Tải bản đầy đủ (.pdf) (11 trang)

Quá trình phân tích sự ngang giá của tiền tệ để biểu hiện giá trị của hàng hóa p4 pot

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (303.62 KB, 11 trang )

Tû gi¸ hèi ®o¸i


giá cả, mà bản thân phạm trù giá cả cơ bản là không tồn tại
trong nền kinh tế tập trung, bao cấp ngoại trừ việc có ảnh
hưởng xấu đến ngân sách Nhà nước.
Với việc thực hiện tỷ giá kết toán nội bộ, mức tỷ giá
chính thức thường cố định trong thời gian tương đối dài và
thấp hơn rất nhiều so với mức tỷ giá trên thị
trường.VD:giai đoạn từ năm 1985 đến 1988, 1 Rup có giá
vào khoảng 1500 VND, 1 Dola có giá vào khoảng 3000
VND . Trong khi đó, tỷ giá kết toán nội bộ trong thanh toán
quan hệ xuất nhập khẩu ở mức khoảng 1SUR=150VND và
1USD=225VND. Từ đó, 1 Rup nhập khẩu Nhà nước phải
bù lỗ một số tiền là 1350 đồng và 1 Dola phải bù lỗ 2775
đồng. Như vậy, nếu kim ngạch trong năm 1987 là 650 triệu
SUR-USD , trong đó khu vực đồng Rup là 500 triệu và
khu vực Dola là 150 triệu thì số tiền phải bù lỗ lên đến 900
tỷ VND . Tình hình này dẫn đến một thực trạng là những
địa phương, những ngành nghề nào đó càng xuất khẩu
nhiều thì ngân sách Nhà nước càng phải bù lỗ nhiều. Nếu
bù lỗ không đủ hay chậm trễ sẽ dẫn đến tình trạng nợ
chồng chất lẫn nhau và thiếu vốn kinh doanh. Bên cạnh đó,
do tỷ giá chính thức quy định thấp, các tổ chức kinh tế và
cá nhân có ngoại tệ lại tìm cách không bán cho ngân hàng,
các tổ chức đại diện nước ngoài hoặc cá nhân nước ngoài
cũng hạn chế việc chuyển tiền vào tài khoản ở ngân hàng
để chi tiêu mà thường đưa hàng từ nước ngoài vào hay sử
dụng trực tiếp tiền mặt trên thị trường. Thực tế này vừa gây
Click to buy NOW!
P


D
F
-
X
C
h
a
n
g
e

V
i
e
w
e
r
w
w
w
.
d
o
c
u
-
t
r
a
c

k
.
c
o
m
Click to buy NOW!
P
D
F
-
X
C
h
a
n
g
e

V
i
e
w
e
r
w
w
w
.
d
o

c
u
-
t
r
a
c
k
.
c
o
m
Tû gi¸ hèi ®o¸i


thiệt hại về kinh tế cho Nhà nước vừa làm phát sinh những
tiêu cực trong đời sống kinh tế xã hội, thúc đẩy mạnh mẽ
những hoạt động phi pháp và chính điều này tác động
ngược trở lại làm tình hình tỷ giá trong thị trường càng
diễn biến phức tạp. Đối với nhập khẩu, Nhà nước thường
đứng ra phân phối nguyên vật liệu, trang thiết bị, máy móc
nhập khẩu cho các nghành đơn vị trong nền kinh tế với giá
rẻ ( theo tỷ giá chính thức). Như vậy, các nghành, các đơn
vị được phân phối hàng nhập khẩu thì được chênh lệch giá.
Do đó, cách thức xây dựng và điều hành tỷ giá cùng cơ chế
ngoại thương như vậy đã được xem là một trong những
nguyên nhân cơ bản dẫn đến những thâm hụt trầm trọng
trong ngân sách Nhà nước ở giai đoạn này. Tóm lại, TGHD
được xác lập và vận hành ở Việt Nam trong giai đoạn trước
tháng 3/1989 là một hệ thống khá phức tạp, được xác lập

theo ý đồ phục vụ cho kế hoạch do Nhà nước quyết định,
không xuất phát từ luật thực tại trong nền kinh tế trong và
ngoài nước mà hậu quả là làm cho việc tính toán,phản ánh
thu chi ngân sách Nhà nước bị sai lệch, công tác điều hành
ngân sách Nhà nước gặp khó khăn, cản trở các quan hệ
kinh tế cả trong và ngoài nước. Đây cũng là vừa một biểu
hiện và cũng vừa là kết quả của một nền kinh tế kế hoạch
hoá tập trung.
2. Sự vận động của tỷ giá và chính sách TGHĐ từ
tháng 3/1989 đến nay, thời kì nền kinh tế vận hành theo
cơ chế thị trường với định hướng xã hội chủ nghĩa.
Click to buy NOW!
P
D
F
-
X
C
h
a
n
g
e

