Tải bản đầy đủ (.pdf) (52 trang)

Luận văn: Những nhân tố tác động và biện pháp xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam hiện nay pptx

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (486.8 KB, 52 trang )







Luận văn

Những nhân tố tác động và biện
pháp xóa đói giảm nghèo ở Việt
Nam hiện nay







LỜI GIỚI THIỆU
1. Bối cảnh nghiên cứu
Bước sang thế kỷ XXI, đói nghèo vẫn là vấn đề có tính toàn cầu. Một
bức tranh tổng thể là thế giới với gần một nửa số dân sống dưới 2USD
*
/ngày
và cứ 8 trong số 100 trẻ em không sống được đến 5 tuổi. Vì vậy một phong
trào sôi nổi và rộng khắp trên thế giới là phải làm như thế nào để đẩy lùi
nghèo đói. Còn Việt Nam thì sao? Trong những năm gần đây, Việt Nam được
đánh giá là một trong những nước có công tác xoá đói giảm nghèo tốt nhất
theo tiêu chuẩn và phương pháp xác định đường nghèo khổ của WB, tỷ lệ
nghèo ở Việt Nam giảm từ 58,1% năm 1993 xuống còn 37,4% năm 1998 và
hiện nay còn khoảng 30%. Theo tiêu chuẩn quốc gia tỷ lệ nghèo đói của nước


ta giảm từ 30,01% năm 1992 xuống 11% năm 2000. Tuy quy mô đói nghèo
toàn quốc giảm nhanh. Nhưng thực trạng cho thấy, Việt Nam vẫn là một nước
nghèo. Con số các hộ bị tái nghèo là rất lớn bình quân hàng năm khoảng
50.000 hộ (riêng năm 1996 và 1997 mỗi năm khoảng gần 100.000 hộ do bão
lụt. Nếu so sánh tình trạng đói nghèo của nước ta với các nước trên thế giới
thì tính bức xúc của nó là rất lớn, ngưỡng nghèo của Việt Nam vẫn xa với
ngưỡng nghèo của thế giới.
2. Mục đích nghiên cứu
Với một tỷ lệ không nhỏ số dân đang sồng trong cảnh cùng cực, Việt
Nam sẽ khó thực hiện được tiến trình CNH-HĐH đất nước. Vấn đề đặt ra là
phải làm sao đẩy lùi được tình trạng đói nghèo xuống. Nhưng muốn có những
chính sách, biện pháp xoá đói giảm nghèo hiệu quả thì nhất thiết phải hiểu
được những nguyên nhân nào dẫn tới tình trạng nghèo đói của Việt Nam.
Nhận thức được yêu cầu bức thiết đó, nghiên cứu này sẽ tập trung đi sâu vào
thực trạng nghèo đói ở Việt Nam, các nguyên nhân làm cho một số người rời
vào cảnh khối cùng, các mối quan hệ giữa nghèo đói với công bằng xã hội, sự
phân hoá giàu nghèo giữa các vùng khác nhau. Nghiên cứu này còn giúp ta
hiểu thêm mức độ, tầm ảnh hưởng của nghèo đói ở Việt Nam cũng như nhiều
nước trên thế giới. Nó ảnh hưởng như thế nào, tác động ra sao đến chất lượng
cuộc sống của người dân, cũng như sự cải thiện vị thế của quốc gia. Cuối

*
2USD tính theo PPP
cùng, nghiên cứu sẽ đưa ra một số giải pháp mang tính định hướng để giúp
xoá đói giảm nghèo hiệu quả hơn.
3. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu này sẽ chỉ ra tổng quan của sự nghèo đói trên thế giới và chủ
yếu xoáy sâu vào tình trạng nghèo đói ở Việt Nam, trong những năm gần đây.
Đối tượng được đề cập đến chính là những người nghèo đói. Họ là ai và mức
khốn khổ của họ đến đâu, cần phải làm những gì cho cuộc sống của họ tốt đẹp

hơn. Thông qua các ngưỡng nghèo, các chỉ tiêu đánh giá đói nghèo như chất
lượng của cuộc sống, mức nghèo đến đâu, tình trạng giáo dục ra sao, sự đảm
bảo y tế như thế nào, tình trạng giáo dục ra sao, sự đảm bảo y tế như thế nào.
Nó sẽ xác định được các đối tượng rơi vào diện nghèo, diện đói.
4. Các câu hỏi nghiên cứu
Để đánh giá chính xác về tình trạng của nghèo đói ta cần trả lời các câu
hỏi:
- Đói nghèo là gì?
- Đói nghèo được biểu hiện ở những khía cạnh nào?
- Các chỉ tiêu và chuẩn mực để xác định và đánh giá đói nghèo?
- Thực trạng đói nghèo của Việt Nam trong những năm gần đây?
- Các nhân tố tác động đến tình trạng nghèo đói?
- Các biện pháp khắc phục?
5. Phương pháp nghiên cứu
Để phân tích được tình trạng nghèo đói thì ta cần dùng một số phương
pháp như phân tích, đánh giá, so sánh, thống kê và mô tả nhằm phân tích xoáy
sâu vào các nhân tố tác động đến sự nghèo khó, đánh giá xem mức độ nghèo
đói đến đâu, diễn biến của nó như thế nào là phạm vi ảnh hưởng của nó ra
sao. Mặt khác cần phải có sự kết hợp với các số liệu thống kê để phản ánh
tình trạng nghèo đói một cách trung thực hơn, chính xác hơn. Qua đó cho
phép ta so sánh được các người nghèo, các nhóm dân cư nghèo, các vùng
nghèo và các quốc gia nghèo khác nhau.
6. Kết cấu của đề tài:
Đề tài sẽ được chia làm 3 phần:
Chương 1: Đói nghèo - các nguyên nhân dẫn tới đói nghèo.
Chương 2: Những nhân tố tác động đến đói nghèo ở Việt Nam hiện nay.
Chương 3: Một số biện pháp nhằm xoá đói giảm nghèo.
Do phạm vi nghiên cứu rộng, năng lực và kinh nghiệm bản thân có hạn,
đề tài không thể tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế. Em mong nhận được
sự chỉ dẫn, gợi ý, nhận xét của thầy cô để bổ sung và hoàn chỉnh hơn.

Em xin chân thành cảm ơn.

Sinh viên: Nguyễn Vũ Phúc
Lớp K35-F1 trường Đại học Thương mại
Chương 1: Tổng quan của đói nghèo
1.1. Khái niệm về đói nghèo
1.1.1. Định nghĩa về đói nghèo
 Đói nghèo từ tiếng nói của chính người nghèo.
Tiếng nói của người nghèo cho ta những cảm nhận cụ thể, rõ ràng nhất
về các khía cạnh của nghèo đói (nghèo đói không chỉ bao hàm sự khốn cùng
về vật chất mà còn là sự thụ hưởng thiếu thốn về giáo dục và y tế. Một người
nghèo ở Kênia đã nói về sự nghèo đói: “Hãy quan sát ngôi nhà và đếm xem
có bao nhiêu lỗ thủng trên đó. Hãy nhìn những đồ đạc trong nhà và quần áo
tôi đang mặc trên người. Hãy quan sát tất cả và ghi lại những gì ông thấy. Cái
mà ông thấy chính là nghèo đói”. Một nhóm thảo luận Braxin đã định nghĩa
về đói nghèo là: “Tiền lương thấp và thiếu việc làm, và cũng có nghĩa là
không được hưởng thụ về y tế, không có thức ăn và quần áo”. Ngoài ra, khái
niệm đói nghèo còn được mở rộng để tính đến cả nguy cơ dễ bị tổn thương,
không có tiếng nó và quyền lực. Từ tiếng nói của người nghèo, các nhà
nghiên cứu đã đưa ra các khái niệm về đói nghèo. Tuỳ thuộc vào cách tiếp
cận, thời gian nghiên cứu và sự phát triển kinh tế của một quốc gia mà ta có
các quan điểm khác nhau về nghèo đói.
 Quan niệm trước đây
Trước đây người ta thường đánh đồng nghèo đói với mức thu nhập thấp.
Coi thu nhập là tiêu chí chủ yếu để đánh giá sự nghèo đói của con người.
Quan niệm này có ưu điểm là thuận lợi trong việc xác định số người nghèo
dựa theo chuẩn nghèo, ngưỡng nghèo. Nhưng thực tế đã chứng minh việc xác
định đói nghèo theo thu nhập chỉ đo được một phần của cuộc sống. Thu nhập
thấp không phản ánh hết được các khía cạnh của đói nghèo, nó không cho
chúng ta biết được mức khốn khổ và cơ cực của những người nghèo. Do đó,

