Tải bản đầy đủ (.doc) (81 trang)

NGHIÊN cứu đặc điểm cấu TRÚC tái SINH tự NHIÊN của một số TRẠNG THÁI THẢM THỰC vật và đề XUẤT BIỆN PHÁP kỹ THUẬT NHẰM PHỤC hồi RỪNG

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.08 MB, 81 trang )

- i -
MỤC LỤC
MỤC LỤC i
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục đích nghiên cứu 2
3. Mục tiêu đề tài 2
3.1. Mục tiêu tổng quát 2
3.2. Mục tiêu cụ thể 3
4. Đối tượng nghiên cứu 3
5. Địa điểm và thời gian nghiên cứu 3
6. Ý nghĩa của đề tài 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 4
1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 4
1.1.1.Trên thế giới 4
1.1.2. Ở Việt Nam 8
1.1.3. Nhận xét và đánh giá chung 13
1.2. Tổng quan khu vực nghiên cứu 15
1.2.1. Điều kiện tự nhiên 15
1.2.2. Điều kiện về kinh tế - xã hội 18
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
2.1. Nội dung nghiên cứu 22
2.1.1. Nghiên cứu hiện trạng phân bố và các đặc điểm chủ yếu của một
số trạng thái rừng tại xã Liên Minh và Tràng Xá tại huyện Võ Nhai, tỉnh
Thái Nguyên 22
2.1.2. Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc tầng cây gỗ của đối tượng nghiên
cứu 22
2.1.3. Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên và nhân tố ảnh hưởng tới tái
sinh của đối tượng nghiên cứu 22
2.1.4. Đề xuất và bước đầu áp dụng các biện pháp kỹ thuật phục hồi rừng
cho từng đối tượng rừng 22


2.2. Phương pháp nghiên cứu 23
2.2.1. Quan điểm và cách tiếp cận của đề tài 23
2.2.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể 25
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 32
3.1. Hiện trạng sử dụng đất và rừng tại khu vực nghiên cứu 32
3.1.1. Hiện trang sử dụng đất 32
3.2. Một số đặc điểm về thảm thực vật rừng khu vực nghiên cứu 33
3.2.1. Đặc điểm chung các ô nghiên cứu 34
- ii -
3.1.2 Kết quả đánh giá hiện trạng quản lý rừng và đất rừng tại khu vực
nghiên cứu 35
3.2. Đặc điểm cấu trúc tổ thành tầng cây gỗ và tái sinh tại khu vực nghiên
cứu 36
3.2.1. Đặc điểm cấu trúc tổ thành tầng cây gỗ 36
3.2.2. Đặc điểm tái sinh của các trạng thái tại khu vực nghiên cứu 39
3.3. Nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tái sinh của rừng 50
3.3.1. Nhân tố ảnh hưởng đến tái sinh trạng thái rừng Ic 50
3.3.2. Nhân tố ảnh hưởng đến tái sinh trạng thái rừng IIa 52
3.3.3. Nhân tố ảnh hướng đến tái sinh trạng thái rừng IIb 54
3.4. Đề xuất một số biện pháp kỹ thuật lâm sinh nhằm nâng cao hiệu quả
phục hồi rừng trên cơ sở những đặc điểm cấu trúc rừng đã nghiên cứu 57
3.4.1. Đề xuất một số biện pháp kỹ thuật lâm sinh đối với rừng Ic 57
3.4.2. Đề xuất một số biện pháp kỹ thuật lâm sinh đối với rừng IIa 58
3.4.3. Đề xuất một số biện pháp kỹ thuật lâm sinh đối với rừng IIb 59
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 61
1. Kết luận 61
2. Kiến nghị 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO 64
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt

Nội dung
IIb Trạng thái rừng IIb (rừng phục hồi)
TSTN Tái sinh tự nhiên.
OTC Ô tiêu chuẩn
D
1.3
Đường kính thân cây gỗ cao 1,3 m
H
vn
Chiều cao vút ngọn
D
t
Đường kính tán
ODB Ô dạng bản
QLBVR Quản lý bảo vệ rừng
Tht Thẩu tấu
Thn Thành ngạnh
Hđ Hu đay
Lx Lim xẹt
Ck Cò ke
Kh Kháo
Mn Mắc niễng
B Bứa
Cht Chẹo tía
Bđ Bồ đề
Nn Núc nác
- iii -
Vt Vạng trứng
S Sui
Mt Màng tang

Nr Nhãn rừng
Sa Sảng
Ln Lá nến
Sr Sung rừng
Tr Trám
Sx Sồi xanh
Cn Cứt ngựa
Ss Sau sau
Cc Chân chim
Ng Ngát
Lk Loài khác
Đ Đỏm
Nh Nhọc
Ch Chẩn
Đ Đỏm
Chm Chòi mòi
Ck Cò ke
Ct Côm tầng
TB Trung bình
- iv -
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1. Một số chỉ tiêu khí hậu của khu vực nghiên cứu 17
Bảng 2.1. Ký hiệu độ nhiều của thực bì theo Drude 27
Bảng 3.1. Hiện trạng sử dụng đất tại xã Liên Minh và Tràng
Xá 32
Bảng 3.2: Đặc điểm chung các ô nghiên cứu 34
Bảng 3.3. Tổ thành và mật độ cây gỗ trạng thái rừng phục hồi
IIa tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên 37
Bảng 3.4. Tổ thành cây gỗ trạng thái rừng IIb 38
Bảng 3.5.Tổ thành cây tái sinh ở trạng thái rừng Ic tại huyện

Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên 40
Bảng 3.6. Tổ thành cây tái sinh trạng thái rừng IIa tại huyện
Võ Nhai 41
Bảng 3.7. Tổ thành cây tái sinh trạng thái rừng IIb tại huyện
Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên 42
Bảng 3.8. Kết quả nghiên cứu về triển vọng cây tái sinh 43
Bảng 3.9. Chất lượng, nguồn gốc cây tái sinh tại 2 xã nghiên
cứu 45
Bảng 3.10. Phân bố số cây theo cấp chiều cao 47
Bảng 3.11. Chỉ số đa dạng sinh học cây tái sinh rừng phục hồi
tại Võ Nhai 49
Bảng 3.12. Mật độ của cây bụi, thảm tươi tại huyện Võ Nhai,
tỉnh Thái Nguyên 51
Bảng 3.13. Độ nhiều (hay độ dầy rậm) thảm tươi tại huyện Võ
Nhai, tỉnh Thái Nguyên 51
Bảng 3.14. Cây bụi, thảm tươi trạng thái rừng IIa tại huyện Võ
Nhai 52
Bảng 3.15. Chất lượng tái sinh rừng phục hồi IIa tại huyện Võ
Nhai 53
Bảng 3.16. Ảnh hưởng của cây bụi, thảm tươi trạng thái rừng
IIb tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên 55
Bảng 3.17. Ảnh hưởng của độ tàn che đến sự phân bố tái sinh
trạng thái rừng IIb tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên 56
Bảng 3.18. Ảnh hưởng của độ dốc tới chất lượng cây tái sinh
trạng thái rừng IIb tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên 56
- v -
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1. Sơ đồ các bước tiến hành nghiên cứu của đề tài. 24
Hình 2.2. Hình dạng, kích thước OTC và sơ đồ bố trí ODB
26

Hình 3.1. Biểu đồ mật độ cây tái sinh và cây tái sinh có triển
vọng 44
Hình 3.2. Chất lượng, nguồn gốc cây tái sinh tại 2 xã nghiên
cứu 45
Hình 3.3. Phân bố số cây theo cấp chiều cao 47
Hình 3.4. Chỉ số đa dạng sinh học cây tái sinh rừng phục hồi
tại Võ Nhai 50
- 1 -
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Rừng là một bộ phận quan trọng của môi trường sống là tài sản quý báu của
quốc gia , có khả năng tái tạo rất phong phú, đa dạng có giá trị to lớn nhiều mặt đối
với nền kinh tế quốc dân, văn hoá cộng đồng, du lịch sinh thái nghiên cứu khoa học,
an ninh quốc phòng và chất lượng cuộc sống. Việt Nam nằm trong vành đai khí hậu
nhiệt đới ẩm gió mùa nên có một hệ thực vật rừng vô cùng phong phú và đa dạng,
rừng cung cấp nguồn gỗ, củi, điều hoà khí hậu, tạo ra oxy, điều hoà nước, chống xói
mòn, rửa trôi Bảo vệ môi trường, là nơi cư trú của động thực vật và nơi lưu giữ các
nguồn gen quý hiếm.
Mất

rừng

gây

ra

hậu

quả


nghiêm

trọng,

những

diện

tích
đất

trống

đồi

núi trọc

tăng



nguyên

nhân

gây

ra

hiện


tượng

xói

mòn,

rửa

trôi,


lụt, hạn hán, mất diện tích canh tác, mất đi sự đa dạng sinh học.
Mặc dù diện
tích rừng trồng cũng tăng trong những năm gần đây, song rừng trồng thường có cấu
trúc không ổn định, vai trò bảo vệ môi trường, phòng hộ kém. Hầu

hết

rừng

tự

nhiên
của

Việt

Nam


đều

bị

tác

động,

sự

tác

động

theo

hai hướng

chính

đó,



chặt

chọn
(chặt

cây


đáp

ứng

yêu

cầu

sử

dụng).

