Tải bản đầy đủ (.pdf) (108 trang)

Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty cổ phần đầu tư xâu dựng và thương mại 3 2

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (3.15 MB, 108 trang )

1


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DN: Doanh nghiệp
HQKD: Hiệu quả kinh doanh
QT: Quản trị
QTDN: Quản trị doanh nghiệp
KD: Kinh doanh
SXKD: Sản xuất kinh doanh
XDCB: Xây dựng cơ bản
QTKD: Quả trị kinh doanh
BĐS Bất động sản
2


LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Hội nhập quốc tế đã đang và sẽ tạo ra những cơ hội thuận lợi nhưng cũng
đặt ra không ít thách thức, đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải tự thân vận động
mạnh mẽ để phát triển và vươn lên, đẩy lùi nguy cơ tụt hậu ngày càng xa.
Việc các doanh nghiệp trong nước phải đối mặt với những thách thức cũng
như nắm bắt những cơ hội có được từ xu hướng này ra sao là yếu tố quyết
định đến sự tồn tại và phát triển của chính bản thân các doanh nghiệp. Bên
cạnh đó, tác động của quá trình tự do hoá thương mại, mở cửa thị trường với
sức ép ngày càng tăng khi triển khai thực thi các cam kết theo lộ trình hội
nhập. Một lần nữa đặt các Doanh nghiệp nới chung và Công ty cổ phần đầu tư
xây dựng và thương mại 3-2 nói riêng phải có sự đổi mới không ngừng để
nâng cao hiệu quả kinh doanh không những để tồn tại mà còn nâng cao năng
lực cạnh tranh, chủ động hội nhập quốc tế.


Công ty cổ phần đầu tư xây dựng và thương mại 3-2, hoạt động trong
lĩnh vực đầu tư xây dựng. Trong những năm qua đã nhanh chóng đa dạng hoá
hoạt động kinh doanh có những chiến lược kinh doanh đạt hiệu quả cao và có
được nhiều kết quả đáng kích lệ. Song cũng còn khá nhiều bất cập, như: tiến
độ công trình chưa đáp ứng đủ thời gian, tiềm ẩn những yếu tố không vững
chắc trong chiếm lĩnh thị trường, thu hồi công nợ, cơ cấu nguồn vốn chưa hợp
lý, nên chưa tạo được động lực mạnh mẽ để mở rộng hoạt động và nâng cao
khả năng cạnh tranh, hiệu quả kinh doanh chưa cao và bền vững so với khả
năng, Xuất phát từ nhận thức lý luận và thực tiễn trên, tôi quyết định chọn
đề tài: “Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của Công ty cổ
phần đầu tư xây dựng và thương mại 3-2” làm luận án thạc sĩ của mình.
2. Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu lý luận và phân tích thực trạng hiệu quả hoạt động sản xuất
3


kinh doanh của Công ty Cổ phần đầu tư xây dựng và thương mại 3-2 trong
những năm qua để tìm ra nguyên nhân tồn tại của những vấn đề, nhằm đưa ra
những giải pháp phù hợp nâng cao nâng cao hiệu quả kinh doanh của công ty
trong những năm tới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công
ty Cổ phần đầu tư xây dựng và thương mại 3-2 bao gồm những vấn đề lý
luận cơ bản về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp xây dựng, hiệu quả sản
xuất kinh doanh của Công ty cổ phần đầu tư xây dựng và thương mại 3-2
trong những năm đổi mới gần đây. Đồng thời nêu lên những vướng mắc tồn
tại và đề xuất giải pháp cho việc nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh tại
Công ty cổ phần đầu tư xây dựng và thương mại 3-2.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch

sử, các phương pháp lý thuyết hệ thống, thống kê, điều tra, phân tích, dự
báo
5. Kết cấu luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về hiệu quả hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp.
Chương 2: Thực trạng hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của
Công ty cổ phần đầu tư xây dựng và thương mại 3-2.
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động sản
xuất kinh doanh của Công ty cổ phần đầu tư xây dựng và thương mại 3-2.
4


