Tải bản đầy đủ (.docx) (78 trang)

Đề tài:"Giải pháp mở rộng hoạt động tín dụng tại Ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Longchi nhánh Hà Nội" doc

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (591.57 KB, 78 trang )

1
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Luận văn
Giải pháp mở rộng hoạt động tín dụng tại
Ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông
Cửu Longchi nhánh Hà Nội
1
SV: Nguyễn Thị Oanh Lớp: Ngân hàng 1B
1
2
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
Trong giai đoạn hội nhập như hiện nay, một giai đoạn nóng của thị
trường tài chính Việt Nam, nhất là đối với các ngân hàng thương mại. Vì vậy,
các hoạt động tại các ngân hàng thương mại khá sôi động và đạt rất nhiều kết
quả tốt. Với phương châm “Chớp thời cơ và loại bỏ khó khăn”, các ngân hàng
thương mại Việt Nam đã đa dạng hoá dịch vụ và nâng cao chất lượng phục vụ
khách hàng, nhất là đối với các ngân hàng quốc doanh. Trong hệ thống ngân
hàng quốc doanh, Ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long là một
ngân hàng mới thành lập năm 1997. Tuy là một ngân hàng non trẻ, Ngân hàng
phát triển Nhà đồng bằng sông Cửu Long đã và đang thực hiện dự án hiện đại
hóa ngân hàng theo hướng tự động hóa, phù hợp với thông lệ quốc tế, có
nhiều dịch vụ hiện đại phục vụ khách hàng.
Tuy vậy, do là một chi nhánh mới thành lập, hoạt động tín dụng của
MHB Hà Nội vẫn còn nhiều hạn chế và cần được mở rộng. Vì vậy, sau thời
gian thực tập tại đây, em xin đưa ra đề tài “ Giải pháp mở rộng hoạt động tín
dụng tại Ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long- chi nhánh
Hà Nội”.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, chuyên đề tốt nghiệp gồm:
Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về hoạt động tín dụng của ngân


hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng hoạt động tín dụng tại Ngân hàng phát triển
nhà đồng bằng sông Cửu Long- chi nhánh Hà Nội
Chương 3: Giải pháp mở rộng hoạt động tín dụng của ngân hàng
phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long- chi nhánh Hà Nội
2
SV: Nguyễn Thị Oanh Lớp: Ngân hàng 1B
2
3
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI (NHTM)
1.1 Sự cần thiết của hoạt động tín dụng đối với các NHTM
1.1.1 Khái niệm hoạt động tín dụng
Trong nền kinh tế hàng hoá luôn tồn tại rất nhiều chủ thể kinh tế với
chu kỳ kinh doanh khác nhau. Vì vậy, tại mỗi thời điểm luôn có những chủ
thể kinh tế có vốn nhàn rỗi, đồng thời các chủ thể khác lại thiếu vốn do nhu
cầu đầu tư, sản xuất kinh doanh và tiêu dùng. Sự gặp gỡ hai chủ thể nói trên
dựa trên những điều kiện thoả thuận có lợi cho cả hai bên và dựa vào sự tín
nhiệm lẫn nhau của hai bên đã hình thành nên các quan hệ tín dụng.
Tín dụng là hình thức vay mượn dựa trên nguyên tắc có hoàn trả. Theo
đó, người cho vay chỉ nhường quyền sử dụng chứ không nhường quyền sở
hữu cho người vay. Do đó, sau một thời gian nhất định theo thoả thuận, người
vay sẽ hoàn trả vốn vay, có kèm một khoản tăng thêm về giá trị gọi là lợi tức
khoản vay. Như vậy, tín dụng là mối quan hệ kinh tế giữa người cho vay và
người đi vay thông qua vận động giá trị vốn tín dụng được biểu hiện dưới
hình thức tiền tệ hoặc hàng hoá.
Tín dụng ngân hàng là quan hệ vay mượn về vốn giữa ngân hàng với cá
nhân, doanh nghiệp, các tổ chức xã hội và các tổ chức tín dụng khác theo

nguyên tắc có hoàn trả. Tín dụng là loại tài sản chiểm tỷ trọng lớn nhất ở phần
lớn các ngân hàng thương mại, phản ánh hoạt động đặc trưng của ngân hàng.
Hoạt động tín dụng là việc tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn tự có,
nguồn vốn huy động để cấp tín dụng. Hoạt động tín dụng ngân hàng có các
hình thức sau: cho vay, bảo lãnh, chiết khấu và cho thuê tài chính.
Ngân hàng cấp tín dụng dưới nhiều hình thức khác nhau, chiếm tỷ trọng
lớn trong đó là cho vay. Cho vay là nghiệp vụ chủ yếu trong hoạt động kinh
doanh của ngân hàng. Lãi thu được từ cho vay tạo ra hầu hết lợi nhuận cho
3
SV: Nguyễn Thị Oanh Lớp: Ngân hàng 1B
3
4
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
ngân hàng và chỉ có lãi thu được từ cho vay mới bù đắp được chi phí tiền gửi,
chi phí dự trữ, chi phí kinh doanh và chi phí khác. Kinh tế càng phát triển,
lượng cho vay của các ngân hàng càng tăng. Thường có sự đồng nhất giữa tín
dụng và cho vay trong các ngân hàng.
Ngân hàng ở Việt Nam ra đời và phát triển cùng với nền kinh tế xã hội
chủ nghĩa đi lên từ nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu. Rất nhiều các nghiệp vụ
của một ngân hàng hiện đại chưa được phát triển ở Việt Nam. Tín dụng ngân
hàng ở Việt Nam (chủ yếu là cho vay) đã đóng vai trò to lớn vào sự phát triển
của kinh tế Việt Nam.
Theo luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, cho vay là một hình thức của
cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một
khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thoả thuận
với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
Cho vay của ngân hàng thương mại nói riêng và tín dụng ngân hàng
thương mại nói chung là một lĩnh vực phức tạp và chịu ảnh hưởng bởi những
chuyển biến của môi trường kinh tế. Mỗi loại cho vay lại có những đặc thù
riêng, thủ tục pháp lý khác nhau và mức độ đảm bảo an toàn khác nhau.

1.1.2 Sự cần thiết của hoạt động tín dụng NHTM đối với nền kinh tế
NHTM là một tổ chức trung gian tài chính, hoạt động trên lĩnh vực kinh
doanh tiền tệ, có chức năng huy động vốn, cho vay và làm các dịch vụ ngân
hàng theo quy định của pháp luật.
Trong nền kinh tế thị trường, cùng với sự phát triển của sản xuất và lưu
thông hàng hoá, các quan hệ trao đổi mua bán ngày càng đa dạng phong phú
đã tạo đà cho hoạt động ngân hàng phát triển theo. Trong các mặt hoạt động
của ngân hàng, tớn dụng giữ một vị trí đặc biệt quan trọng, đó là tiền đề, là cơ
sở để phát triển công tác huy động vốn, là cầu nối giữa người gửi tiền và
người vay tiền. Với chức năng là trung tâm tín dụng của nền kinh tế, tín dụng
ngân hàng ngày càng phát triển với sự đa dạng hoá các hình thức cho vay.
4
SV: Nguyễn Thị Oanh Lớp: Ngân hàng 1B
4
5
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Một cách cụ thể vai trò của tín dụng ngân hàng được thể hiện nổi bật
trên các phương diện sau:
- Thứ nhất: vốn vay từ ngân hàng đã bù đắp một phần vốn lưu động
của doanh nghiệp tạm thời thiếu, đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh
được diễn ra thường xuyên liên tục.
Thực tế trong sản xuất kinh doanh, không có doanh nghiệp nào có thể
tính toán, dự trù trước cho mình được một khối lượng vốn định mức chính
xác. Trong nền kinh tế thị trường, những thông tin, tín hiệu từ thị trường là rất
quan trọng để doanh nghiệp ra những quyết định liên quan đến các hoạt động
của mình. Vì vậy, tuỳ theo diễn biến của thị trường doanh nghiệp có thể tăng
khối lượng dự trữ cho sản xuất hoặc phải áp dụng các biện pháp nhằm đẩy
mạnh tiêu thụ sản phẩm trong điều kiện thị trường đang thuận lợi. Cũng có
khi trong một chu kỳ sản xuất, vì một hay nhiều yếu tố mà vòng quay của vốn
không trùng với chu kỳ sản xuất. Doanh nghiệp rơi vào tình trạng thiếu vốn