quan niệm này còn rất nhiều hạn chế.
 Quan điểm hiện nay
Hiện nay do sự phát triển của nền kinh tế thế giới, quan điểm đói nghèo
đã được hiểu rộng hơn, sâu hơn và cũng có thể được hiểu theo các cách tiếp
cận khác nhau:
- Hội nghị bàn về giảm nghèo đói ở khu vực châu Á Thái Bình Dương
do ESCAP tổ chức tháng 9 năm 1993 tại Băng Cốc - Thái Lan đã đưa ra khái
niệm về định nghĩa đói nghèo: Nghèo đói bao gồm nghèo tuyệt đối và nghèo
tương đối.
+ Nghèo tuyệt đối: là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng
và thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã
được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế và phong tục tập
quán của địa phương.
+ Nghèo tương đối: là tình trạng một bộ phận dân cư sống dưới mức
trung bình của cộng đồng.
+ Theo khía cạnh kinh tế: Nghèo là do sự thiếu lựa chọn dẫn đến cùng
cực và thiếu năng lực tham gia vào đời sống kinh tế xã hội của quốc gia, chủ
yếu là trong lĩnh vực kinh tế.
+ Theo khía cạnh khác: Nghèo là sự phản ánh trình độ phát triển kinh tế
xã hội trong từng giai đoạn lịch sử, trong phạm vi một quốc gia, một khu vực,
một vùng.
- Năm 1998 UNĐP công bố một bản báo cáo nhan đề “khắc phục sự
nghèo khổ của con người” đã đưa ra những định nghĩa về nghèo.
+ Sự nghèo khổ của con người: thiếu những quyền cơ bản của con người
như biết đọc, biết viết, được tham gia vào các quyết định cộng dồng và được
nuôi dưỡng tạm đủ.
+ Sự nghèo khổ tiền tệ: thiếu thu nhập tối thiểu thích đáng và khả năng
chi tiêu tối thiểu.
+ Sự nghèo khổ cực độ: nghèo khổ, khốn cùng tức là không có khả năng
thoả mãn những nhu cầu tối thiểu.

+ Sự nghèo khổ chung: mức độ nghèo kém nghiêm trọng hơn được xác
định như sự không có khả năng thoả mãn những nhu cầu lương thực và phí
lương thực chủ yếu, những nhu cầu này đôi khi được xác định khác nhau ở
nước này hoặc nước khác.
Quan niệm của Việt Nam
Hiện nay ở Việt Nam có nhiều ý kiến khác nhau xung quanh khái niệm
nghèo đói, song ý kiến chung nhất cho rằng:
Ở Việt Nam thì tách riêng đói và nghèo thành 2 khái niệm riêng biệt.
- Nghèo: là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có điều kiện thoả mãn một
phần những nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống và có mức sống thấp hơn
mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện.
- Đói: là tình trạng một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới mức tối
thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu và vật chất để duy trì cuộc sống.
Đó là các hộ dân cư hàng năm thiếu ăn, đứt bữa từ 1 đến 3 tháng, thường vay
mượn cộng đồng và thiếu khả năng chi trả. Giá trị đồ dùng trong nhà không
đáng kể, nhà ở dốt nát, con thất học, bình quân thu nhập dưới 13kg
gạo/người/tháng (tương đương 45.000VND).
Qua các định nghĩa trên, ta có thể đưa ra định nghĩa chung về nghèo đói:
“Đói nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không có những điều kiện về
cuộc sống như ăn, mặc, ở, vệ sinh, y tế, giáo dục, đi lại, quyền được tham gia
vào các quyết định của cộng đồng”
Qua các cách tiếp cận trên đã giúp chúng ta nâng cao sự hiểu về các
nguyên nhân gây ra nghèo đói nhằm có những phương hướng cách thức hành
động đúng đắn để tấn công đẩy lùi nghèo đói, làm cho chất lượng cuộc sống
của người dân ngày càng tốt đẹp hơn.
Các khía cạnh của đói nghèo.
 Về thu nhập:
Đa số những người nghèo có cuộc sống rất khó khăn, cực khổ. Họ có
mức thu nhập thấp. Điều này do tính chất công việc của họ đem lại. Người
nghèo thường làm những công việc đơn giản, lao động chân tay nhiều, công

việc cực nhọc nhưng thu nhập chẳng được là bao. Hơn thế nữa, những công
việc này lại thường rất bấp bênh, không ổn định, nhiều công việc phụ thuộc
vào thời vụ và có tính rủi ro cao do liên quan nhiều đến thời tiết (chẳng hạn
như mưa, nắng, lũ lụt, hạn hán, động đất ). Các nghề thuộc về nông nghiệp,
lâm nghiệp, ngư nghiệp là những ví dụ cho vấn đề này. Do thu nhập thấp nên
việc chi tiêu cho cuộc sống của những người nghèo là rất hạn chế. Hầu hết
các nhu cầu cơ bản, tối thiểu của con người như cái ăn, cái mặc, chỗ ở chỉ
được đáp ứng với mức độ rất thấp, thậm chí còn không đủ. Nhiều người rơi
vào cảnh thiếu ăn liên miên: chưa nói đến vấn đề đủ dinh dưỡng, riêng việc
đáp ứng lượng Kcalo cần thiết, tối thiểu cho con người để có thể duy trì hoạt
động sống bình thường họ cũng chưa đáp ứng được, hoặc đáp ứng một cách
khó khăn. Điều này đã kéo theo hàng loạt các vấn đề khác như làm giảm sức
khoẻ của người nghèo, do đó giảm năng suất lao động, từ đó giảm thu nhập
cứ như thế, nó đã tạo nên vòng luẩn quẩn mà người nghèo rất khó thoát ra
được.
Thu nhập thấp đã tạo nên tình trạng thiếu tài sản ở những người nghèo.
Tài sản ở đây có thể là tài sản vật chất, tài sản con người, tài sản tự nhiên, tài
sản tài chính, tài sản xã hội. Tài sản con người thể hiện ở khả năng có được
sức lao động cơ bản, kỹ năng và sức khoẻ tốt. Như đã trình bày ở trên, do thu
nhập thấp nên người nghèo không thể đáp ứng một cách đầy đủ nhu cầu về
lương thực thực phảam. Ăn uống cực kì thiếu thốn cộng với lao động nặng nề
đã làm giảm sức khoẻ của người nghèo do đó cũng không đảm bảo được các
kỹ năng cũng như sức lao động cơ bản. Tài sản tự nhiên như đât đai, thiếu tài
sản tự nhiên có nghĩa là thiếu, không có hoặc có nhưng đất đai quá cằn cỗi,
không thể canh tác được. Tài sản vật chất ở đây như nhà ở, phương tiện sản
xuất - người nghèo có rất ít hoặc hầu như không có các phương tiện sản xuất.
Điều này đã hạn chế khả năng lao động của họ, làm họ khó khăn hơn nhiều so
với những người có đủ phương tiện sản xuất nó cũng làm giảm thu nhập của
họ. Còn về nhà ở, đại đa số người nghèo sống trong những căn nhà tạm bợ,
dột nát, chật chội. Nhiều căn nhà không đủ đảm bảo an toàn, không bảo đảm