V
i
e
w
e
r

w
w
w
.
d
o
c
u
-
t
r
a
c
k
.
c
o
m
Click to buy NOW!
P
D
F
-
X
C
h
a
n
g
e


V
i
e
w
e
r
w
w
w
.
d
o
c
u
-
t
r
a
c
k
.
c
o
m
Tû gi¸ hèi ®o¸i


2.1. Giai đoạn từ 1989-1992.
Giai đoạn này có thể được coi là cái mốc quan

trọng trong phát triển TGHĐ ở nước ta khi quan hệ ngoại
thương được bao cấp với các thị trường truyền thống Đông
Âu và Liên Xô(cũ) bị gián đoạn , khiến chúnh ta phải
chuyển sang buôn bán với khu vực thanh toán bằng dola
Mỹ.Kể từ đó cơ chế tỷ giá ổn định đã được thay thế dần
bằng cơ chế Nhà nước điều tiết theo quan hệ thị trường.Để
đi tới một chính sách TGHĐ tự chủ như ngày nay,cơ chế
quản lý ngoại tệ nói chung , quản lý hối đoái nói riêng đã
trải qua những diều chỉnh lớn.
Chính trong giai đoạn này nền kinh tế chịu tác động
của chính sách thả nổi tỷ giá.Tỷ giá hối đoái VND/USD
biến động mạnh theo xu hướng giá trị đồng dola Mỹ tăng
liên tục kèm theo các cơn “sốt”, các đột biến với biên độ
rất lớn ( Từ cuối năm 1990 trở đi ) . Đỉnh cao của mức tăng
tỷ giá USD là cuối năm 1991 . Ngày 4/12/1991 giá dola
Mỹ trên thị trường tư nhân tại Hà nội và Thành phố Hồ Chí
Minh là 14.450 VND/USD . Giá dola trong tháng 12/1990
đã tăng từ 60 đến 80% so với mức giá đầu năm.
Mặc dù trong giai đoạn 1989-1992 chính sách quản lý
ngoại tệ của Nhà Nước đã có nhiều thay đổi , như chuyển
từ hình thức quản lý theo tỷ giá kết toán nội bộ bình quân
cho tất cả các nhóm hàng hoá và duy trì tương đối ổn định
các tỷ giá này , hoặc nếu có thay đổi thì cũng chỉ ở mức
Click to buy NOW!
P
D
F
-
X
C

h
a
n
g
e

V
i
e
w
e
r
w
w
w
.
d
o
c
u
-
t
r
a
c
k
.
c
o
m

Click to buy NOW!
P
D
F
-
X
C
h
a
n
g
e

V
i
e
w
e
r
w
w
w
.
d
o
c
u
-
t
r

a
c
k
.
c
o
m
Tû gi¸ hèi ®o¸i


nhỏ nhằm ổn định hệ thống giá vật tư và xuất khẩu , nhập
khẩu , nên tỷ giá công bố vẫn cách xa mức giá hình thành
trên thị trường.
Diễn biến tỷ giá hối đoái từ năm1989 đến năm 1992
không những nói nên khoảng cách giữa tỷ giá của nhà nước
với tỷ giá hình thành trên thị trường tự do mà còn phản ánh
xu hướng tăng nhanh của giá trị đồng dola ở cả khu vực
nhà nước lẫn thị trường . Năm 1990,giá trị đồng dola vào
thời điểm cuối năm đã tăng tới 50% so với đầu năm . Mức
tăng giá USD trong 1991 còn cao hơn .Tình trạng leo thang
của giá đồng dola đã kích thích tâm lý nắm giữ đồng dola ,
nhằm đầu cơ ăn chênh lệch giá . Ngoại tệ vốn đã khan hiếm
lại không được dùng cho hoạt động xuất nhập khẩu mà còn
bị buôn bán vòng vèo giữa các tổ chức trong nước . Mọi cố
gắng quản lý ngoại tệ của chính phủ ít đem lại hiệu quả .
Giai đoạn này Ngân hàng không kiểm soát được lưu thông
tiền tệ . Trong các năm 1991-1992 do ảnh hưởng của sự đổ
vỡ các mối quan hệ ngoại thương với LiênXô và Đông Âu ,
nhập khẩu giảm sút một cách nghiêm trọng ( năm 1991 là
357.0 triệu USD đến năm 1992 chỉ còn 91,1 triệu USD ).