Đây



lối

khai thác

hoàn

toàn

tự

do,

phổ


biến


các

vùng



đồng

bào

dân

tộc

thiểu

số

sinh

sống (lấy

gỗ

về


làm

nhà,

làm

củi…).
Cách

thứ

hai



khai

thác

trắng như:

phá

rừng làm

nương

rẫy,

khai


thác

trồng

cây
công

nghiệp,

phá

rừng

tự

nhiên

trồng

rừng công

nghi
ệp…).

Trong

hai

cách


này,
cách

thứ

nhất

rừng

vẫn

còn

tính

chất

đất rừng,

kết

cấu

rừng

bị

phá


vỡ,

rừng

nghèo
kiệt

về

trữ

lượng



chất

lượng,

nhưng vẫn

còn

khả

năng

phục

hồi.


Với

cách

khai
thác

thứ

hai,

rừng

hoàn

toàn

bị

mất trắng,

khó



khả

năng


phục

hồi.
Vai trò của rừng là rất to lớn, thế nhưng trong những năm vừa qua diện tích
rừng tự nhiên của chúng ta ngày càng giảm sút cả về số lượng và chất lượng. Theo
thống kê của Liên Hợp Quốc, hàng năm trên thế giới có 11 triệu ha rừng bị phá huỷ,
riêng khu vực Châu Á Thái Bình Dương hàng năm có 1,8 triệu ha rừng bị phá huỷ,
tương đương mỗi ngày mất đi 5000 ha rừng nhiệt đới. Ở Việt Nam, trong vòng 50
năm qua, diện tích rừng bị suy giảm nghiêm trọng. Năm 1943 độ che phủ của rừng
- 2 -
là 43%, đến năm 1993 chỉ còn 26%. Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến mất rừng là do
chiến tranh, khai thác bừa bãi, đốt nương làm rẫy [3].
Huyện Võ Nhai là thuộc
huyện vùng cao của
tỉnh Thái Nguyên có diện tích
tự
nhiên là 839,23 km
2
; trong đó, đất lâm nghiệp chiếm trên 626,89 km
2
, đất nông
nghiệp 112,28 km
2
, đất phi nông nghiệp 203,28 km
2
và đất chưa sử dụng 163,9km
2
.
Nơi đây rừng đã bị tác động nghiêm trọng của con người làm cho diên tích rừng và
chất lượng rừng bị suy giảm. Những năm gần đây rừng và đất rừng đã được giao

cho tổ chức, cá nhân, hộ gia đình. Từ đó rừng phục hồi đã được tăng dần về diện
tích và bên cạnh đó chất lượng rừng cũng được cải thiện.
Chính vì vậy cần có
những giải pháp thích hợp nhằm phục hồi lại rừng, để rừng có thể phát huy tối đa
những vai trò của nó đảm bảo được lợi ích về mặt sinh thái môi trường và kinh tế
cho người dân sống quanh khu vực. Để làm được điều này thì chúng ta phải hiểu
biết đầy đủ những quy luật sống của hệ sinh thái rừng. Do đó cấu trúc rừng được
xem là cơ sở quan trọng nhất giúp các nhà Lâm Nghiệp có thể chủ động trong việc
xác lập các kế hoạch và biện pháp kỹ thuật tác động chính xác vào rừng để quản lý,
kinh doanh rừng được phát triển bền hơn.
Trước thực tiễn đó, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đặc
điểm cấu trúc tái sinh tự nhiên của một số trạng thái thảm thực vật và đề xuất
biện pháp kỹ thuật nhằm phục hồi rừng ở huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên”
2. Mục đích nghiên cứu
Góp phần nghiên cứu quá trình tái sinh tự nhiên làm cơ sở khoa học cho việc
đề xuất giải pháp lâm sinh thúc đẩy nhanh quá trình diễn thế và nâng cao chất lượng
của rừng phục hồi.
3. Mục tiêu đề tài
3.1. Mục tiêu tổng quát
Cung cấp thêm những thông tin khoa học về phục hồi rừng, nhằm từng bước
nâng cao chất lượng rừng phục hồi tại huyện Võ Nhai nói riêng và tỉnh Thái
Nguyên nói chung.
- 3 -
3.2. Mục tiêu cụ thể
Phân tích được đặc điểm tái sinh trên một số trạng thái thảm thực vật rừng tại
huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.
Đề xuất được một số biện pháp kỹ thuật nhằm đẩy nhanh quá trình diễn thế đi
lên phục hồi rừng ở Thái Nguyên.
4. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài chọn các đối tượng là các trạng thái thảm thực vật rừng thuộc khu rừng

tái sinh tự nhiên, cụ thể tập trung vào các đối tượng Trạng thái Ic; Trạng thái rừng
IIa và trạng thái rừng IIb.
5. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm: Huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
- Thời gian: Từ tháng 5 năm 2012 đến tháng 8 năm 2013
6. Ý nghĩa của đề tài
Nghiên cứu các qui luật tái sinh tự nhiên và bổ sung thêm tư liệu về tái sinh
rừng, phục hồi rừng để bảo vệ nguồn gen duy trì tính đa dạng sinh học và cân bằng
sinh thái trong vùng là hết sức cần thiết, do đó kết quả của nghiên cứu này sẽ góp
phần làm sáng tỏ đặc điểm tái sinh và khả năng phục hồi tự nhiên thảm thực vật tại
khu vực nghiên cứu.
Kết quả nghiên cứu là tư liệu quan trọng để tham khảo trong quá trình phục
hồi rừng tại địa điểm nghiên cứu là khuyến nghị giúp cho người dân địa phương có
những giải pháp phát triển rừng phục hồi một cách tốt nhất.
Thông qua nghiên cứu giúp cho tác giả có được phương pháp tổng hợp tài
liệu, hệ thống hóa những kiến thức đã được học.
- 4 -
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.1.1.Trên thế giới
Tái sinh rừng, phục hồi rừng là một trong những nội dung quan trong nhất của
ngành lâm nghiệp. Lịch sử nghiên cứu tái sinh rừng trên thế giới đã trải qua hàng
trăm năm nhưng với rừng nhiệt đới vấn đề này được tiến hành chủ yếu từ những
năm 30 của thế kỷ trước trở lại đây. Nghiên cứu về tái sinh rừng là những nghiên
cứu rất quan trọng làm cơ sở cho các biện pháp kỹ thuật lâm sinh xây dựng và phát
triển rừng. Tái sinh rừng là một quá trình sinh học mang tính đặc thù của hệ sinh
thái, nó đảm bảo cho nguồn tài nguyên có khả năng tái sản xuất mở rộng nếu con
người nắm bắt được quy luật tái sinh và điều khiển nó phục vụ cho kinh doanh
rừng. Vì vậy, tái sinh rừng trở thành vấn đề then chốt trong việc xác định các

