Tải bản đầy đủ (.docx) (8 trang)

thế ĐỘC QUYỀN của SJC tại thị trường vàng Việt Nam pptx

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (123.76 KB, 8 trang )

1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ ĐỘC QUYỀN
1.1. Khái niệm.
Trong kinh tế học, độc quyền là trạng thái thị trường chỉ có duy nhất một
người bán và sản xuất ra sản phẩm không có sản phẩm thay thế gần gũi. Đây là
một trong những dạng của thất bại thị trường, là trường hợp cực đoan của thị
trường thiếu tính cạnh tranh. Mực dù trên thực tế hầu như không thể tìm được
trường hợp đáp ứng hoàn hảo hai tiêu chuẩn của độc quyền và do đó độc quyền
thuần túy có thể coi là không tồn tại nhưng những dạng độc quyền không thuần túy
đều dẫn đến sự phi hiệu quả của lợi ích xã hội. Độc quyền được phân loại theo
nhiều tiêu thức: mức độ độc quyền, nguyên nhân của độc quyền, cấu trúc của độc
quyền
1.2. Nguyên nhân chính dẫn đến độc quyền:
 Chính phủ nhượng quyền khai thác tài nguyên nào đó: chính quyền địa phương có
thể nhượng quyền khai thác rác thải cho một công ty nào đó hay nhà nước tạo ra cơ
chế độc quyền nhà nước cho một công ty như trường hợp chính phủ Anh trao độc
quyền buôn bán với Ấn Độ cho Công ty Đông Ấn.
 Nếu chi phí vận chuyển quá cao, thị trường có thể bị giới hạn trong một khu vực
kinh tế nhất định nào đó và nếu trong khu vực đó có một doanh nghiệp cung cấp
sản phẩm thì sẽ dẫn đến tình trạng gần như chiếm đoạt quyền trong kinh doanh.
 Chế độ sở hữu đối với phát minh, sáng chế và sở hữu trí tuệ: một mặt chế độ này
làm cho những phát minh, sáng chế tăng theo một thời gian nhất định nhưng mặt
khác nó tạo cho người nắm giữ bản quyền có thể giữ được vị trí độc tôn trong thời
hạn được giữ bản quyền theo quy định do những văn bản do nhà nước ban hành.
 Do sở hữu được một nguồn lực lớn: điều này giúp cho người nắm giữ có vị trí gần
như trọn vẹn trên thị trường. Một ví dụ điển hình là Nam Phi được sở hữu những
mỏ kim cương chiếm phần lớn sản lượng của thế giới và do đó quốc gia này có vị
trí gần như đứng đầu trên thị trường kim cương.
1.3. Tổn thất phúc lợi xã hội do độc quyền thường gây ra:
Do tối đa hóa doanh thu nên doanh nghiệp chiếm đoạt quyền sẽ sản xuất hàng
hóa ở mức sản phẩm mà tại đó doanh thu biên bằng với thu nhập biên thay vì sản
xuất ở mức sản lượng mà ở đó giá sản phẩm cao hơn nhiều chi phí biên như trong


