Tải bản đầy đủ (.pdf) (33 trang)

Hiệu quả trong sử dụng tiền vốn kinh doanh các mặt hàng có tính chất nguy hiểm ppsx

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (212.14 KB, 33 trang )

Lời Mở Đầu

Trong điều kiện ngày nay, với sự có mặt của đa thành phần kinh tế và với tiến
trình cải cách đang đặt kinh tế Việt Nam bước vào một giai đoạn mới, một thời kỳ
mới. Đó là quá trình khu vực hoá, toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới. Và Việt Nam
chuẩn bị gia nhập WTO, đã tham gia tích cực APEC, ASEAN. Đặc biệt, tiến trình hội
nhập AFTA của Việt Nam thì hoạt động kinh doanh trở nên thiết thực hơn.
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh thì mọi doanh nghiệp cần có lượng
vốn nhất định. Vốn là yếu tố quan trọng đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh
được diễn ra thường xuyên liên tục. Do đó, việc sử dụng vốn có hiệu quả hay không là
một vấn đề vô cùng quan trọng. Vấn đề chính đặt ra cho các doanh nghiệp trong giai
đoạn này là làm thế nào để tổ chức sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao. Bởi hiệu quả
kinh tế không chỉ là thước đo giá trị về chất lượng, năng lực trình độ tổ chức, quản lý
hoạt động tổ chức sản xuất kinh doanh mà là vấn đề sống còn đối với doanh nghiệp.
Trong đó, có thể nói hiệu quả sử dụng vốn là điều kiện tiên quyết để khẳng định sự tồn
tại và phát triển doanh nghiệp. Và càng đặt biệt hơn tại Công ty Cổ phần Hoá chất
VLĐ Đà Nẵng, hiệu quả sử dụng vốn lưu động là nhân tố quyết định gopa phần tích
cực làm tăng giá trị của Công ty. Do vậy, việc phân tích hiệu quả sử dụng vốn lưu
động của Công ty Cổ phần Hoá chất VLĐ Đà Nẵng có một ý nghĩa rất quan trọng, đó
chính là cơ sở giúp cho các đơn vị vạch ra kế hoạchu quản lý vốn có hiệu quả hơn.
Xuất phát từ ý nghĩa đó và với kiến thức trang bị ở trường, em đã chọn đề tài:
“Phân tích hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty Cổ phần Hoá chất VLĐ Đà
Nẵng” để làm đề tài nghiên cứu.
Do thời gian và kiến thức còn hạn chế, đặc biệt về kiến thức về thực tế cho nên
đề tài không thể tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong nhận được sự đánh giá và góp ý
của giáo viên hướng dẫn.
Nội dung của đề tài gồm 3 phần:
Phần I: Cơ sở lý luận chung về phân tích hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Phần II: Phân tích tình hình sử dụng vốn tại Công ty CP Hoá chất VLĐ Đà Nẵng
Phần III: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng vốn lưu động tại
Công ty CP Hoá chất VLĐ Đà Nẵng.


PHẦN I CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN LƯU ĐỘNG VÀ VIỆC QUẢN LÝ
VỐN LƯU ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP
I. KHÁI NIỆM VỀ DOANH NGHIỆP, TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP, VỐN KINH
DOANH
1. Khái niệm về doanh nghiệp:
Doanh nghiệp (theo luật Doanh nghiệp) là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài
sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh - theo quy định của pháp
luật, nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.
Tức là thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ
sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích
sinh lời.
2. Khái niệm về tài chính doanh nghiệp:
Tài chính doanh nghiệp là những quan hệ kinh tế biểu hiện dưới hình thức giá
trị phát sinh trong quá trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm phục vụ quá
trình tái sản xuất trong mỗi doanh nghiệp và trong kinh doanh của doanh nghiệp tích
luỹ vốn cho nhà nước. Trong kinh doanh của doanh nghiệp, vốn kinh doanh là tiền đề
của mọi quá trình đầu tư và sản xuất kinh doanh. Vốn kinh doanh là một quỹ tiền tệ
đặc biệt là tiềm lực về tài chính của doanh nghiệp. Trong điều kiện tồn tại một nền sản
xuất hàng hoá, tiền tệ vốn sản xuất kinh doanh được biểu hiện dưới hai hình thực hiện
vật và giá trị bao gồm: vốn kinh doanh, vốn lưu động, đầu tư tài chính.
II. TÀI SẢN LƯU ĐỘNG VÀ VỐN LƯU ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP
1. Tài sản lưu động (TSLĐ):
a. Khái niệm:
Là những khoản vật tư và tiền tệ phát sinh trong quá trình lưu động.
b. Đặc điểm:
- TSLĐ chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất kinh doanh, giá trị của TSLĐ được
chuyển dịch toàn bộ một lần vào giá trị của sản phẩm mới.
- TSLĐ luôn thay đổi hình thái biểu hiện qua các khâu của quá trình sản xuất kinh
doanh.
- TSLĐ sản xuất bao gồm các loại sau: nguyên vật liệu, phụ tùng thay thế sản phẩm dở

dang, bán thành phẩm.
- TSLĐ trong lưu thông: thành phẩm, hàng hoá, vốn bằng tiền, vốn trong thanh toán.
2. Vốn lưu động của doanh nghiệp:
a. Khái niệm:
VLĐ là vốn đầu tư ứng trước về tài sản lưu động (TSLĐ) phục vụ cho hoạt
động sản xuất kinh doanh mà chủ yếu là tài sản lưu thông. Nhằm đảm bảo cho quá
trình tái sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được thường xuyên và liên tục bao
gồm: Vốn bằng tiền, các khoản phải thu, hàng tồn kho và TSLĐ khác.
b. Đặc điểm:
VLĐ của doanh nghiệp chu chuyển toàn bộ ngay trong một lần vào giá thành
sản phẩm hoàn thành một vòng tuần hoàn sau một chu kỳ sản xuất và hình thái vật
chất của VLĐ thường xuyên biến đổi.
Số VLĐ cần thiết của doanh nghiệp có mối quan hệ chặt chẽ với chu kỳ sản
xuất tiêut hụ của doanh nghiệp đó.
III. NỘI DUNG QUẢN LÝ VỐN LƯU ĐỘNG
- Việc quản lý VLĐ một cách có hiệu quả trên cơ sở cân nhắc yếu tố rủi ro và
tính sinh lợi trong từng khoản mục của giá trị tài sản trong doanh nghiệp. Nếu doanh
nghiệp chấp nhận sự an toàn cao thì tất yếu lợi nhuận đem lại thấp và ngược lại. Tính
sinh lợi ở đây nó thể hiện sự đầu tư mạnh vào cơ cấu vốn. Chẳng hạn, doanh nghiệp
chấn nhận khoảng nợ ngắn hạn càng nhiều thì thu nhập càng cao, bù lại đó là mức rủi
ro cao là không trả được nợ ngắn hạn trong thanh toán. Do vậy, để quản lý có hiệu quả
doanh nghiệp cần quan tâm vấn đề sau:
1. Quản lý tiền mặt tại doanh nghiệp:
Bản thân tiền mặt tự nó không tự sinh ra lợi nhuận, do vậy phải đưa nó vào
tham gia quá trình sản xuất kinh doanh, đẩy nhanh sự luân chuyển của tiền mặt.
a. Mục tiêu quản lý tiền mặt:
Trong hoạt động kinh doanh luôn nảy ra các hoạt động chi tiêu hằng ngày như:
mua sắm giao dịch trả lương nên cần có một lượng tiền mặt để bù đắp các khoản
này. Tại doanh nghiệp luôn duy trì một lượng tiền tối thiểu tại một thời điểm là bao
nhiêu để không làm giảm tính sinh lời của tài sản. Do đó, mục tiêu quản lý tiền mặt là