phương thức kinh doanh rừng. Kết quả nghiên cứu của các công trình nghiên cứu về
tái sinh rừng tự nhiên trên thế giới rất nhiều, chúng tôi nêu một số nghiên cứu được
tóm tắt như sau:
- Nghiên cứu về đặc điểm tái sinh. Tái sinh (Regeneration) là một thuật ngữ chỉ
khả năng tự tái tạo, hay sự hồi sinh từ mức độ tế bào đến một quần lạc sinh vật trong tự
nhiên, các tác giả như Jordan, Peter và Allan (1998) sử dụng thuật ngữ này để diễn tả sự
lặp lại của quần xã sinh vật giống như nó đã xuất hiện trong tự nhiên. Tái sinh rừng
(Forestry regeneration) cũng để mô tả sự tái tạo của lớp cây con dưới tán rừng.
Về đặc điểm tái sinh, theo Van Steenis (1956), đối với rừng nhiệt đới có hai
đặc điểm tái sinh phổ biến là tái sinh phân tán liên tục và tái sinh vệt (tái sinh lỗ
trống). Hai đặc điểm này không chỉ thấy ở rừng nguyên sinh mà còn thấy ở cả rừng
thứ sinh - một đối tượng rừng khá phổ biến ở nhiều nước nhiệt đới [28].
Theo Aubréville (1938), nghiên cứu tái sinh tự nhiên ở rừng nhiệt đới Châu
Phi, ông cho rằng “Cây con của loài cây ưu thế trong rừng mưa có thể cực hiếm”.
Tổ thành loài cây mẹ ở tầng trên và tổ thành loài cây tái sinh ở tầng dưới thường
- 5 -
khác nhau rất nhiều. Trong khi đó nghiên cứu của Davi, Ri Sa (1993), Bead (1964)
và RoLe (1969) ở rừng nhiệt đới Nam Mỹ nhận định sự xuất hiện hiện tượng tái
sinh tại chỗ và liên tục của các loài cây và tổ thành loài cây có thể giữ nguyên
không đổi trong một thời gian dài. Sự khác nhau của hai tác giả này có thể lý giải:
nơi tác giả quan sát, khi đó rừng chưa đạt tới giai đoạn ổn định, tổ thành loài cây
chưa ổn định về thành phần loài và ngược lại.
Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu thì hiệu quả của tái sinh rừng được
xác định bởi mật độ, tổ thành loài, cấu trúc tuổi, chất lượng cây con, đặc điểm phân
bố. Sự tương đồng hay khác biệt giữa lớp cây con và tầng cây gỗ được nhiều nhà
khoa học quan tâm như Mibbre-ad (1930), Richards (1952), Baur G.N (1964) và
Rollet (1969) [24].
Theo Van Stennit (1956) thì đặc điểm tái sinh là “tái sinh phân tán, liên tục”,
vì rừng mưa nhiệt đới có tổ thành loài cây phức tạp, khác tuổi nên thời kỳ tái sinh
của quần thể diễn ra quanh năm [28].

- Nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng đến tái sinh. Các nhân tố ảnh hưởng đến
tái sinh được phân tích và chia thành hai nhóm:
Nhóm nhân tố sinh thái ảnh hưởng đến tái sinh và phục hồi rừng không có sự
can thiệp của con người (Baur G. N, 1962; Anden. S (1981)[2]
Theo Aubréville, trong các nhóm yếu tố sinh thái phát sinh quần thể thực vật,
nhóm yếu tố khí hậu - thủy văn là nhóm yếu tố chủ đạo, quyết định hình thái và cấu
trúc của các kiểu thảm thực vật. Nhóm khí hậu - thủy văn gồm các yếu tố quan
trọng nhất là nhiệt độ, ánh sáng, lượng mưa, độ ẩm, chế độ gió,…
Bechse, nhà lâm học người Đức cho rằng “ánh sáng là chiếc đòn bẩy mà nhà
lâm học dùng để điều khiển sự sống của rừng theo hướng có lợi về kinh tế.
Độ khép tán của quần thụ ảnh hưởng trực tiếp đến mật độ và sức sống của cây
con. Andel.S (1981) chứng minh độ đầy tối ưu cho sự phát triển bình thường của
cây gỗ là 0,6 - 0,7. V.G.Karpov (1969) còn khẳng định “ độ khép tán của quần thụ
ảnh hưởng trực tiếp đến mật độ và sức sống của cây con”. Ngoài những nhân tố
sinh thái thì trong tái sinh rừng các nhân tố như: Thảm tươi, cây bụi, động vật ăn hạt
- 6 -
cũng có ảnh hưởng rõ rệt đến tái sinh tự nhiên (Xannikov (1976), Vipper (1973),
Mishra và Sharma (1994).
Khi nghiên cứu phân tích ảnh hưởng của các nhân tố sinh thái đến tái sinh tự
nhiên. Trong đó nhân tố ánh sáng (thông qua độ tàn che của rừng), độ ẩm của đất,
kết cấu quần thụ, cây bụi, thảm tươi được đề cập thường xuyên. Baur G.N cho rằng,
trong rừng nhiệt đới sự thiếu hụt ánh sáng ảnh hưởng đến phát triển của cây con còn
đối với sự nảy mầm, ảnh hưởng này thường không rõ ràng [2].
∗ Nhóm nhân tố sinh thái ảnh hưởng đến tái sinh và phục hồi rừng có sự can
thiệp của con người. Các nhà lâm học như: Gorxenhin (1972, 1976); Belop (1982)
đã xây dựng thành công nhiều phương thức tái sinh và phục hồi rừng nghèo kiệt;
đáng chú ý là một số công trình nghiên cứu của Maslacop E.L (1981) về "phục hồi
rừng trên các khu khai thác", Melekhop I.C (1966) về "ảnh hưởng của cháy rừng tới
quá trình tái sinh phục hồi rừng", Pabedinxkion (1966) về "phương pháp nghiên cứu
quá trình phục hồi rừng". Myiawaki (1993), Yu cùng các cộng sự (1994), Goosem

và Tucker (1995), Sun và cộng sự (1995), Kooyman (1996) cũng đã đưa ra nhiều
hướng tiếp cận nhằm phục hồi hệ sinh thái rừng đã bị tác động ở vùng nhiệt đới.
Kết quả ban đầu của những nghiên cứu này đã tạo nên những khu rừng có cấu trúc
và làm tăng mức độ đa dạng về loài. Tuy nhiên, hạn chế của chúng là không thể áp
dụng trên quy mô rộng, bởi các yêu cầu về nhân công và các nguồn lực khác trong
quá trình thực hiện.
- Nghiên cứu về điều tra, đánh giá tái sinh tự nhiên: Có nhiều phương pháp
khác nhau để xác định mật độ cây tái sinh như: ô dạng bản theo hệ thống với diện
tích ô đo đếm điều tra tái sinh từ 1 đến 4 m
2
. Do diện tích ô nhỏ nên việc đo đếm
gặp nhiều thuận lợi nhưng số lượng ô phải đủ lớn và trải đều trên diện tích khu rừng
mới phản ánh trung thực tình hình tái sinh rừng.
Richards P.W (1952) đã tổng kết việc nghiên cứu tái sinh trên các ô dạng bản
và phân bố tái sinh tự nhiên ở rừng nhiệt đới. Để giảm sai số trong khi thống kê tái
sinh tự nhiên, Barnard (1955) đã đề nghị một phương pháp "điều tra chẩn đoán" mà
theo đó kích thước ô đo đếm có thể thay đổi tuỳ theo giai đoạn phát triển của cây tái
- 7 -
sinh ở các trạng thái rừng khác nhau. Richards P.W (1952) và Barnard (1974) tổng
kết các kết quả nghiên cứu về tái sinh tự nhiên đã nhận xét: Trong các ô kích thước
nhỏ có phân bố dạng cụm, một số ít phân bố Poison [13].
Ở Châu Phi trên cơ sở các dữ liệu thu thập Taylor (1954), Barnard (1955) xác
định cây tái sinh trong rừng nhiệt đới thiếu hụt cần thiết phải bổ sung bằng trồng
rừng nhân tạo, ngược lại một số tác giả nghiên cứu tái sinh tự nhiên rừng nhiệt đới
châu Á như Bara (1954), Budowski (1956), có nhận định, dưới tán rừng nhiệt đới
nhìn chung có đủ lượng cây tái sinh có giá trị kinh tế, nên việc đề xuất các biện
pháp lâm sinh để bảo vệ lớp cây tái sinh dưới tán rừng là rất cần thiết. Nhờ những
nghiên cứu này nhiều biện pháp tác động vào lớp cây tái sinh đã được xây dựng và
đem lại hiệu quả đáng kể.
- Phương thức lâm sinh liên quan đến tái sinh phục hồi rừng: Vấn đề tái