tạm thời. Khi đó, để đảm bảo có vốn kịp thời cho chu kỳ sản xuất tiếp theo
doanh nghiệp phải tìm kiếm nguồn vốn bổ sung từ tín dụng ngân hàng. Và tín
dụng ngân hàng đã phát huy tác dụng.
-Thứ hai: ngân hàng tạo điều kiện cho doanh nghiệp mở rộng hoạt
động sản xuất kinh doanh, tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động.
Trong mối trường cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộc
mọi thành phần kinh tế, với mục tiêu lợi nhuận cần nắm bắt thời cơ, tận dụng
ưu thế vốn có của mình về mọi mặt: lợi thế so sánh của ngành trong nền kinh
tế, lợi thế so sánh của doanh nghiệp trong ngành… Theo đó, tuỳ thuộc vào
thời cơ, tín hiệu thị trường mà doanh nghiệp quyết định mở rộng quy mô sản
xuất kinh doanh. Muốn vậy, doanh nghiệp buộc phải có phương tiện tài chính
dồi dào. Và chỉ mở rộng quan hệ tín dụng với các ngân hàng thì các doanh
nghiệp mới mong đáp ứng được nhu cầu vốn đầu tư để mở rộng sản xuất kinh
doanh và tạo thêm việc làm cho người lao động.
5
SV: Nguyễn Thị Oanh Lớp: Ngân hàng 1B
5
6
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
-Thứ ba: tín dụng ngân hàng giúp các doanh nghiệp nâng cao chất
lượng hoạt động sản xuất kinh doanh của mình và tổ chức quản lý có hiệu quả
hơn.
Thật vậy, để tăng khả năng cạnh tranh, nâng cao chất lượng sản phẩm,
tạo nhiều lợi nhuận hơn nữa, doanh nghiệp phải có sự đầu tư chiều sâu. Đối
với các doanh nghiệp hiện nay, vấn đề này có ý nghĩa rất to lớn do hầu hết các
doanh nghiệp sản xuất kinh doanh với quy trình kỹ thuật lạc hâu, đội ngũ
nhân viên có trình độ và chất lượng làm việc không cao. Các doanh nghiệp
hiện nay rất cần vốn lớn để đầu tư chiều sâu, trang bị máy móc thiết bị, dây
chuyền sản xuất hiện đại cũng như đào tạo nhân lực để thực sự có một sức bật
mới trong giai đoạn mới.

Trong giai đoạn tới, các doanh nghiệp nước ta phải thực sự nhập cuộc
vào AFTA và WTO); quá trình tham gia hội nhập kinh tế với khu vực và thế
giới này đòi hỏi các doanh nghiệp phải giải quyết nhiều vấn đề nhằm hoàn
thành vai trò chủ đạo của mình với nền kinh tế. Vấn đề sức cạnh tranh hàng
hoá, đảm bảo hàng hoá tốt, rẻ và có được dịch vụ thuận tiện có ý nghĩa quyết
định trong việc giữ vững nền kinh tế độc lập tự chủ và phát triển. Cho nên,
phải chú trọng chất lượng, năng xuất, hiệu quả để phấn đấu nâng cao sức cạnh
tranh của hàng hoá. Muốn thế, các doanh nghiệp cần vốn để tiếp cận với các
thành tựu khoa học tiên tiến trong sản xuất kinh doanh cũng như trong công
tác quản lý và tổ chức hay tham gia vào những lĩnh vực kinh tế mới như
thương mại điện tử.
Ngoài ra, tín dụng ngân hàng còn thúc đẩy quan hệ thanh toán giữa các
doanh nghiệp diễn ra lành mạnh hơn. Trong nền kinh tế thị trường, hiện tượng
chiếm dụng vốn lẫn nhau giữa các doanh nghiệp là không thể tránh khỏi. Điều
này gây nên tình trạng thiếu vốn giả tạo ở một số doanh nghiệp. Với chức
năng là trung tâm tín dụng và trung tâm thanh toán của nền kinh tế, ngân hàng
đã có những biện pháp tích cực tác động vào quá trình thanh toán ở các doanh
6
SV: Nguyễn Thị Oanh Lớp: Ngân hàng 1B
6
7
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
nghiệp, mở rộng các hình thức cho vay, đáp ứng nhu cầu vốn. Do đó, ngân
hàng đã gián tiếp ngăn chặn và giảm tối đa hiện tượng chiếm dụng vốn lẫn
nhau, làm lành mạnh hoá hoạt động thanh toán, góp phần nâng cao chất lượng
tín dụng.
-Thứ tư: Đối với Nhà nước, thông qua hoạt động ngân hàng, Nhà nước
đã giám sát mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, giúp
Nhà nước hoạch định những chính sách kinh tế vĩ mô, chính sách tiền tệ hợp
lý, đáp ứng kịp thời những đòi hỏi của nền kinh tế, góp phần thúc đẩy tăng

trưởng kinh tế, ổn định tiền tệ, kìm chế và đẩy lùi lạm phát. Nói cách khác, tín
dụng ngân hàng như là một trong các công cụ của bàn tay vô hình của Nhà
nước- tham gia điều tiết nền kinh tế thị trường (thông qua các doanh nghiệp),
theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Tóm lại, tuy tín dụng ngân hàng đã giữ một vị trí rất quan trọng đối với
hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nói riêng cũng như nền
kinh tế thị trường nói chung nhưng để cho hoạt động tín dụng thực sự đóng
vai trò như vậy trong giai đoạn tới thì vấn đề đặt ra là cần nâng cao, mở rộng
chất lượng tín dụng không những từ góc độ ngân hàng mà còn cả góc độ
doanh nghiệp, của nền kinh tế, để đảm bảo hiệu quả của đồng vốn, đảm bảo
khả năng tái tạo vốn của ngân hàng, doanh nghiệp và nền kinh tế.
1.2 Các hoạt động tín dụng của NHTM
1.2.1 Cho vay
1.2.1.1 Khái niệm
Cho vay là một quan hệ kinh tế phát sinh giữa các chủ thể trong nền
kinh tế với nhau. Trong đó, chủ thể này cho chủ thể khác quyền sử dụng một
lượng giá trị hay hiện vật với điều kiện mà hai bên thoả thuận.
1.2.1.2 Phân loại
* Phân loại theo tài sản đảm bảo:
7
SV: Nguyễn Thị Oanh Lớp: Ngân hàng 1B
7
8
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
- Cho vay có bảo đảm bằng tài sản: thể hiện cho vay có cầm cố giữ các vật
thế chấp, cầm cố nào đó. Vật bảo đảm có thể bao gồm nhiều loại khác nhau
như: bất động sản, biện nhận ký gửi hàng hoá, máy móc, chứng khoán,… với
yêu cầu là có thể bán được.
- Cho vay không đảm bảo bằng tài sản: được cấp cho khách hàng có uy tín,
thường là khách hàng kinh doanh thường xuyên có lãi, tình hình tài chính

