựa trên cơ sở công nghệ tiên tiến, thực hiện các thông lệ, chuẩn mực
quốc tế và họat động ngân hàng trung ương, hội nhập với cộng đồng tài chính quốc tế, thực
hiện có hiệu quả chức năng quản lý nhà nước trên lĩnh vực tiền tệ và họat động ngân hàng,
12/15
SVTH: Vũ Chu Bảo Ngọc- Lớp NH ngày 1


đồng thời tạo nền tảng đến sau năm 2010 phát triển NHVN trở thành NHTW hiện đại, đạt
trình độ tiên tiến của các NHTW trong khu vực.
Xây dựng và thực thi có hiệu quả CSTT nhằm ổn định giá trị đồng tiền, kiểm soát lạm phát,
góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, tăng trưởng kinh tế và thực hiện công cuộc CNH-HĐH đất nước.
3.1.2 Mục tiêu phát triển các tổ chức tín dụng (TCTD) Việt nam đến năm 2010 và định
hướng chiến lược đến năm 2020.
Cải cách căn bản, triệt để và phát triển toàn diện hệ thống các TCTD theo hường hiện
đại, hoạt động đa năng để đạt trình độ phát triển trung bình tiên tiến trong khu vực với cấu
trúc đa dạng về sở hửu, về loại hình TCTD, có quy mô hoạt động lớn hơn, tài chính mạnh,
đồng thời tạo nền tảng đến sau năm 2020 xây dựng hệ thống các TCTD hiện đại, đạt trình độ
tiến tiến trên toàn khu vực và thế giới, đáp ứng đầy đủ các chuẩn mực quốc tế về hoạt động
ngân hàng. Đồng thời, phát triển và đa dạng hóa các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng, đặc biệt là
huy động vốn, cấp tín dụng, thanh toán với chất lượng cao và mạng lưới phân phối phát triển
hợp lý nhằm cung ứng đầy đủ, kịp thời, thuận tiện các dịch vụ, tiện ích ngân hàng.
Tiếp tục đẩy mạnh cơ cấu lại hệ thống ngân hàng. Tách bạch tín dụng chính sách và
tín dụng thương mại trên cơ sở phân biệt chức năng cho vay của ngân hàng chính sách với
chức năng kinh doanh tiền tệ cảu NHTM. Bảo đảm quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của
TCTD trong kinh doanh. Tiếp tục củng cố, lành mạnh hóa và phát triển các ngân hàng cổ
phần; ngăn ngừa và xử lý kịp thời, không để xảy ra đổ vỡ ngân hàng ngoài sự kiểm soát của
NHNN đối với các TCTD yếu kém.
Một số NHTM đạt mức vốn tự có tương đương 800 - 1.000 triệu USD đến năm 2010,
có thương hiệu mạnh và khả năng cạnh tranh quốc tế. Phấn đấu hình thành được ít nhất một
tập đoàn tài chính hoạt động đa năng trên thị trường tài chính trong và ngoài nước.

a/ Định hướng chiến lược phát triển dịch vụ ngân hàng
Phát triển hệ thống dịch vụ ngân hàng đa dạng, đa tiện ích được định hướng theo nhu
cầu của nền kinh tế trên cơ sở tiếp tục nâng cao chất lượng và hiệu quả các dịch vụ ngân
hàng truyền thống, đồng thời tiếp cận nhanh hoạt động ngân hàng hiện đại và dịch vụ tài
chính, ngân hàng mới có hàm lượng công nghệ cao. Nâng cao năng lực cạnh tranh của dịch
vụ ngân hàng của các TCTD Việt Nam theo nguyên tắc thị trường, minh bạch, hạn chế bao
cấp và chống độc quyền cung cấp dịch vụ ngân hàng để từng bước phát triển thị trường dịch
vụ ngân hàng thông thoáng, cạnh tranh lành mạnh, an toàn và hiệu quả.
b/ Định hướng phát triển công nghệ và hệ thống thanh toán ngân hàng đến năm
2010
Phát triển hạ tầng công nghệ ngân hàng hiện đại ngang tầm với các nước trong khu vực
dựa trên cơ sở ứng dụng hiệu quả công nghệ thông tin, điện tử tiên tiến và các chuẩn mực,
13/15
SVTH: Vũ Chu Bảo Ngọc- Lớp NH ngày 1