Các doanh nghiệp tiến hành nhập khẩu theo hình thức trả
chậm và phải chịu một lãi suất cao do thiếu dola , dola đã
thiếu lại càng thiếu dẫn đến các cơn sốt dola theo chu kỳ
vào giai đoạn này.
Click to buy NOW!
P
D
F
-
X
C
h
a
n
g
e

V
i
e
w
e
r
w
w
w
.
d
o
c

u
-
t
r
a
c
k
.
c
o
m
Click to buy NOW!
P
D
F
-
X
C
h
a
n
g
e

V
i
e
w
e
r

w
w
w
.
d
o
c
u
-
t
r
a
c
k
.
c
o
m
Tû gi¸ hèi ®o¸i


Đến đầu năm 1992 Chính phủ đã có một số cải cách
trong việc điều chỉnh tỷ giá ( như buộc các doanh nghiệp
có dola phải gửi vào ngân hàng , bãi bỏ hình thức quy địng
tỷ giá theo nhóm hàng ) làm cho giá dola bắt đầu giảm (
cuối năm 1991 tỷ giá VND/USD có lúc lên tới 14500 đến
tháng 3/1992chỉ còn 11550 VND/USD và tiếp tục giảm
cho đến cuối năm 1992.
2.2. Giai đoạn cố định tỷ giá 1993-1996.
Vào thời điểm cuối năm 1992 , do kết quả sự can

thiệp của Ngân hàng Nhà nước vào thị trường ngoại tệ, tỷ
giá dần ổn định khiến cho lượng ngoại tệ đầu cơ trong các
doanh nghiệp được tung ra , hướng mạnh vào kinh doanh
xuất nhập khẩu . Động thời có một lượng ngoại tệ được
chuyển về do người Việt Nam ở nước ngoài gửi về cho
người thân tăng lên khoảng 300-400 triệu USD làm cung
ngoại tệ lớn hơn cầu ngoại tệ và kéo theo tỷ giá VND/USD
giảm mạnh. Lĩnh vực tài chính - tiền tệ bắt đầu trở ngại.
Bên cạnh đó, cùng với việc quản lý các đại lý thu đổi ngoại
tệ còn lỏng lẻo, sự chênh lệch lớn giữa TGHĐ ở thị trường
chính thức và thị trường chợ đen dẫn đến việc các đại lý lợi
dụng danh nghĩa của Nhà nước để buôn bán trục lợi, các
ngân hàng không thu mua được lượng ngoại tệ đáng kể qua
nguồn này. Một mặt tình trạng này làm hạn chế khả năng
kiểm soát các luồng ngoại tệ lưu hành trong nước. Mặt
Click to buy NOW!
P
D
F
-
X
C
h
a
n
g
e

V
i

e
w
e
r
w
w
w
.
d
o
c
u
-
t
r
a
c
k
.
c
o
m
Click to buy NOW!
P
D
F
-
X
C
h

a
n
g
e

V
i
e
w
e
r
w
w
w
.
d
o
c
u
-
t
r
a
c
k
.
c
o
m
Tû gi¸ hèi ®o¸i



khác làm gia tăng các giao dịch trên thị trường chợ đen bất
hợp pháp, tâm lý đầu cơ, găm giữ ngoại tệ tăng mạnh.
- Việc ngân hàng Nhà nước khống chế chênh lệch giữa
tỷ giá mua và tỷ giá bán là cứng nhắc. Điều này làm cho tỷ
giá vận hành thoát ly hoàn toàn quan hệ cung cầu và không
khuyến khích các tổ chức tín dụng, các ngân hàng thuơng
mại hoạt động theo đúng quan hệ nội tại của nó và thực tế
không ít các ngân hàng thương mại đã phá rào. Cuối cùng
sự vận động của tỷ giá trong giai đoạn này đã gợi nên một
số điểm cần lưu ý trong việc điều hành chính sách như sau:
* Trước tiên, những vận động của TGHĐ trong giai
đoạn này cho thấy TGHĐ của Việt Nam phá nhạy cảm
trước những thay đổi của tình hình kinh tế từ bên ngoài và
yếu tố tâm lý, cán cân thương mại luôn là những yếu tố có
trọng số lớn đối với sự vận động của TGHĐ.
* Việc sử dụng các công cụ hành chính trong can thiệp
vào tỷ giá là cần thiết vào những lực cung cầu, ngoại tệ có
những mất cân bằng nhưng phải đủ mạnh để yếu tố tâm lý
không có khả năng phát huy tác động xấu.
Các nghiệp vụ trên thị trường còn quá sơ sài, khi thị
trường mua 2.2. Giai đoạn từ 92 đến khi nổ ra cuộc khủng
hoảng tài chính Đông Nam á (tháng 7 năm 1997).
Trước những tồn tại của việc”thả nổi” mất kiểm soát tỷ
giá, chính phủ đã thay đổi cơ chế điều hành tỷ giá với
những nội dung cụ thể sau:
Click to buy NOW!
P
D