thị trường (cân bằng cung cầu). Khác với thị trường cạnh tranh hoàn hảo, nơi mà
giá bán sản phẩm phụ thuộc vào số lượng sản phẩm do một doanh nghiệp sản xuất
ra, trong tình trạng chiếm đoạt quyền giá bán sẽ tăng lên khi doanh nghiệp chiếm
đoạt quyền giảm sản lượng. Vì thế lợi nhuận biên sẽ lớn hơn giá bán sản phẩm và
cứ một đơn vị sản phẩm sản xuất thêm doanh nghiệp chiếm đoạt quyền sẽ thu thêm
được một khoản tiền lớn hơn giá bán sản phẩm đó. Điều này có nghĩa là nếu cứ sản
xuất thêm sản phẩm thì doanh thu thu thêm được có thể đủ bù đắp tổn thất do giá
bán của tất cả sản phẩm giảm xuống. Mặt khác, nếu áp dụng nguyên tắc biên của
tính hiệu quả nghĩa là sản xuất sẽ đạt hiệu quả khi lợi ích biên bằng doanh thu biên,
tất nhiên lợi ích biên và chi phí biên ở đây xét trên góc độ xã hội chứ không phải
đối với doanh nghiệp độc quyền ta thấy rằng: ở mức sản lượng mà doanh nghiệp
chiếm đoạt quyền sản xuất thìlợi ích biên (chính là đường cầu) lớn hơn chi phí
biên đồng nghĩa với tình trạng không hiệu quả. Tóm lại, doanh nghiệp chiếm đoạt
quyền sẽ sản xuất ở sản lượng thấp hơn và bán với giá cao hơn so với thị trường
cạnh tranh. Tổn thất mà xã hội phải gánh chịu do sản lượng tăng lên trừ đi tổng chi
phí biên để sản xuất ra phần sản lượng đáng lẽ nên được sản xuất ra thêm đó chính
là tổn thất do chiếm đoạt quyền.
2. THẾ ĐỘC QUYỀN TRÊN THỊ TRƯỜNG VÀNG CỦA CÔNG TY TRÁCH
NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN VÀNG BẠC ĐÁ QUÝ SÀI GÒN SJC.
1.1. Giới thiệu về công ty SJC
Được thành lập năm 1988, Công ty TNHH Một thành viên Vàng bạc đá
quý Sài Gòn - SJC là doanh nghiệp nhà nước đang hoạt động theo mô hình công
ty mẹ - công ty con, bao gồm 6 công ty con, 15 công ty liên kết, 2 chi nhánh các
tỉnh, 3 xưởng sản xuất vàng, 2 xưởng sản xuất trang sức, mạng lưới kinh doanh
phân phối gồm hệ thống cửa hàng bán lẻ, hệ thống đại lý chính thức trên toàn
quốc, đáng kể là hệ thống các ngân hàng thương mại cổ phần trên cả nước đang
giao dịch và kinh doanh sản phẩm của SJC.

SJC hoạt động như một tập đoàn kinh doanh đa ngành, trong đó sản xuất, kinh
doanh vàng và trang sức là ngành kinh doanh chính. SJC có 3 xưởng sản xuất vàng

SJC SJC tại Tp. Hồ Chí Minh và Hà Nội, có 2 xưởng sản xuất nữ trang tại thành
phố Hồ Chí Minh.
Nhiều năm liền đứng vững trên thị trường vàng, chiếm khoảng 90% thị
phần, hiện nay SJC dẫn đầu ngành kinh doanh vàng bạc đá quý tại Việt Nam với
doanh số tăng cấp mỗi năm cụ thể là năm 2010 vừa qua, con số đã vượt trên 4,2 tỉ
USD.
1.2. Thế độc quyền trên thị trường vàng của SJC tại Việt Nam
a. Hoàn cảnh:
Trên thực tế, tại Việt Nam, vàng miếng từ lâu đã được coi là thứ hàng hóa đặc
biệt, có đầy đủ các thuộc tính tiền tệ. Vàng được coi là “vịnh tránh bão” trong bối
cảnh lạm phát cao, đồng tiền bị mất giá, các kênh đầu tư khác bấp bênh, giá vàng
lại liên tục tăng. Thói quen tích trữ vàng của người dân cũng có từ lâu, cộng với
các yếu tố đầu cơ, lũng đoạn thị trường làm cho tình trạng vàng hóa càng thêm
trầm trọng. Nếu Nhà nước không quản lý được thị trường vàng, tình trạng vàng
hóa sẽ ảnh hưởng tới việc điều hành chính sách tiền tệ và gây mất ổn định thị
trường tiền tệ, ngoại hối, gây mất ổn định tỷ giá. Chưa kể, thay vì dồn vốn vào sản
xuất kinh doanh, người dân lại đổ xô tích trữ vàng sẽ gây lãng phí nguồn vốn trong
xã hội.
Trên thế giới, vai trò tiền tệ của vàng từ lâu đã được coi trọng. Trong bối cảnh
đồng USD liên tục mất giá trong rổ tiền tệ thì giá vàng thế giới vẫn tăng phi mã.
Nói cách khác, thời điểm khủng hoảng kinh tế toàn cầu, chỉ có vàng mới có đủ vai
trò và trọng lượng làm thay đổi quy luật lệ thuộc vào đồng USD của các nền kinh
tế mới nổi. Giá vàng thế giới tăng mạnh không những thể hiện giá trị của vàng mà
còn cho thấy vàng đang phục hồi lại chức năng tiền tệ vốn có của nó. Vai trò tiền tệ
của vàng còn thể hiệu qua việc các ngân hàng trung ương có xu hướng tăng mua
vàng dự trữ.
Theo số liệu của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), từ đầu năm 2011 đến nay, Ngân
hàng Trung ương các nước đã mua vào 208,9 tấn vàng, riêng quý III/2011 đã mua
150 tấn vàng. Gần đây, các ngân hàng Trung ương châu Á liên tục dự trữ ngoại tệ
bằng vàng. Đặc biệt là cú “gây sốc” từ Chính phủ Trung Quốc đột ngột cho công