sức khoẻ cho những người sống trong đó. Do không có những tài sản giá trị
để bảo đảm nên người nghèo cũng có rất ít khả năng tiếp cận với các tổ chức
cho vay vốn, do thu nhập thấp nên người nghèo cũng không có khả năng tiết
kiệm nhiều. Đó chính là thiếu hụt tài sản tài chính. Còn tài sản xã hội, như
các mối quan hệ và trách nhiệm đối với nhau để khi cần có thể nhờ cậy và ảnh
hưởng chính trị đối với các nguồn lực, đối với người nghèo điều này cũng rất
hạn chế, do thu nhập thấp, lúc nào cũng phải lo chạy ăn đủ bữa nên người
nghèo không quan tâm hoặc không có khả năng tham gia nhiều vào các mối
quan hệ xã hội. Một điều cản trở nữa là, hầu hết khi tham gia vào các nhóm,
tổ chức nào đó cũng đều phải đóng một khoản phí nhất định, người nghèo lo
ăn còn chưa đủ, nói gì đến việc bỏ tiền tham gia nhóm, hội nào đó. Điều này
đã làm cho người nghèo dần bị cô lập và do đó khó nhận được sự giúp đỡ từ
các nhóm, hội khi gặp khó khăn.
 Y tế - giáo dục
Những người nghèo có nguy cơ mắc phải các bệnh thông thường cao
như ốm đau, các bệnh về đường giao tiếp, tình trạng sức khoẻ không được tốt
do ăn uống không đảm bảo, lao động cực nhọc. Người nghèo thường sống ở
những vùng có điều kiện vệ sinh, y tế thấp, còn nhiều hạn chế, chẳng hạn, họ
không được sử dụng nguồn nước sạch, không có công trình phụ hợp vệ sinh,
điều này cũng làm giảm đáng kể sức khoẻ của họ. Nó đã dẫn đến tình trạng tỷ
lệ chết của trẻ sơ sinh trong nhóm hộ nghèo, số trẻ bị suy dinh dưỡng và số bà
mẹ mang thai thiếu máu rất cao. Có điều này là do người nghèo có thu nhập
thấp, không đủ trả khoản tiền viện phí lớn cũng như các chi phí thuốc men
khác, thêm vào đó có thể do đối xử bất bình đẳng trong xã hội, người nghèo
không được quan tâm chữa trị bằng người giàu nên tỷ lệ tiếp cận các dịch vụ
y tế của người nghèo là rất thấp. Bên cạnh đó, do nhận thức của người nghèo,
họ thường không quan tâm lắm bệnh tật của mình, khi bị bệnh họ thường cố
tự chạy chữa bằng mọi biện pháp rẻ tiền, chỉ đến khi bệnh trở nên trầm trọng
họ mới vào viện vì vậy việc điều trị đem lại hiệu quả không cao mà còn tốn
thêm nhiều khoản tiền không đáng có.

Tình trạng giáo dục đối với người nghèo cũng là vấn đề đáng thất vọng.
Hầu hết những người nghèo không đủ điều kiện học đến nơi đến chốn. Tỷ lệ
thất học, mù chữ ở hộ nghèo, đói cao. Có tình trạng như vậy là do các gia
đình này không thể trang trải được các chi phí về họctập của con cái họ như
tiền học phí, tiền sách vở đi học, họ sẽ mất đi một lao động trong gia dình.
Những người nghèo cũng đã nhận thức rõ được tầm quan trọng của học thức
với nghèo đói nhưng vấn đề học phí của con em họ quả là vấn đề quá khó
khăn với tình hình tài chính của gia đình. Một phụ nữ đã nói: “Các con tôi đã
sẵn sàng tới trường vào tháng 9, nhưng tôi không biết làm thế nào để có thể
cho cả ba đứa tới trường. Ở một số nước, trẻ em phải thôi học bởi lỡ hạn nộp
học phí đến đúng vào lúc mà gia đình không có khả năng thanh toán nhất.
Tóm lại, y tế - giáo dục là vấn đề được nhiều người nghèo quan tâm, họ
cũng đã hiểu rõ tầm quan trọng của các yếu tố này tới bản thân họ cũng như
tương lai của họ và gia đình nhưng do thu nhập thấp, không đủ trang trải, học
phí, viện phí, họ đành phải để con cái thôi học, người bệnh không được khám
và chữa chạy đúng mức, kịp thời, hầu hết các người nghèo không được tiếp
cận với các dịch vụ y tế. Điều này đã làm ảnh hưởng đến sức khoẻ của họ,
giảm sức khoẻ cũng như hạn chế cơ hội phát triển của các thế hệ sau.
 Nguy cơ dễ bị tổn thương
Ở những người nghèo, nguy cơ dễ bị tổn thương là nhân tố luôn đi kèm
với sự khốn cùng về vật chất và con người. Vậy nguy cơ dễ bị tổn thương là
gì? Nó chính là nguy cơ mà người nghèo phải đối mặt với nhiều loại rủi ro
như bị ngược đãi, đánh đập, thiên tai, bị thôi việc, phải nghỉ học Nói cách
khác, những rủi ro mà người nghèo phải đối mặt do tình trạng nghèo hèn của
họ chính là nguyên nhân khiến họ rất dễ bị tổn thương. Những người nghèo
do tài sản ít, thu nhập thấp, họ chỉ có thể trang trải hạn chế, tối thiểu các nhu
cầu thiết yếu nhất của cuộc sống. Vì vậy, khi rủi ro xảy ra họ rất dễ bị tổn
thương và rất khó vượt qua được các cú sốc có hại, những cú sốc mang tính
tạm thời mà những người có nhiều tài sản hơn dễ dàng vượt qua được. Do thu
nhập thấp, người nghèo có rất ít khả năng tiếp cận với các cơ hội tăng trưởng

kinh tế, vì thế họ thường phải bỏ thêm các chi phí không đáng có hoặc giảm
thu nhập. Ở các hộ nghèo, khi có rủi ro xảy ra như mất cắp hay có người bị
ốm đau thì họ dễ bị rơi vào tình trạng khủng hoảng, làm đảo lộn cuộc sống
của cả gia đình mà một thời gian lâu sau mới có thể phục hồi được. Cũng có
khi việc khắc phục những rủi ro trong ngắn hạn có thể làm trầm trọng thêm sự
khốn cùng của họ trong dài hạn. Chẳng hạn, ví dụ trên, do thiếu tài sản nên để
chạy chữa cho một người bị ốm, gia đình đã buộc phải quyết định cho một
đứa con nghỉ học hay họ phải bán trâu, bò, ngựa những phương tiện lao
động cần thiết của gia đình. Cũng có thể người bệnh thì không khỏi được còn
gia đình từ cảnh khá giả rơi vào cảnh khốn cùng. Như vậy, nếu có thêm một
vài sự kiện nghiêm trọng nữa xảy ra thì sự suy sụp đến cùng kiệt là điều khó
tránh khỏi với người nghèo.
Nguy cơ dễ bị tổn thương đã tạo nên một tâm lý chung của người nghèo
là sợ phải đối mặt với rủi ro, vì vậy họ luôn né tránh với những vấn đề mang
tính rủi ro cao, kể cả khi điều đó có thể đem lại nhiều lợi ích cho họ nếu thành
công (ví dụ đầu tư vào giống lúa mới, áp dụng phương thức sản xuất mới )
chính điều này đã làm họ sống tách biệt với xã hội bị cô lập dần với guồng
quay của thị trường và do vậy cuộc sống của họ càng trở nên bần cùng hơn.
 Không có tiếng nói và quyền lực
Những người nghèo thường bị đối xử không công bằng, bị gạt ra ngoài lề
xã hội do vậy họ thường không có tiếng nói quyết định trong các công việc
chung của cộng đồng cũng như các công việc liên quan đến chính bản thân
họ. Trong cuộc sống những người nghèo chịu nhiều bất công do sự phân biệt
đối xử, chịu sự thô bạo, nhục mạ, họ bị tước đi những quyền mà những người
bình thường khác nghiễm nhiên được hưởng. Người nghèo luôn cảm thấy bị
sống phụ thuộc, luôn nơm nớp lo sợ mọi thứ, trở nên tự ti, không kiểm soát
được cuộc sống của mình. Đó chính là kết quả mà nguyên nhân không có
tiếng nói và quyền lực đem lại. Một người nghèo ở Trà Vinh nói họ chẳng
được gọi đi họp vì nhà ở xa, khi nào phải đi lao động thì mới được gọi tới. Kể
cả khi họ tham gia được các cuộc họp của cộng đồng thì họ cũng không thể