vững mạnh. Khách hàng cũng có thể vay của ngân hàng có sự bảo lãnh của
bên thứ ba, các khoản vay của Chính phủ, công ty tài chính lớn,…
* Phân loại theo phương thức cho vay:
- Cho vay thấu chi: Thấu chi hình thức cho vay ngắn hạn, là nghiệp vụ cho
vay qua đó ngân hàng cho phép người vay được chi vượt trên số dư tiền gửi
thanh toán của mình đến một giới hạn nhất định trong khoảng thời gian nhất
định. Giới hạn này gọi là hạn mức thấu chi.
- Cho vay trực tiếp từng lần: là hình thức cho vay của ngân hàng cho các
khách hàng có nhu cầu vay không thường xuyên, chỉ khi có nhu cầu thời vụ,
hay mở rộng sản xuất tức là vốn vay của ngân hàng chỉ tham gia một số giai
đoạn nhất định của chu kỳ sản xuất kinh doanh của khách hàng.
- Cho vay theo hạn mức: là hình thức cho vay mà theo đó ngân hàng thoả
thuận với khách hàng để cấp một hạn mức tín dụng. Hình thức cho vay này
rất thuận lợi cho khách hàng có nhu cầu vay thường xuyên.
- Cho vay luân chuyển: là hình thức cho vay dựa trên luân chuyển hàng hoá.
Doanh nghiệp khi mua hàng có thể thiếu vốn, ngân hàng có thể cho doanh
nghiệp đó vay và thu lại tiền khi doanh nghiệp bán được hàng. Ngân hàng và
khách hàng có thể thoả thuận với nhau về hạn mức cho vay.
- Cho vay trả góp: là hình thức cho vay mà theo đó ngân hàng cho phép
khách hàng trả gốc làm nhiều lần trong thời hạn cho vay đã thoả thuận. Cho
vay trả góp thường áp dụng với các khoản vay trung và dài hạn, các khoản
vay tài trợ cho tài sản cố định hoặc hàng hoá lâu bền.
8
SV: Nguyễn Thị Oanh Lớp: Ngân hàng 1B
8
9
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
- Cho vay gián tiếp: là hình thức cho vay của ngân hàng thông qua các tổ
chức trung gian như tổ, đội, hội nhóm sản xuất, hội nông dân,…
* Phân loại theo kỳ hạn:

- Cho vay ngắn hạn: các khoản cho vay ngắn hạn có kỳ hạn dưới 1 năm.
Những khoản cho vay này thường được sử dụng rộng rãi trong việc tài trợ
mang tình thời vụ về vốn luân chuyển và tài trợ tạm thời cho các hoạt động
sản xuất kinh doanh.
- Cho vay trung, dài hạn: là các khoản vay có kỳ hạn từ 1- 5 năm là cho vay
trung hạn và trên 5 năm là cho vay dài hạn. Những khoản vay này thường
được sử dụng với mục đích tài trợ cho dự án, mở rộng sản xuất, nâng cấp tài
sản cố định.
1.2.2 Bảo lãnh
1.2.2.1 Khái niệm
Bảo lãnh ngân hàng là cam kết bằng văn bản của tổ chức tín dụng (bên
bảo lãnh) với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) về việc thực hiện nghĩa vụ tài
chính thay cho khách hàng (bên được bảo lãnh) khi khách hàng không thực
hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh.
Khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng số tiền đã được trả
thay.
1.2.2.2 Phân loại
* Phân loại theo phương thức bảo lãnh:
- Bảo lãnh trực tiếp: là loại bảo lãnh trong đó, ngân hàng cam kết sẽ trực tiếp
thanh toán cho người thụ hưởng bảo lãnh nếu bên được bảo lãnh vi phạm hợp
đồng. Sau khi ngân hàng đã bồi thường cho người thụ hưởng bảo lãnh, ngân
hàng có thể trự tiếp truy đòi bồi hoàn từ người được bảo lãnh.
- Bảo lãnh gián tiếp: là loại bảo lãnh trong đó người được bảo lãnh sẽ yêu cầu
ngân hàng thứ nhất (gọi là ngân hàng chỉ thị) đề nghị ngân hàng thứ hai (gọi
là ngân hàng phát hành) đưa ra cam kết bảo lãnh chuyển cho người thụ
9
SV: Nguyễn Thị Oanh Lớp: Ngân hàng 1B
9
10
Báo cáo thực tập tốt nghiệp

hưởng. Bảo lãnh gián tiếp được sử dụng chủ yếu trong trường hợp người thụ
hưởng là người nước ngoài, ngân hàng phát hành ở ngay tại quốc gia người
thụ hưởng, do vậy quyền lợi người thụ hưởng được đảm bảo chắc chắn hơn.
- Đồng bảo lãnh: Đối với cá thương vụ mà số tiền bảo lãnh xó giá trị rất lớn
vượt quá tỷ lệ cho phép đối với một ngân hàng hoặc vượt quá khả năng tài
chính hiện thời của ngân hàng hay để giảm thiểu rủi ro, các ngân hàng có thể
thực hiện đồng bảo lãnh. Trường hợp này, một ngân hàng đóng vai trò đầu
mối phát hành bảo lãnh nhưng có sự tham gia của các ngân hàng đồng minh
khác. Nếu phải chi trả cho người thụ hưởng theo bảo lãnh đã lập, ngân hàng
bảo lãnh có thể truy đòi bồi hoàn tự các ngân hàng đồng minh theo tỷ lệ họ
tham gia. Đến lượt mình, các ngân hàng đồng minh sẽ tiến hành truy đòi
người được bảo lãnh.
* Phân loại theo mục đích bảo lãnh:
- Bảo lãnh thực hiện hợp đồng: là cam kết của ngân hàng về việc chi trả tổn
thất hộ khách hàng nếu khách hàng không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trong
hợp đồng đã cam kết, gây tổn thất cho bên thứ ba. Bảo lãnh này được sử dụng
thay cho yêu cầu ký quỹ mà người đặt hàng đề nghị với người cung ứng để
đảm bảo bồi thường vi phạm hợp đồng.
- Bảo lãnh hoàn thanh toán: bảo lãnh này được thực hiện trong các hợp đồng
thương mại, dịch vụ, khi người mua hàng hay người hưởng dịch vụ đã ứng
trước tiền hàng cho người bán, người cung cấp. Bằng việc cam kết sẽ trả lại
số tiền ứng truớc cho người mua (khi người bán không thực hiện hợp đồng),
ngân hàng phát hành bảo lãnh đã tạo ra sự tin tưởng cho người mua và đồng
thời cũng giúp người cung ứng thoát khỏi tình trạng khó khăn tạm thời về
ngân quỹ.
- Bảo lãnh thanh toán: được sử dụng trong các hợp đồng mua bán thiết bị
hàng hoá trả chậm và còn gọi là bảo lãnh trả chậm. Quan hệ giữa người mua
và bán ở đây thực chất là quan hệ tín dụng thương mại, theo đó người chấp
10
SV: Nguyễn Thị Oanh Lớp: Ngân hàng 1B