bố về trữ lượng dự trữ vàng của nước này đã tăng đột biến, cải thiện vị trí dự trữ
vàng của họ từ thứ sáu với tổng lượng dự trữ lên tới gần 745 tấn.
Không những thế, tại nhiều nước chỉ có Ngân hàng Trung ương mới được phép sản
xuất vàng miếng, việc mua bán vàng miếng phải tuân theo các điều kiện khắt khe
và chịu sự giám sát đặc biệt của Nhà nước.
Còn tại Việt Nam, thực tế cho thấy, những động thái điều hành của cơ quan quản lý
hay định hướng của các chính sách quản lý đều tác động mạnh đến sự biến động
của giá vàng.
b. Thế độc quyền của SJC:
Dự thảo nghị định mới về quản lí hoạt động kinh doanh vàng đã được NHNN
trình chính phủ. Theo dự thảo, chỉ những doanh nghiệp có vốn điều lệ từ 500 tỉ
đồng trở lên, chiếm 25% thị phần trong nước trong 3 năm gần nhất mới được xem
xét cho sản xuất, gia công vàng miếng. Với quy định này, chỉ có duy nhất công ty
kinh doanh vàng bạc đá quý SJC hiện đang chiếm khoảng 90% thị phần, mới đủ
điều kiện để sản xuất, gia công vàng miếng. Cùng đó, thông báo trước Quốc hội,
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Nguyễn Văn Bình đã tuyên bố vàng SJC
sẽ trở thành nhãn hiệu vàng của NHNN, đơn vị này phải độc quyền quản lý, sản
xuất vàng miếng, điều này không những đúng về lý thuyết mà còn đúng cả về thực
tế.
Ông Bình khẳng định, NHNN sẽ làm việc với Thành ủy TP HCM (hiện đang
là đơn vị chủ quản của SJC) để chuyển Công ty vàng bạc đá quý Sài Gòn SJC sang
trực thuộc NHNN và vàng miếng SJC sẽ trở thành nhãn hiệu vàng của NHNN.
Điều này đã thể hiện rõ quan điểm: NHNN sẽ giữ độc quyền trong sản xuất kinh
doanh vàng miếng vì SJC hiện đã chiếm 90% thị phần. Khác với việc có nhiều
nhãn hiệu vàng miếng khác nhau như hiện nay, tất cả các doanh nghiệp sản xuất
vàng miếng đều chung một nhãn hiệu SJC. Hay nói cách khác, SJC trở thành một
nhãn hiệu tập thể về vàng miếng của Việt Nam chất lượng được kiểm soát hoàn
toàn bởi NHNN Việt Nam.
c. Tác động của thế độc quyền của SJC
 Tích cực:

NHNN sẽ không phải trực tiếp tham gia kinh doanh nhưng vẫn nắm được đầy
đủ thông tin về thị trường vàng miếng như số lượng vàng miếng đang lưu thông
trên thị trường, bao nhiêu vàng miếng được sử dụng cho mục đích sản xuất trang
sức hay công nghiệp, và bao nhiêu vàng miếng được sử dụng cho mục đích đầu tư.
Trong khi đó, các doanh nghiệp hoàn toàn chủ động trong việc mua – bán vàng tài
khoản ở nước ngoài trên thế giới để phòng ngừa rủi ro.
Thêm nữa, với khả năng quản lý khác nhau, các doanh nghiệp sản xuất vàng miếng
mang nhãn hiệu tập thể SJC hoàn toàn có thể cạnh tranh với nhau để cung ứng cho
thị trường mức giá tốt nhất.
 Tiêu cực:
Với vị trí độc quyền và được đảm bảo bởi nhà nước, rất có thể làm nảy sinh ra
những hệ lụy độc quyền DN.
• Hình thành thị trường chợ đen:
Với vàng, khi sự độc quyền của nhà nước xuất hiện, thông qua đơn vị của
mình là SJC, các thương hiệu vàng khác sẽ khó tồn tại, sản xuất và kinh doanh
vàng tự do bị kiểm soát thì liệu khả năng hình thành một cái chợ "đen"?.
Có thể thấy nhu cầu đối với vàng rất lớn, nó có ở khắp nơi, từ nông thôn tới
thành thị, từ người dân từ nông dân tới trí thức Câu hỏi đặt ra: tình hình sẽ ra sao
nếu nhu cầu không được đáp ứng đầy đủ, việc mua bán khó khăn hơn.
Rất nhiều trong trong số cả chục nghìn tiệm vàng đang hoạt động ở khắp các
trị trấn, làng xã, quận huyện trên khắp cả nước liệu có trở thành các địa điểm kinh
doanh "chui" vàng miếng mang thương hiệu quốc gia SJC hay SBV không?. Và
một khi hoạt động chui và chợ đen xuất hiện thì mục tiêu xóa bỏ tịnh trạng nhiều
giá, đầu cơ, tích trữ liệu có đạt được? Và khả năng huy động nguồn lực này từ
trong dân cũng sẽ rất khó khăn.
Việc dựa vào một đơn vị độc quyền để bình ổn thị trường là điều không dễ.
Thị trường vàng phụ thuộc nhiều yếu tố mà yếu tố quan trọng nhất thiếu niềm tin
vào đồng tiền, ưu thích tích trữ vàng thì lại nằm ngoài khả năng của nghị định quản
lý vàng. Các đợt bán vàng bình ổn của NHNN gần đây dù tốn nhiều nguồn lực
nhưng vẫn chưa đạt mục tiêu bình ổn như mong muốn. Việc bình ổn này khiến