CHƯƠNG 1.
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG
SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP ĐẦU TƯ XÂY
DỰNG
1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DOANH NGHIỆP
1.1.1. Khái niệm doanh nghiệp
Có nhiều quan điểm về doanh nghiệp:
Quan điểm nhà tổ chức: doanh nghiệp là một tổng thể các phương tiện,
máy móc thiết bị và con người được tổ chức lại nhằm đạt một mục đích.
Quan điểm lợi nhuận: doanh nghiệp là một tổ chức sản xuất, thông qua
đó, trong khuôn khổ một tài sản nhất định, người ta kết hợp nhiều yếu tố sản
xuất khác nhau, nhằm tạo ra những sản phẩm và dịch vụ để bán trên thị
trường và thu khoản chênh lệch giữa giá thành và giá bán sản phẩm.
Quan điểm chức năng: doanh nghiệp là một đơn vị sản xuất kinh doanh
nhằm thực hiện một, một số, hoặc tất cả các công đoạn trong quá trình đầu tư
từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện các dịch vụ nhằm mục đích
sinh lợi.

Quan điểm lý thuyết hệ thống: doanh nghiệp là một bộ phận hợp thành
trong hệ thống kinh tế, mỗi đơn vị trong hệ thống đó phải chịu sự tác động
tương hỗ lẫn nhau, phải tuân thủ những điều kiện hoạt động mà nhà nước đặt
ra cho hệ thống kinh tế đó nhằm phục vụ cho mục đích tiêu dùng của xã hội.
“Doanh nghiệp là một đơn vị sản xuất kinh doanh được tổ chức, nhằm
tạo ra sản phẩm và dịch vụ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trên thị trường, thông
qua đó để tối đa hóa lợi nhuận trên cơ sở tôn trọng luật pháp của nhà nước và
quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng”.
Có thể hiểu DN từ định nghĩa tổ chức. Tổ chức là một nhóm có tối thiểu
hai người, cùng hoạt động với nhau một cách qui củ theo những nguyên tắc,
thể chế và các tiêu chuẩn (văn hoá) nhất định, nhằm đặt ra và thực hiện các
mục tiêu chung. Một tổ chức có ba đặc trưng cơ bản là:
5


- Một nhóm người cùng hoạt động với nhau
- Có mục tiêu chung
- Được quản trị theo các thể chế, nguyên tắc nhất đinh. Các nguyên tắc
được quan niệm như là các chuẩn mực, tiêu chuẩn cần thiết để điều hành tổ
chức một cách có trật tự nhằm đạt được các mục tiêu đã đặt ra.
Từ đó có thể hiểu DN là một tổ chức kinh tế hoạt động trong cơ chế thị
trường. Hạn chế của khái niệm này là dựa trên cơ sở định nghĩa tổ chức là
nhóm tối thiểu hai người trong khi không nhất thiết DN cần điều kiện có tới
thiểu hai người.
Cho đến nay ở nước ta người ta vẫn hay có thói quen chỉ định nghĩa DN
theo luật. Trong Luật Doanh nghiệp có giải thích: ''DN là tổ chức kinh tế có
tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh
theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động KD''.
Khái niệm DN ở góc độ luật sẽ mang ý nghĩa chi phối của luật pháp trong khi
chúng ta nghiên cứu DN ở nhiều góc độ khác nhau.

Tuy nhiên, dù dưới cách tiếp cận nào thì doanh nghiệp cũng phải mang
đầy đủ các đặc điểm cơ bản sau đây:
- Mang chức năng sản xuất kinh doanh.
- Tối đa hóa lợi nhuận là mục têu kinh tế cơ bản, bên cạnh các mục tiêu
xã hội.
- Phải chấp nhận sự cạnh tranh để tồn tại và phát triển.
1.1.2. Các loại hình doanh nghiệp.
Tính phổ biến của hoạt động KD và trên cơ sở đó là tính phổ biến của
hoạt động QT trước hết phụ thuộc vào từng loại hình DN. Và mỗi loại hình có
6


