Tải bản đầy đủ (.pdf) (14 trang)

Tiểu luận: Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (233.36 KB, 14 trang )

Đề tài 33: PHÂN CẤP QUẢN LÝ NGÂN SÁCH TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY

1


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ C HÍ MINH
KHOA SAU ĐẠI HỌ C
ooo0ooo










Đề tài 33:

PHÂN CẤP QUẢN LÝ NGÂN SÁCH
TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY






GVHD : PHẠM QUANG HUY
Lớp : Kế toán ngày – K20


SVTH :Trần Thị Diễm Phụng





Tp.HCM, ngày 08 tháng 10 năm 2012
Đề tài 33: PHÂN CẤP QUẢN LÝ NGÂN SÁCH TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY

2





SỰ C ẦN THIẾT C ỦA ĐỀ TÀI:
Ngân sách nhà nước được phân cấp quản lý giữa Chính phủ và các cấp chính quyền địa phương là tất
yếu khách quan khi tổ chức hệ thống ngân sách nhà nước gồm nhiều cấp. Điều đó không chỉ bắt nguồn
từ cơ chế kinh tế mà còn từ cơ chế phân cấp quản lý về hành chính. Mỗi cấp chính quyền đều có
nhiệm vụ cần đảm bảo bằng những nguồn tài chính nhất định mà các nhiệm vụ đó mỗi cấp đề xuất và
bố trí chi tiêu sẽ hiệu quả hơn là có sự áp đặt từ trên xuống. Mặt khác, xét về yếu tố lịch sử và thực tế
hiện nay, trong khi Đảng và Nhà nước ta đang chống tư tưởng địa phương, cục bộ … vẫn cần có chính
sách và biện pháp nhằm khuyến khích chính quyền địa phương phát huy tính độc lập, tự chủ, tính chủ
động, sáng tạo của địa phương mình trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội trên địa bàn. Có một số
khoản thu như: tiền cho thuê mặt đất, mặt nước đối với doanh nghiệp, tiền cho thuê và tiền bán nhà
thuộc sở hữu Nhà nước, lệ phí trước bạ, thuế môn bài,…giao cho địa phương quản lý sẽ hiệu quả hơn.
Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước là cách tốt nhất để gắn các hoạt động của ngân sách nhà nước
với các hoạt động kinh tế, xã hội một cách cụ thể và thực sự nhằm tập trung đấy đủ và kịp thời, đúng
chính sách, chế độ các nguồn tài chính quốc gia và phân phối sử dụng chúng công bằng, hợp lý, tiết
kiệm và có hiệu quả cao, phục vụ các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Phân

cấp quản lý ngân sách nhà nước cho phép quản lý và kế hoạch hoá ngân sách nhà nước được tốt hơn,
điều chỉnh mối quan hệ giữa các cấp chính quyền cũng như quan hệ giữa các cấp ngân sách được tốt
hơn để phát huy vai trò là công cụ điều chỉnh vĩ mô của ngân sách nhà nước. Đồng thời, phân cấp
quản lý ngân sách nhà nước còn có tác động thúc đẩy phân cấp quản lý kinh tế, xã hội ngày càng hoàn
thiện hơn.
Luật Ngân sách Nhà nước năm 2002 đã được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ hai thông qua ngày
16/12/2002, có hiệu lực thi hành từ năm ngân sách 2004. Đây là một Luật quan trọng trong hệ thống
pháp luật về tài chính của nước ta. Qua hơn 6 năm thực hiện Luật NSNN đã phát huy được nhiều
mặt tích cực, nâng cao được hiệu quả quản lý, sử dụng ngân sách và tài sản nhà nước, nâng cao tính
chủ động và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân, củng cố kỷ luật tài chính, tăng cường tích
lũy, sử dụng tiết kiệm NSNN, đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Trong
quá trình thực hiện, phâp cấp quản lý ngân sách là một vấn đề nổi cộm cần phải được tổng kết, phân
tích, đánh giá để sửa đổi cho phù hợp nhằm hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách tài chính phục vụ
mục tiêu phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thúc đẩy nền kinh tế nước ta hội
nhập với nền kinh tế thế giới, đảm bảo hiệu quả quản lý nhà nước nói chung và việc điều hành ngân
sách nhà nước nói riêng.
Tóm lại phân cấp ngân sách đúng đắn và hợp lý, tức là việc giải quyết mối quan hệ giữa chính quyền
Nhà nước trung ương và các cấp chính quyền địa phương trong việc xử lý các vấn đề hoạt động và
điều hành ngân sách nhà nước đúng đắn và hợp lý sẽ là một giải pháp quan trọng trong quản lý ngân
sách nhà nước.
Đề tài 33: PHÂN CẤP QUẢN LÝ NGÂN SÁCH TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY

3




II. KHÁI NIỆM VÀ NGUYÊN TẮC PHÂN CẤP QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước là việc giải quyết mối quan hệ giữa các cấp chính quyền Nhà
nước về vấn đề liên quan đến việc quản lý và điều hành ngân sách nhà nước.