sinh rừng nhiệt đới được thảo luận nhiều nhất là hiệu quả của các phương thức xử lý
lâm sinh liên quan đến tái sinh của các loài cây mục đích ở các kiểu rừng. Từ kết
quả nghiên cứu kiểu tái sinh các nhà lâm sinh học đã xây dựng thành công nhiều
phương thức chặt tái sinh như: Công trình của Bernard (1954, 1959), Wyatt Smith
(1961, 1963) với phương thức kinh doanh rừng đều tuổi ở Mã Lai; Nicholson
(1958) ở Bắc Borneo; Taylor (1954), Jones (1960) phương thức chặt dần tái sinh
dưới tán ở Nijêria và Gana; Barnarji (1959) với phương thức chặt dần nâng cao vòm
lá ở Andamann; Donis và Maudouz (1951, 1954) với phương thức đồng nhất hóa
tầng trên ở Java.
Các phương thức lâm sinh cho phục hồi và phát triển rừng tự nhiên có hai
dạng chính: (i) Duy trì cấu trúc rừng tự nhiên không đều tuổi bằng cách lợi dụng lớp
thảm thực vật tự nhiên hiện có và sự thuận lợi về điều kiện tự nhiên để thực hiện tái
sinh tự nhiên, xúc tiến tái sinh tự nhiên hoặc trồng bổ sung. Ngoài ra còn có thể sử
dụng phương thức chặt chọn từng cây hay từng đám, phương thức cải thiện quần
thể và chặt nuôi dưỡng rừng tự nhiên để dẫn dắt rừng có cấu trúc gần với cấu trúc
của rừng tự nhiên nguyên sinh. (ii)- Tác động rừng theo hướng đều tuổi, có một
hoặc một số loài cây bằng phương thức chủ yếu là cải biến tổ thành rừng tự nhiên,
- 8 -
tạo lập rừng đều tuổi bằng tái sinh tự nhiên đều tuổi, như các phương thức chặt dần
tái sinh dưới tán rừng nhiệt đới; phương thức cải tạo rừng bằng chặt trắng trồng lại;
phương thức trồng rừng kết hợp với nông nghiệp (Taungya).
1.1.2. Ở Việt Nam
Ở Việt Nam, tái sinh rừng đã đươc quan tâm nghiên cứu từ những thập kỷ 60
của thế kỷ trước. Kết quả nghiên cứu có thể tóm tắt như sau:
- Nghiên cứu về đặc điểm tái sinh rừng: Các kết quả nghiên cứu được
Nguyễn Vạn Thường (1991) tổng kết về tình hình tái sinh tự nhiên của một số khu
rừng ở miền Bắc Việt Nam; hiện tượng tái sinh dưới tán rừng của một số loài cây
gỗ đã tiếp diễn liên tục, không mang tính chu kỳ, sự phân bố số cây tái sinh không
đều tuổi, số cây mạ có chiều cao < 20cm chiếm ưu thế rõ rệt so với lớp cây ở cấp
kích thước khác nhau. Những loại cây gỗ mềm, ưa sáng mọc nhanh có khuynh

hướng phát triển mạnh và chiếm ưu thế trong lớp cây tái sinh. Những loại cây gỗ
cứng, sinh trưởng chậm chiếm tỷ lệ thấp và phân bố tản mạn.
Nguyễn Văn Trương (1983) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa lớp cây tái sinh
với tầng cây gỗ và quy luật đào thải tự nhiên dưới tán rừng. Ông nhận xét: cần phải
thay đổi cách khai thác rừng cho hợp lý vừa cung cấp được gỗ, vừa nuôi dưỡng và tái
sinh được rừng. Muốn đảm bảo cho rừng phát triển liên tục trong điều kiện quy luật
đào thải tự nhiên hoạt động thì rõ ràng là số lượng lớp cây dưới phải nhiều hơn lớp
cây kế tiếp nó ở phía trên. Điều kiện này không thực hiện được trong rừng tự nhiên
ổn định mà chỉ có trong rừng chuẩn có hiện tượng tái sinh liên tục đã được sự điều
tiết khéo léo của con người [21].
Vũ Tiến Hinh (1991), nghiên cứu đặc điểm quá trình tái sinh của rừng tự
nhiên ở Hữu Lũng (Lạng Sơn) và vùng Ba Chẽ (Quảng Ninh) đã nhận xét: hệ số tổ
thành tính theo % số cây của tầng tái sinh và tầng cây cao có liên hệ chặt chẽ. Đa phần
các loài có hệ số tổ thành tầng cây cao càng lớn thì hệ số tổ thành tầng tái sinh cũng vậy
[6].
Lê Đồng Tấn - Đỗ Hữu Thư (1995) nghiên cứu thảm thực vật tái sinh trên đất
sau nương rẫy tại Sơn La qua 3 giai đoạn phát triển: giai đoạn I (tuổi từ 4 đến 5),
- 9 -
giai đoạn II (tuổi 9 đến 10), giai đoạn III (tuổi 14 đến 15) và nhận xét: Trong 15
năm đầu, thảm thực vật tái sinh trên đất sau nương rẫy có số lượng loài đều tăng lên
qua các giai đoạn phát triển. Sau 3 giai đoạn phát triển thảm thực vật tái sinh trên
đất sau nương rẫy thể hiện một quá trình thay thế tổ thành rất rõ ràng, lượng tăng
trưởng của thảm thực vật không cao.
Căn cứ vào nguồn giống, người ta phân chia ra 3 mức độ tái sinh: (i) tái sinh
nhân tạo, (ii) tái sinh bán nhân tạo (xúc tiến TSTN), (iii) tái sinh tự nhiên. Theo
Phùng Ngọc Lan (1986) [8], biểu hiện đặc trưng của tái sinh rừng là sự xuất hiện
một thế hệ cây của những loài cây ở những nơi còn hoàn cảnh rừng, còn Trần Xuân
Thiệp (1995) cho rằng, nếu thành phần cây tái sinh giống như thành phần cây đứng
thì đó là quá trình thay thế một thế hệ cây này bằng thế hệ cây khác.
Như vây, đặc điểm cơ bản của quá trình này là lớp cây con đều có nguồn gốc

từ hạt và chồi sẵn có, kể cả trong trường hợp tái sinh nhân tạo.
- Nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng đến tái sinh: Theo Thái Văn Trừng
(1978) đã xây dựng quan niệm “Sinh thái phát sinh quần thể ” trong thảm thực vật
rừng nhiệt đới và vận dụng để xây dựng biểu phân loại thảm thực vật rừng Việt
Nam. Theo tác giả một công trình nghiên cứu về thảm thực vật mà không đề cập
đến hoàn cảnh thì đó là một công trình hình thức, không có lợi ích thực tiễn. Trong
các nhân tố sinh thái thì ánh sáng là nhân tố quan trọng khống chế và điều khiển quá
trình tái sinh tự nhiên cả ở rừng nguyên sinh và rừng thứ sinh [20].
Nếu các điều kiện khác của môi trường như đất rừng, nhiệt độ, độ ẩm dưới tán
rừng chưa thay đổi thì tổ hợp các loài cây tái sinh không có những biến đổi lớn và
cũng không diễn thế một cách tuần hoàn trong không gian và theo thời gian mà diễn
thế theo những phương thức tái sinh có qui luật nhân quả giữa sinh vật và môi
trường.
Một số tác giả trong nước đã nghiên cứu về mối quan hệ giữa địa hình và khả
năng tái sinh tự nhiên của thực vật: Ngô Quang Đê, Lê Văn Toán, Phạm Xuân Hoàn
(1994) nghiên cứu mật độ cá thể và số lượng loài cây phục hồi sau nương rẫy bỏ hóa
- 10 -
tại Con Cuông - Nghệ An; Lâm Phúc Cố (1996) nghiên cứu ở Púng Luông - Yên
Bái; Phùng Tửu Bôi - Trần Xuân Thiệp (1997) nghiên cứu ở vùng Bắc Trung Bộ.
Mặt khác, theo Thái Văn Trừng [20] một kiểu thảm thực vật có xuất hiện hay
không trước hết phụ thuộc vào khu hệ thực vật ở đó và điều kiện khí hậu thổ
nhưỡng thích hợp. Việc tái sinh phục hồi lại rừng trên đất chưa có rừng ngoài việc
bị chi phối bởi khu hệ thực vật thì nó còn chịu ảnh hưởng bởi khoảng cách từ nơi đó
đến các khu rừng lân cận. Thực vật có khả năng tự phát tán để gieo giống hoặc gieo
giống nhờ gió, nhờ nước, nhờ động vật. Tuy vậy, phạm vi phát tán để gieo giống
của bất kỳ cách thức nào cũng không phải là vô hạn, nên khoảng cách càng xa thì
khả năng tái sinh của thực vật càng kém vì càng xa thì mật độ hạt giống đưa đến
càng thấp. Phạm Ngọc Thường (2001) [18] đã nghiên cứu mối liên quan giữa
khoảng cách từ nguồn giống tự nhiên đến khu vực tái sinh trên đất sau canh tác
nương rẫy và kết luận: “khoảng cách từ nơi tái sinh đến nguồn cung cấp giống càng