những dặc điểm hoạt động đặc trưng. Trên giác độ nghiên cứu, luận văn xem
xét cách phân loại và đặc điểm hoạt động của các loại doanh nghiệp theo một
số tiêu thức sau:
* Căn cứ vào chức năng hoạt động
Căn cứ vào chức năng hoạt động có thể phân thành DN sản xuất, DN
dịch vụ và DN sản xuất và dịch vụ.
- DN sản xuất: DN sản xuất thực hiện sự kết hợp các nguồn lực sản xuất
để tạo ra các sản phẩm cung cấp cho thị trường.
Sản phẩm là các vật phẩm thoả mãn nhu cầu nào đó của con người.
Vì quá trình sản xuất thường tách rời quá trình tiêu dùng sản phẩm nên
cơ cấu sản xuất của mọi DN sản xuất thường là cơ cấu khép kín, quá trình sản
xuất không có sự hiện diện của khách hàng. Chức năng chủ yếu của DN sản
xuất là sản xuất sản phẩm.
- DN dịch vụ: DN dịch vụ là DN thực hiện sự kết lợp các nguồn lực để
tạo ra dịch vụ cung cấp cho khách hàng.
Dịch vụ là một hoạt động hay một lợi ích thường không cụ thể có thể
phục vụ trực tiếp khách hàng hay bán kèm theo sản phẩm. Đa số dịch vụ có
đặc điểm cơ bản là phi vật chất, không dự trữ được nên quá trình hình thành

và cung cấp dịch vụ thường diễn ra đồng thời. Quá trình tạo ra và cung cấp
dịch vụ thường gắn với sự hiện diện của khách hàng.
Để tồn tại và phát triển, con người có nhu cầu và cầu tiêu dùng cả hai
loại sản phẩm và dịch vụ. Xã hội càng phát triển, con người càng có nhu cầu
đa dạng về dịch vụ. Vì vậy giá trị cung cấp dịch vụ ngày càng chiếm tỉ trọng
lớn trong tổng sản phầm quốc nội.
7


- DN sản xuất và dịch vụ: Một số DN vừa thực hiện chức năng sản xuất, vừa
thực hiện chức năng cung cấp dịch vụ. Các DN này là các DN sản xuất và dịch vụ.
Đó thường là các DN sản xuất gắn liền với tiêu thụ sản phẩm, sản xuất gắn liền
với dịch vụ sửa chữa, bảo dưỡng, Trong xu hướng hiện nay một số DN lớn có
thể phát triển theo hướng đa dạng hoá cả các sản phẩm và dịch vụ.
* Căn cứ vào ngành và ngành kinh tế- kĩ thuật
Nếu căn cứ vào tiêu thức ngành kinh tế có thề phân thành các DN công
nghiệp, nông nghiệp, giao thông, thương mại, ngân hàng, bảo hiểm, Sâu
hơn, căn cứ vào các ngành kinh tế - kĩ thuật có thể phân các DN chuyên môn
hoá hẹp hơn. Ví dụ các DN công nghiệp lại được phân thành các doanh
nghiệp cơ khí, luyện kim, hoá chất, dệt may, chế biến thực phẩm, Cũng
hoàn toàn tương tự khi phân các DN ngân hàng thành ngân hàng Công thương
nông nghiệp, đầu tư,
Phân loại DN theo ngành và ngành kinh tế - kĩ thuật là để nghiên cứu
tính đặc thù của hoạt động và các kĩ năng quản trị của từng loại.
* Căn cứ vào hình thức pháp lí
DN không tồn tại chung chung mà luôn tồn tại dưới hình thức pháp lí cụ
thể. Ở mỗi giai đoạn phát triển, mỗi nước đều xác định các hình thức pháp lí
cụ thể của DN. Các hình thức pháp lý của DN nước ta hiện nay bao gồm hợp
tác xã (HTX), doanh nghiệp nhà nước (DNNN), doanh nghiệp tư nhân
(DNTN), công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần (CTCP), công ty hợp

danh (CTHD), nhóm công ty, doanh nghiệp liên doanh (DNLD) và doanh
nghiệp 100% vốn nước ngoài (DNFDI).
* Căn cứ vào hình thức sở hữu
8