Để chế độ phân cấp quản lý mang lại kết quả tốt cần phải tuân thủ các nguyên tắc sau đây:
Một là: phù hợp với phân cấp quản lý kinh tế, xã hội của đất nước. Phân cấp quản lý kinh tế, xã hội là
tiền đề, là điều kiện để thực hiện phân cấp quản lý ngân sách nhà nước. Quán triệt nguyên tắc này tạo
cơ sở cho việc giải quyết mối quan hệ vật chất giữa các cấp chính quyền qua việc xác định rõ nguồn
thu, nhiệm vụ chi của các cấp. Thực chất của nguyên tắc này là giải quyết mối quan hệ giữa nhiệm vụ
và quyền lợi, quyền lợi phải tương xứng với nhiệm vụ được giao. Mặt khác, nguyên tắc này còn đảm
bảo tính độc lập tương đối trong phân cấp quản lý ngân sách nhà nước ở nước ta.
Hai là: ngân sách trung ương giữ vai trò chủ đạo, tập trung các nguồn lực cơ bản để đảm bảo thực
hiện các mục tiêu trọng yếu trên phạm vi cả nước. Cơ sở của nguyên tắc này xuất phát từ vị trí quan
trọng của Nhà nước trung ương trong quản lý kinh tế, xã hội của cả nước mà Hiến pháp đã quy định
và từ tính chất xã hội hoá của nguồn tài chính quốc gia.
Nguyên tắc này được thể hiện:
- Mọi chính sách, chế độ quản lý ngân sách nhà nước được ban hành thống nhất và dựa chủ yếu trên
cơ sở quản lý ngân sách trung ương.
- Ngân sách trung ương chi phối và quản lý các khoản thu, chi lớn trong nền kinh tế và trong xã hội.
Điều đó có nghĩa là: các khoản thu chủ yếu có tỷ trọng lớn phải được tập trung vào ngân sách trung
ương, các khoản chi có tác động đến quá trình phát triển kinh tế, xã hội của cả nước phải do ngân sách
trung ương đảm nhiệm. Ngân sách trung ương chi phối hoạt động của ngân sách địa phương, đảm bảo
tính công bằng giữa các địa phương.
Ba là: phân định rõ nhiệm vụ thu, chi giữa các cấp và ổn định tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản
thu, số bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới được cố định từ 3 đến 5 năm. Hàng năm,
chỉ xem xét điều chỉnh số bổ sung một phần khi có trượt giá và một phần theo tốc độ tăng trưởng kinh
tế. Chế độ phân cấp xác định rõ khoản nào ngân sách địa phương được thu do ngân sách địa phương
thu, khoản nào ngân sách địa phương phải chi do ngân sách địa phương chi. Không để tồn tại tình
trạng nhập nhằng dẫn đến tư tưởng trông chờ, ỷ lai hoặc lạm thu giữa ngân sách trung ương và ngân
sách địa phương. Có như vậy mới tạo điều kiện nâng cao tính chủ động cho các địa phương trong bố
trí kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội. Đồng thời là điều kiện để xác định rõ trách nhiệm của địa
phương và trung ương trong quản lý ngân sách nhà nước, tránh co kéo trong xây dựng kế hoạch như
trước đây.
Đề tài 33: PHÂN CẤP QUẢN LÝ NGÂN SÁCH TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY


4

Bốn là: đảm bảo công bằng trong phân cấp ngân sách. Phân cấp ngân sách phải căn cứ vào yêu cầu
cân đối chung của cả nước, cố gắng hạn chế thấp nhất sự chênh lệch về văn hoá, kinh tế, xã hội giữa
các vùng lãnh thổ.

III. NỘI DUNG CỦA PHÂN CẤP Q UẢN LÝ NGÂN SÁC H NHÀ NƯỚ C
Dựa trên cơ sở quán triệt những nguyên tắc trên, nội dung của phân cấp quản lý ngân sách nhà nước
được quy định rõ trong chương II và III của luật ngân sách nhà nước bao gồm:
Nội dung thứ nhất là phân cấp các vấn đề liên quan đế quản lý, điều hành ngân sách nhà nước từ trung
ương đến địa phương trong việc ban hành, tổ chức thực hiện và kiểm tra, giám sát về chế độ, chính
sách.
Tiếp theo là phân cấp về các vấn đề liên quan đế nhiệm vụ quản lý và điều hành ngân sách nhà nước
trong việc ban hành hệ thống biểu mẫu, chứng từ về trình tự và trách nhiệm của các cấp chính quyền
trong xây dựng dự toán ngân sách, quyết toán ngân sách và tổ chức thực hiện kế hoạch ngân sách nhà
nước.
Về các khoản thu ngân sách nhà nước:
Hiện nay, theo luật ngân sách nhà nước sửa đổi, việc phân chia nội dung thu ngân sách nhà nước
không dựa vào tính chất sở hữu, tổ chức của cơ sở kinh tế mà theo cơ chế:
* Mỗi cấp ngân sách đều có các khoản thu được hưởng 100%. Như vậy, có thể giúp chính quyền địa
phương chủ động bố trí cân đối ngân sách cấp mình
* Các khoản thu được phân chia theo tỷ lệ điều tiết giữa các cấp ngân sách.
Hiện nay, luật quy đinh:
* Tỷ lệ phần trăm phân chia các khoản thu giữa ngân sách trung ương và ngân sách từng tỉnh do Chính
phủ quyết định và nó được áp dụng chung đối với tất cả các khoản thu được phân chia và được xác
định riêng cho từng tỉnh.
Các khoản thu được phân chia gồm:
Thuế giá trị gia tăng không kể thuế giá trị gia tăng thu từ hàng hoá nhập khẩu và thu từ hoạt động xổ
số kiến thiết.

Thuế thu nhập doanh nghiệp không kể thuế thu nhập doanh nghiệp của các đơn vị hạch toán toàn
ngành và thuế thu nhập doanh nghiệp thu từ hoạt động xổ số kiến thiết.
Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao.
Đề tài 33: PHÂN CẤP QUẢN LÝ NGÂN SÁCH TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY

5

Thuế chuyển thu nhập ra nước ngoài của các tổ chức, cá nhân nước ngoài có vốn đầu tư tại Việt nam
Thu sử dụng vốn ngân sách của các doanh nghiệp nhà nước không kể thu sử dụng vốn ngân sách từ
hoạt động xổ số kiến thiết.
Phân định nguồn thu giữa NSTƯ và ngân sách tỉnh.

Ngân sách trung ương

Ngân sách đ
ịa ph
ương

Các khoản thu 100%
1.thuế GTGT hàng nhập khẩu
2.thuế xuất, nhập khẩu
3.thuế tiêu thụ đặc biệt (trừ một số
mặt hàng, dịch vụ)
4.thuế thu nhập doanh nghiệp của
đơn vị hạch toán toàn ngành
5.thu từ dầu khí
6.thu nhập từ vốn góp của nhà nước,
tiền thu hồi vốn của nhà nước từ các
cơ sở kinh tế
7.các khoản do Chính phủ vay, viện

trợ không hoàn lại của Chính phủ
các nước
8.các khoản phí, lệ phí theo quy
định
9.thu kết dư NSTƯ
10.các khoản thu khác.
1.ti
ền cho thu
ê đ
ất

2.tiền cho thuê và bán nhà
thuộc sở hữu Nhà nước
3.lệ phí trước bạ
4.thu từ hoạt động xổ số kiến
thiết
5.viên trợ không hoàn lai của
nước ngoài trực tiếp cho địa
phương
6.các khoản phí, lệ phí theo quy
định
7.các khoản đóng góp tự
nguỵện của cá nhân, tổ chức
trong và ngoài nước
8.thu kết dư NSĐP
9.thu bổ sung từ NSTƯ
10.các khoản thu khác theo quy
định.
Các kho
ản thu phân chia theo tỷ

lệ phần trăm giữa NSTƯ và
ngân sách tỉnh.
1.thu
ế GTGT (trừ thuế GTGT h
àng
nhập khẩu và hoạt động sổ xố kiến
thiết)2.thuế thu nhập doanh nghiệp
(trừ các đơn vị hạch toán to
àn ngành
và hoạt động xổ số kiến thiết)3.thuế
thu nhập đối với người có thu nhập
cao4.thuế chuyển thu nhập ra nước
ngoài5.thu t
ừ sử dụng vốn ngân sách
của các DNNN.