tối thiểu hoá lượng tiền mặt mà doanh nghiệp cần để sử dụng nhằm duy trì cho hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp một cách bình thường. Ngoài ra, tiền mặt để phục
vụ cho các biến động ngẫu nhiên không lường trước của dòng tiến vào ra.
b. Nội dung quản lý:
- Quản lý tiền mặt tại doanh nghiệp là việc kiểm soát lượng tiền mặt tại doanh
nghiệp thông qua việc dự trữ tiền mặt.
- Xác định nhu cầu vốn bằng tiền định mức ngân quỹ thường xuyên năm kế
hoạch. Dựa vào số liệu thống kê của kỳ trước và kết hợp dự toán năm kế hoạch.
- Dự tính các khoản thu hàng tháng của kỳ kế hoạch (doanh thu bán hàng và các
khoản tính tương tự).
Xác định chênh lệch thu chi trong tháng.
Tìm hướng giải quyết số chênh lệch thu chi để có chênh lệch tối ưu.
2. Các khoản phải thu trong doanh nghiệp:
a. Khoản mục ql các khoản phải thu:
- Doanh nghiệp đưa ra các quyết định tín dụng, xác định đúng thực trạng các
khoản phải thu và đánh giá tính hiệu quả của các chính sách thu tiền của doanh nghiệp.
Khoản thu luôn biến đổi nên theo dõi quản lý.
b. Nội dung quản lý:
- Trong hoạt động kinh doanh, các doanh nghiệp thường chuộn phương thức
bán hàng thu tiền ngay hơn là phương thức bán hàng tín dụng. Từ đóm, nảy sinh khoản
phải thu khách hàng. Quản lý khoản phải thu từ khách hàng là vấn đề rất quan trọng và
phức tạp trong công tác quản lý tài chính. Vì vậy, các doanh nghiệp khi quản lý cũng
phải đảm bảo các yếu tố của chính sách tín dụng:
+ Tiêu chuẩn tín dụng: tuỳ theo từng ngành kinh doanh và tuỳ theo doanh nghiệp mà
quyết định cấp tín dụng khác nhau. Tuy nhiên, khi tiết lập cần xét các yếu tố.
. Xác xuất về tình trạng khách hàng không trả tiền trong trường hợp khách hàng là
những doanh nghiệp thuộc những rủi ro cao hay những doanh nghiệp có vị thế tài
chính yếu thì áp dụng những điều kiện tín dụng hạn chế nhằm loại bỏ rủi ro.
. Độ lớn của tín dụng: đối với những khoản tín dụng có giá trị nhỏ thời gian bán chịu
ngắn hơn. Và đây là những giao dịch tốn kém với những khách hàng kém quan trọng.

. Tính đặc trưng của hàng hoá: nếu hàng hoá có giá trị thấp và thuộc loại mau hỏng thì
không nên áp dụng tín dụng thương mại.
+ Chiết khấu thương mại: là phần tiền chiết khấu đối với những giao dịch mua hàng
bằng tiền. Áp dụng chiết khấu bán hàng nhằm khuyến khích bán hàng thanh toán sớm
trước hạn, đem lại lợi ích cho khách hàng bằng khoản tiền được chiết khấu và lợi ích
của doanh nghiệp qua việc vốn đầu tư của các khoản phải thu luân chuyển nhanh và có
độ an toàn cao, đồng thời thu hút được khách hàng mới.
- Kỳ hạn tín dụng: là thời gian tín dụng thương mại sau khi đã thực hiện xong các điều
kiện cấp tín dụng. Đây là thời gian buộc khách hàng phải thanh toán công nợ kể từ khi
khách hàng nhận được sản phẩm, hàng hoá doanh nghiệp.
3. Quản lý hàng tồn kho doanh nghiệp:
a. Mục tiêu quản lý hàng tồn kho:
Một trong những vấn đề quan trọng quản lý hàng tồn kho để tăng tốc độ luân
chuyển vốn, nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ là phải sử dụng tốt dự trữ. Việc quản lý
hàng dự trữ gồm hai mục tiêu:
- Tổ chức hợp lý việc dự trữ để đảm bảo cho quá trình SXKD diễn ra liên tục,
tránh sự gián đoạn trong việc dự trữ gây ra.
- Giảm tới mức thấp nhất có thể được số hàng cần thiết cho việc dự trữ.
b. Nội dung quản lý:
Quản lý hàng tồn kho trong doanh nghiệp là tính lượng hàng tồn kho tối ưu sao
cho phí tồn kho là nhỏ nhất. Ngoài ra, phải bảo đảm mực dự trữ căn bản để đáp ứng
nhu cầu sản xuất kinh doanh được liên tục. Tuỳ đặc điểm cụ thể của từng loại hàng
hoá mà có mực dự trữ an toàn tăng thêm để ứng phó với biến cố trong kinh doanh (do
ng cung ứng sai hẹn hay đúng hẹn mà vật tư hàng hoá sai tiêu chuẩn, quy cách). Từ
đó, hạn chế được chi phí tổn thất do thiếu nguyên liệu sản xuất, do nguồn sản xuất.
c. Những nội dung cần lưu ý:
Hàng tồn khó đối với doanh nghiệp thương mại chủ yếu là hàng để bán, mỗi
loại dữ trữ có đặc điểm riêng, do vậy bố trí hợp lý đối với từng mặt hàng.
* Sự cần thiết của VLĐ đối với hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD)
VLĐ là điều kiện vật chất không thể thiếu được trong quá trình SXKD. Để quá