10
11
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
nhận trả tiền hàng hoá theo kỳ hạn nợ cụ thể. Để bảo vệ mình trước rủi ro
không thanh toán đầy đủ và đúng hạn của người mua, người bán có thể yêu
cầu một bảo lãnh trả chậm của ngân hàng.
- Bảo lãnh dự thầu: mục đích của việc bảo lãnh này là bù đắp những thiệt hại
về thời gian, chi phí cho người tổ chức đấu thầu do những vi phạm của bên
đối tác liên quan (người tham gia dự thầu).
- Bảo lãnh vay vốn: là bảo lãnh ngân hàng do ngân hàng phát hành cho bên
nhận bảo lãnh về việc cam kết trả nợ thay cho khách hàng trong trường hợp
khách hàng không trả hoặc trả không đúng hạn, đầy đủ.
- Bảo lãnh đảm bảo chất lượng sản phẩm: là loại bảo lãnh do ngân hàng phát
hành cho bên thụ hưởng bảo lãnh, đảm bảo khách hàng sẽ thực hiện đúng các
thoả thuận về chất lượng sản phẩm theo hợp đồng đã ký với bên thụ hưởng.
* Phân loại theo điều kiện thanh toán của bảo lãnh:
- Bảo lãnh vô điều kiện: còn gọi là bảo lãnh theo yêu cầu, là loại bảo lãnh mà
điều kiện thanh toán của nó là người thụ hưởng bảo lãnh chỉ cần xuất trình
yêu cầu thanh toán của ngân hàng phát hành. Các văn bản đều do người thụ
hưởng đơn phương lập không cần sự chấp nhận của bên được bảo lãnh hoặc
bên thứ ba nào đó.
- Bảo lãnh có điểu kiện: là loại bảo lãnh mà điều kiện phải có chứng từ xác
nhận của bên thứ ba (thường là một bên độc lập có đủ tư cách chuyên môn để
xác nhận) hoặc phán quyết của toà án chứng minh rằng bên được bảo lãnh đã
vi phạm trong quá trình thực hiện hợp đồng.
* Phân loại theo hình thức bảo lãnh:
- Bảo lãnh bằng thư bảo lãnh: là hình thức bảo lãnh mà ngân hàng nhận phát
hành bảo lãnh thông qua một hợp đồng bảo lãnh giữa ngân hàng với khách
hàng khi khách hàng làm đơn đề nghị bảo lãnh.
- Bảo lãnh ký hậu: là hình thức bảo lãnh mà ngân hàng bảo lãnh cam kết với

người tụ hưởng bảo lãnh thông qua việc ký hậu lên giấy tờ có giá như hối
11
SV: Nguyễn Thị Oanh Lớp: Ngân hàng 1B
11
12
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
phiếu, lệnh phiếu, sẽ thanh toán toàn bộ hoặc một phần số tiền ghi trên giấy tờ
có giá nếu người được bảo lãnh (người ký phát, người phát hành hoặc người
chuyển nhượng) không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ số tiền ghi
trên tò giấy.
- Bảo lãnh xác nhận: Trong một số trường hợp, người nhận bảo lãnh có thể
yêu cầu một ngân hàng xác nhận một bảo lãnh do ngân hàng káhc phát hành
và như vậy người nhận bảo lãnh có thể xuất trình giấy tờ, chứng từ theo yêu
cầu đến ngân hàng xác nhận để được thanh toán.
1.2.3 Chiết khấu
1.2.3.1 Khái niệm
Chiết khấu là một nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn, trong đó khách hàng
chuyển nhượng thương phiếu chưa đáo hạn cho ngân hàng để nhận được một
số tiền bằng mậnh giá trừ lãi suất chiết khấu và phí hoa hồng. Ngân hàng sẽ
tiến hành thu nợ ở người thụ lệnh nếu là hối phiếu, hoặc ở người phát hành
nếu là lệnh phiếu, khi đến hạn thanh toán.
1.2.3.2 Chiết khấu thương phiếu:
Thương phiếu được hình thành chủ yếu từ quá trình mua bán chịu hàng
hoá và dịhc vụ giữa khách hàng với nhau. Người bán (hoặc người thụ hưởng)
có thể giữ thương phiếu đến hạn đòi tiền người mua (người phải trả) hoặc
mang thương phiếu đến ngân hàng để xin chíêt khấu. Để thuận tiện cho khách
hàng, ngân hàng thường ký với khách hàng hợp đồng chiết khấu (cấp cho
khách hàng hạn mức chiết khấu trong kỳ). Khi cần chiết khấu khách hàng chỉ
cần gửi thuương phiếu lên ngân hàng xin chiết khấu. Ngân hàng sẽ kiểm tra
chất lượng thương phiếu rồi thực hiệc chiết khấu. Ngân hàng cũng có thể thực

hiện tái chiết khấu thương phiếu tại Ngân hàng Nhà nước để đáp ứng nhu cầu
thanh khoản.
Chiết khấu là một hợp đồng được phép truy đòi, vì vậy, khi ngân hàng
không thu được nợ của người mua thì có thể đòi tiền của người bán hoặc ở
12
SV: Nguyễn Thị Oanh Lớp: Ngân hàng 1B
12
13
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
những người liên quan trách nhiệm theo quy định của Pháp luật. Như vậy,
trách nhiệm thanh toán nợ cho ngân hàng không phải một chủ thể mà có thể là
nhiều chủ thể khác nhau.
Chiết khấu là nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn vời thời hạn tối đa là 90
ngày, điều này tạo điều kiện nhanh chóng cho việc giải phóng vốn cho ngân
hàng, nâng cao tính thanh khoản trong tài sản Có của ngân hàng. Mặt khác,
khi thực hiện chiết khấu, số tiền cấp cho khách hàng được chuyển sang tài
khoản tiền gửi. Số tiền này có thẻ chưa sử dụng toàn bộ, do đó tạo nguồn vốn
cho ngân hàng.
1.2.4 Cho thuê tài chính
Tín dụng thuê mua là một kiểu cho thuê tài sản chuyên dụng kèm theo
lời hứa sẽ bán lại về sau, chậm nhất là khi kết thúc hợp đồng, cho ngời thuê
theo giá thoả thuận từ đầu.
Về nguyên tắc, tín dụng thuê mua gồm 3 bên liên quan:
- Doanh nghiệp (người thuê): chọn lựa tài sản cần thuê ở một nhà cung
cấp
- Nhà cung cấp: nhận được đơn xin đặt hàng và tiền hàng từ công ty tín
dụng thuê mua.
- Người cho thuê (ngân hàng, công ty tín dụng thuê mua): cho xí
nghiệp thuê tài sản mà họ sở hữu.
Do quy chế đặc biệt đối với tín dụng thuê mua, NHTM không thể hoạt