Các khoản thu phân chia giữa
tỉnh, huyện, xã
1.thu
ế chuyển quyền sử dụng
đất2.thuế nhà đất3.thuế sử dụng đất
nông nghiệp4.thuế tài nguyên5.thuế
tiêu thụ đặc biệt với hàng sản xuát
trng nước thu vào vàng mã, kinh
doanh vũ trường, mát xa,…tỷ lệ
phân chia do UBND tỉnh quy định.

Về các khoản chi ngân sách nhà nước
Đề tài 33: PHÂN CẤP QUẢN LÝ NGÂN SÁCH TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY


6

Theo luật ngân sách nhà nước, nội dung chi ngân sách nhà nước được phân loại theo tổ chức kinh tế,
từ ngân sách trung ương đến ngân sách các cấp địa phương đều có các khoản chi cơ bản giống nhau:
Chi thường xuyên: là những khoản chi hết sức cần thiết và không thể trì hoãn, phải thực hiện thường
xuyên hàng tháng, hàng năm để duy trì sự tồn tại của bộ máy Nhà nước.
Chi đầu tư, phát triển: là những khoản chi để hình thành tài sản cố định như mua sắm tài sản cố định,
đầu tư xây dựng các công trình kinh tế mũi nhọn, xây dung cơ sở hạ tầng kinh tế- xã hội, xây dựng nhà
cửa, đầu tư vào các động sản tài chính, sửa chữa lớn tài sản cố định, chi trả nợ gốc tiền vay… những
khoản chi này gắn với việc điều chỉnh vĩ mô của Nhà nước, tạo môi trường và điều kiện cho các TPKT
hoạt động và phát triển.
Sự khác nhau cơ bản giữa hai nhóm chỉ tiêu trên thể hiện ở chỗ: chi thường xuyên có tính chất tiêu hao
trực tiếp, còn chi đầu tư phát triển có tính chất thu hồi trong những điều kiện nhất định.
Theo thứ tự ưu tiên thì chi thường xuyên được ưu tiên trước hết, sau đó mới đến chi đầu tư phát triển.
Thứ tự ưu tiên này cũng chỉ có ý nghĩa tương đối vì nếu cứ ưu tiên chi thường xuyên dễ dẫn đến phá
vỡ cơ cấu kinh tế, và nếu cứ ưu tiên chi đầu tư phát triển dễ đẫn đến làm tăng thâm hụt ngân sách nhà
nước.
Cả ngân sách trung ương và ngân sách địa phương đều có hai khoản chi trên, tuy nhiên, giữa chúng
cũng có sự khác nhau về quy mô, phạm vi của các khoản chi. Chi đầu tư phát triển của ngân sách
trung ương là những khoản chi có quy mô lớn, có tác dụng đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân, các
khoản chi này nhìn chung là khó xác định chủ đầu tư và các công trình phúc lợi công cộng. Còn các
khoản chi của ngân sách địa phương chỉ đầu tư cho những công trình, mục tiêu được thực hiện trong
phạm vi địa phương đó. Ngoài ra, có một số khoản chi thuộc đặc thù chức năng của ngân sách trung
ương thì ngân sách trung ương đảm nhiệm: trả nợ vay, chi an ninh quốc phòng, chi về ngoại giao…
Về số bổ sung từ nhân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới:
Gồm hai loại:
* Số bổ sung để cân đối ngân sách gồm số bổ sung ổn định trong suốt thời kỳ nhất định và số bổ sung
tăng thêm hàng năm một phần theo tỷ lệ trượt giá và một phần theo tốc độ tăng trưởng kinh tế
* Số bổ sung theo mục tiêu.
Có thể nói, với những nội dung trên, hệ thống ngân sách nhà nước và chế độ phân cấp và quản lý ngân

sách nhà nước đã bước đầu tạo cơ sở, điều kiện, hành lang pháp lý cho công tác quản lý, điều hành
hoạt động ngân sách nhà nước có hiệu lực và có hiệu quả, theo những chuẩn mực nhất định, phù hợp
với chức năng, nhiệm vụ của ngân sách nhà nước trong cơ chế kinh tế mới ở nước
phân cấp nhiệm vụ chi ngân sách trung ương và ngân sách tỉnh.
L
ĩnh vực

Ngân sách trung ương

Ngân sách t
ỉnh

Đề tài 33: PHÂN CẤP QUẢN LÝ NGÂN SÁCH TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY

7

1.Chi xây dựng cơ bản- Các công
trình kinh tế then chốt quan trọng
Các công trình hạ tầng cơ sở2.Chi
vốn lưu động.3.Chi trả nợ (trong
và ngoài nước).4.Chi dự trữ Nhà
nước.
NSTƯ đ
ảm nhận các công tr
ình
hạ tầng cơ sở không có khả năng
thu hồi vốn do trung ương quản
lý.Các xí nghiệp trong và ngoài
nước do trung ương quản lý.Hầu
hết NSTƯ đảm nhận chi trả nợ

nước ngaòi.Hầu hêt NSTƯ đảm
nhiệm.
NSĐP đảm nhận các công trình
hạ tầng cơ sở do địa phương
quản lý.Các xí nghiệp do địa
phương quản lý.Trả nợ trong
nước, địa phương đảm nhận
phần huy động xây dựng cơ sở
hạ tầng.
1.C hi quản lý Nhà nước.2.Chi sự
nghiệp kinh tế nông nghiệp, thuỷ
lợi Lâm nghiệp Giao thong Kiến
thi
ết thị chính.3.Chi sự nghiệp giáo
dục phổ thong Chi hoạt động
thường xuyên giáo dục Chi
chương trình mục tiêu 4.Chi sự
nghiệp đào tạo Các trường đại học.
Các trường trung học 5.Chi y tế
6.Chi nghiên cứu khoa học 7.Chi
văn hoá thông tin 8.Chi thể dục,
thể thao 9.Chi quốc phòng, an ninh