xa thì mật độ và số loài cây tái sinh càng thấp”.
Trần Ngũ Phương (1970), khi nghiên cứu về kiểu rừng nhiệt đới mưa mùa lá
rộng thường xanh đã có nhận xét: “Rừng tự nhiên dưới tác động của con người khai
thác hoặc làm nương rẫy, lặp đi lặp lại nhiều lần thì kết quả cuối cùng là sự hình
thành đất trống, đồi núi trọc. Nếu chúng ta để thảm thực vật hoang dã tự nó phát
triển lại thì sau một thời gian dài trảm cây bụi, trảng cỏ sẽ chuyển dần lên những
dạng thực bì cao hơn thông qua quá trình tái sinh tự nhiên và cuối cùng rừng khí
hậu sẽ có thể phục hồi dưới dạng gần giống rừng khí hậu ban đầu”[10].
Trần Ngũ Phương (2000), khi nghiên cứu các quy luật phát triển rừng tự nhiên
miền Bắc Việt Nam đã nhấn mạnh quá trình diễn thế thứ sinh của rừng tự nhiên như
sau: “Trường hợp rừng tự nhiên có nhiều tầng khi tầng trên già cỗi, tàn lụi rồi tiêu
vong thì tầng kế tiếp sẽ thay thế; trường hợp nếu chỉ có một tầng thì trong khi nó
già cỗi một lớp cây con tái sinh xuất hiện và sẽ thay thế nó sau khi nó tiêu vong,
hoặc cũng có thể một thảm thực vật trung gian xuất hiện thay thế, nhưng về sau
dưới lớp thảm thực vật trung gian này sẽ xuất hiện một lớp cây con tái sinh lại rừng
- 11 -
cũ trong tương lai và sẽ thay thế thảm thực vật trung gian này, lúc bấy giờ rừng cũ
sẽ được phục hồi” [11].
Nghiên cứu sự biến động về mật độ và tổ thành loài tái sinh trong các trạng
thái thực bì ở tỉnh Quảng Ninh, Nguyễn Thế Hưng (2003), nhận xét trong lớp cây
tái sinh tự nhiên ở rừng non phục hồi thành phần loài cây ưa sáng cực đoan giảm
nhường chỗ cho nhiều loài cây ưa sáng sống định cư và có đời sống dài chiếm tỉ lệ
lớn, thậm chí trong tổ thành cây tái sinh đã xuất hiện một số loài chịu bóng sống
dưới tán rừng như Bứa, Ngát. Sự có mặt với tần số khá cao của một số loài ưa sáng
định cư và một số loài chịu bóng là dấu hiệu chuyển biến tích cực của diễn thế rừng.
Tuy nhiên, cây có triển vọng thuộc nhóm loài ưa sáng còn chiếm tỉ lệ cao trong các
quần xã này.
Tìm hiểu đặc điểm quá trình tái sinh, diễn thế tự nhiên của thảm thực vật cây
gỗ trên đất bỏ hoá sau canh tác nương rẫy ở Bắc Kạn. Tác giả Phạm Ngọc Thường
(2003) cho rằng: Tổ thành cây gỗ phụ thuộc vào mức độ thoái hoá đất. Phân bố số

cây tái sinh theo cấp chiều cao có dạng một đỉnh, từ giai đoạn II (3-6 năm), đến giai
đoạn V (12-15 năm) được mô tả bởi phân bố Weibull. Phân bố số cây theo mặt phẳng
ngang dưới 7 năm là phân bố cụm, từ 7-15 năm là phân bố ngẫu nhiên và có xu
hướng tiến dần đến phân bố đều. Mật độ tái sinh giảm dần theo thời gian phục hồi.
Từ kết quả trên tác giả cho biết nếu sau nương rẫy thảm thực vật tái sinh không bị
phá hoại thì rừng thứ sinh được phục hồi thông qua con đường tái sinh tự nhiên là
thuận lợi. Tuy nhiên, do tổ thành loài đơn giản nên trong điều kiện cho phép cần xúc
tiến tái sinh tự nhiên bằng biện pháp tra dặm hạt giống, phát dây leo bụi dậm, kết hợp
trồng bổ sung cây có giá trị kinh tế để nâng cao năng suất chất lượng rừng [19].
- Nghiên cứu về điều tra, đánh giá tái sinh tự nhiên: Từ năm 1962 - 1967
Cục điều tra quy hoạch rừng (nay là Viện Điều tra quy hoạch rừng) đã điều tra tái
sinh tự nhiên trên một số vùng thuộc tỉnh Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An, Yên Bái
và Quảng Ninh với sự tư vấn của chuyên gia Hà Cự Trung - Trung Quốc. Phương
pháp tiến hành là điều tra khu tiêu chuẩn điển hình của các trạng thái rừng, trên cơ
sở sử dụng ô điều tra 2.000 m
2
diện tích đo đếm tái sinh 100 - 125 m
2
kết hợp với
- 12 -
điều tra theo tuyến. Dựa vào các tài liệu đã thu thập ngoài rừng, các tác giả tiến
hành phân tích, tính toán những chỉ tiêu cây đứng và cây tái sinh, phân chia các loại
hình thực vật rừng và dựa trên cơ sở đó nhận xét thực trạng rừng, đánh giá tình hình
tái sinh tự nhiên và đề xuất biện pháp kinh doanh [23].
Trong thời gian từ năm 1962 đến năm 1969, Viện Điều tra - Quy hoạch rừng đã
điều tra tái sinh tự nhiên theo các "loại hình thực vật ưu thế" rừng thứ sinh ở Yên Bái
(1965), Hà Tĩnh (1966), Quảng Bình (1969) và Lạng Sơn (1969). Đáng chú ý là kết
quả điều tra tái sinh tự nhiên ở vùng sông Hiếu (1962-1964) bằng phương pháp đo
đếm điển hình. Từ kết quả điều tra tái sinh, dựa vào mật độ cây tái sinh, Vũ Đình Huề
(1969) đã phân chia khả năng tái sinh rừng thành 5 cấp, rất tốt, tốt, trung bình, xấu và