F
-
X
C
h
a
n
g
e

V
i
e
w
e
r
w
w
w
.
d
o
c
u
-
t
r
a
c
k

.
c
o
m
Click to buy NOW!
P
D
F
-
X
C
h
a
n
g
e

V
i
e
w
e
r
w
w
w
.
d
o
c

u
-
t
r
a
c
k
.
c
o
m
Tû gi¸ hèi ®o¸i


- Quy định biên độ giao động của tỷ giá với tỷ giá
chính thức được công bố bởi Ngân hàng nhà nước (công bố
tỷ giá chính thức mỗi ngày và xác định rõ biên độ giao
động); Tăng cường sức mạnh của các biện pháp hành chính
mà cụ thể là buộc các đơn vị kinh tế (trước hết là đơn vị
kinh tế quốc doanh) có ngoại tệ phải bán cho Ngân hàng
theo tỷ giá nhất định.
- Bãi bỏ hoàn toàn hình thức quy định tỷ giá nhóm
hàng trong thanh toán ngoại thương giữa ngân sách với các
đơn vị kinh tế tham gia vào hoạt động ngoại thương. Thay
vào đó là việc áp dụng tỷ giá chính thức do Ngân hàng nhà
nước công bố.
Để hạn chế tác động của các yếu tố phi kinh tế, một
mặt chín phủ đã tăng cường công tác thông tin, cho công
khai hoámột cách nhanh chóng và chính xác chỉ số kinh tế
quan trọng như tỷ giá chính thức, tỷ giá thị trường, chỉ số

giá, sự biến động giá vàng… Nhờ vậy hạn chế được hoạt
động đầu cơ, giải tâm lý hoang mang.
Mặt khác, chính phủ cũng thông quan nhiều hình thức,
tốc độ, mức can thiệp để thể hiện rõ quyết tâm cải cách
triệt để nền kinh tế nói chung và áp dập tắt nguy cơ bùng
nổ trở lại lạm phát nói riêng.
Mặt khác, chính phủ cũng cho thấy có sự chú trong
tăng cường thực lực kinh tế cho hoạt động can thiệp vào tỷ
giá bằng cách gia tăng mạnh mẽ dự trữ ngoại tệ, lập quỹ ổn
Click to buy NOW!
P
D
F
-
X
C
h
a
n
g
e

V
i
e
w
e
r
w
w

w
.
d
o
c
u
-
t
r
a
c
k
.
c
o
m
Click to buy NOW!
P
D
F
-
X
C
h
a
n
g
e

V

i
e
w
e
r
w
w
w
.
d
o
c
u
-
t
r
a
c
k
.
c
o
m
Tû gi¸ hèi ®o¸i


giá. theo sô liệu báo cáo thường niên của Ngân hàng nhà
nước cho thấy, chính phủ thường dành một tỷ trọng khá lớn
trong tổng lượng tiền cung ứng thêm cho nền kinh tế để
tăng tài sản có ngoại tệ. Những biện pháp can thiệp trên đã