10.Chi hỗ trợ Đảng, đoàn, hội
11.Chi trợ cấp ngân sách xã
12.Chi
khác
T
oàn b
ộ bộ máy quản lý Nh

à
nước của trung ương Duy trì bảo
vệ đê điều trung ương Duy tu, tu
b
ổ các đường giao thông, các
công trình kiến thiết do trung
ương qu
ản lý. Một số công trình
quan trọng như xoá mù chữ, giáo
dục miền núi…Các trường đại
học đa ngành Một số trường
PTTH khu vực Các cơ sở y tế
chữa bệnh trung ương Nghiên
cứu khoa học cơ bản Các sự
nghiệp văn hoá quần chúng do
trung ương quản lý Toàn bộ hoạt
động chính quy Các tổ chức
thuộc trung ương Tuỳ thuộc khả
năng của NSTƯ
Toàn bộ bộ máy Nhà nước của
địa phương Bảo vệ đê điều, hỗ
trợ làm thuỷ lợi, thuỷ nông Sửa
chữa các đường giao thông địa
phương Chi toàn bộ các trường
tự tiểu học trở lên, kể cả mẫu
giáo.Các trường trung học, dạy
nghề Cơ sở chữa và khám bệnh
do địa phương quản lý Nghiên
cứu ứng dụng Các sự nghiệp
văn hoá quần chúng do địa

phương quản lý Dân quân du
kích và tuyển quân Các tổ chức
thuộc địa phương Tuỳ thuộc
vào phân bổ của NSTƯ
III. VIỆC PHÂN C ẤP QUẢN LÝ NGÂN SÁCH SAU 10 NĂM THỰC HIỆN LUẬT NGÂN
SÁC H:

1. Những kết quả đạt được qua 10 năm thực hiện Luật Ngân sách nhà nước

Thứ nhất: Luật Ngân sách nhà nước đã tạo ra khuôn khổ pháp lý cho việc quản lý chặt chẽ, tiết
kiệm, hiệu quả Ngân sách nhà nước; tăng tích lũy nhằm thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa; đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội nâng cao đời
sống vật chất, tinh thần cho nhân dân, đảm bảo quốc phòng, an ninh, đối ngoại; nâng cao thẩm
quyền của Quốc hội, cơ quan của Quốc hội, Hội đồng nhân dân; trách nhiệm và quyền hạn chính
phủ, các bộ ngành trung ương, các địa phương và đơn vị sử dụng Ngân sách nhà nước.

Thứ hai: Luật Ngân sách nhà nước đã tạo điều kiện cho việc thực hiện quản lý tập trung thống
nhất Ngân sách nhà nước; bảo đảm quyền quyết định của Quốc hội và việc điều hành thống nhất
của Chính phủ đối với Ngân sách nhà nước; đảm bảo vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương
đồng thời tăng cường phân cấp quản lý, tạo thế chủ động gắn với tăng cường trách nhiệm cho
chính quyền địa phương. Việc phân cấp quản lý, sử dụng ngân sách tương đối rõ ràng, cụ thể góp
phần nâng cao trách nhiệm, quyền hạn của các bộ, ngành, các cấp chính quyền địa phương và các
đơn vị trong quản lý, sử dụng Ngân sách nhà nước.
Đề tài 33: PHÂN CẤP QUẢN LÝ NGÂN SÁCH TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY

8


Thứ ba: Cải cách và đổi mới toàn diện trong từng khâu của quá trình ngân sách (lập, chấp hành,
kế toán và quyết toán ngân sách). Vai trò của dự toán trong việc quản lý điều hành ngân sách đã

được coi trọng; qui trình chi ngân sách được đổi mới, chuyển từ hình thức cấp phát bằng hạn mức
sang phương thức các đơn vị sử dụng ngân sách được căn cứ vào nhiệm vụ, tiêu chuẩn, định mức,
chế độ chi để rút kinh phí theo dự toán được cấp có thẩm quyền giao; vai trò kiểm soát chi của
Kho bạc nhà nước được tăng cường; tính chủ động và tự chịu trách nhiệm của các đơn vị sử dụng
ngân sách được nâng cao; tăng cường vai trò thanh tra, kiểm tra, kiểm toán gắn với xử lý trách
nhiệm. Dự phòng ngân sách và dự trữ tài chính được qui định cụ thể tạo thế chủ động cho Ngân
sách nhà nước để thực hiện các nhiệm vụ cấp bách, phòng chống thiên tai, dịch bệnh; thực hiện
công khai ngân sách được đẩy mạnh.

Thứ tư: Tăng cường thực hiện và tính chủ động của Quốc hội và Hội đồng nhân các cấp trong
việc quyết định dự toán ngân sách, quyết định phân bổ ngân sách và phê chuẩn quyết toán Ngân
sách nhà nước.

Thứ năm : Việc phân bổ, giao dự toán ngân sách dần dần phù hợp với thực tế và đặc thù của các
đơn vị đồng thời Luật cũng qui định rõ về cách thức và thời gian phân bổ ngân sách đồng thời yêu
cầu việc phân bổ và giao dự toán toán phải khớp đúng tổng mức, chi tiết theo từng lĩnh vực của dự
toán Ngân sách nhà nước được cấp có thẩm quyền giao tạo sự minh bạch trong phân chia ngân
sách và tíh chủ động cho các đơn vị sử dụng ngân sách.

* Về phân cấp quản lý ngân sách

- Hệ thống Ngân sách nhà nước hiện nay còn mang tính lồng ghép nên qui trình ngân sách (khâu
dự toán và quyết toán) khá phức tạp và nếu HĐND tuân thủ phương án phân bổ ngân sách của
ngân sách cấp trên thì việc quyết định dự toán của HĐND chỉ mang tính hình thức, nếu không tuân
thủ thì dẫn đến quyết định dự toán của Quốc hội hoặc HĐND cấp trên không được cấp dưới tuân
theo. Việc đưa ra kết luận, kiến nghị kiểm toán cũng sẽ rất khó khăn nhất là trong các trường hợp
việc không tuân thủ các quyết định của cấp trên nhưng lại phù hợp với tình hình thực tế của địa
phương, mang lại hiệu quả mà không làm lãng phí ngân sách, tiền và tài sản nhà nước.

