Tải bản đầy đủ (.doc) (21 trang)

Một số vấn đề về khấu hao tài sản cố định trong doanh nghiệp hiện nay.DOC

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (158.77 KB, 21 trang )

lời Mở đầu
Tài sản cố định là bộ phận cơ bản tạo nên cơ sở vật chất kĩ thuật của nền kinh
tế quốc dân, đồng thời cũng là bộ phận quan trọng của vốn kinh doanh. Tài sản cố
định là vốn sống còn đối với sự tồn tại của bất cứ doanh nghiệp nào. Nó không những
sản xuất, trình độ trang bị cơ sở vật chất kĩ thuật và ứng dụng khoa học tiến bộ vào
sản xuất mà còn phản ánh đợc bộ phận kinh doanh của doanh nghiệp. Tài sản cố
định, xét về mặt tồn tại nó là điều kiện cần có để doanh nghiệp đợc thành lập, xét về
mặt phát triển thì nó là điều kiện cần thiết để tiết kiệm sức lao động và nâng cao năng
suất lao động. Do vậy, tài sản cố định giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình
sản xuất kinh doanh để tạo ra hàng hóa và dịch vụ. Mặt khác, vai trò của tài sản cố
định không chỉ dừng lại ở việc đánh gía mức độ sử dụng tài sản cố định mà nó đòi hỏi
xem xét đến cả tính hiệu quả của quản lý và mức độ sử dụng tài sản cố định. Khấu
hao tài sản cố định là một trong các nội dung chính trong việc quản lý và sử dụng tài
sản cố định. Việc trích và lập quỹ khấu hao tài sản cố định nh thế nào đều có ảnh h-
ởng lớn đến quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Nhận thức đợc tầm quan trọng của vấn đề khấu hao tài sản cố định trong doanh
nghiệp, em xin nghiên cứu đề án Một số vấn đề về khấu hao tài sản cố định trong
doanh nghiệp hiện nay để từ đó rút ra đợc những kiến thức cơ bản phục vụ cho quá
trình học tập của mình.
1
Nội dung
I -Tài sản cố định và đặc điểm tài sản cố định:
Để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp phải có 3 yếu
tố: T liệu lao động, đối tợng lao động và sức lao động. Tài sản cố định là t liệu lao
động, là một trong 3 yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất, tuy nhiên không phải tất cả
các t liệu lao động của doanh nghiệp đều là tài sản cố định mà một t liệu lao động
muốn trở thành tài sản cố định phải thỏa mãn 2 yếu tố về thời gian và giá trị đầu t.
1. Khái niệm về tài sản cố định:
Theo chuẩn mực kế toán quốc tế 16 (IAS 16 ), Tài sản đợc sử dụng trong quá
trình sản xuất, cung cấp hàng hoá dịch vụ, hoặc cho các mục đích hành chính và có
thời gian sử dụng nhiều hơn một kì kế toán đợc gọi là tài sản cố định.