quyết định được vấn đề gì dù rằng vấn đề đó liên quan đến lợi ích của chính
họ.
Không có tiếng nói và quyền lực còn thể hiện ở chỗ những người phụ nữ
bị đối xử bất bình đẳng trong chính gia đình của họ. Người phụ nữ không có
quyền quyết định việc gì và phải phụ thuộc hoàn toàn vào người chồng của
họ.
1.2. Các thước đo chuẩn mực đánh giá đói nghèo
1.2.1. Các thước đo đói nghèo.
Đo lường đói nghèo thông qua các chỉ tiêu như thu nhập, chỉ số về giáo
dục và y tế, nguy cơ dễ bị tổn thương, không có tiếng nói và quyền lực cho
phép có được một cách nhìn tổng thể về đói nghèo. Nó phản ánh chính xác
các nguyên nhân gây ra đói nghèo, từ đó chính phủ hay cộng đồng quốc tế có
các biện pháp thích hợp để hành động.
 Đói nghèo theo thu nhập
Sử dụng thước đo thu nhập hay tiêu dùng bằng tiền để xác định và đo
lường đói nghèo là một phương pháp đã được áp dụng từ lâu. Từ năm 1899
Seebohm Rowntree đã sử dụng phương pháp này để đo lường đói nghèo. Qua
các cuộc khảo sát về thu nhập và chi tiêu của các hộ gia đình ông đã đưa ra
định nghĩa: “Đói nghèo là mức tổng thu nhập không đủ trang trải nhu cầu
thiết yếu tối thiểu để duy trì sức lực cơ bắp thuần tuý”. Nhu cầu thiết yếu đó
bao gồm thực phẩm, tiền thuê nhà và một số thứ khác. Từ đó ông đã đi đến
ước tính về đói nghèo của mình. Tuy cách làm này còn nhiều hạn chế song nó
cũng phản ánh được phần lớn tình trạng nghèo khổ của người dân lúc bấy giờ.
Hiện nay WB vẫn sử dụng phương pháp và cách tiếp cận giống như của
Rowntree. Cách làm này cũng được nhiều quốc gia áp dụng vì nó có nhiều ưu
điểm. Điều tra hộ gia đình thu được nhiều thông tin, là căn cứ để tìm ra các
mối quan hệ giữa các khía cạnh khác nhau của đói nghèo, từ đó đưa ra các
giải pháp hữu hiệu. Ngoài ra, thước đo đói nghèo theo thu nhập và tiêu dùng
đã xác định được ngưỡng nghèo. Đây là ranh giới quan trọng về thu nhập hay
tiêu dùng mà dưới đó, các cá nhân và hộ gia đình bị coi là nghèo. Cách làm

này xem ra rất tiện dụng khi đưa ra các con số tổng hợp đói nghèo trên phạm
vi toàn cầu. WB đưa ngưỡng nghèo là 1USD/người/ngày và
2USD/người/ngày
*
bị coi là nghèo đói. Bên cạnh các ưu điểm nêu trên,
phương pháp này còn có một số hạn chế. Đó là, các cách điều tra khác nhau
giữa các thời kỳ, giữa các vùng, khu vực, giữa các quốc gia làm cho việc so
sánh gặp nhiều khó khăn, số liệu thu thập từ các hộ gia đình thường không
đầy đủ và chính xác, không phản ánh hết tình trạng bất bình đẳng chung của
đói nghèo.
 Y tế và giáo dục
Ngoài cách tiếp cận dựa vào thu nhập WB còn sử dụng thước đo y tế và
giáo dục để đo lường sự khốn cùng của người dân. Nó bao gồm các chỉ tiêu:
* Về y tế:

*
Tính theo PPP
-
Tỷ lệ trẻ em sơ sinh; nặng dưới 2
5kg
=
Số trẻ sơ sinh nặng dưới 2
5kg;Tổng số trẻ sơ sinh trong năm
x 100
-
Tỷ lệ bà mẹ có thai; khám thai ít nhất 3 lần

=
Số phụ nữ có thai
khám thai ít nhất 3 lần; Tổng phụ nữ sinh con trong năm

x100
-
Tỷ lệ bà mẹ có thai; tiêm uốn ván đủ mũi
=
Số phụ nữ có thai
tiêm đủ mũi uốn ván;Tổng số phụ nữ sinh con trong năm
x100
-
Tỷ lệ hộ có giếng nước;hợp vệ sinh
= Error!x100
-
Tỷ lệ hộ có hố xí;hợp vệ sinh
= Error! x 100
-
Tỷ lệ tử vong; trẻ sơ sinh
= Error!
-
Tỷ lệ tử vong;của sản phụ
= Error!
- Tuổi thọ bình quân là số năm trung bình một người có thể sống được.
- Tỷ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai là tỷ lệ phụ nữ đang thực hiện
hay bạn đời của họ đang thực hiện bất kỳ hình thức tránh thai nào.
+ Về giáo dục:
-
Tỷ lệ trẻ đến trường; đúng độ tuổi
= Error! x 100
-
Tỷ lệ trẻ ngoài; trường học
= Error! x 100
-

Tỷ lệ mù chữ; ở người lớn
= Error! x 100
Đo lường nghèo đói dựa vào các chỉ số trên cho phép phản ánh đầy đủ
các khía cạnh của người nghèo. Nó giúp ta có một bức tranh đầy đủ hơn về
chất lượng cuộc sống của người dân, nó thuận lợi cho việc so sánh nghèo đói
ở những nơi có thu nhập ngang nhau. Nhưng, trong thực tế, việc thu thập số
liệu về các chỉ số này gặp rất nhiều khó khăn. Ví dụ như các ví dụ về tỷ lệ tử
vong của trẻ em chủ yếu được lấy ra từ các kết quả điều tra dân số định kỳ, vì
vậy các số liệu vẫn còn sự sai lệch khá lớn. Về tuổi thọ bình quân cũng rất
khó xác định chính xác vì nó thường không được đo lường trực tiếp. Các số
liệu về giáo dục cũng thất vọng không kém. Tỷ lệ đến trường cũng chỉ là con
số ước tính thay cho số đến trường thực tế. Hơn nữa, tỷ lệ tổng số học sinh
học tiểu học có thể tăng nếu số học sinh lưu ban tăng. Tuy nhiên, hiện nay,
các nhà nghiên cứu đã có nhiều sáng kiến, họ đang cố gắng tìm ra những
phương pháp hữu hiệ để có thể đưa ra các số liệu đáng tin cậy hơn.
 Nguy cơ dễ bị tổn thương
Đo lường nguy cơ dễ bị tổn thương chính là đo lường mức độ chống
chọi với các cú sốc của những hộ gia đình như gặp rủi ro, bị ngược đãi, đánh
đập, thiên tai, bị thôi việc, phải nghỉ học Chẳng hạn, khi gặp rủi ro, các hộ
gia đình có khả năng bù đắp lại các thiệt hại hay không và mức bù đắp như
thế nào? Thông thường, người ta đo lường và đánh giá nguy cơ dễ bị tổn
thương qua các góc độ:
- Về tài sản vật chất: là những tài sản mà hộ có thể bán đi để bù đắp
những mất mát tạm thời về thu nhập. Đây là thước đo về khả năng tự bảo
hiểm của họ. Tài sản vật chất của hộ gia đình được xem xét theo hai khía cạnh
giá trị và tính thanh khoản của nó. Tài sản có tính thanh khoản cao (hay khả
năng hoá giá cao) thì mức độ bảo hiểm sẽ càng cao.
- Về vốn con người: Các hộ gia đình có trình độ học vấn hạn chế thường
dễ phải chịu sự bất ổn định về thu nhập và ít có khả năng quản lý rủi ro hơn.
- Về đa dạng hoá thu nhập: ở nông thôn, hoạt động phi nông nghiệp