động trực tiếp trong lĩnh vực này. Tuy nhiên, các NHTM vẫn giữa một vai trò
tích cực khi lập ra và tạo điều kiện cho một lượng lớn các tổ chức tín dụng
thuê mua phát triển, đương nhiên ngân hàng cũng là người chỉ đạo các tổ
chức tín dụng thuê mua và có thể bảo lãnh cho một số nghiệp vụ. Các công ty
cho thuê chuyên doanh thường là các chi nhánh của các ngân hàng lớn.
Thực chất tín dụng thuê mua là hình thức tín dụng được đảm bảo bằng
một quyền sở hữu về tài sản đã tài trợ vốn. Nghiệp vụ ngày là một sáng tạo
13
SV: Nguyễn Thị Oanh Lớp: Ngân hàng 1B
13
14
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
trong quá trình kinh doanh nhằm tránh cho doanh nghiệp phải kêu gọi góp
thêm vốn tự có. Là một kỹ thuật tài trợ vốn cho đầu tư tương đối mới, nó có
thể đơn giản hay phức tạp tuỳ thuộc vào nhu cầu khác nhau của doanh nghiệp.
Nghiệp vụ tín dụng này có những lợi ích to lớn cho mọi doanh nghiệp
(đặc biệt là cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ) về rất nhiều phương diện (đáp
ứng nhu cầu vốn kịp thời, không đảo lộn cơ cấu tài chính, có lợi về thuế). Tuy
nhiên, tín dụng thuê mua cũng có những bất lợi nổi bật là sự chênh lệch giá,
nó cao hơn rõ rệt so với giá tín dụng trung và dài hạn. Hơn nữa, trên thực tế
việc so sánh lãi suất là rất khó khăn.
Ở nước ta hiện nay, tín dụng chiết khấu và tín dụng thuê mua còn chưa
hoàn thiện, nguyên nhân của điều này là chưa có một hành lang pháp lý chuẩn
để thực hiện, chưa có những văn bản pháp lý cụ thể để điều chỉnh những mối
quan hệ liên quan đến hai nghiệp vụ này. Mặt khác, thói quen và tâm lý của
các chủ thể kinh tế cũng là một cản trở lớn. Nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng đã
phát triển khá đa dạng, chiếm tỷ lệ khá cao trong các hoạt động của các
NHTM hiện nay.
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng của NHTM
Hoạt động tín dụng là một hoạt động vô cùng nhạy cảm, thay đổi rất

nhanh theo sự thay đỏi của nền kinh tế. Nó có ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt
động thương mại, tiêu dùng. Vì vây, việc xét các yếu tổ ảnh hưởng đến hoạt
động tín dụng là điều vô cùng quan trọng.
1.3.1 Nhân tố khách quan
1.3.1.1 Nhóm chính sách vĩ mô của Nhà nước, môi trường kinh tế:
Hoạt động của mỗi NHTM chịu ảnh hưởng rất lớn của môi trường kinh
tế xã hội. Một ngân hàng dù có cố gắng đến mấy trong hoạt động kinh doanh
của mình nhưng nếu môi trường hoạt động kinh doanh không ổn định thì
cũng khó mà thành công. Chính vì vậy, việc nghiên cứu môi trường kinh
doanh là hoạt động thường xuyên của mỗi NHTM. Có thể xem xét ảnh hưởng
14
SV: Nguyễn Thị Oanh Lớp: Ngân hàng 1B
14
15
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
của môi trường kinh tế xã hội đến hoạt động tín dụng NHTM trên những khía
cạnh sau:
+ Môi trường kinh tế và những chính sách vĩ mô của Nhà nước
Môi trường kinh tế phù hợp và phát triển có thể tạo thuận lợi cho hoạt
động tín dụng. Một môi trường kinh tế lành mạnh, các chủ thể tham gia nền
kinh tế đang hoạt động có hiệu quả sẽ thúc đẩy mở rộng quy mô tín dụng,
chất lượng tín dụng.
Nhưng môi trường kinh tế cũng có thể có những thay đổi bất ngờ.
Chẳng hạn, có thể có những biến động về tỷ giá hoặc thị trường làm cho chủ
đầu tư bị bất ngờ, dẫn đến dòng tiền vào không như kế hoạch làm giảm khả
năng trả nợ cho ngân hàng. Những biến động này lại là hệ quả rất gần gũi của
những thay đổi trong chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước. Trong điều kiện
nước ta hiện nay, vai trò can thiệp, điều tiết của Chính phủ tạo môi trường
kinh tế là rất lớn – thông qua các công cụ của Nhà nước như chính sách tài
khoá, tiền tệ, nhằm thực hiện các mục tiêu, đường lối, chiến lược trong quá

trình đưa nền kinh tế hội nhập và phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Hoạt động tín dụng của ngân hàng nói riêng và mọi hoạt động của ngân
hàng nói chung chịu sự tác động rất mạnh mẽ của chính sách tiền tệ. Chính
sách này là linh hồn của hoạt động ngân hàng, nó không chỉ có tác động mạnh
mẽ đến hoạt động ngân hàng mà còn đến toàn bộ các hoạt động của nền kinh
tế. Chính sách tín dụng là một bộ phận của chính sách tiền tệ quốc gia, bao
gồm cả khâu tạo vốn và sử dụng vốn. Mở rộng tín dụng là phải phù hợp với
nhu cầu tăng trưởng kinh tế và mục tiêu kiềm chế lạm phát. Khi chính sách
tiền tệ thay đổi, nó sẽ có ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng.
Ngoài những ảnh hưởng của chính sách tiền tệ, hoạt động tín dụng còn
chịu tác động của môi trường kinh tế thông qua chính sách về xuất nhập khẩu,
chính sách về quản lý đất đai, chính sách đối ngoại… Vì những chính sách
này tác động một cách trực tiếp hoặc gián tiếp đến các doanh nghiệp vay vốn,
15
SV: Nguyễn Thị Oanh Lớp: Ngân hàng 1B
15
16
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
nó ảnh hưởng đến quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, do đó ảnh
hưởng đến việc trả nợ ngân hàng.
Như vậy, hoạt động tín dụng của NHTM sẽ chịu ảnh hưởng của môi
trường kinh tế mà nó hoạt động. Vấn đề đối với các ngân hàng là phải làm tốt
các công tác dự báo và khả năng thích ứng nhanh khi có biến động nhằm đảm
bảo hoạt động tín dụng của NHTM.
+ Môi trường pháp lý:
Hoạt động tín dụng của ngân hàng cũng như các hoạt động sản xuất
kinh doanh khác, đều phải thực hiện trên cơ sở các điều khoản quy định của
pháp luật. Chính vì vậy, pháp luật đã tạo hành lang pháp lý cho hoạt động tín
dụng ngân hàng. Pháp luật có những quy định về hoạt động tín dụng, bắt buộc
mọi chủ thể tham gia trong quan hệ tín dụng đều phải tuân theo, phải thực

hiện tốt nghĩa vụ và được bảo vệ quyền lợi. Vì vậy, môi trường pháp lý có
ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động tín dụng của các NHTM.
Nếu hệ thống pháp luật không đồng bộ, đầy đủ và ổn đinh, việc thực thi
pháp luật chưa nghiêm sẽ tạo các khe hở trong quản lý tín dụng, gây ra lừa
đảo, chụp giật vốn vay của ngân hàng hoặc cán bộ ngân hàng lạm dụng tài sản
làm sai trái ảnh hưởng không tốt đến hoạt động tín dụng của ngân hàng. Nếu
hệ thống pháp luật hợ lý giúp các NHTM dễ dàng hơn trong việc xây dựng kế
hoạch kinh doanh của mình, xây dựng những quy trình tín dụng phù hợp sẽ
góp phần vào việc mở rộng hoạt động tín dụng.
+ Môi trường chính trị – xã hội:
Mối trường chính trị – xã hội ổn định sẽ là một nhân tố quan trọng thúc
đẩy hoạt động đầu tư và ngân hàng cũng có thể mạnh dạn mở rộng hoạt động
tín dụng cũng như các hoạt động khác. Các doanh nghiệp vay vốn ngân hàng
cũng có môi trường để làm ăn ổn định và hiệu quả hơn. Vì vậy, điều này giúp
cho các ngân hàng có thể thu hồi nhiều lợi nhuận hơn từ hoạt động tín dụng.
Tác động của môi trường chính trị – xã hội tới chất lượng hoạt động tín dụng
16
SV: Nguyễn Thị Oanh Lớp: Ngân hàng 1B
16
17
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
không thường xuyên, nhưng khi có những biến động lớn thị tác động của nó
là vô cùng lớn.
Một sự thay đổi trong hệ thống chính trị hay nếu có bạo động có thể
làm cho các ngân hàng mất phần lớn hoặc toàn bộ các khoản tín dụng của
mình - điều này sẽ đẩy các ngân hàng đến bờ vực phá sản.
+ Những nhân tố bất khả kháng:
Trong hoạt động tín dụng, các ngân hàng còn bị chịu tác động của
những nhân tố bất khả kháng như thiên tai, hoả hoạn, chiến tranh, sự bất ổn về
chính trị… Những nhân tố này ảnh hưởng rất lớn đến khả năng trả nợ của các