Chế độ kế toán hiện hành của từng quốc gia thờng quy định cụ thể tiêu chuẩn về
giá trị của tài sản cố định tuỳ theo điều kiện kinh tế, yêu cầu quản lý và trình độ quản
lý kinh tế trong từng thời kỳ nhất định.
Xét về hình thái vật chất, tài sản cố định ở doanh nghiệp gồm có tài sản cố định
hữu hình và tài sản cố định vô hình.
Theo quyết định số 166/ 1999/QĐ - BTC ngày 30/12/1999 của bộ trởng bộ tài
chính.
Tiêu chuẩn và nhận biết tài sản cố định:
a. Tiêu chuẩn và nhận biết tài sản cố định hữu hình:
Mọi t liệulao động là từng tài sản hữu hình có kết cấu độc lập hoặclà một hệ
thống gồm nhiều bộ phận tài sản riêng lẻ liên kết với nhau để cùng thực hiện một hay
một số chức năng nhất định mà nêú thiếu bất kỳ một bộ phận nào trong đó thì cả hai
hệ thống không thể hoạt động đợc, nếu thoả mãn đồng thời hai tiêu chuẩn dới đây thì
đợc coi là tài sản cố định.
- Có thời gian sử dụng từ một năm trở lên.
- Có giá trị từ 5.000.000 đ (năm triệu đồng) trở lên.
Trờng hợp một hệ thống gồm nhiều bộ phận tài sản riêng lẻ liên kết với nhau,
trong đó một bộ phận cấu thành có thời gian sử dụng khác nhau và nếu thiếu một bộ
phận nào đó mà cả hệ thống vẫn thực hiện đợc chức năng hoạt động chính của nó mà
do yêu cầu quản lý, sử dụng tài sản cố định đòi hỏi phải quản lý riêng từng bộ phận
tài sản thì mỗi bộ phận tài sản đó đợc coi là một tài sản cố định hữu hình độc lập ( ví
dụ ghế ngồi, khung và động cơ... trong một máy bay).
Đối với súc vật làm việc và/ hoặc cho sản phẩm thì từng con súc vật đợc coi là
tài sản cố định hữu hình.
2
Đối với vờn cây lâu năm thì từng mảnh vờn cây đợc coi là một tài sản cố định
hữu hình.
b.Tiêu chuẩn và nhân biết tài sản cố định vô hình:
Mọi chi phí thực tế mà doanh nghiệp đã chi ra thoả mãn đồng thời cả hai điều
kiện quy định tại khoản 1 điều này, mà không hình thành tài sản cố định hữu hình thì

đợc coi là tài sản cố định vô hình. Nếu khoản chi phí này không đồng thời thoả mãn
cả hai tiêu chuẩn nêu trên thì đợc hạch toán trực tiếp hoặc đợc phân bố dần vào chi
phí kinh doanh của doanh nghiệp.
Có thể khẳng định trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nói
riêng và của toàn bộ nền kinh tế nói chung, tài sản cố định là cơ sở vật chất có ý
nghĩa và vai trò quan trọng, là cơ sở để doanh nghiệp tồn tại và phát triển trên thị tr-
ờng.
Qua những phân tích trên, chúng ta có thể rút ra định nghĩa về tài sản cố định
trong Doanh nghiệp nh sau:
"Tài sản cố định trong các doanh nghiệp là những t liệu lao động chủ yếu, mà
đặc thù của chúng là tham gia nhiều chu kỳ sản xuất. Trong quá trình đó, giá trị của
tài sản cố định không bị tiêu hao hoàn toàn trong lần sử dụng đầu tiên mà nó đợc
chuyển dịch sang chu kỳ sản xuất tiếp theo."
2. Đặc điểm của tài sản cố định:
Trong quá trình sản xuất, mặc dù tài sản cố định bị hao mòn, xong chúng vẫn
giữ nguyên đợc hình thái vật chất ban đầu. Chỉ khi nào chúng bị hao mòn, h hỏng
hoàn toàn hoặc xét thấy không có lợi về mặt kinh tế thì khi đó mới cần đợc thay thế,
đổi mới. Cụ thể:
Về mặt hiện vật: Tài sản cố định tham gia hoàn toàn và nhiều lần trong sản
xuất, nhng giá trị sử dụng giảm dần cho đến khi h hỏng hoàn toàn loại ra khỏi sản
xuất.
Về mặt giá trị: Tài sản cố định đợc biểu hiện dới hai hình thái:
- Một bộ phận giá trị tồn tại dới hình thái ban đầu gắn với hiện vật tài sản cố
định.
- Một bộ phận giá trị chuyển vào sản phẩm mà tài sản cố định sản xuất ra và bộ
phận này sẽ chuyển hoá thành tiền khi bán đợc sản phẩm.
Bộ phận thứ nhất ngày càng giảm, bộ phận thứ hai ngày càng tăng cho đến khi
bằng gía trị ban đầu của tài sản cố định thì kết thúc quá trình vận động. Nh vậy khi
tham gia vào quá trình sản xuất, nhìn chung tài sản cố định không bị thay đổi hình
thái hiện vật nhng tính năng công suất bị giảm dần, tức là nó bị hao mòn và cùng với