trình được duy trì liên tục và phát triển, doanh nghiệp phải lựa chọn phương án đầu tư
đúng mức, hợp lý số lượng VLĐ. Bởi vì, nếu VLĐ không đủ để đáp ứng thì việc tổ
chức, sử dụng vốn sẽ gặp trở ngại và không đạt hiệu quả cao. Vì vậy, đáp ứng nhu cầu
VLĐ thông qua việc đầu tư đúng mức sẽ là việc hết sức quan trọng nhằm hướng vào
mục tiêu chung là tối đa hoá lợi nhuận, tối đa hoá giá trị của doanh nghiệp.
VLĐ là điều kiện cần thiết để một doanh nghiệp đảm bảo hoạt động SXKD.
Tổng số vốn kinh doanh và tính chất sử dụng của doanh nghiệp. Là điều kiện để thực
hiện các nghĩa vụ với ngân sách, trả nợ vay ngân hàng, thanh toán cho nhà cung cấp,
cho nhân viên Do đó, việc quản lý và sử dụng VLĐ một cách khoa học và hiệu quả
sẽ nâng cao, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp tăng ưu thế cạnh tranh.
4. Quản lý tài sản lưu động khác của doanh nghiệp:
Là việc xem xét kiểm tra hợp lý của tài sản chi phí, TSLĐ khác hoạt động cho
phục vụ SXKD để nhận định như thế nào, tác động ra sao trong tổng TSLĐ và được
chấp nhận ở mức khả dĩ là bao nhiêu?
4.1. Phân tích tình hình dự trữ TSLĐ của doanh nghiệp:
Trong SXKD vấn đề dự trũ TSLĐ cho quá trình SXKD của doanh nghiệp phải
đảm bảo theo yêu cầu vừa đủ về số lượng. Nếu dự trữ quá lớn dẫn đến ứ đọng vốn,
tăng các chi phí liên quan, làm giảm hiệu quả kinh doanh. Mặt khác, nếu dự trữ quá
thấp có thể dẫn đến tình trạng thiếu hụt, làm gián đoạn quá trình SXKD, giảm năng
suất lao động và thiết bị, dẫn đến hiệu quả SXKD sẽ bị giảm thấp. Bởi vậy, việc dự trữ
TSLĐ của doanh nghiệp phải được điều hoà theo yêu cầu, vừa đảm bảo tiết kiệm vốn,
nhằm không ngừng nâng cao hiệu quả sd vốn của doanh nghiệp.
Việc phân tích tình hình dự trữ TSLĐ của doanh nghiệp có thể tiến hành trên
các mặt sau: Phân tích sự thay đổi về kết cấu các loại TSLĐ dự trữ, phân tích sự biến
động của từng loại TSLĐ dự trữ, so sánh dự trữ TSLĐ thực tế với dự trữ TSLĐ hợp lý,
phù hợp với tính chất và quy mô SXKD của doanh nghiệp.
4.2. Phân tích mức độ đảm bảo nguồn VLĐ cho việc dự trữ TSLĐ của doanh
nghiệp:
Giữa nguồn VLĐ và tình hình dự trữ TSLĐ có mối quan hệ mật thiết với nhau.
Bởi vậy, ngoài việc phân tích tình hình tăng giảm của từng nguồn vốn, sự biến động

của TSLĐ dự trữ thực tế, phục vụ cho việc đảm bảo điều kiện của SXKD. Việc tính
toán mức độ đảm bảo thừa hay thiếu của nguồn VLĐ được xác định bằng công thức:
Mức độ đảm bảo thừa (+) hoặc thiếu (-) của NVLĐ = Nguồn VLĐ thực tế -
TSLĐ dự trữ thực tế
Từ công thức trên cho thấy: khi mức độ đảm bảo thừa nguồn VLĐ, doanh
nghiệp bị chiếm dụng vốn. Còn khi mức độ đảm bảo thiếu nguồn VLĐ, doanh nghiệp
đi chiếm dụng vốn. Tuy vậy, trong trường hợp nguồn VLĐ thực tế cân bằng với TSLĐ
dự trữ thực tế vẫn có khi xảy ra hiện tượng chiếm dụng và bị chiếm dụng vốn lẫn
nhau.
5. Phân tích khả năng thanh toán:
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng thanh toán của các khoản nợ hiện hành (nợ
ngắn hạn) của doanh nghiệp. Khả năng đó tuỳ thuộc vào chính sách bán hàng, chính
sách tín dụng bán hàng. Khả năng quản lý nợ phải thu, quản lý hàng tồn kho. Đó là cơ
sở hình thành nên dòng tiền doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu thanh toán của mình. Mặt
khác, một doanh nghiệp không có khả năng thanh toán không chỉ thể hiện tình trạng
tài chính tồi tệ của chính doanh nghiệp đó mà còn quan trọng hơn nó còn tạo ra phản
ứng dây chuyền, tác động đến mọi mặt của đời sống - chính trị - xã hội trong một quốc
gia. Vì thế phân tích khả năng thanh toán là việc hết sức cần thiết khi phân tích tài
chính nói chung VLĐ nói riêng.
Khi phân tích ta xây dựng một số chỉ tiêu sau:
- Hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn:
Hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn = TSLĐ + ĐTNH
Tổng nợ ngắn hạn
Hệ số này cho thấy khả năng đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp
cao hay thấp, nó thể hiện mức độ đảm bảo của TSLĐ đối với các khoản nợ ngắn hạn.
Hệ số này càng lớn, chứng tỏ doanh nghiệp có khả năng thanh toán, tuy nhiên nếu hệ
số này quá cao thì doanh nghiệp đầu tư quá nhiều vào TSLĐ, hiệu quả sử dụng vốn
thấp. Theo kinh nghiệm của các nhà phân tích, hệ số này bằng 2 là tốt.
Hệ số khả năng thnah toán ngắn hạn sẽ không phản ứng chính xác khả năng
thanh toán của doanh nghiệp trong trường hợp doanh nghiệp có nợ khó đòi, giảm giá