đơn vị vay vốn và vì thế ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng tín dụng.
Tóm lại, qua phân tích, đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động
tín dụng ngân hàng, từ nhiều góc độ khác nhau, từ trong hệ thống ngân hàng
đến các doanh nghiệp và nền kinh tế; từ các yếu tố chủ quan và khách quan,
điều đó cho thấy hoạt động tín dụng đã, đang và sẽ là cái đích mà tất cả các
NHTM hướng tới. Nhưng để đạt được điều này không đơn giản, nó đòi hỏi sự
nỗ lực của tất cả các cán bộ của mỗi ngân hàng cũng như của tất cả các cơ
quan và tổ chức có liên quan. Chính vì vậy mà việc nghiên cứu hoạt động tín
dụng là việc làm rất cần thiết vì nó giúp cho các nhà hoạt động ngân hàng
cũng như các tổ chức cá nhân có liên quan đến lĩnh vực ngân hàng điều hiểu
được những vấn đề cơ bản về hoạt động tín dụng và chất lượng của nó. Trên
cơ sở đó giúp họ điều chỉnh các hành vi của mình để hoạt động tín dụng của
các NHTM có chất lượng tốt hơn.
1.3.1.2 Yếu tố thuộc về môi trường kinh tế, văn hoá, xã hội, kỹ thuật công
nghệ:
Các yếu tố thuộc môi trường kinh tế cũng có ảnh hưởng nhiều đến hoạt
động tín dụng của ngân hàng. Môi trường kinh tế ảnh hưởng đến khả năng thu
nhập, thanh toán, chi tiêu, nhu cầu về vốn và tiền gửi của dân cư. Tình hình và
sự thay đổi của các yếu tố môi trường kinh tế như thu nhập bình quân đầu
17
SV: Nguyễn Thị Oanh Lớp: Ngân hàng 1B
17
18
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
người, tỷ lệ cuất nhập khẩu, GDP, tỷ lệ lạm pháp, sự ổn định về kinh tế, các
chính sách của Chính Phủ: chính sách tiết kiệm, chính sách đầu tư, các nghiệp
vụ thị trường mở của Ngân hàng Nhà nước,… có tác động to lớn đến sự phát
triển kinh tế nói chung và hoạt động kinh doanh của NHTM nói riêng. Nó có
thể là cơ hội kinh daonh song cũng là thách thức đối với hoạt động tín dụng
của NHTM.

Khi nền kinh tế suy thoái, thu nhập giảm sút, lạm phát và thất nghiệp
gia tăng, hoạt động các doanh nghiệp sụt giảm thì khiến cho lãi suất tín dụng
tăng để bù đắp lạm phát, các doanh nghiệp không đủ khả năng để vay mượn
ngân hàng khiến cho môi trường kinh doanh của các NHTM không thuận lợi.
Ngược lại, khi nền kinh tế trong nước đang trong giai đoạn tăng trưởng, các
biến số kinh tế vĩ mô đều có dấu hiệu tốt, tình hình sản xuất kinh doanh của
các doanh nghiệp phát triển sẽ là cơ hội tốt để thực hiện các kế hoạch tín dụng
của ngân hàng.
Tình hình thế giới cũng ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động kinh
doanh của ngân hàng. Xu hướng toàn cầu hoá với sự phát triển của thương
mại quốc tế và sự di chuyển tự do hơn của các dòng vốn quốc tế làm cho hoạt
động sản xuất kinh doanh ngân hàng có những thay đổi mạnh mẽ.
Trong những năm gần đây, đặc biệt từ khi Việt Nam gia nhập WTO thì
sự cạnh tranh các hoạt động kinh doanh của ngân hàng trong nước đang gặp
các thách thức vô cùng lớn. Các ngân hàng nước ngoài vừa có nhiều uy tín, có
tiềm lực vốn dồi dào nên việc họ đầu tư vào Việt Nam gây cho hoạt động tín
dụng của các NHTM gặp khó khăn trong việc tiếp cận các doanh nghiệp lớn.
Song nói cách khác, việc gia nhập WTO và xu hướng toàn cầu hoá lại tạo
điều kiện cho NHTM trong nước tiếp cận được với các đối tác khách hàng
mới, học hỏi kinh nghiệm từ các chuyên gia nước ngoài, tận dụng được công
nghệ phát triển trên thế giới để hoàn thiện hệ thống bank của ngân hàng.
Những điều này giúp cho ngân hàng có điều kiện thuận lợi phát triển, mở
18
SV: Nguyễn Thị Oanh Lớp: Ngân hàng 1B
18
19
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
rộng các hoạt động tín dụng, khiến cho hoạt động tín dụng đạt hiệu quả và có
độ an toàn tối đa.
Ngoài ra, các yếu tố thuộc về môi trường văn hoá xã hội, môi trường

dân số, địa lý cũng tác động không nhỏ đến hoạt động tín dụng.
Môi trường văn hoá xã hội được hình thành từ những tổ chức và nguồn
lực khác nhau có ảnh hưởng cơ bản đến giá trị xã hội như: cách thức nhận
thức, trình độ dân trí, trình độ văn hoá, lối sống, thói quen sử dụng và cất trữ
tiền tệ, sự hiểu biết của dân chúng về hoạt động ngân hàng.
Phương thức trao đổi giữa ngân hàng và khách hàng trên thị trường rất
nhạy cảm với các tiến bộ về công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin. Công
nghệ thông tin cho phép ngân hàng đổi mới không chỉ quy trình nghiệp vụ mà
còn đổi mới cách thức phân phối như cho phép ngân hàng cung cấp dịch vụ
ngân hàng 24/ 24, internet banking, telephone banking,…
Hoạt động kinh doanh của ngân hàng đều bị tác động, chi phối bởi các
yếu tố thuộc môi trường vĩ mô mà các yếu tố này luôn biến động. Do đó, đòi
hỏi ngân hàng phải tích cực hơn nữa việc tự điều chỉnh cho phù hợp với các
yếu tố này để đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của ngân hàng mình theo
cơ chế thị trường.
1.3.1.3 Yếu tố thuộc về nhóm khách hàng
Để đảm bảo khoản tín dụng được sử dụng đúng mục đích và có hiệu
quả, mang lại lợi ích cho ngân hàng, góp phần vào sự tăng trưởng và phát
triển kinh tế xã hội thì khách hàng có vai trò hết sức quan trọng. Một khách
hàng có tư cách đạo đức tốt, có tình hình tài chính vững vàng, có thu nhập sẽ
sẵn sàng hoàn trả đầy đủ những khoản vay vốn của ngân hàng khi đến hạn.
Năng lực của khách hàng được hiểu là khả năng của doanh nghiệp
trong việc đáp ứng các điều kiện, tiêu chuẩn đòi hỏi của hoạt động tín dụng.
Điều kiện tín dụng được đưa ra nhằm tiêu chuẩn hoá khả năng của doanh
nghiệp trong quá trình vay vốn đồng thời đảm bảo cho khả năng thu hồi vốn
19
SV: Nguyễn Thị Oanh Lớp: Ngân hàng 1B
19
20
Báo cáo thực tập tốt nghiệp