sự giảm dần về giá trị sử dụng thì giá trị của nó cũng bị giảm đi. Bộ phận giá trị
3
hao mòn đó đã chuyển vào giá trị sản phẩm mà nó sản xuất ra và đợc gọi là khấu hao.
Bên cạnh đặc điểm nêu trên, một t liệu lao động chỉ đợc coi là tài sản cố định
khi nó là sản phẩm của lao động. Do đó, tài sản cố định không chỉ có giá trị sử dụng
mà còn có gía trị. Nói cách khác, tài sản cố định phải là một hàng hoá nh mọi hàng
hoá thông thờng khác. Thông qua mua bán trao đổi, nó có thể đợc chuyển quyền sở
hữu, quyền sử dụng từ chủ thể này sang chủ thể khác trên thị trờng t liệu sản xuất.
II. Phân loại và đánh giá tài sản cố định:
1. Phân loại tài sản cố định:
Tài sản cố định có nhiều loại, nhiều thứ có đặc điểm và yêu cầu quản lý khác
nhau. Để việc tính khấu hao tài sản cố định đợc thực hiện một cách thì sự phân loạitài
sản cố định là cần thiết. Nhờ vào việc phân loại chúng ta sẽ biết đợc chất lợng, cơ
cấu của từng tài sản cố định hiện có trong doanh nghiệp để từ đó có thể đa ra các ph-
ơng pháp quản lý tốt: nh đa ra tỷ lệ khấu hao, giá trị năm sử dụng... để thay đổi, cập
nhật công nghệ mới, nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm, khuyến
khích tiêu thụ sản xuất.
Căn cứ vào tính chất của tài sản cố định trong doanh nghiệp, doanh nghiệp tiến
hành phân loại tài sản cố định theo các chỉ tiêu sau:
* Phân loại tài sản cố định theo hình thái biểu hiện:
- Tài sản cố định hữu hình: là những t liệu lao độngchủ yếu có hình thái vật
chất ( từng đơn vị tài sản có kết cấu độc lập hoặc là một hệ thống gồm nhiều bộ phận
tài sản liên kết với nhau để thực hiện một hay một số chức năng nhất định.) có giá trị
lớn và thời gian sử dụng lâu dài, tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh nhng vẫn giữ
nguyên hình thái vật chất ban đầu nh nhà cửa, vật kiến trúc, thiết bị, bao gồm:
Loại 1: Nhà cửa, vật kiến trúc: là tài sản cố định của doanh nghiệp đợc hình
thành sản quá trình thi công xây dựng nh trụ sở làm việc, nhà kho, hàng rào, tháp n-
ớc, sân bãi, các công trình trang trí nhà cửa, đờng sá, cầu cống, đờng sắt, cầu tầu, cầu
cảng...
Loại 2: Máy móc, thiết bị: là toàn bộ các máy móc, thiết bị dùng trong hoạt

động kinh doanh của doanh nghiệp nh máy móc chuyên dùng, thiết bị công tác, dây
chuyền công nghệ, những máy móc đơn lẻ.
Loại 3: Phơng tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn: là các loại phơng tiện vận tải gồm
phơng tiện vận tải đờng sắt, đờng thuỷ, đờng bộ, đờng không, đờng cống và các thiết
bị truyền dẫn nh hệ thống thông tin, hệ thống điện, đờng ống nớc băng tải...
Loại 4: Thiết bị, dụng cụ quản lý: là những thiết bị dụng cụ dùng trong công tác
quản lý hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nh máy vi tính phục vụ quản
4
lý, thiết bị điện tử, thiết bị dụng cụ đo lờng, kiểm tra chất lợng, máy hút ẩm, chống
mối mọt...
Loại 5: Vờn cây lâu năm, súc vật làm việc cho sản phẩm. Là các vờn cây lâu
năm nh vờn cà phê, vờn chè, vờn cao su súc vật làm việc cho sản phẩm.
Loại 6: Các loại tài sản cố định khác: là toàn bộ các tài sản cố định khác cha liệt
kê vào năm loại trên nh tranh ảnh, tác phẩm nghệ thuật.
- Tài sản cố định vô hình: là những tài sản cố định không có hình thái vật chất,
thể hiện một lợng giá trị đã đợc đầu t có liên quan trực tiếp đến nhiều chu kỳ kinh
doanh của doanh nghiệp nh: chi phí thành lập doanh nghiệp, chi phí về đất sử dụng,
chi phí về băng phát minh, bằng sáng chế, bản quyền tác giả.
Phơng pháp phân loại tài sản cố định theo hình thái vật chất sẽ giúp cho ngời
quản lý có một nhãn quang tổng thể về cơ cấu đầu t của doanh nghiệp. Đây là một
căn cứ quan trọng để xây dựng các quyết định đầu t hoặc điều chỉnh phơng hớng đầu
t cho phù hợp với tình hình thực tế: Mặt khác, nhà quản lý có thể dùng phơng pháp
phân loại này để đề ra biện pháp quản lý tài sản, quản lý tài sản, quản lývốn, tính
khấu hao chính xác và hợp lý.
* Phân loại tài sản cố định theo quyền sở hữu:
Theo cách này, tài sản cố định cũng chia thành 2 loại:
- Tài sản cố định tự có: là những tài sản đợc xây dựng, mua sắm hoặc chế
tạo bằng nguồn vốn ngân sách cấp hoặc cấp trên cấp, nguồn vốnvay, nguồn vốn liên
doanh, các quý của doanh nghiệp và các tài sản cố định đợc biếu tặng.
- Tài sản cố định thuê ngoài: Do yêu cầu sử dụng mà doanh nghiệp cần