hàng tồn kho, giảm giá chứng khoán ngắn hanh nhưng chưa thích hợp dự phòng hoặc
chưa trích lập đủ dự phòng.
- Hệ số khả năng thanh toán nhanh
Hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn = TSLĐ + ĐTNH - Hàng tồn kho
Tổng nợ ngắn hạn
Chỉ tiêu này chỉ rõ các khoản nợ đến hạn hoặc quá hạn của doanh nghiệp. Chỉ
tiêu này càng lớn càng thể hiện doanh nghiệp có khả năng thánh toán nhanh nhưng nếu
chỉ tiêu này quá lớn thì sẽ làm cho vốn ứ động, hiệu quả sinh lời kém.
Hệ số này không phản ánh chính xác khả năng thanh toán của doanh nghiệp có
giảm giá ĐTTCNH nhưng chưa trích lập dự phòng hoặc trích lập chưa đủ. Theo kinh
nghiệm của các nhà phân tích, hệ số này từ 0,5 - 1 là chấp nhận.
- Hệ số khả năng thanh toán tức thời:
Hệ số khả năng thanh toán tức thời = Tiền
Tổng nợ ngắn hạn
Theo kinh nghiệm của nhà phân tích, hệ số này bằng 0,5 là tốt. Tuy nhiên, còn
tuỳ thuộc vào đặc điểm kinh doanh của doanh nghiệp.
6. Phân tích hiệu quả sử dụng VLĐ trong doanh nghiệp:
Muốn kinh doanh ta phải xét đến tính sinh lời của nó, sử dụng như thế nào cho
có hiệu quả nhất. Trong đó, việc quay nhanh VLĐ có ý nghĩa không chỉ tiết kiệm vốn
mà còn nâng cao khả năng sinh ra tiền, nâng cao lợi nhuận của doanh nghiệp. Hiệu quả
sử dụng vốn được đánh giá qua các chỉ tiêu sau: Tốc độ luân chuyển VLĐ, sức sinh lời
của VLĐ, tốc độ luân chuyển hàng tồn kho, tốc độ vòng quay của các khoản phải thu.
6.1. Tốc độ luân chuyển VLĐ:
Số vòng quay của VLĐ = Doanh thu thuần (vòng)
VLĐ bình quân
Trong đó:
VLĐ bình quân = VLĐ đầu quý + VLĐ cuối quý
2
Chỉ tiêu này cho thấy số vòng quay của VLĐ trong kỳ phân tích hay một đồng
VLĐ bỏ ra thì đảm nhiệm bao nhiêu đồng DTT. Số vòng càng nhanh thì hiệu quả sử

dụng VLĐ tăng.
Số ngày một vòng quay VLĐ = 90 (ngày)
Số vòng quay VLĐ
Chỉ tiêu này thể hiện số ngày cần thiết cho VLĐ quay được một vòng. Thời
gian của một vòng (kỳ) luân chuyển càng nhỉ thì tốc độ luân chuyển càng lớn.
Ngoài 2 chỉ tiêu trên, khi phân tích có thể tính ra chỉ tiêu "hệ số đảm nhiệm của
VLĐ". Hệ số này càng nhỏ, chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn càng cao, số vón tiết kiệm
được càng nhiều. Qua chỉ tiêu này, ta biết được để có một đồng luân chuyển thì cần
mấy đồng VLĐ.
Hệ số đảm nhiệm của VLĐ = VLĐ bình quân
Tổng số doanh thu thuần
6.2. Sức sinh lời của VLĐ:
Đây là chỉ tiêu phản ánh xem một đồng VLĐ bình quân làm ra được bao nhiêu
đồng lợi nhuận.
Sức sinh lời VLĐ = Lợi nhuận (trước thuế hoặc sau thuế)
VLĐ bình quân
Hệ số này càng cao thì sức sinh lời từ VLĐ càng cao.
Nếu số chênh lệch về số ngày tiêu hao cho một vòng quay VLĐ giữa các kỳ, ta
có thể tính được mức VLĐ đã tiết kiệm được hay lãng phí.
Số VLĐ tiết kiệm hay lãng phí = Doanh thu thuần kỳ phân tích x Số
ngày 1 vòng quay VLĐ kỳ phân tích - Số ngày một vòng quay VLĐ kỳ gốc
x 1
90
Bên cạnh tính toán các chỉ tiêu, để phân tích sâu hơn hiệu quả của VLĐ cần
thiết phải phân tích nguyên nhân và tốc độ ảnh hưởng của các nhân tố. Từ đó, những
biện pháp thích hợp nhằm đẩy mạnh tốc độ luân chuyển vốn và nâng cao hiệu quả kinh
doanh của doanh nghiệp.
6.3. Tốc độ luân chuyển của hàng tồn kho:
Tốc độ luân chuyển hàng hoá hay tốc độ hoán chuyển thành tiền của hàng tồn
kho được tính dựa trên hệ số vòng quay của hàng tồn kho.

Hệ số vòng quay hàng tồn kho = Giá vốn hàng bán trong kỳ (vòng)
Hàng tồn kho bình quân
Hệ số này phản ánh tốc độ luân chuyển của hàng tồn kho. Vòng quay này càng
nhanh thì càng tốt. Doanh nghiệp có một chính sách tiêu thụ tốt vì hàng tồn kho là
khoản dự trữ chiếm tỷ trọng tương đối lớn trong doanh nghiệp. Song về phương diện
quản lý ta cũng cần phải xem xét hệ số này tăng là do nguyên nhân nào.
Số ngày một vòng quay hàng tồn kho = 90 (ngày)
Số vòng quay hàng tồn kho
Số ngày càng lớn thì ứ đọng hàng tồn kho càng nhiều.
6.4. Tốc độ hoán chuyển thành tiền của các khoản phải thu:
Đây là chỉ tiêu hản ánh tốc độ của các khoản phải thu hoán chuyểnt hành tiền,
chỉ tiêu này được thể hiện qua kỳ thu tiền bình quân. Căn cứ vào vòng quay các khoản
phải thu, ta có thể tính được kỳ thu tiền bình quân trong kỳ.
Số vòng quay các khoản phải thu = Doanh thu thuần + Thuế GTGT (vòng)
Số dư bình quân của khoản phải thu