của ngân hàng. Khả năng đáp ứng các điều kiện tín dụng thể hiện ở các mặt
sau:
- Uy tín, đạo đức của người vay
Trong quy trình tín dụng các ngân hàng thường chỉ đưa ra quyết định
cho vay sau khi đã phân tích cẩn thận các yếu tố có liên quan đến uy tín và
khả năng trả nợ của người vay nhằm hạn chế thấp nhất các rủi ro do chủ quan
của người vay có thể gây nên.
Đạo đức của người vay là một yếu tố quan trọng của quy trình thẩm
định, tính cách của người vay không chỉ được đánh giá bằng phẩm chất đạo
đức chung mà còn phải kiểm nghiệm qua những kết quả hoạt động trong quá
khứ, hiện tại và chiến lược phát triển trong tương lai. Thực tế kinh doanh đã
cho thấy, tính chân thật và khả năng chi trả của người vay có thể thay đổi sau
khi món vay được thực hiện. Khách hàng có thể lừa đảo ngân hàng thông qua
việc gian lận về số liệu, giấy tờ, quyền sở hữu tài sản, sử dụng vốn vay không
đúng mục đích, không đúng đối tượng kinh doanh, phương án kinh doanh.
Uy tín của khách hàng cũng là một yếu tố đáng quan tâm, uy tín của
khách hàng là tiêu chí để đánh giá sự sẵn sàng trả nợ và kiên quyết thực hiện
các nghĩa vụ cam kết trong hợp đồng từ phía khách hàng. Uy tín của khách
hàng được thể hiện dưới nhiều khía cạnh đa dạng như: chất lượng, giá cả hàng
hoá, dịch vụ, sản phẩm, mức độ chiếm lĩnh thị trường, chu kỳ sống của sản
phẩm, các quan hệ kinh tế tài chính, vay vốn, trả nợ với khách hàng, bạn hàng
và Ngân hàng. Uy tín được khẳng định và kiểm nghiệm bằng kết quả thực tế
trên thị trường qua thời gian càng dài càng chính xác. Do đó, ngân hàng cần
phân tích các số liệu và tình hình trong suốt quá trình phát triển của khách
hàng với những thời gian khác nhau mới có kết luận chính xác.
- Năng lực thị trường của doanh nghiệp
Năng lực thị trường của doanh nghiệp được lượng hoá theo các mặt:
Khối lượng sản phẩm tiêu thụ, chất lượng sản phẩm như thế nào? Có phù hợp
20
SV: Nguyễn Thị Oanh Lớp: Ngân hàng 1B

20
21
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
với thị hiếu của người tiêu dùng hay không? Vị thế của doanh nghiệp trên thị
trường? Quá khứ, hiện tại và tương lai phát triển của doanh nghiệp? Hệ thống
tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp, mối quan hệ với các bạn hàng, với các
đối tác?
Nghiên cứu năng lực thị trường của doanh nghiệp cho biết khả năng
mở rộng đầu tư của doanh nghiệp cũng như định hướng đầu tư của doanh
nghiệp nhằm kiểm tra sự phù hợp của dự án hoạt động với khả năng của
doanh nghiệp.
- Năng lực sản xuất của doanh nghiệp
Năng lực sản xuất của doanh nghiệp biểu hiện giá trị công cụ lao động
mà chủ yếu là tài sản cố định, biểu hiện cụ thể là quá trình sản xuất sản phẩm,
công nghệ sản xuất, các nhu cầu đầu tư trước đây.
Nghiên cứu năng lực sản xuất của doanh nghiệp cho biết quy mô, sản
xuất của doanh nghiệp, sự phù hợp của quy mô đó với thị trường, cơ cấu và
khả năng làm chủ giá thành sản phẩm của doanh nghiệp.
- Năng lực tài chính của doanh nghiệp
Năng lực tài chính của doanh nghiệp thể hiện ở số vốn tự có của doanh
nghiệp và tỷ trọng vốn tự có trên tổng nguồn vốn huy động. Ngoài ra, năng
lực tài chính của doanh nghiệp còn thể hiện ở khả năng thanh toán của doanh
nghiệp đối với các khoản nợ. Năng lực tài chính của doanh nghiệp trong tín
dụng trung – dài hạn còn đòi hỏi doanh nghiệp có số vốn lưu động tối thiểu
cho việc duy trì hoạt động thường xuyên của tài sản cố định. Vì vậy, năng lực
tài chính của doanh nghiệp càng cao thì càng thuận lợi cho ngân hàng trong
việc mở rộng hoạt động tín dụng.
- Năng lực quản lý doanh nghiệp
Việc xem xét khả năng thích nghi của bộ máy quản lý doanh nghiệp vói
biến động của cơ chế thị trường là điều cần thiết trước khi Ngân hàng quyết

định cho vay. Ngoài ra, việc xem xét việc phù hợp của hệ thống hạch toán kế
21
SV: Nguyễn Thị Oanh Lớp: Ngân hàng 1B
21
22
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
toán và quản lý tài chính của doanh nghiệp với quy định của pháp luật sẽ cho
kết quả đánh giá về năng lực quản lý của doanh nghiệp một cách chính xác
hơn.
Như vậy, vốn tín dụng chỉ thực sự mang lại hiệu quả đối với ngân hàng
và bản thân đơn vị vay vốn khi các đơn vị vay vốn hoạt động kinh doanh thực
sự có hiệu quả, các dự án đơn vị đầu tư có tính khả thi. Điều này lại phụ thuộc
rất nhiều vào các nhân tố chủ quan và khách quan – nhìn từ phía doanh
nghiệp – như đã xem xét ở trên. Nếu doanh nghiệp vay vốn làm ăn không
hiệu quả hoặc dự án không có tính khả thi thì việc hoàn trả các khoản vay là
vô cùng khó khăn, các ngân hàng sẽ không thể htu hồi các khoản nợ đúng hạn
được, chất lượng tín dụng của ngân hàng sẽ thấp. Trong những năm gần đây,
các đơn vị vay vốn, đặc biệt là các doanh nghiệp đã có những thay đổi theo
hướng tích cực, các dự án cũng được sàng lọc thẩm định kỹ càng trước khi
tiến hành đầu tư. Những điều này đã góp phần làm nâng cao chất lượng tín
dụng của ngân hàng.
1.3.2 Nhóm yếu tố chủ quan:
Ngân hàng là yếu tố chủ quan có ảnh hưởng lớn và trực tiếp đến hoạt
động tín dụng. Không chỉ quyết định chính sách tín dụng đúng đắn mà cũng
nâng cao khả năng, hình ảnh của ngân hàng trên thị trường. Các tác động từ
phía bản thân ngân hàng gồm: quy mô, kết cấu, tính ổn định các khoản tiền
gửi, năng lực tài chính, quy mô vốn chủ sở hữu của ngân hàng, khả năng vay
mượn của ngân hàng, quan hệ của ngân hàng với khách hàng, có ảnh hưởng
rất lớn đến chính sách tín dụng.
+ Chiến lược kinh doanh của ngân hàng