phần nào xoá đi tâm lý găm giữ ngoại tệ, góp phần làm
giảm Dola và tỷ giá được ổn định trong những năm tiếp
theo.
- Đẩy mạnh hoạt động của trung tâm giao dịch ngoại tệ
( trung tâm giao dịch ngoại tệ tại trực tiếp Hồ Chí Minh
được mở cửa từ tháng 8 năm 1991 ) để cho các đơn vị kinh
tế và các tổ chức tín dụng trao đổi , mua bán ngoại tệ với
nhau theo giá tự thoả thuận, tạo ra môi trường điều kiện để
cung cầu thực sự gặp nhau . Sau đó, tiến dần tới việc thành
lập thị trường ngoại tệ liên Ngân hàng tháng 9 năm 1994.
Tính đến cuối năm 1992, đầu năm 1993, những biện
pháp can thiệp đã đem lại một kết quả như mong đợi, nạn
đầu cơ ngoại tệ về cơ bản đã được giải toả, những đồng
ngoại tệ đã được hướng mạnh và hoạt động kinh doanh
xuất nhập khẩu. Tình hình cung - cầu ngoại tệ đã được cải
thiện với cùng kỳ trong những năm trước đó, Dola có xu
hướng giảm giá. Mức tỷ giá trên thị trường chợ đen chỉ
giao động trong phạm vi từ 10200 đến 10400 đồng Việt
Nam ăn 1 Đôla Mỹ. Thậm chí có lúc tỷ giá tụt xuống ở
mức 1USD = 9750VND. Mặc dù có nhiều ý kiến cho rằng
tình hình này phần lớn là nhờ vào lượng kiều hối vào nhiều
Click to buy NOW!
P
D
F
-
X
C
h
a

n
g
e

V
i
e
w
e
r
w
w
w
.
d
o
c
u
-
t
r
a
c
k
.
c
o
m
Click to buy NOW!
P

D
F
-
X
C
h
a
n
g
e

V
i
e
w
e
r
w
w
w
.
d
o
c
u
-
t
r
a
c

k
.
c
o
m
Tû gi¸ hèi ®o¸i


(ước tính trong tháng 1 năm 1993, nhân dịp tết nguyên đán,
có trên 60.000 việt kiều về thăm quê đã đem theo một
lượng ngoại tệ khoảng 400 triệu Dola Mỹ). Dĩ nhiên không
thể phủ nhận đóng góp của lượng kiều hối này vào việc
làm ra tăng cung ngoại tệ trên thị trường. Trên thực tế cho
thấy, lượng kiều hối này tăng giảm hoàn toàn không ổn
định qua các năm và chỉ tập trung vào những thời gian
ngắn nhất định trong năm, trong khi tình hình cung - cầu
ngoại tệ và TGHĐ luôn được ổn định trong suốt thời gian
dài từ năm 1993 đến đầu năm 1997.
Mức tỷ giá trên thị trường chính thức cũng không có
sự chênh lệnh nhiều so với tỷ giá trên thị trường chợ đen, là
minh chứng cho thấy, mặc dù có sự can thiệp mạnh trở lại
của nhà nước, nhưng tỷ giá vấn được xác định tương đối
phù hợp với quy luật của thị trường. Điều này có thể được
chứng minh bằng thực tế là tỷ giá của các Ngân hàng và tỷ
giá trên thị trường chợ đen biến động tương đối sát gần
nhau.
Một minh chứng nữa là tính từ năm 1993 đến 1996,
tình hình giá cả đồng Dola Mỹ trên thị trường tiền tệ quốc
tế thường xuyên có sự biến động mạnh so với hàng loạt các
đồng tiền chủ chốt khác như: Yên Nhật. Mác Đức, NDT

của Trung Quốc …Trong khi đó, đồng Dollar Mỹ lại có sự
ổn định trên thị trường Việt Nam, điều này cho thấy biện
pháp can thiệp của chính phủ mà đặc biệt là Ngân hàng nhà
Click to buy NOW!
P
D
F
-
X
C
h
a
n
g
e

V
i
e
w
e
r
w
w
w
.
d
o
c
u

-
t
r
a
c
k
.
c
o
m
Click to buy NOW!
P
D
F
-
X
C
h
a
n
g
e

V
i
e
w
e
r
w

w
w
.
d
o
c
u
-
t
r
a
c
k
.
c
o
m
Tû gi¸ hèi ®o¸i


nước thật sự phát huy tác dụng một cách mạnh mẽ. Trong
bối cảnh nến kinh tế thế giới và thị trường tiền tệ quốc tế
đầy biến động mà nền kinh tế xã hội Việt Nam lại đạt được
sự ổn định và tăng trưởng cao, điều này đã thể hiện tính
hợp lý về cơ bản của các tỷ số kinh tế vĩ mô và tất yếu là có
biến số TGHĐ.Tuy nhiên, khi đánh giá về mối quan hệ
giữa TGHĐ và ngoại thương của Việt Nam từ cuối năm
1992 đến đầu năm 1997, tất cả các công trình nghiên cứu
trong những năm gần đây và cũng theo nhận định chung
của các nhà kinh tế thì đây là giai đoạn tăng giá mạnh của