rất xấu. Nhìn chung nghiên cứu này mới chỉ chú trọng đến số lượng mà chưa đề cập
đến chất lượng cây tái sinh. Cũng từ kết quả điều tra trên, Vũ Đình Huề (1975) đã
tổng kết và rút ra nhận xét, tái sinh tự nhiên rừng miền Bắc Việt Nam tác giả đã xây
dựng biểu đánh giá tái sinh áp dụng cho các đối tượng rừng lá rộng, miền Bắc.
Lê Đồng Tấn (1993-1999), nghiên cứu quá trình phục hồi tự nhiên một số
quần xã thực vật sau nương rẫy tại Sơn La theo phương pháp kết hợp điều tra ô tiêu
chuẩn 400m2 cho các đối tượng là thảm thực vật phục hồi sau nương rẫy và theo
dõi ô định vị 2000m2. Tác giả kết luận: mật độ cây tái sinh giảm dần từ chân đồi lên
đỉnh đồi. Tổ hợp loài cây ưu thế trên ba vị trí địa hình và 3 cấp độ dốc là giống
nhau. Sự khác nhau chính là hệ số tổ thành các loài trong tổ hợp đó.
Đỗ Thị Ngọc Lệ (2009), thử nghiệm một số phương pháp điều tra tái sinh rừng
tự nhiên. Kết quả nghiên cứu cho thấy, các phương pháp điều tra tái sinh khác nhau
sẽ thu được những số liệu biểu thị tái sinh khác nhau về tổ thành, mật độ, nguồn
gốc, chất lượng và hình thái phân bố cây tái sinh. Căn cứ vào sai số giữa các chỉ tiêu
biểu thị tái sinh ở các phương pháp điều tra với phương pháp điều tra toàn diện trên
6 ô tiêu chuấn có diện tích 1000m
2
, tác giả đã lựa chọn được hai phương pháp phù
hợp là phương pháp điều tra 5 ô dạng bản với diện tích mỗi ô là 25m
2
(5x5m) và
phương pháp điều tra theo dải để điều tra tái sinh rừng tự nhiên.
- 13 -
- Nghiên cứu về giải pháp về tái sinh phục hồi rừng: Các nghiên cứu liên
quan đến phục hồi rừng tự nhiên ở Việt Nam đã được bắt đầu từ những năm 1960,
các đề tài nghiên cứu về phân loại rừng, nghiên cứu cấu trúc, động thái các kỹ thuật
khai thác bảo đảm tái sinh, kỹ thuật làm giàu rừng, với các hệ sinh thái rừng đặc
trưng của Việt Nam. Trong giai đoạn 1991 - 2000, các nghiên cứu về rừng tự nhiên
hầu như bị gián đoạn để tập trung cho nghiên cứu trồng rừng, bắt đầu từ năm 2001
trở lại đây, các nghiên cứu về rừng tự nhiên mới được khởi động trở lại.

Trong một công trình nghiên cứu về cấu trúc, tăng trưởng trữ lượng và tái sinh tự
nhiên rừng thường xanh lá rộng hỗn loài ở ba vùng kinh tế (sông Hiếu, Yên Bái và
Lạng Sơn), Nguyễn Duy Chuyên (1988) đã khái quát đặc điểm phân bố của nhiều loài
cây có giá trị kinh doanh và biểu diễn bằng các hàm lý thuyết. Từ đó làm cơ sở định
hướng các giải pháp lâm sinh cho các vùng sản xuất nguyên liệu. Tiếp theo, sự ra đời
của thuật ngữ phục hồi rừng bằng “khoanh nuôi xúc tiến tái sinh” những năm 1990 được
coi như một bước tiến vượt bậc về mặt khoa học trong phục hồi rừng khi hàng loạt công
trình nghiên cứu về lĩnh vực này được triển khai và tập trung theo hai hướng chủ yếu.
Tập trung nghiên cứu triển khai bao gồm việc phân loại đối tượng, đề xuất các
biện pháp cũng như các quy trình kỹ thuật nhằm phục hồi rừng bằng khoanh nuôi; điển
hình trong số đó là hai đề tài nghiên cứu cấp Nhà nước thuộc Chương trình lâm nghiệp
tổng hợp, mã số 04.01, giai đoạn 1986-1990 và Chương trình khôi phục và phát triển
rừng, giai đoạn 1991-1995. Một số nghiên cứu điển hình khác của Trung tâm Khoa học
sản xuất lâm nghiệp Tây Bắc (1992), Trần Đình Đại (1990), Trần Đình Lý (1995),
Viện điều tra quy hoạch rừng (1998), Phạm Ngọc Thường (2001-2003), v.v
Kết quả nghiên cứu của các đề tài trên không chỉ là tiền đề cho các hoạt động
khoanh nuôi phục hồi rừng mà còn đặt nền móng cho sự ra đời của các quy phạm về
phục hồi rừng đã được Nhà nước ban hành trong những năm 1990, bao gồm quy
phạm "Các giải pháp kỹ thuật lâm sinh áp dụng cho rừng sản xuất gỗ và tre nứa" và
"Phục hồi rừng bằng khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên kết hợp trồng bổ sung".
1.1.3. Nhận xét và đánh giá chung
- 14 -
Điểm qua các công trình nghiên cứu ở các nước trên thế giới cho thấy vì còn
thiếu những nghiên cứu cụ thể về tái sinh cho từng trạng thái thực vật khác nhau, ở
vị trí địa lý khác nhau mà những biện pháp kỹ thuật lâm sinh thường không được áp
dụng hoặc được áp dụng một cách hình thức và không đạt được hiệu quả như mong
muốn. Bên cạnh đó, các yếu tố về kinh tế - xã hội nhạy cảm nhất với các giải pháp
phục hồi rừng thường liên quan đến chính sách về quyền sở hữu và sử dụng rừng,
chia sẻ lợi ích từ rừng, thuế tài nguyên, sự tham gia của cộng đồng trong quản lý
rừng, vì vậy, trong một số trường hợp, người ta đã coi trọng những giải pháp kinh tế

- xã hội hơn là các nghiên cứu về đặc điểm tự nhiên của thực vật
Các nghiên cứu liên quan đến phục hồi rừng tự nhiên ở Việt Nam đã được bắt
đầu từ những năm 1960, các đề tài nghiên cứu về phân loại rừng, nghiên cứu cấu
trúc, động thái các kỹ thuật khai thác bảo đảm tái sinh, kỹ thuật làm giàu rừng, với
các hệ sinh thái rừng đặc trưng của Việt Nam. Đã khái quát đặc điểm phân bố của
nhiều loài cây có giá trị kinh doanh và biểu diễn bằng các hàm lý thuyết. Từ đó làm cơ
sở định hướng các giải pháp lâm sinh cho các vùng sản xuất nguyên liệu. Tiếp theo, sự
ra đời của thuật ngữ phục hồi rừng bằng “khoanh nuôi xúc tiến tái sinh” những năm
1990 được coi như một bước tiến vượt bậc về mặt khoa học trong phục hồi rừng khi
hàng loạt công trình nghiên cứu về lĩnh vực này .
Kết quả nghiên cứu của các đề tài trên không chỉ là tiền đề cho các hoạt động
khoanh nuôi phục hồi rừng mà còn đặt nền móng cho sự ra đời của các quy phạm về
phục hồi rừng đã được Nhà nước ban hành trong những năm 1990, bao gồm quy
phạm "Các giải pháp kỹ thuật lâm sinh áp dụng cho rừng sản xuất gỗ và tre nứa" và
"Phục hồi rừng bằng khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên kết hợp trồng bổ sung".
Tóm lại, các công trình nghiên cứu về tái sinh rừng trên đây đã làm sáng tỏ
phần nào cho chúng ta để hiểu biết về đặc điểm tái sinh rừng, các nhân tố ảnh
hưởng đến tái sinh rừng, các phương pháp điều tra đánh giá tái sinh rừng Tuy
nhiên các nghiên cứu về đặc điểm tái sinh ở khu vực miền núi phía bắc còn ít ỏi và
tản mạn, hạn chế này gây khó khăn cho thực tiễn sản xuất, cụ thể là: (i) chưa tìm ra
đặc điểm, quy luật tái sinh và đặc trưng riêng của từng vùng miền, (ii) chưa có các
giải pháp đồng bộ và hiệu quả như mong muốn cho từng đối tượng cụ thể, (iii) còn
nhầm lẫn trong đối tượng phục hồi rừng
- 15 -
Xuất phát từ những tồn tại nêu trên, việc nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu đặc
điểm cấu trúc tái sinh tự nhiên của một số trạng thái thảm thực vật và đề xuất
biện pháp kỹ thuật nhằm phục hồi rừng ở huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên” là
hướng đi đúng đắn và thiết thực trong công tác phục hồi và phát triển rừng bằng
một số biện pháp kỹ thuật xúc tiến tái sinh tự nhiên với tất cả những lý do đó đề tài
đặt ra là rất cần thiết và có ý nghĩa quan trọng.