Kỳ thu tiền bình quân = 90
Số vòng quay của các khoản phải thu
Hệ số này càng cao chứng tỏ khả năng hoán chuyển thành tiền của các khoản
phải thu tăng. Hiệu quả sử dụng VLĐ từ các khoản phải thu cũng cầng phải được xem
xét trong mục tiêu quản lý của doanh nghiệp.
PHẦN II PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG VLĐ TẠI CÔNG TY
CỔ PHẦN HOÁ CHẤT VLĐ ĐÀ NẴNG
A. KHÁI QUÁT QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN VÀ CƠ CẤU TỔ
CHỨC CÔNG TY CỔ PHẦN HOÁ CHẤT VLĐ ĐÀ NẴNG
I. VÀI NÉT VỀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH & PHÁT TRIỂN CÔNG TY CỔ
PHẦN HOÁ CHẤT VLĐ ĐÀ NẴNG
Với nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ cấu thị trường, đất nước ta
đang trên con đường phát triển công nghiệp hoá hiện đại hoá. Do vậy, nhu cầu tiêu thụ
vật liệu cho sản xuất ngày càng cao. Nên sau khi nghiên cứu kỹ thị trường cộng với

nguồn vốn tự có, các thành viên quyết định kinh doanh các mặt hàng phù hợp với
đường lối và phát triển của đất nước.
Công ty Cổ phần Hoá chất VLĐ Đà Nẵng được thành lập ngày 07/10/2002 do
Sở Kế hoạch - Đầu tư thành phố Đà Nẵng cấp giấy phép thành lập doanh nghiệp số
3203000051. Văn phòng Công ty đặt tại 245 Phan Châu Trinh, quận Hải Châu, thành
phố Đà Nẵng.
II. ĐẶC ĐIỂM TỔ CHỨC KINH DOANH TẠI CÔNG TY
Công ty Cổ phần Hoá chất VLĐ Đà Nẵng chủ yếu là hoạt động kinh doanh các
mặt hàng như hoá chất, vật liệu và dụng cụ cơ khí Hoạt động Công ty nhằm mục
đích khai thác hiệu quả nguồn hàng vật tư, sức lao động nhằm đẩy mạnh hoạt động
kinh doanh, đáp ứng kịp thời nhu cầu của người sản xuất.
Quy mô hoạt động của Công ty rộng, cung cấp hàng hoá cho khu vực miền
Trung và hai đầu đất nước. Do yêu cầu phát triển kinh doanh ngày càng lớn nên Công
ty cón hững phương án kế hoạch kinh doanh mới ngày càng mạnh dạn hơn.
Xuất nhập khẩu trực tiếp các mặt hàng hoá chất, phụ gia xăng dầu, nhựa và các
loại nguyên vật liệu hoá.
1. Tổ chức bộ máy quản lý:
a. Sơ đồ tổ chức bộ máy:
Ghi chú:
Quan hệ trực tuyến
Quan hệ chức năng
Quan hệ đối chiếu
b. Chức năng, nhiệm vụ của các bộ phận:
- Giám đốc Công ty: Trực tiếp chỉ đạo và quản lý toàn bộ hoạt động sản xuất,
kinh doanh của doanh nghiệp. Đồng thời là người đại diện cho quyền lợi và nhiệm vụ
của Công ty, chịu trách nhiệm trước pháp luật và toàn thể cán bộ Công nhân viên.
- Phó Giám đốc Công ty: Hỗ trợ giám đốc tham mưu hoạch định chiến lược
hoạt động kinh doanh, thay mặt giải quyết mọi vấn đề khi giám đốc vắng mặt.
- Phòng tổ chức hàng chính: Tham mưu cho Giám đốc về việc sắp xếp nhân sự,
làm công việc quản lý hành chính, tiền lương, theo dõi kiểm tra đôn đốc tổng hợp công

tác thi đua, khen thưởng, kỷ luật của Công ty.
- Phòng kế toán: quản lý tiền, vốn, cũng như phản ánh các nghiệp vụ kinh tế
một cách kịp thời chính xác, liên tục và có hệ thống, theo dõi toàn bộ tài sản của Công
ty về mặt giá trị cũng như sự biến động của nó. Xây dựng các kế hoạch về vốn, hạch
toán kết quả lãi, lỗ của hoạt động kinh doanh trong kỳ, quyết toán tài chính theo từng
quý, năm theo chế độ.
- Phòng kinh doanh: Tham mưu cho giám đốc về thông tin kinh tế thị trường, tổ
chức mạng lưới kinh doanh, theo dõi tổng hợp các báo cáo về hoạt động SXKD của
Công ty.

B. PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG
Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp như thế nào là một phần do công tác quản lý và
sử dụng vốn lưu động, điều đó khẳng định được tầm quan trọng của công tác quản lý
và sử dụng vốn. Nhưng để công tác quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả thì doanh
nghiệp phải luôn phân tích đánh giá tình hình hiện tại, những gì đạt được và chưa đạt
được, từ đó vạch ra những phương hướng chính sách hữu hiệu nhất giúp doanh nghiệp
sớm thoát khỏi những khó khăn vướng mắc cũng như đạt được những kết qủa mong
muốn.
Tài sản lưu động trong doanh nghiệp lại thường xuyên biến đổi từ hình thái này sang
hình thái khác, mỗi một hình thái có một đặc điểm và tính chất khác nhau. Để thấy rõ
thực chất của từng sự biến động thì phải tiến hành phân tích. Mặt khác, tài sản lưu
động loại tượng trưng phần lớn tổng số tài sản, bởi nó chiếm một phần đầu tư khá lớn.
Điều đó xứng đáng cho sự chú tâm đặc biệt để có biện pháp, chính sách kịp thời.
Phân tích tình hình quản lý và sử dụng mới đánh giá được doanh nghiệp sử dụng vốn
lưu động nói chung và các yếu tố bộ phận nói riêng hiệu quả hay không hiệu quả để
có biện pháp, chính sách kịp thời.
Trong nền kinh tế thị trường, sự vận động của tài sản lưu động trong doanh nghiệp
diễn ra càng nhanh và phức tạp. Vì thế phân tích tình hình sử dụng vốn lưu động là
điều kiện cần thiết đối với doanh nghiệp, là cơ sở của nhiều quyết định quan trọng: nên
gia tăng đầu tư hay không, đầu tư vào khảon mục nào là hiệu quả nhất