đồng tiền Việt Nam. Các kết luận thường cho rằng: Chính
điều này là nguyên nhân gây ra tình trạng tham hụt lớn
trong ngoại thương của Việt Nam. Ví dụ: Nếu ước tính một
cách tương đối và lấy gốc là năm 1992 thì đầu năm 1997,
chỉ số giá tiêu dùng của Việt Nam đã tăng 36.8% trong khi
ở Mỹ là 16,5% thì theo thuyết ngang giá sức mua, nếu tỷ
giá chính thức vào đầu năm 1993, là 1 USD = 10500VND
thì đàu năm 1997 tỷ giá phải là 1USD = 103000(1+ 16,5%)
= 12095VND. Trong khi đó, tỷ giá chính thức trên thị
trường Việt Nam thực tế chỉ khoảng 1USD = 1100VND.
Như vậy theo ngang giá sức mua, đồng Việt Nam đã tăng
giá thực tế xấp xỉ 9%. và số liệu thực tế cho thấy nếu xét về
giá trị tuyệt đối bằng tiền tệ thì thâm hụt trong cán cân
thương mại của Việt Nam đã có sự tăng liên tục qua các
năm (1993 là 547, 1994 là 1170, 1995 là 2345, 1996 là
3150 triệu Dollar Mỹ). Nếu so sánh mức thâm hụt này với
Click to buy NOW!
P
D
F
-
X
C
h
a
n
g
e

V

i
e
w
e
r
w
w
w
.
d
o
c
u
-
t
r
a
c
k
.
c
o
m
Click to buy NOW!
P
D
F
-
X
C

h
a
n
g
e

V
i
e
w
e
r
w
w
w
.
d
o
c
u
-
t
r
a
c
k
.
c
o
m

Tû gi¸ hèi ®o¸i


tổng kim ngạch xuất khẩu thì con số cũng có chiều hướng
tăng lên (năm 1993 là 8,4% năm 1994 là 12,8% năm 1995
là 18,4% và năm 1996 là 17,7%)
Bên cạnh đó sự thâm hụt trong cán cân thương mại của
Việt Nam phải đặc biệt nghiêm trọng trong 3 năm liên tiếp
1994,1995, 1996, có thể nói phần lớn là do tác động trực
tiếp của việc Trung Quốc phá giá mạnh của đồng NDT vào
đầu năm 1994. Số liệu thực tế cho thấy, ngay sau cuộc phá
giá kim ngạch nhập khẩu từ Trung Quốc (chính ngạch)
tăng lên rất nhanh. Nếu như trong năm 1992 kim ngạch
nhập khẩu từ Trung Quốc là 31,8% USD, chiếm 1,3% tổng
kim ngạch xuất khẩu thì trong các năm 1994, 1995, 1996,
con số này lần lượt là 144,2% triệu USD chiến 2,7%,
793,9 triệu USD chiếm 10,5% và 926,5% triệu USD chiếm
8,8%. Thực tế đó cũng đã chỉ ra rằng sụe điều hành chính
sách TGHĐ và chính sách ngoại thương của Việt Nam
trong giai đoạn từ cuối năm 1993 đến đầu năm 1997 đôi
khi quá thụ động. Sự phá giá mạnh của đồng NDT vào cuối
năm 1993 là một sụ kiịen không có tác động trực tiếp đến
ngoại thương của Việt Nam nói riêng và nền kinh tế nói
chung. Nhưng có thể thấy rằng trong suốt những năm 1993
đến 1995, hoàn toàn không có bất kỳ một điều chỉnh nào
trong chính sách tỷ giá hối đoái nhằm phản ánh hay đối
phó tình hình này (điều này phản ánh tính tự chủ trong
chính sách tiền tệ nói chung và trong đó có chính sách tỷ
giá hối đoái nói riêng là chưa cao). Tỷ giá tính ché trực tiếp
Click to buy NOW!

P
D
F
-
X
C
h
a
n
g
e

V
i
e
w
e
r
w
w
w
.
d
o
c
u
-
t
r
a

c
k
.
c
o
m
Click to buy NOW!
P
D
F
-
X
C
h
a
n
g
e

V
i
e
w
e
r
w
w
w
.
d

o
c
u
-
t
r
a
c
k
.
c
o
m

×