mang tính rủi ro ít hơn hoạt động nông nghiệp. Vì vậy đa dạng hoá thu nhập
là thước đo khả năng chống chọi lại các rủi ro liên quan đến thời tiết.
- Mối liên hệ với mạng lưới an sinh. Đánh giá nguy cơ dễ bị tổn thương
của hộ gia đình dựa vào các khoản hỗ trợ trông thấy mà họ sẽ được nhận khi
khủng hoảng, từ các nhóm hay hiệp hội mà họ là thành viên.
- Tham gia mạng lưới an sinh chính thức: Nguy cơ tổn thương của hộ gia
đình sẽ giảm bớt nếu hộ đủ tiêu chuẩn nhận được sự trợ giúp xã hội bảo hiểm
thất nghiệp, lương hưu và các khoản trợ cấp khác do nhà nước cấp.
- Tiếp cận thị trường tín dụng. Tương tự, nguy cơ tổn thương của hộ gia
đình sẽ giảm nếu hộ tiếp cận được nguồn tín dụng một cách nhẹ nhàng.
Kết hợp tất cả góc độ này với nhau ta sẽ có được một bức tranh tổng thể
về nguy cơ dễ bị tổn thương của những người nghèo, nó cho biết khả năng
chống chọi của hộ khi có những biến động trong cuộc sống.
Việc đo lường nguy cơ dễ bị tổn thương trên thực tế gặp nhiều khó khăn
do nó là một khía niệm động nên việc đo lường rất phức tạp, tốn nhiều tiền
của và công sức. Không thể đo lường nó bằng cách quan sát các hộ gia đình
mà phải có cuộc điều tra, theo dõi trong nhiều năm mới có thể nắm bắt được
những thông tin cơ bản và tính biến động và nguy cơ dễ bị tổn thương mà
người nghèo là rất quan trọng.
 Không có tiếng nói và quyền lực
Không có tiếng nói và quyền lực có thể được đo lường bằng cách sử
dụng kết hợp các biện pháp có sụ tham gia của người dân, phỏng vấn và điều
tra quốc gia về các vấn đề như mức tự do dân sự, tự do chính trị. Không có
tiếng nói và quyền lực thể hiện ở chính mức độ được trao quyền của người
dân. Tức là, xem xét khả năng tham gia vào các quyết định của gia đình, của
cộng đồng vì những người nghèo thường bị khinh miệt, đối xử và thậm chí
còn bị hạn chế một số quyền mà những người bình thường khác nghiễm nhiên
được hưởng. đo lường mức độ không có tiếng nói và quyền lực nó phản ánh
nỗi khổ đau mà những người nghèo cam lòng gánh chịu. Họ không có cả
những quyền tham gia vào những vấn đề ảnh hưởng trực tiếp đến phúc lợi của

họ. Việc đo lường đói nghèo dựa theo tiêu chí này được người nghèo cho là
rất quan trọng. Tuy nhiên, việc thực hiện gặp nhiều khó khăn, tốn kém nhiều
tiền của và công sức, nó phải được thực hiện bằng các cuộc điều tra, phỏng
vấn, theo dõi trong nhiều năm mới có thể nắm bắt được những thông tin chính
xác về vấn đề này.
1.2.2. Các chỉ tiêu và chuẩn mực đánh giá đói nghèo ở Việt Nam
 Chỉ tiêu đánh giá nghèo cấp cá nhân và hộ gia đình
- Hộ nghèo: Ở Việt Nam để đo tình trạng nghèo đói, có nhiều cách tính
hộ nghèo. Chẳng hạn thành phố Hồ Chí Minh lấy mức thu nhập bình quân
dưới 500.000đ/1 khẩu/1 năm (tương đương trên 33kg gạo/tháng). Vĩnh Phú
lấy tiêu chuẩn dưới 500.000đ/1 khẩu/1 năm. Một số nhà kinh tế lấy tiêu thức
lương thực bình quân nhân khẩu. Gia đình nào có mức thu nhập bình quân
dưới 30 kg gạo một khẩu một tháng được coi là nghèo. Có ý kiến đề nghị lấy
mức tối thiểu do nhà nước quy định làm chuẩn. Người có mức sống dưới mức
nghèo khổ là người có thu nhập bình quân một tháng thấp hơn mức tối thiểu
do nhà nước quy định (hiện nay là 210.000đ). Theo Bộ Lao động- Thương
binh xã hội tiêu chuẩn xác định hộ nghèo như sau:
+ Năm 1993: Hộ nghèo là hộ có thu nhập thấp bình quân đầu người dưới
13kg gạo/tháng ở nông thôn (tương đương 45.000 đồng), 20 kg gạo/tháng ở
thành thị (tương đương 70.000 đồng).
+ Năm 1996: Hộ nghèo là hộ có thu nhập quy đổi ra gạo bình quân đầu
người tháng. Dưới 25kg/người ở thành thị, dưới 20kg/người ở nông thôn,
đồng bằng và trung du, dưới 15kg/người ở nông thôn miền núi.
- Hộ đói: Theo Bộ Lao động - Thương binh xã hội, tiêu chuẩn xác định
hộ đói như sau:
+ Năm 1993: Hộ đói là hộ có thu nhập bình quân đầu người dưới 8kg
gạo/tháng ở nông thôn, 13kg/tháng ở thành thị.
+ Năm 1996: Hộ đói là hộ có thu nhập quy đổi ra gạo bình quân đầu
người là 13kg/tháng. Song, trên thực tế những hộ đói là hộ thiếu lương thực
trong gia đình từ 3 tháng trở lên thể hiện thiếu ăn, đứt bữa, bữa cơm, bữa

cháo, ăn độn khoai sắn Như vậy những hộ đói thì thường con cái của họ thất
học, nhà cửa dột nát, đồ dùng trong nhà không đáng kể, không còn lương thực
dự trữ trong nhà, song cũng không có tiền để mua lương thực trong ngày, mặc
dù trên thị trường không thiếu lương thực.
Hiện nay Bộ Lao động - Thương binh xã hội mới đưa ra chuẩn nghèo
mới áp dụng cho giai đoạn 2001-2005. Theo tiêu chuẩn này thì có hai phương
án để lựa chọn:
Khu vực áp dụng Chuẩn nghèo (đồng/người/tháng)
Phương án 1 (thấp) Phương án 2 (cao)
Thành thị 135.000 150.000
Nông thôn đồng bằng 70.000 100.000
Nông thôn miền núi 45.000 80.000
Các chuẩn mực trên có thể đúng trên tổng thể song không thể áp dụng
cho từng đối tượng, từng vùng cụ thể được. Nếu lấy mức bình quân
800.000đồng/khẩu/năm là hộ nghèo ở thành phố Hồ Chí Minh thì có thể lại là
hộ giàu ở vùng nông thôn miền núi phía Bắc. Vì vậy để chọn và phân loại hộ
đói nghèo ở Việt Nam có thể phải xem xét các đặc trưng cơ bản có nó như:
Thiếu ăn từ 3 tháng trở lên trong năm, nợ sản lượng khoán, nợ thuế triền
miền, vay nặng lãi, con em không có điều kiện đến trường (mù chữ hoặc bỏ
học), thậm chí phải cho con hoặc tự bản thân đi làm thuê cuốc mướn để kiếm
sống qua ngày hoặc đi ăn xin Nếu đưa các chuẩn mực này ra để xác định thì
rất dễ biết hộ đói nghèo ở nông thôn
Bảng 1.1. Các chỉ tiêu đánh giá nghèo cấp hộ gia đình
Lĩnh vực Chỉ tiêu
I. Nhu cầu ăn 1. Số lượng gạo tối thiểu (12kg/người/tháng)
2. giá trị khẩu phần ăn tối thiểu một ngày ( đ/người/tháng)