1.2. Tổng quan khu vực nghiên cứu
1.2.1. Điều kiện tự nhiên
1.2.1.1. Vị trí địa lý
Huyện Võ Nhai là huyện vùng cao của tỉnh Thái Nguyên, nằm ở phía Đông
Bắc của tỉnh Thái Nguyên có vị trí địa lý 105
o
17

– 106
o
17

kinh độ đông; 21
o
36


21
o
56

vĩ độ bắc. Ranh giới của huyện Võ Nhai: Phía Bắc giáp huyện Chợ Mới và Na
Rì tỉnh Bắc Kạn; Phía Nam giáp huyện Yên Thế tỉnh Bắc Giang; Phía Tây giáp huyện
Đồng Hỷ và huyện Phú Lương; Phía Đông giáp huyện Bình Gia, Bắc Sơn, Hữu Lũng
tỉnh Lạng Sơn. Huyện có 14 xã và 1 thị trấn (11 xã vùng cao, 4 xã, thi trấn miền núi).
1.2.1.2. Địa hình
Địa hình, địa thế của huyện Võ Nhai khá phức tạp chủ yếu là đồi núi hình
thành 3 vùng rõ rệt: Vùng núi cao gồm 6 xã: Nghinh Tường, Sảng Mộc, Thượng
Nung, Cúc Đường, Thần Sa, Vũ Chấn có đất rừng đa dạng với tập đoàn cây phong
phú tạo nên cảnh đẹp tự nhiên. Nơi đây có khối núi đá vôi đồ sộ ở xã Thượng Nung

rộng tới 3.000 ha, độ cao từ 500 – 600 m kéo dài từ Thần Sa qua Nghinh Tường đến
Liêm Thủy huyện Na Rì tỉnh Bắc Kạn; Vùng thấp gồm 4 xã, thi trấn: La Hiên, Lâu
Thượng, Phú Thượng và thị trấn Đình Cả có địa hình tương đối bằng phẳng được
tạo nên bởi những thung lũng chạy dọc theo quốc lộ 1B hai bên dãy núi cao có độ
dốc lớn; Vùng gò đồi gồm 5 xã: Tràng Xá, Liên Minh, Dân Tiến, Bình Long,
Phương Giao có nhiều đồi đất hình bát úp bị chia cắt bởi các dòng sông, khe suối và
xen lẫn núi đá vôi.
- Ranh giới của 2 xã nghiên cứu:
+ Xã Liên Minh là một xã miền núi của huyện Võ Nhai nằm ở phía Nam của
huyện Võ Nhai cách trung tâm huyện 20 km. Ranh giới Phía Đông Bắc giáp xã
- 16 -
Tràng Xá; Phía Đông Nam giáp xã Dân Tiến; Phía Tây Nam giáp với xã Cây Thị và
Hợp Tiến huyện Đồng Hỷ; Phía Tây giáp với xã Văn Hán huyện Đồng Hỷ; Phía
Tây Bắc giáp với xã Lâu Thượng.
+ Xã Tràng Xá là xã vùng cao của huyện Võ Nhai nằm ở phía đông nam của
huyện, trung tâm xã cách trung tâm huyện 15 km. Ranh giới phía bắc và đông bắc
giáp với thị trấn Đình Cả và xã Phú Thượng, ở một đoạn nhỏ phía đông giáp với xã
Phương Giao, phía đông nam và nam giáp với xã Dân Tiến, phía tây giáp với xã
Liên Minh và xã Lâu Thượng.
1.2.1.3. Thổ nhưỡng
* Thổ nhưỡng
Căn cứ vào kết quả tổng hợp từ bản đồ thổ nhưỡng tỷ lệ 1/50.000 của Tỉnh
Thái Nguyên huyện Võ Nhai có một số loại đất chính sau: Võ Nhai có lịch sử hình
thành đất đai khác nhau, nhưng đều có đặc điểm chung của sản phẩm phong hoá
nhiệt đới ẩm, tầng đất rất mỏng, tỷ lệ đá lẫn nhiều.
Qua khảo sát, điều tra tại các khu vực nghiên cứu, có các loại đất sau: Đất
feralit vàng đỏ phát triển trên các loại đá biến chất và phiến thạch sét, tầng đất mỏng
hoặc trung bình, thành phần cơ giới từ thịt nhẹ tới thịt nặng; Đất feralit màu đỏ nâu
phát triển trên đá vôi có tầng mỏng; Đất feralit mùn màu xám đen trên núi đất thấp;
Đất nâu vàng trên phù sa cổ loại đất này thường tập chung ở những nơi có độ dốc

thấp ≤ 8
o
đất bồi tụ ven sông suối và dốc tụ ven chân đồi núi. Loại đất này có tầng
dày, thành phần cơ giới từ thịt nặng hoặc đất cát pha.
Tóm lại, khu vực nghiên cứu do địa hình chia cắt mạnh, độ dốc bình quân lớn
nên dễ bị xói mòn, rửa trôi đất mặt.
Đất đai là nguồn tài nguyên đặc biệt, là tư liệu sản sản xuất và không thể thay thế
được trong sản xuất nông nghiệp. Huyện Võ Nhai người dân sinh sống chủ yếu bằng
nghề sản xuất nông lâm nghiệp nên diện tích đất và chất đất có ý nghĩa rất quan trọng, nó
cho biết việc bố trí những cây trồng, vật nuôi nào phù hợp và đem lại hiệu qủa kinh tế
cao nhất. Để đánh giá được hình hình sử dụng đất của huyện Võ Nhai trong vùng
nghiên cứu qua bảng 1.1: Tình hình sử dụng đất đai của huyện Võ Nhai năm 2005-2012:
1.2.1.4. Khí hậu thủy văn
* Khí hậu
- 17 -
Khí hậu khu vực nghiên cứu mang nét chung của khí hậu vùng Đông Bắc Việt
Nam thuộc miền nhiệt đới gió mùa, mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều, bắt đầu từ tháng
4 đến tháng 10, nhiệt độ cao, nắng nóng gay gắt, lượng mưa lớn, cường độ mưa
mạnh thường gây lũ lụt lớn vào tháng 7 hàng năm.
Mùa đông lạnh bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, thường có các đợt
gió mùa Đông Bắc hanh khô, ít mưa.
Chế độ nhiệt: Chế độ gió mùa gây ra sự phân hoá theo mùa rõ rệt trong chế độ nhiệt
của huyên Võ Nhai. Theo số liệu thì nhiệt độ trung bình năm 23,7
0
C. Tháng có nhiệt độ
cao nhất là 29,4
0
C, tháng có nhiệt độ thấp nhất là 14,2
0
C.

Chế độ ẩm: Tổng lượng mưa trong năm đạt 1838mm. Sự phân bố lượng mưa
không đều ở các tháng trong năm. Lượng mưa cao ở các tháng 5,6,7,8,9, lượng mưa
cao nhất ở tháng 7, thường gây ra lũ lụt gây khó khăn cho sản xuất nông lâm
nghiệp, tháng 1 có lượng mưa thấp nhất là 18,6mm. Lượng mưa tập trung vào mùa
canh tác nương rẫy cho nên làm cho đất bị xói mòn rửa trôi đất mặt. Do lượng mưa
lớn nên độ ẩm tương đối cao, nhất là vào các tháng 6,7,8. Độ ẩm không khí bình
quân năm là: 81.2%, thuận lợi cho sinh trưởng của thảm thực vật. Số giờ nắng trong
năm là 98,9 giờ. Lượng bốc hơi cả năm là 78,45mm. Nhìn chung điều kiện khí hậu
ở đây rất thuận lợi cho sự phát triển của thảm thực vật rừng.
Các chỉ tiêu khí hậu chính tại trạm quan trắc Thái Nguyên theo số liệu quan
trắc năm 2012 chế độ nhiệt, ẩm độ, lượng mưa, lượng bốc hơi, số giờ nắng được
biểu hiện qua bảng sau:
Bảng 1.1. Một số chỉ tiêu khí hậu của khu vực nghiên cứu
Tháng T(
0
C) P(mm) W%
Lượng bốc
hơi (mm)
Giờ nắng
1 14,2 18,6 84,0 88 4,8
2 15,6 28,3 84,0 70 18,2
3 20,0 33,3 77,0 67 28,6
4 25,7 45,8 82,0 85,5 111,0
5 28,5 281,8 80,0 101,2 159,3
6 29,4 348,6 83,0 110,0 116,2
7 28,7 465,2 83,0 100,7 167,2
8 28,8 402,4 83,0 96,0 207,0
9 27,2 85,7 78,0 87,4 138,6
10 26,0 50,6 79,0 85 127,0
- 18 -