Ngoài ra phân tích tình hình sử dụng vốn lưu động còn cung cấp những thông tin hữu
ích đối với những ai quan tâm đến doanh nghiệp như: khả năng thanh toán là căn cứ đẻ
các chủ nợ ngắn hạn xem xét có nên chấp nhận cho doanh nghiệp vay hay không.
I. PHÂN TÍCH KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH VỐN LƯU ĐỘNG CỦA CÔNG TY
QUA 2 NĂM 2002 VÀ 2003:
1. Phân tích tình hình biến động vốn lưu động của công ty qua 2 năm 2002 và 2003:
Vốn lưu động là bộ phận cấu thành nên nguồn tài chính, là điều kiện vật chất vật chất
không thể thiếu được của quá trình sản xuất kinh doanh. Do đặc điểm của vốn lưu
động là trong cùng một lúc nó phân bổ trên khắp các giai đoạn luân chuyển và tồn tại
dưới nhiều hình thức khác nhau. Do đó mỗi sự biến động của vốn lưu động ảnh hưởng
đến việc kinh doanh của công ty. Ta xem xét sự biến động của vốn lưu động qua bảng
sau:
* Tốc độ phát triển liên hoàn :
* Tốc độ phát triển định gốc :
Trong đó: Vi : Vốn lưu động năm thứ i
V0 : Vốn lưu động năm gốc
Biểu 1: Bảng phân tích tốc độ tăng giảm của vốn lưu động qua 2 năm 2002-2003
Chỉ tiêu ĐVT 2002 2003
Vốn lưu động 1000đ 642.767.732 1.038.187.256
- Tốc độ phát triển liên hoàn lần 1,08 1,61
- Tốc độ phát triển định gốc '' 1,08 1,61
Qua số liệu ở biểu 1 ta thấy vốn lưu động của công ty có xu hướng tăng lên qua các
năm 2002 và 2003. Năm 2003 tăng 61% so với năm 2002. Điều này là sự tăng nhanh
của vốn lưu động trong lưu thông vì vốn lưu động trong lưu thông chiếm tỷ trọng lớn
trong vốn kinh doanh của công ty, nên việc tăng lên của vốn lưu động thể hiện được
hoạt động của công ty là có hiệu quả, công ty ngày càng mở rộng quy mô nhận bán
hàng hoá nhiều hơn để đầu tư thêm vốn đặc biệt là vốn lưu động để đứng vững trên thị
trường cạnh tranh ngày càng gay gắt.
2. Phân tích kết cấu vốn lưu động theo hình thái biểu hiện:
Kết cấu vốn lưu động được phân bổ hợp lý ở các bộ phận, các khâu ở quá trình sản

xuất kinh doanh sẽ giúp cho công ty thực hiện tốt kế hoạch của mình. Cho nên, việc
đánh giá kết cấu vốn lưu động có ý nghĩa quan trọng trong công tác quản lý sử dụng
vốn lưu động.
Dựa vào hình thái biểu hiện có thể chia vốn lưu động của công ty thành vốn đầu tư
mua hàng hoá và vốn tiền tệ.
Căn cứ vào số liệu trong báo cáo quyết toán có bảng số liệu về kết cấu của vốn lưu
động qua 2 năm từ năm 2002 đến năm 2003.
Biểu 2: Bảng về kết cấu vốn lưu động qua 2 năm 2002 - 2003
Chỉ tiêu 2002 2003
Số tiền TT(%) Số tiền TT(%)
Vốn đầu tư mua hàng hoá 92.767.876 4,15 116.547.337 3,33
Vốn bằng tiền tệ 2.140.036.170 95,85 3.391.416.856 96,67
Tổng VLĐ 2.232.804.046 100 3.507.964.193 100
Qua kết cấu tính toán được cho thấy vốn thiết bị chiếm tỷ trọng thấp hơn rất nhiều so
với vốn tiền tệ trong tổng số vốn lưu động và có xu hướng giảm vào năm 2002. Năm
2002 vốn vật liệu giảm xuống 4,15% so với 11,9% vào năm 2001 và vốn tiền tệ năm
2002 tăng so với năm 2001 lên đến 95,85%. Năm 2003 vốn thiết bị lại giảm xuống còn
3,33% vốn tiền tệ tăng 96,67% điều đó chứng tỏ số lượng hàng hoá mua vào ít, lượng
tiền thu hồi tăng. Vốn tiền tệ nằm trong lĩnh vực lưu thông luôn biến động luân chuyển
không theo một quy luật nhất định nhưng đồng thời thời gian chiếm dụng của nó phụ
thuộc vào mức độ hoàn thành công trình nên công ty cần hoàn thành theo đúng kế
hoạch để hạn chế thời gian luân chuyển của vốn lưu động.
II. PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG
Để đánh giá chính xác hiệu quả của việc sử dụng vốn lưu động của công ty đã đạt
được ở mức độ nào đối với từng loại tài sản lưu động, việc quản lý và sử dụng nó ra
sao, mức độ tác động của nó đến hiệu quả chung, ta lần lượt phân tích các vấn đề sau:
1. Phân tích tình hình sử dụng ngân quỹ:
Vốn bằng tiền đóng vai trò rất quan trọng trong vai trò sản xuất kinh doanh và lắp đặt
của công ty. Nó là phương tiện thanh toán đáp ứng nhu cầu chi tiêu thường xuyên của
công ty ở các khâu: mua thiết bị máy móc các khoản phải trả, các khoản chi phí cho