Trong nền kinh tế hiện đại, các doanh nghiệp nói chung và các NHTM
nói riêng muốn tồn tại và kinh doanh có lãi phải xây dựng được cho mình một
chiến lược kinh doanh có hiệu quả. Một chiến lược kinh doanh có hiệu quả sẽ
giúp ngân hàng có một phương hướng phát triển nhất quán, giúp ngân hàng
22
SV: Nguyễn Thị Oanh Lớp: Ngân hàng 1B
22
23
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
khai thác tốt nhất năng lực hiện có của đơn vị đồng thưòi nó cũng giúp cho
ngân hàng có thể thích ứng một cách nhanh nhất với những biến đổi trong
môi trường kinh doanh của mình. Chính vì vậy, công tác lập chiến lược kinh
doanh hiện được các ngân hàng rất coi trọng và nó có ảnh hưởng tới chất hoạt
động tín dụng.
+ Chính sách tín dụng của ngân hàng
Mỗi ngân hàng trong từng thời kỳ sẽ có những chính sách tín dụng
riêng của mình để nhằm đạt mục tiêu đề ra. Chính sách tín dụng này sẽ ảnh
hưởng trực tiếp tới quy mô, tính chất của các khoản tín dụng cũng như
phương thức hoạt động tín dụng của ngân hàng. Chính sách tín dụng không
những phụ thuộc vào mục tiêu của bản thân ngân hàng mà còn phụ thuộc vào
các yếu tố khác như chính sách của chính phủ và các cơ quan quản lý. Như
vậy, việc đưa ra một chính sách tín dụng hợp lý sẽ giúp cho ngân hàng họat
động hiệu quả hơn, nó giúp nâng cao chất lượng tín dụng của ngân hàng.
+ Công tác tổ chức hoạt động tín dụng của ngân hàng
Để các ngân hàng hoạt động có hiệu quả, linh hoạt, ngân hàng cần cụ
thể hoá và sắp xếp các bộ phận, phòng ban liên quan một cách khoa học, trên
cơ sở tôn trọng nguyên tắc tín dụng, quản lý được tài sản nợ và tài sản có của
ngân hàng.
Từng bộ phận, phòng ban cần được phân định rõ chức năng, nhiệm vụ
và có ý thức trách nhiệm hoàn thành nhiệm vụ được giao, thoả mãn nhu cầu

của khách hàng, đây là cơ sở để có nghiệp vụ tín dụng lành mạnh.
Tuy nhiên, công tác tổ chức hoạt động tín dụng của ngân hàng còn phụ
thuộc vào nhiều yếu tố như quy mô ngân hàng, chính sách tín dụng của ngân
hàng, quy mô và loại hình tín dụng, quy trình tín dụng tại ngân hàng đó.
Trong quy trình tín dụng, các cán bộ tín dụng sẽ trực tiếp tiếp xúc với người
vay, nhận đơn xin vay, phỏng vấn khách hàng, thu thập thông tin về khách
hàng, về dự án trước khi có quyết định chính thức trình cán bộ cấp cao hơn.
23
SV: Nguyễn Thị Oanh Lớp: Ngân hàng 1B
23
24
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Những thông tin về khách hàng và dự án sau khi được các phòng ban chức
năng của ngân hàng xem xét, nếu thấy đủ điều kiện thì sẽ quyết định cụ thể về
phương thức giải ngân và thu nợ sau này. Ngân hàng như vậy, các bộ phận
phòng ban của ngân hàng cần có sự phối kết hợp chặt chẽ với nhau trong hoạt
động kinh doanh, phòng này hoàn thành nhiệm vụ sẽ tạo điều kiện, cơ sở để
phòng kia hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ được giao, với mục đích chung là cho
vay an toàn và hiệu quả. Đồng thời, cũng cần có mối quan hệ chặt chẽ với các
cấp chính quyền, công an, toà án, viện kiểm soát… tạo điều kiện quản lý vốn
tín dụng có hiệu quả.
Nếu tất cả các khâu của quá trình cấp tín dụng đều được thực hiện tốt
nó sẽ giúp cho ngân hàng được lựa chọn được những dự án tốt để cấp tín
dụng cũng như tạo uy tín tốt cho ngân hàng trong lòng khách hàng.
Nói tóm lại, công tác tổ chức hoạt động tín dụng có thể hỗ trợ đắc lực
cho nhân viên tín dụng thực hiện tốt công việc của mình và nó có ảnh hưởng
quan trọng đến chất lượng hoạt động tín dụng của NHTM.
+ Chất lượng của công tác thẩm định dự án
Khi đến ngân hàng để xin được cấp tín dụng, khách hàng thường phải
mang đến một bộ hồ sơ về dự án mà họ sẽ tiến hành thực hiện hay là những

kế hoạch sử dụng vốn vay. Mỗi một món vay, trước khi phê duyệt ngân hàng
phải dựa trên kết quả thẩm định tín dụng.
Thẩm định tín dụng là việc ngân hàng thực hiện một loạt các nghiệp vụ
để thu thập thông tin, lựa chọn, phân tích và đánh giá tổng hợp đưa ra những
kết luận về mọi mặt: tư cách pháp lý, khả năng tài chính, tình hình sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp, hiệu quả của phương án xin vay, tình hình bảo
đảm tiền vay… Trên cơ sở đó đưa ra quyết định cho vay, đảm bảo khả năng
thu hồi vốn.
24
SV: Nguyễn Thị Oanh Lớp: Ngân hàng 1B
24
25
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Như vậy, kết quả thẩm định tín dụng tốt thì việc cho vay có hiệu quả,
có khả năng thu hồi vốn cả gốc và lãi đúng hạn. Nếu chất lượng thẩm định
không tốt thì ngược lại.
Thẩm định tín dụng là phương pháp phân tích tổng hợp trên nhiều mặt
của quá trình sản xuất kinh doanh, chịu ảnh hưởng của các nhân tố phức tạp
tác động, đòi hỏi phải có sự nhanh nhạy, tính toán và cân nhắc chính xác, loại
bỏ những thông tin nhiễu, tổng hợp xử lý thông tin chính xác thì mới có thể
phê duyệt cho vay có hiệu quả. Công tác này đòi hỏi nhiều thời gian và kỹ
thuật tính toán phức tạp, nó đòi hỏi những nhân viên thẩm định phải có trình
độ và sự kết hợp hiệu quả giữa các phòng ban trong ngân hàng.
Đối với các dự án xin vay vốn, thông qua công tác thẩm định, ngân
hàng với những kinh nghiệm vốn có của mình có thể tư vấn, giúp đỡ cho chủ
đầu tư sửa đổi những điểm không hợp lý trong dự án để dự án có tính khả thi
hơn và cũng giúp cho ngân hàng có thể mở rộng hoạt động tín dụng của mình.
+ Thông tin tín dụng:
Thông tin là một yếu tố không thể thiếu trong công tác quản lý nói
chung và thông tin tín dụng là yếu tố cơ bản trong quản lý tín dụng. Trên cơ

sở những thông tin đã thu thập được, người quản lý có thể đưa ra những quyết
định đúng đắn về việc đầu tư tín dụng hoặc biện pháp cần thiết liên quan đến
việc theo dõi, quản lý và thu hồi nợ.
Nguồn cung cấp thông tin có thể từ nhiều nguồn khác nhau, từ bên
trong và bên ngoài hệ thống. Nhưng muốn có thông tin nhanh, chính xác và
toàn diện thì phải có bộ phận tổng hợp phân tích và xử lý thông tin, loại trừ
những thông tin nhiễu; chất lượng của thông tin ảnh hưởng trực tiếp đến
khoản cho vay, vì vậy, chất lượng thông tin càng cao thì khả năng phòng ngừa
rủi ro trong hoạt động kinh doanh càng lớn.
Trong nhiều trường hợp, do điều tra không tốt nên thông tin sai lệch
hoặc không đầy đủ đã đi đến những quyết định cho vay sai lầm, ảnh hưởng
25
SV: Nguyễn Thị Oanh Lớp: Ngân hàng 1B
25

×