II. Nhu cầu mặc 3. Không đủ quần áo, chăn ấm trong mùa rét
4. Không đủ màn chống muỗi
III. Nhà ở 5. Hộ gia đình ở lều, lán và nhà tạm bợ

IV. Việc làm 6. Thiếu việc làm (thiếu trên tháng/năm)
V. Sức khoẻ 7. Trẻ em từ 1 - 3 tuổi suy dinh dưỡng thể thiếu ăn (dưới
80% trọng lượng cần có của độ tuổi)
8. Người lớn 15-60 tuổi ốm đau kinh niên (trên 30
ngày/năm)
9. Không có khả năng chữa bệnh khi ốm đau.
VI. Giáo dục 10. Người lớn trong độ tuổi lao động (15-60) mù chữ
11. Trẻ em 6-11 tuổi không đi học
12. Hộ gia đình không có đài hoặc ti vi để nghe.
Nguồn: Vũ Tuấn Anh “Những tiêu chuẩn đánh giá mức nghèo ở nông
thôn”, Tạp chí nghiên cứu kinh tế, số 4 năm 1997, trang 36.
Dựa vào 12 chỉ tiêu trên thì chắc chắn các hộ nghèo đều ở mức độ khác
nhau. Nhưng các thẻ phân loại các dạng hộ nghèo thành hai nhóm:
Nhóm 1: Hộ nghèo có 5 chỉ tiêu về ăn, mặc, ở dưới chuẩn mực.
Nhóm 2: Hộ rất nghèo có trên 5 chỉ tiêu dưới chuẩn mực.
Bên cạnh các chỉ tiêu trên, qua cuộc điều tra tình trạng giầu nghèo năm
97**** Tổng cục Thống kê chọn mức nhiệt lượng tối thiểu là 2.100 Calo cho
người/ngày thuộc diện nghèo đói. Ứng với mức đảm bảo nhu cầu nhiệt lượng
trên, Tổng cục thống kê đưa ra chuẩn mực hộ nghèo là hộ có mức thu nhập
bình quân.
Nông thôn: dưới 50.000đồng/người/tháng, trong đó rất nghèo là dưới
30.000/tháng (hay 360.000đ/người/năm).
Thành thị: Dưới 70.000 đồng/người/tháng, trong đó rất nghèo là dưới
50.000 đồng/người/tháng (hay 600.000 đồng/người/năm).
Qua đó ta thấy các chuẩn mực đánh giá nghèo đói ở Việt Nam do Bộ
Lao động thương binh - xã hội và Tổng cục Thống kê đưa ra là cực kỳ thấp so
với chuẩn mực nghèo khổ chung trên thế giới do ngân hàng thế giới đưa ra là
dưới 370USDngười/năm
*
. Điều này càng chứng tỏ nước ta là một nước cực

nghèo, vấn đề đáp ứng những nhu cầu cơ bản nhất cho người nghèo là vấn đề
nan giải. Đồng thời cũng cho thấy tính tương đối khi xác định chuẩn nghèo
đói ở mỗi nơi là khác nhau. Vì vậy để đánh giá được chính xác nghèo đói thì
phải biết được mức độ nghèo đói đến đâu? nghèo hay rất nghèo. Thực tế nước
ta vẫn tồn tại một bộ phận dân cư ở tình trạng thiếu ăn, đói về lương thực
(nhiệt lượng chỉ đạt 1500 Calo/người/ngày). Do đó khi đánh giá nghèo ở Việt
Nam nên phân thành hai cấp độ nghèo và đói vì nó phản ánh đúng hiện thực
khách quan.
 Chỉ tiêu đánh giá nghèo ở cấp cộng đồng
Để đánh giá các vùng nghèo, ở nước ta thường dùng hai chỉ tiêu chính:
- Tỷ lệ các hộ nghèo tuyệt đối trên tổng số hộ của vùng.
- Thu nhập bình quân một thành viên trong một hộ gia đình của vùng.

*
370USD là tính theo PPP
Ngoài ra còn có thể kết hợp với một số chỉ tiêu khác như:
- Bình quân lương thực tính trên một nhân khẩu nông nghiệp
- Số kilômét đường giao thông trên một nhân khẩu nông nghiệp
- Tổng mức hàng hoá lưu thông (nhập, xuất) trong vùng tính theo đầu
người.
- Tỷ lệ người biết chữ, tỷ lệ trẻ em đến trường.
- Tỷ lệ y, bác sĩ, giường bệnh trên một nghìn người dân.
- Tuổi thọ bình quân.
Các chuẩn mực để xác định vùng nghèo:
- Tỷ lệ các hộ nghèo từ 60% trở lên.
- Bình quân thu nhập của một thành viên trong hộ gia đình của cả vùng
hơn mức thu nhập trung bình của một thành viên của một hộ gia đình trong cả
nước.
Ngoài ra cũng có thể dùng thêm một số chỉ tiêu phụ như:
- Bình quân lương thực tính trên đầu người dân nông nghiệp dưới

200kg/năm.
- Số kilômét đường giao thong trên một kilômét vuông nhỏ hơn 1/3 mức
trung bình của cả nước.
- Mức trung bình điện năng, tiền vốn trên một lao động nhỏ hơn 1/3 mức
trung bình của cả nước.
- Tỷ lệ mù chữ cao hơn 1,5 lần mức trung bình của cả nước.
- Tỷ lệ y, bác sĩ, giường bệnh trên một nghìn dân thấp hơn 1/3 mức trung
bình của cả nước.
Nguồn: Bộ Lao động thương binh - xã hội và Tổng cục thống kê 2000.
Bảng 1.2. Các chỉ tiêu đánh giá nghèo ở cấp cộng đồng
Lĩnh vực Chỉ tiêu
I. Mức sống nói
chung
1. Tỷ lệ số dân nghèo (hoặc số hộ nghèo) trong tổng số hộ
dân (hộ)
2. Giá trị một ngày công lao động trên thị trường lao động
địa phương.
II. Nguồn lực tự
nhiên (ruộng
đất)
3. Diện tích đất canh tác nông, lâm, ngư nghiệp bình
quân/người.
4. Tỷ lệ số hộ không có hoặc có ít ruộng đất (dưới 1/2 mức
trung bình đầu người).
III. Việc làm 5. Tỷ lệ số người lao động thiếu việc làm (trên 3 tháng/năm)
trong tổng số lao động.
6. Tỷ lệ lao động làm trong các ngành nông, lâm, ngư nghiệp
và phi nông nghiệp.
IV. Sức khoẻ 7. Tỷ lệ trẻ em 1-5 tuổi suy dinh dưỡng thể thiếu cân (dưới
80% trọng lượng cần có của độ tuổi).