11 22,5 48,8 81,0 66,8 75,2
12 18,0 29,4 80,0 50,9 33,9
Bình quân năm 23,7 153,16 81,2 78,45 98,9
(Nguồn: TT quan trắc khí tượng thủy văn tỉnh Thái Nguyên)
Thủy văn: Nguồn nước trên địa bàn huyện Võ Nhai rất phong phú nhưng phân
bố không đồng đều, ngoài nguồn nước mặt từ sông, suối còn có các mạch nước
ngầm từ các hang động trong núi đá vôi.
Võ Nhai có hai con sông nhánh thuộc hệ thống Sông Cầu và Sông Thương
được phân bố ở phía Bắc và phía Nam huyện.
- Sông Nghinh Tường bắt nguồn từ dãy núi vòng cung Bắc Sơn - Lạng Sơn
chảy qua các xã Nghinh Tường, Sảng Mộc, Thượng Nung, Thần Sa rồi đổ ra Sông
Cầu khoảng 40% chiều dài dòng chảy là vùng núi đá vôi, thung lũng thường hẹp và
sâu, vách đá dựng đứng.
- Sông Rong bắt nguồn từ xã Phú Thượng chảy qua Thị trấn Đình Cả, xã Tràng Xá,
Dân Tiến, Bình Long sang địa phận tỉnh Bắc Giang và đổ về Sông Thương.
1.2.2. Điều kiện về kinh tế - xã hội
Huyện Võ Nhai có tổng diện tích tự nhiên là 83.923,14 ha. Dân số là 65.583
người chủ yếu sống bằng nghề nông nghiệp và lâm nghiệp, có 08 dân tộc anh em
chung sống là: Kinh, Tày, Nùng, Dao, Mông, Sán Chí, Cao Lan, Hoa, dân trí giữa
các vùng không đồng đều, tập quán canh tác giữa các dân tộc cũng khác nhau.
Trong đó dân tộc kinh chiếm 34,17%, dân tộc tày chiếm 29,8%, dân tộc Nùng
chiếm 14,5%, còn lại các dân tộc khác chiếm 8,7%. Mỗi một dân tộc có tập quán
sinh hoạt riêng nhưng đều có điểm chung nổi bật là vẫn giữ được nét văn hóa truyền
thống đặc trưng của dân tộc mình sinh sống hòa thuận. một số dân tộc cư trú sinh
sống ở vùng cao, vùng sâu thiếu đất canh tác nông nghiệp, tập quán canh tác chủ
yếu là phát nương làm rẫy.
Do điều kiện địa lý trung tâm huyện cách trung tâm của tỉnh 45km về phía
bắc, có quốc lộ 1B chạy qua địa bàn huyện , đã tạo điều kiện tốt cho sự phát triển.
Hiện nay 100% đơn vị xã, thị trấn của huyện đều có đường ô tô đi đến trung tâm xã.
Tuy vậy, cơ sở hạ tầng của các xã nói chung còn nghèo, đặc biệt là hệ thống thuỷ

- 19 -
lợi chưa đáp ứng được yêu cầu của sản xuất. Diện tích chủ động tưới mới đạt
36,02% diện tích sản xuất lúa. Cuộc sống của nhân dân các xã còn gặp nhiều khó
khăn, sản xuất còn mang tính tự cung tự cấp, giao lưu kinh tế diễn ra chậm, sản xuất
hàng hoá chưa phát triển, nguồn thu nhập chính vẫn là ruộng và rừng. Đó chính là
những ảnh hưởng bất lợi đến phục hồi rừng.
An ninh chính trị được giữ vững, ổn định song về trật tự xã hội còn nhiều
diễn biến phức tạp, tệ nạn xã hội vẫn có chiều hướng gia tăng.
a) Khái quát xã Liên Minh
Xã Liên Minh có 990 hộ với 4265 nhân khẩu. Trên địa bàn xã có 9 xóm với 4
dân tộc: Kinh, Tày, Nùng, Dao sống xen kẽ. Đời sống nhân dân trong xã chủ yếu
dựa vào sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi nên còn gặp nhiều khó khăn, mức thu
nhập của người dân còn thấp và chưa ổn định.
* Về xã hội:Tại trung tâm xã có1 trường mầm non, 1 trường tiểu học và 1
trường trung học, ngoài ra tại một số xóm xa trung tâm còn có các phân trường để
tạo điều kiện cho các em học tập. Trường tiểu học và trung học tại trung tâm xã
được xây dựng mới tương đối khang trang. Các cụm trường và các lớp học tại các
thôn sâu xa như: Nác, Nhâu, Kẹ… vẫn là các nhà tạm do dân tự đóng góp xây dựng
hiện nay đã xuống cấp.
* Về y tế: Xã có 1 trung tâm y tế xã và đã thực hiện tốt chương trình y tế quốc
gia về chăm sóc sức khỏe cộng đồng, chương trình “chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ
em”, chương trình “dân số gia đình và trẻ em”, chương trình tiêm chủng mở rộng.
* Về công tác chính sách xã hội:Thực hiện tốt công tác chi trả chế độ đối với
các gia đình chính sách, đối tượng chính sách, quan tâm đến công tác động viên
thăm hỏi tặng quà, cấp phát chế độ hỗ trợ và đề nghị cấp trên cứu trợ kịp thời cho
các gia đình có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn nhân các ngày lễ, tết hằng năm.
* Dân số và lao động: Xã Liên Minh có 9 xóm với 990 hộ 4265 nhân khẩu xã
có 4 dân tộc anh em cùng chung sống đó là dân tộc Dao, Tày, Nùng, Kinh trong đó
đồng bào dân tộc chiếm 52%.
- 20 -

Năm 2012 là 4.181 lao động, lao động nông nghiệp là 3.931 lao động chiếm
94,02%, lao động phi nông nghiệp là 250 lao động chiếm 5,97%.
* Về giao thông:Liên Minh là địa phương còn gặp nhiều khó khăn trong công
tác phát triển giao thông như: tuyến đường xóm Nác xã Liên Minh đi Hợp Tiến -
Đồng Hỷ, đường liên thôn tuyến đường xóm Thâm + xóm Nho + xóm Khuôn Đã, tu
sửa cầu treo Đồng Danh đi Kẹ, nâng cấp đập Khuôn Nang. Các tuyến đường đất,
đá, chưa được bê tông hóa.
* Về thủy lợi: Hệ thống thủy lợi của xã cũng còn nhiều hạn chế, kênh mương
được xây dựng kiên cố 540 m, chủ yếu nguồn nước tưới còn phụ thuộc vào tưới tiêu
nước tự nhiên. Là một xã vùng cao của huyện Võ Nhai, xã Liên Minh mặc dù có
tiềm năng đất đai khá lớn nhưng một phần diện tích của địa phương còn phải chịu
tình trạng thiếu nước vào mùa khô. Cuộc sống của người dân sống gần rừng vẫn
trong tình trạng nghèo đói và phụ thuộc rất lớn vào rừng. Điều này gây khó khăn
không nhỏ trong công tác quản lý bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng ở địa phương.
- Do chưa khai thác, phát huy hết lợi thế của địa phương nên phát triển kinh tế
xã hội chưa tương xứng với tiềm năng, phát triển mạnh kinh tế đặc biệt là kinh tế
lâm nghiệp, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống người dân trong
huyện nói chung và trong xã nói riêng đặc biệt là người dân nông thôn miền núi.
- Điều kiện kinh tế - xã hội trong thời gian qua đã có những bước phát triển,
ổn định, hệ thống cơ sở hạ tầng phát triển đồng bộ, đặc biệt ở các vùng nông thôn,
miền núi. Với điều kiện giao thông thuận tiện, có tiềm năng lớn về đất đai, lao
động, trong những năm qua đã thu hút được một lực lượng lao động lớn vào sản
xuất nông - lâm nghiệp, đặc biệt là phát triển rừng.
b) Khái quát xã Tràng Xá
Xã có 20 xóm, với tổng diện tích tự nhiên là 4.753,56 ha, nằm ở vùng núi của
huyện Võ Nhai, được xác định là vùng có tiềm năng thế mạnh để phát triển sản xuất
Nông - Lâm nghiệp kết hợp, chăn nuôi đại gia xúc.
Địa hình núi cao bị chia cắt mạnh bởi hệ thống núi đá, phần lớn là núi đá vôi
(chiếm 60%) độ dốc lớn (đa phần từ 25% trở lên) và các dòng chảy tự nhiên tạo

×