nhiều người có cảm giác đây chỉ là giải pháp tình thế, không bền vững.
Thực tế của nền kinh tế cho thấy, dù đã có nhiều DN nhà nước độc quyền
nhưng chưa có nhiều kết quả để có thể chứng tỏ vai trò điều tiết thị trường của Nhà
nước thông qua một doanh nghiệp là hiệu quả như mong muốn.
Trong khi đó, việc vàng SJC trở thành vàng độc quyền của nhà nước cũng một
lần nữa gây ra những cảm xúc lo ngại. Bởi vì, độc quyền đã gây ra quá nhiều nghi
vấn và hạn chế trong quản lý từ chuyện điện, xăng dầu cho tới các mặt hàng khác
như nước sạnh thậm chí là xe buýt thì độc quyền hay vị trí chi phối đều chưa có
sự tối ưu mà lại bộc lộ nhiều lo ngại.
• Chặn vốn vàng vào sản xuất.
Với việc quản lý sản xuất vàng theo hạn ngạch và một đầu mối là SJC như nói
trên, có nghĩa là việc tăng- giảm cung do NHNN quy định và can thiệp, không cần
thiết phải hạn chế đối tượng kinh doanh vàng. Nhưng dự thảo cũng quy định, hoạt
động kinh doanh, mua bán vàng miếng là hoạt động kinh doanh có điều kiện, có
cấp giấy chứng nhận. Như vậy, đối tượng được phép kinh doanh mua bnas vàng
miếng sẽ bị thu hẹp.
Dự kiến sẽ chỉ còn một số doanh nghiệp, tổ chức tín dụng có khả năng tài
chính, kinh nghiệm, uy tín trong lĩnh vực kinh doanh vàng được phép liên tục thực
hiện mua bán vàng miếng. Hiểu một cách đơn giản là số lượng kênh phân phối
vàng đến người dân sẽ giảm. Tình trạng rối loạn, xếp hàng mua vàng, đầu cơ, giá
lên, giá xuống… càng khó kiểm soát hơn.
Do số doanh nghiệp được phép kinh doanh vàng miếng giảm, nhu cầu người
dân không đáp ứng đủ, những doanh nghiệp không được sản xuất, gia công vàng
miếng sẽ tìm cách để khai thác mảng trống này. Đó là sản xuất vàng nữ trang để
đáp ứng nhu cầu nắm giữ vàng của người dân. Nguồn vàng trong nước thay vì sản
xuất ra vàng miếng như hiện nay và người mua có thể gửi ngân hàng sẽ được biến
thể sang vàng nữ trang. Loại vàng này không được các ngân hàng thương mại huy
động.
Vô hình chung, quy định này đã “chẹn” cửa đưa vốn vàng vào sản xuất kinh
doanh như mục tiêu mà lâu nay chúng ta vẫn hướng tới. Và tình trạng vàng “chui

vào tủ” người dân sẽ tăng mạnh. Không chỉ thế, khi kênh phân phối chính thức bị
co lại, hoạt động vàng trái phép sẽ càng có đất sống, kéo theo các vấn đề khác như
tỉ giá, lãi suất…mà chúng ta nỗ lực lâu nay nhưng vẫn chưa thể giải quyết được.

×