- Một số địa phương chưa chủ động phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi cho cấp dưới mặc dù

Luật Ngân sách nhà nước đã qui định rõ thẩm quyền thuộc về địa phương. Phân cấp nguồn thu cho
ngân sách xã cũng chưa hợp lý, các xã đều được hưởng tối thiểu 70% của 5 khoản thu (thu thuế
chuyển quyền sử dụng đất; thuế nhà, đất; thuế môn bài thu từ cá nhân, hộ kinh doanh; thuế sử
dụng đất nông nghiệp thu từ hộ gia đình; lệ phí trước bạ nhà, đất) dẫn đến quá trình thực hiện một
số xã thừa nguồn để thực hiện nhiệm vụ chi trong khi có xã nguồn thu chưa đảm bảo được nhiệm
vụ chi.

- Về ngân sách địa phương hỗ trợ cho các cơ quan trung ương đóng trên địa bàn: Luật Ngân sách
nhà nước qui định không được dùng ngân sách của cấp này để chi nhiệm vụ của cấp khác, trừ
trường hợp đặc biệt theo qui định của Chính phủ. Tuy nhiên trong thực tế, hầu hết các địa phương
còn phải hỗ trợ thêm kinh phí cho các cơ quan trung ương ở địa phương (cơ quan tư pháp, công an,
Đề tài 33: PHÂN CẤP QUẢN LÝ NGÂN SÁCH TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY

9

quân đội…) để thực hiện nhiệm vụ chung trên địa bàn. Việc hỗ trợ không được qui định cụ thể dẫn
đến giữa các địa phương hỗ trợ cho đối tượng không thống nhất và gây áp lực về ngân sách của địa
phương, nhất là đối với những tỉnh còn phải nhận hỗ trợ của ngân sách trung ương. Mặt khác khó
khăn trong việc kiểm tra, kiểm soát và kiến nghị của cơ quan thanh tra, kiểm toán trong công tác
quản lý sử dụng kinh phí này.

- Về bố trí và sử dụng dự phòng: Luật Ngân sách nhà nước không quy định các cơ quan nhà nước
ở trung ương và địa phương, các đơn vị dự toán (trong lĩnh vực giao thông, thủy lợi, y tế…) khi
phân bổ, giao dự toán cho các đơn vị trực thuộc được để lại dự phòng để đáp ứng thực hiện các
nhiệm vụ phát sinh đột xuất trong năm. Trong quá trình triển khai, do gặp khó khăn trong việc chủ
động thực hiện các nhiệm vụ liên quan đến phòng, chống thiên tai, dịch bệnh một số bộ, ngành và
cơ quan khi giao dự toán đã lập quĩ dự phòng để phục vụ nhu cầu bất thường trong năm. Mặt khác
Luật Ngân sách nhà nước chưa qui định chặt chẽ, cụ thể các khoản được phép chi từ nguồn dự
phòng, dẫn đến nhiều địa phương đã sử dụng dự phòng để điều hành ngoài dự toán khoản chi “bất
thường” mang tính chất mua sắm, chi hoạt động thường xuyên.


2. Những bất cập trong phân cấp quản lý ngân sách nhà nước:
2.1. Về phân cấp nguồn thu
Luật Ngân sách nhà nước (NSNN) qui định về phân cấp quản lý các khoản thu và các khoản chi giữa
NSTW và NSĐP. Việc phân cấp NSĐP trong đơn vị tỉnh giữa ngân sách tỉnh, ngân sách huyện và
ngân sách xã được giao cho HĐND tỉnh. NSTW và NSĐP tuy được đảm bảo tính độc lập bằng các
khoản thu được hưởng 100%, nhưng nhìn chung hệ thống NSNN còn mang tính thứ bậc, và tính lồng
ghép cao của ngân sách cấp dưới vào ngân sách cấp trên. Cụ thể là khoản thu bổ sung của ngân sách
cấp dưới từ ngân sách cấp trên được Quốc hội quyết định hàng năm, còn khoản thu điều tiết từ thuế
giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá nhân, thuế tiêu thụ đặc biệt, phí xăng dầu theo Điều 30 Khoản 2 Luật
NSNN cũng được phân cấp trong thời kỳ ổn định bởi Ủy ban Thường vụ Quốc hội theo Nghị quyết
của Quốc hội. Uỷ ban thường vụ Quốc hội có thể quyết định tỉ lệ thu điều tiết linh hoạt giữa NSTW
hoặc NSĐP, nhưng việc tăng tỉ lệ điều tiết về NSTW có thể làm hạn chế quyền tự chủ của địa phương
có điều kiện kinh tế xã hội phát triển trong quản lý và khai thác nguồn thu đáp ứng yêu cầu phát triển.
Còn đối với địa phương không có khả năng tự cân đối nguồn thu so với nhiệm vụ chi, qui định khoản
thu bổ sung của ngân sách địa phương theo Luật NSNN hiện nay là tạo ra lợi ích để các địa phương
không cân đối được nguồn thu để thực hiện nhiệm vụ chi.
Luật NSNN tuy có phân cấp cho HĐND tỉnh trong quyết định các khoản thu trong phạm vi địa
phương nhưng Quốc hội vẫn nắm quyền điều tiết lớn thông qua quyết định khoản thu bổ sung có mục
tiêu. Hơn thế nữa, thông qua qui định thưởng tăng thu so với dự toán cho NSĐP (Điều 59 Khoản 5),
Quốc hội có thể tác động vào nguồn thu tại các địa phương.
HĐND tỉnh quyết định phân cấp khoản thu và khoản chi thuộc địa phương theo Điều 32 và Điều 33
Luật NSNN. HĐND tỉnh căn cứ vào tờ trình của Ủy ban nhân dân tỉnh về phân cấp nguồn thu, nhiệm
vụ chi, tỉ lệ % phân chia các khoản thu giữa ngân sách các cấp chính quyền địa phương thực hiện
trong năm tài chính tiếp theo, báo cáo thẩm tra của Ban kinh tế – Ngân sách của HĐND tỉnh và ý kiến
Đề tài 33: PHÂN CẤP QUẢN LÝ NGÂN SÁCH TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY

10

đại biểu HĐND, HĐND tỉnh quyết định phân cấp nguồn thu, tỉ lệ phân chia các khoản thu giữa ngân

sách các cấp chính quyền địa phương thực hiện trong thời kỳ ổn định.
Có thể thấy quyền tự chủ của HĐND tỉnh thông qua việc quyết định phân cấp các khoản thu trong
phạm vi địa phương theo Luật NSNN đối với khoản thu được hưởng 100%. Các cấp ngân sách huyện
và xã chỉ được thu theo quyết định phân cấp quản lý nguồn thu theo Nghị quyết của HĐND tỉnh. Nên
thực chất, có thể nói việc tự chủ của các cấp ngân sách trong tỉnh còn bị hạn chế.
Do các địa phương có các điều kiện kinh tế – xã hội khác nhau cũng như có các nhiệm vụ phát triển
kinh tế – xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng khác nhau nên việc thống nhất tỉ lệ điều tiết giữa NSTW
và NSĐP được giao trong thời kỳ ổn định là khó khăn. Hiện nay, công thức tính tỉ lệ phân chia là một
loại công thức gián tiếp mang tính tổng thể. Việc tính toán tỉ lệ điều tiết, mức bổ sung cho mỗi cấp có
nhiều phức tạp do cách tính mức thiếu hụt cần bổ sung cho ngân sách tỉnh bao gồm cả mức thiếu hụt
của các cấp huyện, xã trong tỉnh. Đến nay chưa có sự thẩm định nào nhất quán về tính hợp lý của các
dự toán do cấp dưới lập. Do đó việc kéo dài hỗ trợ ngân sách mang tính cảm tính[1] . Thực tế này cho
thấy sự khác biệt trong việc áp dụng qui định pháp luật về phân cấp quản lý NSNN theo Luật Ngân
sách nhà nước đối với từng địa phương.
2.2. Về phân cấp nhiệm vụ chi
Về nguyên tắc, Luật NSNN qui định các hạng mục chi phân cấp cho NSTW và NSĐP. Tổng chi trong
Dự toán NSNN hàng năm của mỗi cấp ngân sách được Quốc hội quyết định cùng với khoản bổ sung
cân đối cho NSĐP.
- Về chi cho đầu tư phát triển
Luật NSNN qui định nhiệm vụ chi đầu tư phát triển cho đầu tư xây dựng các công trình thuộc kết cấu
hạ tầng kinh tế – xã hội không có khả năng thu hồi vốn do cấp trung ương hoặc địa phương quản lý.
Luật NSNN qui định thẩm quyền của Quốc hội trong quyết định các dự án, các công trình quan trọng
quốc gia được đầu tư từ NSNN (Điều 15 khoản 5) còn Chính phủ thực hiện tổ chức và điều hành
NSNN được Quốc hội quyết định, kiểm tra việc thực hiện NSNN trong đó có các dự án và công trình
quan trọng quốc gia, các chương trình phát triển kinh tế – xã hội, các dự án và công trình xây dựng cơ
bản khác (Điều 20, Khoản 5). Chính phủ với tư cách là cơ quan điều hành NSNN có quyền phân cấp
việc quản lý đầu tư xây dựng các công trình, dự án có sử dụng NSNN.
Luật NSNN qui định nhiệm vụ chi đầu tư phát triển trong đó có hạng mục chi đầu tư và hỗ trợ cho các
doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, các tổ chức tài chính của nhà nước, góp vốn cổ phần, liên doanh
vào các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực cần thiết có sự tham gia của Nhà nước. Đây là qui định mở cho

Chính phủ cụ thể hóa quyền đầu tư của nhà nước vào doanh nghiệp.
Xét từ góc độ phân bổ nguồn lực công, thì việc Luật NSNN đặc định một số doanh nghiệp nhà nước
để hỗ trợ hay đầu tư là tạo ra lợi ích vật chất không thể đảm bảo nguyên tắc công bằng và bình đẳng
trong tạo cơ hội phát triển chung cho các doanh nghiệp nếu không đưa ra căn cứ lý luận và thực tiễn
về hiệu quả và ý nghĩa của việc sử dụng NSNN. Trên thực tế, Luật NSNN chưa qui định cụ thể quyền
Đề tài 33: PHÂN CẤP QUẢN LÝ NGÂN SÁCH TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY

11

quyết định đầu tư bằng vốn NSNN vào các doanh nghiệp, trách nhiệm và nghĩa vụ giám sát vốn đầu tư
của Nhà nước dẫn tới tình trạng khó xác định cơ quan chịu trách nhiệm chính trong việc theo dõi việc
sử dụng vốn, tài sản của Nhà nước và phân tích, đánh giá hiệu quả kinh doanh của DNNN. Việc áp
dụng phương thức quản lý thu chi đối với một số hạng mục chưa thích hợp, chưa bảo đảm các nguồn
lực tập trung vào NSNN cụ thể là còn tình trạng thiếu kiểm soát chặt chẽ đối với tiền bán cổ phần,
khoản tiền lợi nhuận từ liên doanh dầu khí thực hiện theo phương thức ghi thu, ghi chi chưa được đưa
vào cân đối NSNN hàng năm[2]. Để tạo ra cơ sở pháp lý bảo đảm xác định trách nhiệm của các cơ
quan, tổ chức sử dụng NSNN đầu tư vào Tập đoàn kinh tế nhà nước và Tổng công ty nhà nước trong
điều kiện Luật Doanh nghiệp nhà nước hết hiệu lực thì Luật NSNN cần làm rõ thẩm quyền và trách
nhiệm quản lý vốn và tài sản của nhà nước đưa vào kinh doanh cũng như qui định nghĩa vụ công khai
thông tin về hoạt động tài chính cũng như hiệu quả kinh tế xã hội của các tổ chức kinh doanh này.
- Về chi thường xuyên
Các khoản chi thường xuyên là các khoản chi không thể thiếu được để duy trì các mặt hoạt động của
bộ máy nhà nước. Các khoản chi được lập phải căn cứ vào nguồn thu từ thuế, phí và lệ phí và theo các
chế độ, tiêu chuẩn định mức do cơ quan có thẩm quyền ban hành (Luật NSNN,Điều 37). Luật NSNN
qui định nghĩa vụ hỗ trợ của NS cấp trên cho NS cấp dưới khi phát sinh các nhiệm vụ quan trọng cần
thiết mà sau khi bố trí lại NSNN, sử dụng dự phòng, dự trữ tài chính vẫn chưa đáp ứng được (Điều 36,
Khoản 3).
Các cơ quan nhà nước được thực hiện các khoản chi trong phạm vi kinh phí được cấp. Đối với các cơ
quan trung ương, ngoài việc thực hiện các khoản chi trong phạm vi hoạt động quản lý của mình còn
thực hiện các chương trình dự án có sự phối hợp thực hiện với chính quyền địa phương. Trên thực tế,