thông lệ phù hợp với điều kiện Việt Nam. Hiện đại hóa toàn diện, đồng bộ công nghệ ngân
hàng của NHNN các các TCTD trên các mặt về nghiệp vụ, quản lý và phương tiện kỹ thuật.
Phấn đầu xây dựng hệ thống thanh toán ngân hàng an toàn, hiệu quả và hiện đại ngang
tầm trình độ phát triển của các nước trong khu vực. Phát triển hệ thống thanh toán điện tử
trong quốc, hiện đại hóa hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng, thanh toán bù trừ và hệ
thống thanh toán nội bộ của các NHTM theo hướng tự động hóa với cấu trức mở và có khả
năng tích hợp hệ thống cao đối với các ứng dụng.
3.1.3 Định hướng chiến lược phát triển các tổ chức tín dụng nước ngoài hoạt động tại
Việt Nam
Tuân thủ các quy định của Hiệp định thương mại Việt - Mỹ, các thỏa thuận song
phương khác như EU, Nhật Bản, các cam kết lộ trình của Tổ chức Thương mại Thế giới
(WTO) về mở cửa thị trường dịch vụ tài chính - ngân hàng. Tiếp tục chủ động nới lỏng các
hạn chế về tiếp cận thị trường và hoạt động ngân hàng của các TCTD nước ngoài tại Việt
Nam theo lộ trình đã cam kết. Vừa tạo cơ hội cho các TCTD nước ngoài vào hoạt động hợp

pháp và theo cam kết quốc tế, vừa có phương thức, cơ chế quản lý mềm dẻo, đúng pháp luật
và phù hợp thông lệ quốc tế để hạn chế sự thao túng, cạnh tranh không lành mạnh hoặc thôn
tính của các TCTD nước ngoài đối với các TCTD Việt Nam.
3.1.4 Định hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật về tiền tệ và hoạt động ngân hàng đến
năm 2010
Hình thành đồng bộ khuôn khổ pháp lý, áp dụng đầy đủ hơn các thiết chế và chuẩn
mực quốc tế về an toàn kinh doanh tiền tệ - ngân hàng. Xây dựng môi trường pháp luật trong
lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng minh bạch và công bằng nhằm thúc đẩy cạnh tranh và
bảo đảm an toàn hệ thống tiền tệ, ngân hàng. Các chính sách và quy định pháp luật về tiền tệ,
hoạt động ngân hàng góp phần tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh và động lực cho các
TCTD, doanh nghiệp và người dân phát triển sản xuất kinh doanh.

3.2. Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả họat động của hệ thống ngân hàng việt nam
trong thời gian tới
3.2.1. Giải pháp từ phía Chính phủ
 Chính phủ nên trao quyền tự quyết cho Ngân hàng Nhà nước, việc làm này sẽ
tách bạch hoạt đồng điều tiết nền kinh tế với hoạt động điều tiết của thị trường
tiền tệ. Chỉ có thực hiện như vậy thì Ngân hàng Nhà nước mới thực hiện đúng
vai trò của mình đối với nền kinh tế và hệ thống Ngân hàng.
 Chính phủ không nên can thiệp vào tình hình hoạt động của Hệ thống Ngân
hàng thương mại, Chính phủ nên tạo ra sân chơi bình đẳng giữa các doanh
nghiệp tư nhân và doanh nghiệp Nhà nước trong hoạt động vay vốn Ngân hàng.
14/15
SVTH: Vũ Chu Bảo Ngọc- Lớp NH ngày 1


Chính phủ không chỉ định các doanh nghiệp Nhà nước được vay vốn mà không
đủ điều kiện theo luật Ngân hàng.
 Chính phủ cần hoàn thiện môi trường pháp lý, tạo điều kiện để các định chế tài
chính quốc tế được tiếp cận với thị trường tài chính Việt Nam, để các định chế

tài chính này có điều kiện hoạt động một cách tốt nhất. Đồng thời môi trường
pháp lý rõ ràng, chặt chẽ nhằm bảo vệ quyền lợi cho các bên, tránh tình trạng
gây thiệt thòi cho khách hàng khi các Định chế tài chính này hoạt động không
hiệu quả và tuyên bố phá sản.