tài sản cố định tuy cha đủ khả năng tài chính hoặc không cần thiết phải mua. Trong
trờng hợp này, doanh nghiệp sẽ đi thuê tài sản dới hai hình thức:
+ Tài sản cố định thuê tài chính.
+ Tài sản cố định thuê hoạt động
Cách phân loại này cho ta biết cơ cấu tài sản cố định của doanh nghiệp tạo điều
kiện thuận lợi cho việc sử dụng tài khoản cấp I và cấp II một cách hợp lý. Cho dù là
tài sản cố định tự có hay thuê tài chính thì đều phải tính trích khấu hao.
* Phân loại tài sản cố định theo nguồn hình thành tài sản cố định:
Theo cách phân loại này có thể chia ra:
- Tài sản cố định đợc mua sắm đầu t bằng nguồn vốn nhà nớc cấp,
- Tài sản cố định đợc mua sắm đầu t bằngnguồn vốn tự bổ sung,
- Tài sản cố định đợc mua sắm đầu t bằng nguồn vốn liên doanh,
-Tài sản cố định đợc mua sắm đầu t bằng nguồn vốn vay.
Cách phân loại này có ý nghĩa quan trọng giúp chúng ta quyết định sử dụng
nguồn vốn khấu hao hợp lý.
* Phân loại tài sản cố định theo công dụng và tình hình sử dụng:
Theo cách phân loại này, tài sản cố định đợc phân thành các loại sau:
5
- Tài sản cố định dùng trong sản xuất kinh doanh: là tài sản cố định đang thực tế
sử dụng trong các hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị. Những tài sản cố định
này bắt buộc phải trích khấu hao tính vào chi phí sản xuất kinh doanh.
-Tài sản cố định hành chính sự nghiệp: Là tài sản cố địnhcủa các đơn vị hành
chính sự nghiệp ( nh đoàn thể quần chúng, tổ chức y tế...)
- Tài sản cố định phúc lợi: Là những tài sản cố định của các đơn vị dùng cho
nhu cầu phúc lợi công cộng, nh nhà văn hoá, nhà trẻ, câu lạc bộ, nhà nghỉ mát.
- Tài sản cố định chờ sử lý: Bao gồm những tài sản cố định không cần dùng, cha
cần dùng vì thừa so với nhu cầu sử dụng hoặc vì không thích hợp với sự đổi mới quy
trình công nghệ, bị h hỏng, chờ thanh lý, tài sản cố định tranh chấp chờ giải quyết.
Những tài sản cố định này cần xử lý nhanh chóng để thu hồi vốn sử dụng cho việc
đầu t đổi mới tài sản cố định.

