Tải bản đầy đủ (.pdf) (5 trang)

Lịch sử Việt Nam tóm tắt - THỜI KỲ DỰNG NƯỚC doc

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (102.62 KB, 5 trang )

Lịch sử Việt Nam tóm tắt
THỜI KỲ DỰNG NƯỚC
Vào thế kỷ thứ 7đến thế kỷ thứ 6 trước Công Nguyên, 15 bộ lạc sinh sống
tại vùng châu thổ sông Hồng, sông Mã, miền bắc Việt Nam ngày nay thống
nhất lập nên nước Văn Lang, nhà nước đầu tiên của người Việt. Kinh đô
đóng tại Phong Châu (Vĩnh Phú ngày nay). Vua nước Văn Lang, tất cả 18
đời, đều xưng là Hùng Vương.
Thế kỷ thứ 2 trước CN, sau cuộc kháng chiến chống lại quân Tần Thủy
Hoàng (218-208), nhà nước phong kiến Trung Quốc ở phương Bắc, Thục
Phán lên làm vua nước Văn Lang xưng là An Dương Vương và đổi tên nước
thành Âu Lạc, xây thành ốc ở Cổ Loa (Đông Anh - Hà Nội) làm kinh đô.

THỜI KỲ BỊ PHONG KIẾN PHƯƠNG BẮC ĐÔ HỘ
Năm 179 trước CN, nước Âu Lạc bị nước Nam Việt của Triệu Đà xâm
lược. (Triệu Đà là tướng quân của nhà Tần. Sau khi Tần Thủy Hoàng chết,
ông ta nhân cơ hội chiếm phần đất do mình được giao cai quản ở phía nam
nước Tần lập nên nước Nam Việt. Còn nhà Tần thì bị nhà Hán thay thế.)
Nước Âu Lạc bị đô hộ mở đầu cho thời kỳ lịch sử đen tối, đau thương, đầy
uất hận dài đằng đẵng hơn 1000 năm của dân tộc Việt. Nước Âu Lạc bị sáp
nhập thành các quận, huyện của các nhà nước phong kiến phương Bắc (qua
các triều đại Triệu, Hán, Ngô, Ngụy, Tấn, Tống, Tề, Lương, Tùy, Đường của
Trung Quốc). Trong thời gian này, tuy bị cai trị, bóc lột tàn nhẫn, hà khắc
nhưng nhân dân ta vẫn không những chẳng khi nào chịu khuất phục mà còn
liên tục vùng lên đấu tranh nhằm giành lại độc lập tự chủ, chống bị Hán hóa.
Sau CN, năm 40, Hai Bà Trưng khởi nghĩa ở Mê Linh. Cuộc khởi nghĩa
giành thắng lợi. Nhưng chỉ 3 năm sau. Đất nước lại bị rơi vào tay nhà Hán.
Nhiều cuộc khởi nghĩa lại dậy lên sau đó.
Năm 248, khởi nghĩa Bà Triệu chống quân Ngô thất bại.
Năm 542, Lý Bí khởi nghĩa thành công, giành lại đuợc độc lập từ tay nhà
Lương, xưng là Lý Nam Đế, lập ra nước Vạn Xuân với mong muốn đất
nước mãi mãi trường tồn.


Năm 545, nhà Lương đem quân sang xâm lược nước Vạn Xuân, Lý Nam Đế
thua trận liên tục phải rút về động Khuất Lão. Tại đây ông bị bệnh chết.
Triệu Quang Phục lên thay. Triệu Quang Phục lui quân về đầm Dạ Trạch
thực hiện chiến tranh du kích. Cuối cùng năm 550, Triệu Quang Phục mới
giành được thắng lợi, khôi phục nước Vạn Xuân, tự xưng là Triệu Việt
Vương. Đến năm 571, Triệu Quang Phục bị Lý Phật Tử cướp ngôi.
Năm 602-603, Lý Phật Tử không chống được cuộc xâm lược của giặc, nước
ta lại rơi vào tay nhà Tùy, rồi nhà Đường.
Năm 722, Mai Thúc Loan phất cờ khởi nghĩa. Thất bại.
Năm 905, Khúc Thừa Dụ khởi nghĩa giành được chính quyền. Nhà Đường
công nhận chính quyền tự chủ của ông.
Năm 930, quân Nam Hán sang xâm lược nước ta. Nam Hán là một nước do
Luu Ẩn, tướng của nhà Hậu Lương cát cứ vùng đất Hoa Nam mà mình được
nhà Lương giao cho cai quản thành lập (nhà Lương cướp ngôi nhà Đường
vào năm 907). Người đứng đầu nước ta lúc đó là Khúc Thừa Mỹ không
chống lại được, bị bắt sang Nam Hán. Các tướng lĩnh của họ Khúc tổ chức
nhiều cuộc kháng chiến.
Năm 931, cuộc kháng chiến do Dương Đình Nghệ lãnh đạo thành công. Ông
được tôn làm Tiết Độ Sứ.
Năm 937, Kiều Công Tiễn giết Dương Đình Nghệ cướp quyền lãnh đạo.
Ngô Quyền là con rể Dương Đình Nghệ khởi binh trừng phạt. Kiều Công
Tiễn cầu cứu nước Nam Hán và dĩ nhiên vua Nam Hán vui vẻ nhận lời.
Năm 938, quân Nam Hán do thái tử Hoằng Tháo kéo sang nước ta theo
đường thủy định phối hợp với Kiều Công Tiễn đánh bại Ngô Quyền. Nhưng
Hoằng Tháo chưa đến nơi thì Ngô Quyền đã diệt được Kiều Công Tiễn và
bố trí trận địa chờ sẵn. Khi quân Nam Hán lọt vào trận địa mai phục của Ngô
Quyền ở cửa sông Bạch Đằng thì bị đánh cho tan tác. Hoằng Tháo chết trận,
quân Nam Hán tháo chạy về nước. Vua Nam Hán bỏ mộng xâm lược.
Năm 939, Ngô Quyền xưng vương, dựng kinh đô tại Cổ Loa. Mở ra thời kỳ
độc lập tự chủ hòan toàn cho nước ta sau hơn 1000 năm bị đô hộ bởi phong

kiến phương bắc.
Năm 944, Ngô Quyền chết. Tình hình đất nước rơi vào cảnh hỗn lọan, tranh
dành quyền lực giữa các phe phái tướng lĩnh và con của Ngô Quyền (Ngô
Xương Ngập, Ngô Xương Văn).
Năm 965, vị vua cuối cùng của triều Ngô là Ngô Xương Văn chết, các tướng
lĩnh địa phương thi nhau cát cứ. Đất nước bị chia cắt thành 12 sứ quân.


×