3.2.2 Các giải pháp từ NHNN Việt Nam
 NHNN cần nâng cao vai trò hoạt động của mình trong việc điều hành, quản lý
hệ thống NH Thương Mại. Đặc biệt, NHNN cần tăng khả năng của mình trong
công tác dự báo, đánh giá tình hình diễn ra của thị trường tiền tệ.
 NHNN tăng cường khả năng kiểm tra, giám sát của mình đối với hoạt động của
hệ thống NHTM, đưa ra các biện pháp để ngăn chặn được những ảnh hưởng
xấu do hệ thống NHTM gây ra cho nền kinh tế.
 NHNN cần nâng mức quy định về vốn điều lệ cũng như tỷ lệ an toàn tối thiểu
về vốn, điều này nhằm nâng cao sức mạnh nội lực của hệ thống NHTM, từ đó,
hệ thống NHTM mới có thể hoạt động hiệu quả hơn, đủ sức cạnh tranh với hệ
thống Ngân hàng quốc tế.
 Trong tương lai, việc cấp phép thành lập Ngân hàng thương mại sẽ được
NHNN dựa trên bối cảnh của nền kinh tế, dựa vào các dịch vụ, tiện ích mà
Ngân hàng có thể đem lại. Chứ không như tình trạng hiện nay, hệ thống NHTM
được đánh giá là có quá nhiều NHTM được ra đời , nhưng lại hoạt động nhỏ lẻ,
manh múng, tạo ra sự cạnh tranh bất hợp lý trong ngành ngân hàng.
 NHNN cần xây dựng chiến lược phát triển lâu dài cho ngành Ngân hàng, dự
đoán trước được tình hình, những bước đi của nền kinh tế trong tương lai. Xây
dựng các chuẩn mực về ngành Ngân hàng.
 NHNN không can thiệp quá sâu vào công việc nội bộ của NHTM.
 NHNN tạo điều kiện, quản lý chặt chẽ trong công tác sáp nhập, góp vốn ….của
các NHTM.

3.2.3 Giải pháp từ phía các NHTM
Qua tình hình thực trạng của NHTM đã được nêu ở phần trên, ta thấy nổi lên nhiều

vấn đề cần được giải quyết để có thể phát triển. Vì vậy để khắc phục được những yếu kém,
15/15
SVTH: Vũ Chu Bảo Ngọc- Lớp NH ngày 1


cũng như tăng cường khả năng cạnh tranh trong thời gian tới, các NHTM cần thực hiện theo
lộ trình sau:

 NHTM cần nâng cao năng lực tài chính của mình, tạo sức mạnh từ nội lực cho
ngân hàng.
 Nâng cao năng lực quản trị, điều hành hoạt động Ngân hàng.
 Áp dụng và triển khai các công nghệ ngân hàng mới phù hợp với hoàn cảnh và
điều kiện nền kinh tế Việt Nam. Đón đầu các “kịch bản” của nền kinh tế.
 Nâng cao chất lượng phục vụ hơn nữa cho khách hàng, thực hiện chiến lược
chăm sóc khách hàng tận nhà, tạo điều kiện để dịch vụ ngân hàng đến tay khách
hàng một cách nhanh chóng và thuận tiện.
 Phát triển thêm nhiều sản phẩm mới trong hoạt động ngân hàng nhằm đáp ứng
nhu cầu ngày càng cao trong thời kì hội nhập, cạnh tranh toàn cầu.
 Hiện đại hóa công nghệ ngân hàng. Từng bước tiếp cận với các chuẩn mực công
nghệ quốc tế.
 Trong hoạt động tín dụng, rà soát lại chất lượng tín dụng, cần có sự nhìn nhận rõ
những khuyết điểm, những sai lầm trong hoạt động tín dụng để có hướng khắc
phục, tránh tình trạng xử lý nhằm đạt chỉ tiêu, mà để lại hậu quả nặng nề về sau.
Bên cạnh đó, Ngân hàng chuẩn hóa và thường xuyên kiểm tra công tác thẩm
định, tái thẩm định nhằm nâng cao chất lượng tín dụng. Đối với tình hình nợ
xấu, cần đưa ra hướng giải quyết cụ thể, có thể gắn kết với Hiệp hội Bất động
sản để giải quyết Bất động sản thế chấp trong trường họp cần thiết.
 Nâng cao chất lượng đội ngũ lao động, thường xuyên cập nhật kiến thức mới đối
với đội ngũ lao động, không sử dụng lao động không đủ trình độ.
 Đặc biệt, NHTM cần xây dựng chiến lược phát triển cụ thể, định hướng phát

triển trong thời gian dài chứ không mang tính phát triển nhất thời, hoạt động
manh mún.




×