Dựa vào cách phân loại này, để có thể biết đợc tình hình sử dụng tài sản cố định
của doanh nghiệp để có thể đa ra các mức khấu hao hợp lý, để thay đổi tài sản cố
định cho phù hợp với sự phát triển nhanh chóng của các tiến bộ khoa học kỹ thuật.
2. Đánh giá tài sản cố định:
a. Việc theo dõi, quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định phải tuân
theo nguyên tắc đánh giá theo nguyên giá. Đánh giá tài sản cố định là bớc khởi đầu
quan trọng và cần thiết để tính và trích khấu hao chính xác, bảo đảm hoàn lại đầy đủ
vốn đầu t và phân tích đợc hiệu quả sử dụng vốn.
Theo thông lệ kế toán Việt Nam; nguyên giá tài sản cố định theo quy định cụ
thể của từng loại tài sản cố định:
+ Nguyên giá tài sản cố định hữu hình
+ Nguyên giá tài sản cố định loại đầu t xây dựng
+ Nguyên giá tài sản cố định loại đợc cấp,đợc chuyển đến.
+ Nguyên giá tài sản cố định loại đợc cho, đợc biếu, đợc tặng, nhận vốn góp liên
doanh, nhận lại vốn góp do phát hiện thừa.
+ Nguyên giá tài sản cố định loại mua sắm
b. Xác định giá trị hao mòn của tài sản cố định:
- Hao mòn tài sản cố định: là sự giảm dần giá trị và giá trị sử dụng của tài sản cố
định do tham gia vào hoạt động kinh doanh, do bào mòn của tự nhiên, do tiến bộ của
khoa học kỹ thuật... trong quá trình hoạt động của tài sản cố định.
- Khấu hao tài sản cố định: là việc tính toán và phân bổ có hệ thống nguyến giá
của tài sản cố định vào chi phí kinh doanh qua thời gian sử dụng của tài sản cố định.
- Số khấu hao luỹ kế của tài sản cố định: là tổng cộng số khấu hao đã trích vào
chi phí kinh doanh qua các thời kỳ kinh doanh của tài sản cố định tính đến thời điểm
xác định.
6
Giá trị hao mòn phản ánh nguồn vốn đầu t coi đã thu hồi đợc ở tài sản cố định ở
một thời điểm nhất định.
Giá trị hao mòn tài sản cố định là khoản chi phí đợc trích định kỳ ( hàng tháng,
hàng quí ) vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ để hình thành một nguồn vốn

nhằm tái đầu t lại tài sản cố định do quá trình sử dụng nó bị hao mòn vô hình và hao
mòn hữu hình.
Khi xác định đợc nguyên giá và giá trị hao mòn của tài sản cố định, kế toán sẽ
xác định đợc giá trị còn lại của tài sản cố định.
- Giá trị còn lại của tài sản cố định: là số vốn đầu t hiện còn trong tài sản ở một
thời điểm nhất định. Giá trị còn lại phản ánh trên cơ sở kế toán đợc xác định bằng
hiệu số giữa nguyên giá tài sản cố định và số khấu hao luỹ kế tài sản cố định tính tới
thời điểm xác định, nó là căn cứ để lập kế hoạch tăng cờng đổi mới tài sản.
III. Kế toán khấu hao tài sản cố định:
1. Khấu hao và bản chất của khấu hao:
* Khấu hao tài sản cố định:
Chúng ta đã biết vai trò của tài sản cố định là cơ sở vật chất kỹ thuật nhằm phục
vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh. Đồng thời, theo quan điểm kinh tế chính trị,
một tài sản cố định chỉ đợc mua khi nó thoả mãn nhu cầu của ngời tiêu dùng tức là tài
sản cố định đó có giá trị sử dụng hay có một lợng hữu dụng. Nhng do đặc điểm của
tài sản cố định là tham gia vào chu kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh nên tài sản cố
định sẽ cung cấp một lợng giá trị sử dụng cho hoạt động của doanh nghiệp trong suốt
thời gian sử dụng dự kiến của nó. Từ đó có thể nói rằng: khi mua tài sản cố định để
sử dụng thì ta cùng đồng nghĩa với việc kinh doanh đã mua một lợng giá trị sử dụng
của tài sản cố định đó để cung cấp cho doanh nghiệp trong một thời gian dài ở tơng
lai. Hoặc nói cách khác doanh nghiệp đã ứng trớc một số chi phí thời điểm mua tài
sản cố định để hy vọng nhận đợc một khối lợng dịch vụ trong tơng lai khi sử dụng tài
sản cố định này. Với kết luận này, giá trị của tài sản cố định đợc mua là một khoản
chi phí ứng trớc thì cần phải tính toán phân bổ chi phí tài sản cố định để thu hồi đợc
chi phí đầu t ban đầu. Quá trình phân bổ chi phí này đợc gọi là khấu hao tài sản cố
định.
Khấu hao tài sản cố định còn là hình thức thu hồi vốn cố định ở tài sản cố định
tơng ứng với giá trị đã bị hao mòn trong kinh doanh nhằm tạo nguồn vốn tái đầu t tài
sản cố định . Phần giá trịhao mòn của tài sản cố định đợc chuyển dịch vào gía trị sản
phẩm mới sản xuất ra, tính vào chi phí kinh doanh , theo tỷ lệ khấu hao nhất định đối