sau khi Quốc hội thông qua Nghị quyết về tổng thu và chi NSTW và NSĐP, Thủ tướng Chính phủ căn
cứ vào đề nghị của các cơ quan quản lý, cơ quan ban ngành liên quan quyết định các chương trình dự
án cụ thể trong đó cơ quan địa phương được ủy quyền thực hiện việc dự án thuộc nhiệm vụ chi của
NSTW.
Chi thường xuyên chủ yếu phục vụ cho việc trả lương, trong đó mức lương của công chức nhà nước
được hưởng chế độ ngạch bậc lương thống nhất, việc phân bổ kinh phí cho các cơ quan quản lý hành
chính nhà nước và Đảng, đoàn thể theo chỉ tiêu biên chế nên khó kiểm soát việc chi NSNN gắn với kết
quả công việc. Còn trong phân bổ chi thường xuyên cho các lĩnh vực như chi cho sự nghiệp giáo dục
tuy trên thực tế có phân biệt đô thị, đồng bằng, miền núi vùng cao, nhưng mức chênh lệch trong định
mức phân bổ không lớn, vẫn mang tính chất cào bằng[3].
Hiện nay, chi cho giáo dục, y tế, giao thông là nhiệm vụ chi quan trọng trong đó nhà nước đóng vai trò
chính trong việc cung cấp dịch vụ. Việc phân cấp cụ thể cho các địa phương căn cứ vào mức chi cho
giáo dục trên đầu người, trừ một số địa phương như Bà Rịa, Vũng Tầu, thành phố HCM, nơi thu nhập
bình quân chi cho đầu người cao nhất nên trên thực tế, các tỉnh có thu nhập bình quân đầu người thấp
nhận được mức đầu tư cho giáo dục trên đầu người cao hơn so với các tỉnh khác[4].
Nhìn chung, chi thường xuyên cũng giống như chi đầu tư phát triển vẫn mang nặng tính công bằng,
tính bình quân, chưa thực sự có tính định hướng rõ ràng về chiến lược, đầu tư mũi nhọn. Bởi vậy, vấn
đề đặt ra là phải làm thế nào điều chỉnh việc phân cấp nguồn thu đáp ứng nhiệm vụ chi trên cơ sở phát
Đề tài 33: PHÂN CẤP QUẢN LÝ NGÂN SÁCH TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY

12

huy lợi thế của các địa phương trong tạo nguồn thu, hỗ trợ các địa phương theo yêu cầu thực tế tránh
phân cấp công bằng mang tính hình thức.
IV. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
1. Đảm bảo quyền tự chủ tài chính của địa phương
Hiện nay, quyền tự chủ của địa phương gắn với việc phân định lợi ích các khoản thu 100% NSĐP
được hưởng và khoản thu điều tiết cũng như khoản cân đối bổ sung của NSTW cho NSĐP.
Trên thực tế, việc qui định khoản chi bổ sung cho NSĐP dễ làm phát sinh tình trạng bội chi của
NSTW. Bởi vậy, phân cấp nguồn thu với tỉ lệ điều tiết cố định sẽ giảm bớt gánh nặng cho NSTW buộc

các địa phương phải tự cân đối nhiệm vụ thu, chi phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của địa phương
đồng thời phát huy quyền chủ động trong khai thác nguồn thu của địa phương.
Ngoài ra, trên cơ sở kết quả giám sát chi NSNN cần thiết phải điều chỉnh hợp lý các nhiệm vụ chi theo
hướng tăng nhiệm vụ chi và bổ sung cân đối cho địa phương thực hiện các chương trình, dự án phát
triển kinh tế – xã hội ở địa phương. Bên cạnh đó, cần cho phép địa phương điều chỉnh định mức phân
bổ cho sát với quản lý tài chính ở các địa phương và đề cao trách nhiệm của người đứng đầu trong
việc kiểm soát chi NSNN trong phạm vi địa phương đảm bảo cho việc sử dụng có hiệu quả NSNN.
2. Đảm bảo gắn trách nhiệm của cơ quan được phân cấp với hiệu quả chi NSNN
Hiệu quả của chi tiêu NSNN là một khái niệm mang tính chuẩn tắc mà mọi quốc gia cần phải hướng
tới và có thể được hiểu một cách khá thống nhất, đó là cùng một lượng vốn đầu vào có thể tạo ra được
một lượng đầu ra tối ưu[5].
Tính hiệu quả chi NSNN phải thể hiện ở Dự toán NSNN phải phản ánh trung thực nhu cầu chi tiêu và
bảo đảm việc chi tiêu đó mang lại hiệu quả trên thực tế. Đối với các dự án đầu tư nhằm mục đích phát
triển kinh tế khu vực, không phải dự án nào cũng đạt hiệu quả kinh tế, tuy nhiên, cũng cần đặt ra tiêu
chí để hạn chế việc các cơ quan có thẩm quyền lạm dụng quyền quyết định đầu tư làm thất thoát vốn
NSNN. Còn đối với hoạt động đầu tư vào các lĩnh vực phi lợi nhuận là lĩnh vực giáo dục, y tế và an
sinh xã hội, thì hiệu quả chi NSNN chỉ có thể đánh giá được thông qua sự thay đổi về chất lượng của
dịch vụ công và sự thay đổi của dịch vụ y tế, giáo dục được cung cấp. Việc phân bổ nguồn thu để thực
hiện các hoạt động này cần phải dựa trên kết quả điều tra xã hội học và thẩm định phương án đầu tư
cũng như đánh giá chất lượng dịch vụ cung cấp sau đầu tư để làm căn cứ khắc phục những thiếu sót
trong quyết định đầu tư gây thất thoát cho NSNN.
Ngoài ra, để xác định trách nhiệm của cơ quan và người có thẩm quyền trong quyết định và sử dụng
NSNN, cần qui định thẩm quyền quyết định chi NSNN cho đầu tư phát triển trong Luật NSNN làm cơ
sở đề cao trách nhiệm trong quản lý và giám sát chi NSNN.
Trên thực tế, đầu tư công tính bình quân trên đầu người giữa các địa phương là khác nhau. Theo đánh
giá chi ngân sách theo GDP theo tỉnh thì có một sự ưu tiên khá rõ cho các tỉnh nghèo trong phân bổ
chi NSNN: các tỉnh nghèo nhận được phần chi ngân sách lớn hơn khá nhiều so với các tỉnh khác trong
khi tỉnh nghèo đóng góp cho NSNN thấp[6]. Việc ưu tiên chi NSNN cho các tỉnh nghèo để thực hiện
Đề tài 33: PHÂN CẤP QUẢN LÝ NGÂN SÁCH TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY


13

mục tiêu xóa đói giảm nghèo, giảm bớt sự khoảng cách phát triển giữa các địa phương là cần thiết, tuy
nhiên, cần thường xuyên đánh giá hiệu quả đầu tư của NSNN cho mục đích này, công khai hóa các
chương trình, nguồn ngân sách thực hiện trước khi quyết định triển khai để gắn hiệu quả sử dụng
NSNN với mục tiêu của chương trình, đảm bảo quyền giám sát của cơ quan và người dân nói chung
cũng như nghĩa vụ điều chỉnh phân cấp khoản thu chi hàng năm nhằm đảm bảo hiệu quả kinh tế xã hội
của các dự án.
3. Bảo đảm chất lượng quyết định Dự toán ngân sách nhà nước hàng năm
Kết quả của phân cấp quản lý NSNN được ghi nhận trong Dự toán NSNN do Quốc hội thông qua hàng
năm và còn kết quả chấp hành Dự toán NSNN chính là tiền đề để điều chỉnh phân cấp quản lý NSNN.
Do thẩm quyền quyết định NSNN tập trung cho Quốc hội nên chất lượng kỳ họp của Quốc hội quyết
định quan trọng đến Dự toán NSNN phù hợp với các nguyên tắc cũng như các qui định về phân cấp
quản lý NSNN.
Hiện nay, Quốc hội trong 1 năm chỉ họp 2 lần, Đại biểu Quốc hội đa số hoạt động kiêm nhiệm, nên
khó có thể xem xét các vấn đề một cách thực chất, Uỷ ban Tài chính – Ngân sách của Quốc hội đóng
vai trò quan trọng trong thẩm tra, thảo luận và giám sát các vấn đề trước khi trình lên Quốc hội.
Thông thường, Quốc hội thảo luận và biểu quyết từng phần hoặc toàn bộ nhiệm vụ tài chính, giải pháp
tăng thu, tăng chi, phương án thu phí, lệ phí, định mức phân bổ. Nhiều vấn đề mang tính chủ trương,
qui hoạch, kế hoạch, xem xét hiệu quả, xem xét vấn đề nợ đọng được đưa ra, tuy nhiên, các giải trình
ngay còn thiếu tính hợp lý và căn cứ khoa học, bởi vậy, những vấn đề được Đại biểu Quốc hội đưa ra
cần được cơ quan chức năng rà soát, kiểm tra và báo cáo kết quả thực hiện trong các kỳ họp của Quốc
hội, việc thẩm tra chính xác mới có ý nghĩa trong thông qua Dự toán NSNN sát với thực tế, điều chỉnh
phân cấp quản lý NSNN và tránh thất thoát lãng phí tài sản của nhân dân. Ngoài ra, giám sát chấp
hành NSNN trên thực tế cũng như thực hiện quyền cắt giảm đầu tư cho các chương trình, dự án không
có hiệu quả của Quốc hội là giải pháp tốt nhất cho việc thực thi có hiệu quả quyền đại diện của nhân
dân cũng như nâng cao vị trí, vai trò của Quốc hội trong giai đoạn hiện nay.
KẾT LUẬN
Nhìn chung Luật NSNN cần được sửa đổi theo hướng tăng quyền tự chủ về tài chính cho NSĐP, qui
định những nguyên tắc cơ bản chi đầu tư phát triển và cơ chế điều chỉnh phân cấp chi thường xuyên để

đảm bảo sử dụng có hiệu quả hỗ trợ của NSTW và nguồn thu tạo lập ở các địa phương.
Việc tăng quyền chủ động cho các địa phương có điều kiện phát triển ổn định thông qua xác lập tỉ lệ
điều tiết cố định theo Luật NSNN sẽ góp phần tạo ra sự ổn định về tài chính cho NSĐP. Đây cũng là
tiền đề quan trọng để giảm bớt sự lệ thuộc của các địa phương vào NSTW và tăng cường giám sát chi
NSNN tại các địa phương.
Để các qui định về phân cấp quản lý NSNN trở thành căn cứ để xác định quyền và lợi ích của các cấp
chính quyền và người dân nói chung, bên cạnh chi tiết hóa đối tượng phân cấp thì xác định thẩm
Đề tài 33: PHÂN CẤP QUẢN LÝ NGÂN SÁCH TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY

14

quyền quyết định và trách nhiệm cụ thể của cơ quan, tổ chức và người đứng đầu trong Luật NSNN là
căn cứ phòng ngừa vi phạm và nâng cao hiệu quả và trách nhiệm đối với sử dụng NSNN.


TÀI LIỆU THAM KHẢO :
[1] Tham khảo từ: "Một số giải pháp hoàn thiện cơ chế phân cấp quản lý ngân sách ở Việt nam" ThS.
Phạm Thị Thanh Vân, Thị trường tài chính tiền tệ. Số 8 15/4/2008
[2] Tham khảo từ: "Chi ngân sách: Mừng ít, lo nhiều" của ghi chép về thảo luận tại Quốc hội, ghi chép
bởi Minh Thúy ngày 31/10/2008, tải từ: .
[3] Xem thêm: Định mức phân bổ dự toán chi thường xuyên NSNN 2007. Ban hành kèm theo Quyết
định số 151/2006/QĐ-TTg, Ban hành kèm theo Quyết định số 151/2006/QĐ-TTg ngày 29/6/2006 của
Thủ tướng Chính phủ.
[4] Tham khảo từ: "Phân tích công bằng và hiệu quả của chi ngân sách theo tỉnh". Tác giả: TS.
Nguyễn Thị Minh, T S. Nguyễn Quang Dong, Tạp Chí Tài chính, Số 12/2009, trang 39, 41.
[5] Tham khảo từ bài viết của TS. Nguyễn Thị Minh, TS Nguyễn Quang Dong: "Phân tích tính công
bằng và hiệu quả của chi ngân sách theo tỉnh". Tạp Chí Tài chính 12/2009, trang 38.
[6] Tham khảo từ: bài của Tác giả: TS. Nguyễn Thị Minh, TS. Nguyễn Quang Dong, Sđd trang 38.
Tham khảo từ: “Nghiên cứu pháp luật tài chính công Việt Nam", Chủ nhiệm: TS.Phạm Thị Giang
Thu, 2011, Đại học Luật Hà Nội, tr.129 – 138

Xem thêm: Luật Ngân sách nhà nước sau 10 năm thực hiện

×