8. Tỷ lệ chết của trẻ sơ sinh
9. Có hay không trạm y tế xã
10. Số nhân viên y tế (cả công, tư cả y và dược) tính trên
1000 dân.
V. Giáo dục 11. Tỷ lệ người lớn mù chữ
12. Tỷ lệ trẻ em 6-10 tuổi không đi học
13. Số giáo viên hoạt động trên địa bàn tính trên 1000 dân
VI. Nhà ở vệ
sinh



VII: Văn hoá và
giao tiếp
14. Tỷ lệ hộ gia đình ở lều lán và nhà tạm bợ trong tổng số
hộ
15. Tỷ lệ hộ có nguồn nước sạch (giếng, ống dẫn nước sạch)
16. Tỷ lệ hộ có nhà tắm
17. Tỷ lệ hộ có nhà xí hợp vệ sinh
18. Số Kw/h điện tiêu dùng tính trên đầu người/tháng
19. Có hay không có công trình văn hoá quan trọng (nhà văn
hoá, thư viện, loa truyền thanh)
20. Có hay không có chợ.
21. Số máy điện thoại tính trên 1000 dân
VIII. Sự tham
gia của nhân dân
vào các hoạt
động xã hội.
22. Tỷ lệ số thành viên các tổ chức chính trị, xã hội (Đảng,
Đoàn thanh niên, phụ nữ, mặt trận tổ quốc, các hội nghề

nghiệp) trên 1000 dân.
IX. Đời sống và
địa vị của phụ
nữ
23. Tỷ lệ phụ nữ có thai suy dinh dưỡng
24. Số phụ nữ tham gia hoạt động trong các cơ quan nhà
nước và đoàn thể xã hội tại địa phương trên 1000 phụ nữ.
Nguồn: Vũ Tuấn Anh “Những tiêu chuẩn đánh giá mức nghèo ở nông
thôn”, Tạp chí nghiên cứu kinh tế, số 4 năm 1997, trang 38.
Những chỉ tiêu về mức thu nhập ở cấp cộng đồng (làng xã) là phản ánh
mức độ đáp ứng những nhu cầu cơ bản về hàng hoá và dịch vụ công cộng, cả
trong tiêu dùng vật chất lẫn hưởng thụ văn hoá tinh thần.
Nhìn chung hiện nay nước ta dùng hệ thống chỉ tiêu này để đánh giá
nghèo cấp cộng đồng là tương đối hợp lý. Tuy nhiên nó vẫn còn có mặt hạn
chế, chưa nêu bật được chỉ tiêu thu nhập bình quân đầu người để đánh giá về
nghèo. Mặt khác, sau những trận bão khủng khiếp cuối những năm 90 ở Nam
Bộ, nhiều hộ gia đình không có nhu cầu về nhà ở kiên cố, người ta xây dựng
nhà nổi để sống chung với lũ. Hoặc hiện nay nhu cầu về gạo đang có xu
hướng giảm, và cũng có thể rất nhiều hộ gia đình không có nhu cầu về màn
nếu họ ở nhà lầu với máy điều hoà nhiệt độ Những hộ như thế chưa chắc đã
thuộc diện nghèo đói.1.3. Bức tranh nghèo đói toàn cầu
Trong thế kỷ XX, thế giới đã chứng kiến một sự tiến bộ vượt bậc trong
công cuộc xoá đói giảm nghèo và cải thiện phúc lợi ở các nước đang phát
triển, tuổi thọ bình quân đã tăng 20 năm, tỷ lệ chết của trẻ sơ sinh và tỷ lệ sinh
giảm hơn một nửa. Năm 1965 đến năm 1998, thu nhập trung bình tăng hơn
hai lần ở các nước này và riêng trong giai đoạn 1990-1998, số người trong
cảnh cùng cực đã giảm được 78 triệu người. Tuy nhiên, bước sang thế kỷ XXI
nghèo đói vẫn còn là vấn đề rất lớn của toàn cầu. Theo số liệu của WB, trong
số 6 tỷ người của thế giới thì có đến 2,8 tỷ người sống dưới mức 2USD/ngày
và 1,2 tỷ người sống dưới mức 1USD/ngày. Mức độ nghèo đói của toàn thế

giới là rất lớn. Xét theo từng khu vực mức độ này có khác nhau nhưng vẫn nói
lê tính nghiêm trọng của tình hình nghèo đói của từng khu vực cũng như toàn
thế giới. Số liệu thống kê của LHQ năm 1998 cho thấy: Tại Nam Á, có 560
triệu người nghèo (chiếm một nửa tổng số người nghèo trên thế giới). 600
triệu dân đang suy dinh dưỡng, 250 triệu người không được sống trong những
điều kiện vệ sinh cơ bản. Có 1/3 trẻ sơ sinh thiếu cân, 80% số phụ nữ mang
thai lại thiếu máu, 1,8 triệu trẻ em không được tới trường học. Lực lượng trẻ
em phải lao động kiếm sống rất cao. Ví dụ, ở Ấn Độ có khoảng từ 14 đến 100
triệu trẻ em phải lao động. Đông Á là khu vực có GDP tính trên đầu người
tăng trung bình 5%, mức cao nhất thế giới. Tuy vậy, khu vực này vẫn có 170
triệu người nghèo khổ. Tại miền Nam Châu Phi - Xahara có 215 triệu người
nghèo, hơn 80 triệu trẻ em đến tuổi tới trường không được đi học. Hàng năm
có 1,3 triệu ha đất nông nghiệp bị bỏ hoang. Tại các nước Ả Rập, từ năm
1960 đến năm 1993, thu nhập thực tế là 3%/năm, nhưng hiện nay vẫn còn 73
triệu người nghèo, 60 triệu người mù chữ. Tại Mĩ la tinh và vùng Caribê, 150
triệu người nghèo, 56% nông dân không có nước sạch để uống. Tại các nước
nông nghiệp phát triển, GDP thực tế tăng hơn 3%/năm, tuy nhiên vãn có hơn
100 triệu người nghèo, hơn 5 triệu người không có nhà ở và hơn 30 triệu
người nghèo không có việc làm.
Qua những số liệu trên, ta thấy nghèo đói toàn cầu vẫn đang là vấn đề
mang tính bức xúc. Điều này còn được thể hiện ở sự bất bình đẳng cao trên
thế giới, theo số liệu của WB, thu nhập trung bình của 20 nước giàu nhất gấp
37 lần mức thu nhập trung bình của 20 nước nghèo nhất (khoảng cách này đã
tăng gâp đôi trong vòng 40 năm qua). Nếu phân chia toàn bộ dân số thế giới,
và chiếm một lượng của cải vật chất và trình độ tương ứng với mỗi nhóm thì
ta có thể thấy: 20% dân số giàu nhất thế giới chiếm dụng 87,5% GNP; 84,2%
thương mại thế giới; 85,0% tích luỹ; 85,0% đầu tư trong khi đó 20% dân số
nghèo nhất chiếm các chỉ tiêu tương ứng là 1,46%; 0,9%; 0,7% và 0,9%. Rõ
ràng là một nhóm người thì có tất cả còn nhóm kia coi như không có gì.
Các nhà khoa học đã chỉ ra rằng, hiện nay, loài người thực tế đã sản xuất