với từng loại tài sản khác nhau và đợc thu hồi dới hình thức tiền khấu hao. Tiền khấu
hao là một bộ phận cấu thành chi phí sản xuất, nó đợc trích ra từ khấu hao khoản thu
nhập bán hàng của xí nghiệp. Số tiền khấu hao này đợc tích lại hình thành quỹ khấu
hao, nhằm mục đích tái sản xuất tài sản cố định.
7
Nh ta đã biết có hai hình thức tái sản xuất tài sản cố định : là tái sản xuất toàn
phần tài sản cố định và tái sản xuất từng phần.Phần quỹ khấu hao là nguồn vốn quan
trọngđể xí nghiệp có thể tự đầu t xây dựng cơ bản, trang bị lại kỹ thuật cho sản xuất,
trả chi phí thay thế tài sản cố định đã bị hao mòn, nó giúp cho xí nghiệp thực hiện đ-
ợc trách nhiệm bảo toàn vốn.
* Bảo toàn vốn
Hiểu đơn giản là vốn không bị tụt hậu trong quá trình sản xuất. Việc bảo toàn
vốn thông qua cơ chế khấu hao, vì vậyviệc tính khấu hao của doanh nghiệp không
những phải tính đủ giá trị hao mòn tài sản cố định mà còn phải tính tóan đủ để bồi
hoàn hao mòn về hiện vật, có nghĩa là đủ để tái sản xuất giản đơn tài sản cố định .
Hơn thế, ở giác độ phát triển vốn cho xí nghiệp, tiền trích khấu hao phải đáp ứng yêu
cầu tái sản xuất mở rộng giúp xí nghiệp có khả năng dùng vốn khấu hao để mua công
nghệ tiên tiến nâng cao chất lợng sản phẩm đủ sức cạnh tranh trên thị trờng. Vì vậy
trích khấu hao không chỉ tính đến hao mòn hữu hình mà còn tính đến cả hao mòn vô
hình nữa.
2. Các phơng pháp tính khấu hao:
Việc tính khấu hao có thể đợc tiến hành theo nhiều phơng pháp khác nhau,
việc lựa chọn phơng pháp khấu hao nào là tuỳ thuộc vào quy định của nhà nớc về
chế độ quản lý tài chính đối với doanh nghiệp và yêu cầu quản lý của doanh
nghiệp . Phơng pháp khấu hao đợc lựa chọn phải đảm bảo thu hồi vốn nhanh, đầy đủ
và phù hợp với khả năng trang trải chi phí của doanh nghiệp .
Có nhiều phơng pháp tính khấu hao tài sản cố định đợc áp dụng rộng rãi, phổ
biến trên toàn thế giới, đặc biệt là nớc có nền kinh tế phát triển. Tuy nhiên các doanh
nghiệp Việt Nam hiện nay chủ yếu chỉ áp dụng một phơng pháp khấu hao là phơng
pháp khấu hao bình quân ( còn gọi là khấu hao đều hay khấu hao đờng thẳng). Phơng