hoạt động kinh doanh diễn ra liên tục. Bởi vậy công ty cầc dự trữ một khoản tiền nhằm
đáp ứng các nhu cầu chi trả. Khởi điểm của sự kiểm soát đầu tư vào tài sản ngắn hạn là
sự kiểm soát hữu hiệu nguồn ngân quỹ. Việc dự trữ ngân quỹ cũng thể hiện tính hai
mặt là khả năng sinh loại và tính rủi ro.
Nếu công ty dự trữ một lượng tiền khá lớn có thể đáp ứng kịp thời cho hoạt động kinh
doanh như việc mua hàng hóa, giảm các khoản nợ đến hạn Do vậy, nhà quản lý tài
chính phải cân nhắc tính sinh lợi và rủi ro trong việc dự trữ tiền sao cho hiệu quả cao
nhất. Tình hình dự trữ tiền tại công ty được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 3: Bảng phân tích tình hình quản lý ngân quỹ của Công ty
qua 2 năm 2002 - 2003
ĐVT: 1000đ
Vốn bằng tiền 2002 2003 2003 so với 2002
Số tiền TT (%) Số tiền TT (%) Số tuyệt đối TT (%)
1. Tiền mặt 91.216.171 4,26 63.368.782 1,87 -27.847.389 69,47
2. TGNH 2.048.819.999 95,74 3.328.048.074 98,13 1.279.228.075
162,43
Tổng 2.140.03.036 3.391.416.856 1.251.380.686 158,47
Qua bảng số liệu trên ta có nhận xét sau:
Năm 2003 so vớinăm 2002 tổng vốn bằng tiền tăng 58,47% tác tăng 1.251.380.686
đồng, trong đó lượng tiền mặt giảm 30,53% tức giảm -27.847.389 đồng, tiền gởi ngân
hàng tăng 62,43% tức tăng 1.279.228.075 đồng. Nhìn chung tổng lượng vốn qua các
năm đều tăng, điều này chứng tỏ khả năng thu hồi vốn của công ty nhanh sốlượng
hàng hoá dở dang ít tạo điều kiện cho công ty có sự cạnh tranh tốt trong việc nhận bán
hàng.
2. Phân tích tình hình quản lý các khoản phải thu:
Tình hình và khả năng thanh toán doanh nghiệp thể hiện rõ nét chất lượng công tác tài
chính. Nếu hoạt động tài chính tốt doanh nghiệp sẽ ít bị chiếm dụng vốn, ít công nợ,
khả năng thanh toán nhanh. Ngược lại nếu hoạt động tài chính kém thì dẫn đến tình
trạng chiếm dụng vốn lẫn nhau các khoản công nợ phải thu, phải trả sẽ dây dưa kéo
dài. Phân tích tình hình quản lý và sử dụng các khoản phảu thu nhằm đánh giá hợp lý

về biến động các khoản phải thu nhằm đánh giá hợp lý về biến động các khoản phải
thu và tìm ra nguyên nhân dẫn đến sự đình trệ trong thanh toán.
Căn cứ vào bảng cân đối kế toán của công ty qua các năm 2002 và 2003 ta có bảng
phân tích tình hình các khoản phải thu qua 2 năm như sau:
Biểu 4: Bảng phân tích tình hình quản lý các khoản phải thu của
Công ty qua 2002 năm 2003
ĐVT: đồng
Các khoản phải thu 2002 2003 2003 so với 2003
Số tiền TT (%) Số tiền TT (%) Số tuyệt đối Số tương
đối (%)
1. Phải thu khách hàng 446.670.579 65,4 491.690.996 8,86 45.020.417
110.08
2. Phải thu nội bộ 6.137.776.671 89,88 4.612.768.864 83,1 -
1.522.007.807 75.19
3 Phải thu khác 244.368.853 3,58 446.424.561 8,04 202.055.708 182.68
Tổng 682.816.103 5.550.884.421 -1.274.931.682 81.32
Dựa vào số liệu bảng trên ta có nhận xét sau:
Trong năm 2002 tỷ trọng về khoản phải thu của khách hàng giảm từ 14,2% xuống còn
6,54% và lượng tiền thực tế giảm một lượng 174527088 đồng. Nguyên nhân do lượng
tiền phải thu khác của công ty giảm một lượng là 237740264 đồng. Số tiền phải thu
nội bộ tăng một lượng 2863899168 đồng nhưng tổng lượng tiền phải thu vẫn tăng
56,06% tức là tăng một lượng 2451631816 đồng. Năm 2003 tổng các khoản phải thu
là 5550884421 đồng so với năm 2002 giảm 18,67% tức giảm một lượng là
1274931682 đồng. Trong đó: do số tiền phải thu của khách hàng tăng 10,08% tức tăng
một lượng là 45020417 đồng, do phải thu nội bộ giảm một lượng 1522007807 đồng,
do phải thu khác tăng 82,68% tức tăng một lượng 202055708 đồng.
Các chỉ tiêu đánh giá khả năng thu hồi vốn thanh toán của công ty qua 2 năm 2002,
2003.
Số vòng quay khoản phải thu của khách hàng = Doanh thu bán hàng
Phải thu khách hàng bình quân

Kỳ thu tiền bình quân = 365
Số vòng quay khoản thu của KH
Biểu 5: Phân tích tốc độ thu hồi nợ của công ty qua các năm 2002-2003
Chỉ tiêu ĐVT 2002 2003 2003 so với 2002
Số tuyệt đối Số tương đối (%)
1. Doanh thu Đồng 34.667.508.613 40.289.198.825 5.621.690.212
116,22
2. Phải thu của KH Đồng 446.670.579 419.690.996 -26.979.583 93,96
3. Số vòng quay khoản phải thu của KH Vòng/năm 77,61 96 18,39 123,69
4. Kỳ thu tiền bình quân Ngày/vòng 5 4 -1 80
Dựa vào số liệu bảng trên ta rút ra một số nhận xét sau:
Năm 2003 doanh thu tăng 16,22% so với năm 2002 tức tăng 5621690212 đồng, khoản
phải thu của khách hàng giảm 6,14% làm cho tốc độ chu chuyển vốn tăng lên 96
vòng/năm và kỳ thu tiền bình quân giảm 1 ngày/vòng qua đây ta thấy năm 2003 khả
năng thu hồi vốn nhanh có hiệu quả tốt cho việc quản lý vốn.
Tóm lại, qua việc phân tích trên ta thấy trong 2 năm qua việc quản lý các khoản phải
thu đã đạt hiệu quả. Cụ thể là số vòng quay các khoản phải thu của khách hàng tăng và
kỳ thu tiền bình quân giảm không gây nên tình trạng ứ đọng vốn, vốn được lưu chuyển
nhanh. Tuy công ty đã lựa chọn được khách hàng, giảm được khoản phải thu khó đòi
công ty cũng nên đề ra kế hoạch thu hồi nợ hợp lý để tránh tình trạng ứ đọng vốn làm
giảm hiệu quả sử dụng vốn
III. PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG CỦA CÔNG TY CỔ
PHẦN HOÁ CHẤT VLĐ ĐÀ NẴNG VÀO CÁC NĂM 2002 VÀ 2003
Vòng quay của vốn lưu động được xác định kể từ khi bắt đầu bỏ tiền mua máy móc
thiết bị cho đến khi toàn bộ vốn được thu hồi bằng tiền. Như vậy vòng quay vốn lưu
động nhanh hơn vòng quay của vốn cố định nên hiệu quả sử dụng vốn lưu động ảnh
hưởng lớn đến hiệu quả kinh tế của công ty.
Căn cứ vào báo cáo quyết toán của công ty trong các năm 2002 và năm 2003 ta lập
bảng sau:
Biểu 6: Bảng phân tích hiệu quả sử dụng VLĐ của C.ty qua 2 năm 2002 và 2003