đủ lương thực, thực phẩm để nuôi sống toàn bộ hành tinh, nếu tính lượng
Kcalo bình quân đầu người. Nhưng vấn đề lại là ở việc phân phối chúng như
thế nào. 20% dân số giàu nhất tiêu dùng 87-90% giá trị sản phẩm của toàn thế
giới, 6% số người giàu nhất đã tiêu dùng 35-40% sản phẩm của thế giới. Do
vậy, nghèo đói, bệnh tật và suy dinh dưỡng có thể coi là điều tất yếu với
nhóm dân số nghèo.
Sự bất bình đẳng cao còn thể hiện giữa các giới, tỷ lệ người nghèo đói
trong giới phụ nữ vẫn trầm trọng hơn nam giới. Phụ nữ chiếm 60% lực lượng
lao động trên thế giới nhưng họ chỉ hưởng 10% thu nhập và sử dụng chưa đầy
1% ruộng đất của thế giới, chiếm 1/6 trong số 6 tỷ người của thế giới hiện
đang thiếu dinh dưỡng. Có từ 20-40% phụ nữ ở các nước đang phát triển
không thể có chế độ ăn phù hợp, 350 triệu phụ nữ không được hưởng dịch vụ
chăm sóc sức khoẻ tối thiểu cần thiết. Riêng khu vực Nam Á, được đánh giá
là nơi có sự phân hoá giàu nghèo chậm hơn cả, thì vẫn còn tới 80% số phụ nữ
mang thai bị thiếu máu, số người thiếu dinh dưỡng lên tới 841 triệu
(1)
.
Qua bức tranh đói nghèo trên của thế giới, ta có thể khẳng định rằng
nghèo đói vẫn là tình trạng mang tính toàn cầu và đang là hiện tượng bức xúc
hiện nay. Báo cáo của Liên hiệp quốc cho rằng, tình trạng đói nghèo trên thế
giới, nguyên nhân chủ yếu do ảnh hưởng của sự khai phá đến kiệt quệ tài
nguyên thiên nhiên, chiến tranh, bùng nổ dân số, phân phối không công bằng
trong xã hội, do các như cầu thiết yếu bị bỏ qua (bảo hiểm xã hội, nguồn
nước, vệ sinh ) do quá tập trung đầu tư vào khu vực quân sự, giảm ngân sách
xã hội, trật tự kinh tế bất hợp lý là trở ngại lớn trên con đường đi lên của các
đang phát triển, đồng thời cũng là một trong những thách thức nghiêm trọng
nhất đối với Liên hiệp quốc.
Đói nghèo còn là nguyên nhân chủ yếu gây nên tình trạng tội phạm, bạo
lực, mất an ninh xã hội. Nó không những mang lại hậu quả kinh tế - xã hội
nghiêm trọng cho các nước đang phát triển mà còn là nguyên nhân quan trọng

của xung đột. Vì vậy, giảm bớt và đi đến xoá đói nghèo đói đã trở thành tiêu
điểm chú ý của toàn nhân loại, trở thành mục tiêu và nhiệm vụ nặng nề của
các tổ chức phi chính phủ và các chính phủ trên thế giới. Tất cả đã và đang áp
dụng mọi biện pháp nhằm ngăn chặn sự gia tăng nghèo đói trên hành tinh
chúng ta.

(1)
Xem báo Nhân dân, 9/1/1996
Chương 2: Các nhân tố ảnh hưởng đến tình trạng nghèo đói ở Việt Nam
2.1. Thực trạng đói nghèo ở Việt Nam
Nghèo đói đang là một trong những vấn đề bức xúc ở Việt Nam cũng
như nhiều nước trên thế giới, đòi hỏi nhà nước và xã hội cần đặc biệt quan
tâm. Sau 15 năm đổi mới xây dựng kinh tế theo hướng nền kinh tế hàng hoá
nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, khuyến khích các thành
phần kinh tế phát triển, Việt Nam đã và đang thu được những kết quả đáng
khích lệ, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, bộ mặt nông thôn có những thay đổi
lớn. Một bộ phận nghèo đói không biết cách làm ăn nhờ sự giúp đỡ của cồng
đồng nay đã thoát khỏi cảnh nghèo. Phúc lợi xã hội, y tế, giáo dục từng
bước được cải thiện và phát triển đảm bảo nhu cầu ngày càng tốt hơn của xã
hội, đặc biệt là nhóm người nghèo đã có sự thay đổi rất lớn. Theo báo cáo của
WB trong cuộc toạ đàm về chuẩn nghèo đói ở Việt Nam, tổ chức tại Hà Nội,
15-16/2/2000 thì tỷ lệ nghèo đói ở Việt Nam năm 1993 là 58,1% giảm xuóng
34,4% năm 1998 và hiện nay còn khoảng 30%. Theo Bộ LĐTBXH thì tỷ lệ
nghèo đói của Việt Nam là 26,0% năm 1993 giảm xuống 15,7% năm 1998 và
hiện nay còn khoảng 11%. Qua các số liệu thống kê trên ta thấy, dù đánh giá
tỷ lệ nghèo đói của Việt Nam bằng phương pháp nào thì Việt Nam vẫn có tốc
độ giảm nghèo rất nhanh, đã từng được cộng đồng quốc đánh giá có một trong
những nước có, tốc độ giảm nghèo nhanh nhất thế giới. Tuy nhiên, xét trên
tổng thể, Việt Nam vẫn là một nước nghèo, phân hoá giàu nghèo giữa các
vùng, giữa các thành thị và nông thôn, giữa các tầng lớp dân cư ngày càng có

xu hướng gia tăng và gay gắt. Trong báo cáo chính trị tại đại hội VIII Đảng
cộng sản Việt Nam cũng đã chỉ rõ: “Đến nay nước ta vẫn là một trong những
nước nghèo nhất trên thế giới, trình độ phát triển kinh tế, năng suất lao động,
hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp, cơ sở vật chất kỹ thuật còn lạc hậu, nợ nần
nhiều, việc làm là vấn đề đặt ra hết sức gay gắt. Sự phân hóa giàu nghèo giữa
các vùng, giữa thành thị và nông thôn, giữa các tầng lớp dân cư tăng nhanh.
Đời sống một bộ phận nhân dân, nhất là ở một số vùng căn cứ cách mạng và
kháng chiến cũ, vùng đồng bào dân tộc còn quá khó khăn”.
 So sánh nghèo đói theo vùng
Bảng 2.1. Diễn biến nghèo đói theo vùng ở Việt Nam
Vùng 1996 1997 1998

Số hộ nghèo
đói
Tỷ lệ Số hộ
nghèo đói
Tỷ lệ Số hộ
nghèo đói
Tỷ lệ
1. Miền núi và Trung
du Bắc bộ
695.503 27,24 638.400 25,32 570.445 22,89
2. Đồng bằng sông
Hồng
330.519 11,01 302.460 9,81 272.160 8,38
3. Bắc Trung bộ 609.372 30,80 544.926 27,84 500.225 24,62
4. Duyên hải miền
Trung
413.660 23,14 358.260 22,44 291.815 17,8
5. Tây Nguyên 188.876 29,45 180.400 27,84 172.915 25,65

6. Đông Nam Bộ 116.728 6,17 103.900 5,50 91.400 4,75
7. Đồng bằng sông
Cửu Long
502.912 16,25 190.750 15,60 189.090 15,37
Cả nước 2.857.122 19,23 2.622.906

17,68 2.387.050

15,7
Nguồn: Nguyễn Hải Hữu “Nghèo đói ở Việt Nam. Chính sách và giải
pháp”. Hội thảo, toạ đàm về chuyển đổi nông nghiệp ở Việt Nam. Việc làm
và xoá đói giảm nghèo. Bộ LĐTB-XH, năm 1999.
Qua số liệu trên cho thấy tỷ lệ nghèo đói ở các vùng cũng có sự khác biệt
đáng kể. Vùng Bắc Trung Bộ (24,62%) và vùng Tây Nguyên (25,65%) là hai
vùng có tỷ lệ nghèo đói cao nhất, vùng Đông Nam Bộ có tỷ lệ nghèo đói thấp
nhất 4,75%. Ở đây có sự chênh lệch giữa các vùng có tỷ lệ nghèo đói cao với
vùng có tỷ lệ nghèo đói thấp gần 5 lần. Đồng thời cũng dễ dàng nhận thấy
người nghèo tập trung nhiều nhất ở vùng trung du và miền núi phía Bắc
570.145 hộ chiếm 23,9%, tiếp đến vùng Bắc Trung Bộ có 500.225 hộ chiếm
20,9%, Đồng bằng sông Cửu Long có 489.050 hộ chiếm 20,51%, cả bốn vùng
còn lại chỉ chiếm 34,7%.
Xét trong từng vùng, giữa các tỉnh tỷ lệ nghèo đói cũng sự khác biệt. Tại
vùng Tây Nguyên, tỷ lệ nghèo đói của Lâm Đồng là 15,89%; Đắc Lắc là
26,44%; nhưng Gia Lai là 44,85% và Kon Tum là 54,4%. Tỷ lệ này chênh
lệch tới 3,4 lần giữa tỉnh có tỷ lệ nghèo đói cao nhất so với tỉnh có tỷ lệ nghèo

×