pháp này bắt buộc với các doanh nghiệp nhà nớc theo quyết định 166/1999/ QĐ -
BTC ngày 30/12/1999 của Bộ trởng tài chính.
Sau đây là nội dung phơng pháp khấu hao bình quân và các phơng pháp phổ
biến khác.
a. Phơng pháp khấu hao đờng thẳng.
* Tài sản cố định trong doanh nghiệp đợc trích khấu hao theo phơng pháp khấu
hao đờng thẳng, nội dung nh sau:
Căn cứ các quy định trong chế độ này, doanh nghiệp xác định thời gian sử dụng
của tài sản cố định .
Xác định mức tính khấu hao trung bình hàng năm cho tài sản cố định theo công
thức sau đây:
Mức tính khấu hao Nguyên giá của tài sản cố định
8
Trung bình hàng năm =
Của tài sản cố định Thời gian sử dụng
Nếu doanh nghiệp trích khấu hao cho từng tháng thì lấy số khấu hao phải trích
cả năm chia cho 12 tháng.
* Trờng hợp thời gian sử dụng hay nguyên giá tài sản cố định thay đổi, doanh
nghiệp phải xác định lại mức trích khấu hao trung bình của tài sản cố định bằng cách
lấy giá trị còn lại trên sổ kế toán chia ( : ) cho thời gian sử dụng xác định lại hoặc thời
gian sử dụng còn lại ( đợc xác định là chênh lệch giữa thời gian sử dụng đã đăng ký
trừ (-) thời gian đã sử dụng ) của tài sản cố định .
* Mức trích khấu hao cho năm cuối cùng của thời gian sử dụng tài sản cố định là
hiệu số giữa nguyên gía tài sản cố định và số khấu hao luỹ kế đã thực hiện của tài
sản cố định đó.
Phơng pháp này cố định mức khấu hao theo thời gian nên có tác dụng thúc đây
doanh nghiệp nâng cao năng suất lao động, tăng số lợng sản phẩm làm ra để hạ giá
thành, tăng lợi nhuận. Đồng thời số tiền khấu hao đợc phân bố đều đặn vào giá thành
sản phẩm hàng năm trong suốt quá trình sử dụng tài sản cố định nên nó đảm bảo cho
doanh nghiệp có mức giá thành và lợi nhuận ổn định. Song nhợc điểm của phơng pháp

này là thu hồi vốn chậm không theo kịp mức hao mòn thực tế, nhất là hao mòn vô hình
( do tiến bộ khoa học kỹ thuật ) nên doanh nghiệp không có điều kiện để đầu t, trang bị
tài sản cố định mới.
b. Phơng pháp tính khấu hao theo sản lợng.
Mục đích của việc kế toán chi phí khấu hao là tính nốt phần chi phí hợp lý của
tài sản cố định cho mộtkỳ kế toán sử dụng tài sản cố định đó. Phơng pháp trung bình
tính một phần nh nhau cho các kỳ kế toán. Nếu tài sản cố định đợc sử dụng hầu nh
một lợng nh nhau trong mỗi kỳ kế toán thì phơng pháp này phân bổ rất công bằng
tổng chi phí khấu hao. Nhng trong một số ngành kinh doanh , việc sử dụng tài sản cố
định thay đổi rất nhiều từ kỳ kế toán này sang kỳ kế toán khác. Thí dụ, một công ty
xây dựngcó thể sử dụng một máy móc thiết bị xây dựng chuyên dùng trong tháng này
rồi sau đó không sử dụng nó trong rất nhiều tháng. Đối với các loại tài sản cố định
nh vậy, vì việc sử dụng dao động từ kỳ này sang kỳ khác nên phơng pháp khấu hao
theo sản lợng cung cấp một cách tính hợp lý hơn. Khi phơng pháp sản lợng đợc sử
dụng để tính khâú hao tài sản cố định , chi phí của tài sản cố định sau khi trừ đi giá
trị tận dụng ớc tính đợc đem chia cho sản lợng ớc tính sẽ đợc sản xuất ra trong suốt
thời gian hữu dụng.
Mức khấu hao Sản lợng ì Mức khấu hao bình quân
Phải trích trong tháng = trong tháng trên một đơn vị sản lợng
9

×