Chỉ tiêu Ký hiệu ĐVT 2002 2003 2003 so với 2002
Số tuyệt đối Số tương đối (%)
1. Doanh thu thuần D Đồng 32.635.854.188 22.959.813.175 -
9.676.041.013 70.35
2. Lợi nhuận thuần Ln '' 398.714.516 357.297.474 -41.417.042 89.61
3. VLĐ V '' 550584706 1.038.187.256 487.602.550 188.56
4. Số v2òng quay VLĐ
Vòng 59.27 22.12 -37.15 37.32
5. Mức đảm nhiậm VLĐ
Lần 0.02 0.05 0.03 250
6. Độ dài một vòng quay VLĐ
Ngày 6.16 16.5 10.34 267.86
7. Mức doanh lợi VLĐ
Lần 0.72 0.34 -0.38 47.22
Từ kết quả ở bảng trên, ta có nhận xét sau: trong năm 2003 số vòng quay vốn lưu
động lớn hơn số vòng quay vốn lưu động của năm 2002, nhưng do doanh thu tăng gấp
gần 3 lần tức tăng 21.856.187.677 đồng nên lợi nhuận cũng tăng 187,29% tức tăng
một lượng 259.928.604 đồng. Trong khi mức đảm nhiệm vốn lại giảm 66,67% tức
giảm 0,04 lần mà lợi nhuận đã tăng 259.928.604 đồng đây là tín hiệu cho thấy hiệu
quả của việc sử dụng vốn trong năm 2003.
Trong năm 2003 do doanh thu giảm xuống còn 2.295.813.175 đồng nên lợi nhuận đã
giảm 10,39% tức giảm đi 62,68% tức giảm đi 37,15 vòng, mức đảm nhiệm vốn lưu
động lại tăng 150% tức tăng 0,03 lần, do số lượng hàng chưa hoàn thành còn nhiều
nên doanh thu không cao dẫn đến mức doanh lợi vốn lưu động giảm đi 52,78% tức
giảm đi 0,38 lần; số ngày của vòng quay tăng lên 10,34 ngày. Điều này làm cho vốn ứ
đọng tốc độ chu chuyển vốn lưu động chậm gây nên sự lãng phí trong việc sử dụng
vốn.
Nhìn chung trong 2 năm doanh thu của công ty cao nhưng so với vốn lưu động thì
doanh thu còn thấp. Do hoàn thành lâu năm nên mức độ hoàn thành mỗi năm thấp điều
này làm cho số vòng quay chậm nếu xét tính hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong mỗi

năm thì chưa đạt hiệu quả. Do vậy công ty cần coi lại vấn đề này để nâng cao hiệu quả
hơn nữa trong việc sử dụng vốn.
* Mức tiết kiệm (lãng phí) do tăng (giảm) tốc độ lưu chuyển vốn lưu động trong thời
kỳ hoàn thành hoặc là thời gian của một vòng quay vốn lưu động. Tốc độ luân chuyển
vốn lưu động là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp phản ánh trình độ tổ chức quản lý tài
chính của doanh nghiệp. Thông qua tốc độ luân chuyển vốn lưu động ta có thể biết
được công ty sử dụng tiết kiệm hay lãng phí vốn lưu động.
Chỉ tiêu đánh giá mức tiết kiệm (lãng phí) do tăng giảm tốc độ luân chuyển lưu động
(V).
D1 : Doanh thu kỳ nghiên cứu
L1 : Số vòng quay vốn lưu động kỳ nghiên cứu
L0 : Số vòng quay vốn lưu động kỳ gốc
+ Năm 2003 so với năm 2002:
Như vậy trong năm 2002 công ty đã sử dụng tiết kiệm một lượng vốn là 1.247.488.450
đồng. Trong năm 2003 công ty đã sử dụng lãng phí một lượng vón là 650.589.602
đồng đó là do doanh thu giảm làm cho số vòng quay giảm đi so với số vòng quay của
năm 2002 kết quả là tạo ra sự lãng phí.
IV. PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VỐN LƯU ĐỘNG
Sự biến động của vốn lưu động do ảnh hưởng của nhiều nhân tố, để sử dụng vốn lưu
động có hiệu quả ta phải xem xét những nguyên nhân làm vốn lưu động biến động, từ
đó có biện pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Trước hết ta xem xét các chỉ tiêu sau:
ĐVT: đồng
STT Chỉ tiêu 2002 2003
1 Doanh thu 34.667.508.613 40.289.198.825
2 Lợi nhuận 2.855.921.744 2.715.578.195
3 Thực hiện nghĩa vụ với nhà nước 1.292.825.508 2.207.432.545
4 Nguồn vốn kinh doanh 3.129.972.616 3.246.972.616
Vốn lưu động thay đổi là do sự biến động của các bộ phận cấu thành nên vốn lưu
động, điều này đã phân tích ở phần trước. Bên cạnh đó sự biến động của vốn lưu động

còn do ảnh hưởng trực tiếp của hai nhân tố đó là mức đảm nhiệm vốn lưu động và
doanh thu. Mức đảm nhiệm vốn lưu động biểu hiện việc sử dụng vốn lưu động của
công ty là tiết kiệm hay lãng phí, doanh thu ảnh hưởng của yêu cầu đến sự lãng phí
hay tiết kiệm vốn lưu động.
Từ công thức :
Phương trình tương đối:
Trong đó: V1, V0 : Vốn lưu động kỳ nghiên cứu, kỳ gốc
1, 0 : Mức đảm nhiệm vốn lưu động bình quân kỳ nghiên cứu, kỳ gốc
D1,D0 : Doanh thu thuần kỳ nghiên cứu, kỳ gốc
Dựa vào số liệu đã tính ở biểu 6 thay vào hệ thống chỉ số ta được bảng số liệu sau:
Bảng 7: Bảng phân tích biến động của vốn lưu động
Chỉ tiêu Biến động VLĐ Aính hưởng của mức đảm nhiệm VLĐ Aính
hưởng của doanh thu
Số tuyệt đối Số tương đối (%) Số tuyệt đối Số tương đối (%) Số tuyệt
đối Số tương đối (%)
2003/2002 487.602.550 188,56 578.990.992,5 226,08 -91.388.443 83,4
* Vốn lưu động năm 2003 so với năm 2002 tăng lên 88,56% tức tăng một lượng
487602550 đồng do các nguyên nhân sau:

×