Căn cứ vào hình thức sở hữu có:
- DN một chủ sở hữu và DN nhiều chủ sở hữu
- DNNN, DN dân doanh, DN sở hữu hỗn hợp và DN có vốn nước ngoài.
- DN có một chủ sở hữu gồm DNTN và CTTNHH một thành viên:
- Chủ sở hữu là cá nhân: DNTN
- Chủ sở hữu là tổ chức: Có một thành viên.
Ngoài ra, có thể có DNFDI và kinh doanh theo nghi định 66/HĐBT (một
người sở hữu) cũng có thể là DN một chủ sở hữu.
DN có nhiều chủ sở hữu bao gồm HTX, CTTNHH có trên một thành
viên, CTCP, CTHD:
- Chủ sở hữu là các cá nhân: HTX, CTTHHH có trên một thành viên,
CTCP, CTHD.
- Chủ sở hữu là các tổ chức: CTTNHH trên một thành viên mà các tồ
chức cùng nhau thành lập.
Ngoài ra, có thể có DNFDI và KD theo nghị định 66/HĐBT (nhiều
người sở hữu) cũng có thể là DN nhiều chủ sở hữu.
* Căn cứ vào mục tiêu hoạt động chủ yếu
Mặc dù phải theo đuổi đồng thời nhiều mục tiêu hình thành hệ thống
(hàm) mục tiêu song luôn xác định được một mục tiêu bao trùm, lâu dài cho
mọi DN và mục tiêu này thường ổn định. Xét ở góc độ này, có hai loại:
DNKD và DN công ích.
- DNKD: Mặc dù còn nhiều quan điểm khác nhau song có thể khẳng
9



định trong cơ chế kinh tế thị trường mọi DNKD đều nhằm vào mục tiêu bao
trùm, lâu dài là tối đa hoá lợi nhuận ròng. Chỉ trên cơ sở này DN mới có thể
đứng vững trong cạnh tranh, có điều kiện để thực hiện tái sản xuất với qui mô
ngày càng lớn, cải thiện điều kiện làm việc, nâng cao lợi ích của người lao
động và thực hiện các nghĩa vụ với xã hội.
Mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận ròng chi phối hoạt động của DN và từng
bộ phận, cá nhân bên trong nó. Hoạt động quản lý nhà nước và QTKD đều
phải hướng DNKD vào mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận ròng của DN.
- DN công ích: Các DN công ích được hình thành và tồn tại trong nền
kinh tế nhằm vào mục tiêu tối đa hoá lợi ích xã hội, thực hiện các nhiệm vụ
kinh tế, xã hội do Nhà nước giao. Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa mục tiêu này càng cần được chú trọng.
Mục tiêu tối đa hoá lợi ích xã hội chi phối hoạt động của DN công ích và
từng bộ phận, cá nhân của nó. Hoạt động quản lý nhà nước và QTKD đều phải
hướng DN công ích vào mục tiêu tối đa hóa lợi ích xã hội của loại DN này.
* Căn cứ vào qui mô hoạt động .
Căn cứ vào qui mô sẽ có DN qui mô lớn, qui mô vừa và qui mô nhỏ. Có
thể có nhiều quan điểm về tiêu thức phân loại qui mô:
Quan điểm kỹ thuật phân loại qui mô dựa vào năng lực sản xuất phản
ánh ở số lượng sản phẩm, dịch vụ mà DN có thể đáp ứng như sản phẩm,
giường bệnh, số phòng phục vụ, số hành khách, Tuy nhiên, hầu như người
ta không qui ước số lượng bao nhiêu là lớn, vừa hay nhỏ.
Nước ta hiện nay phân loại qui mô dựa trên các tiêu thức vốn và lao
động. Cần chú ý là hai tiêu thức số lượng vốn và lao động có thể mâu thuẫn
10


nhau: DN có vốn lớn có thể sử dụng ít lao động và ngược lại
Các DN có cùng qui mô thường mang các đặc tính giống nhau về hoạt

động và QTKD. Vì vậy phân loại DN theo qui mô có ý nghĩa lớn cả đối với
việc tổ chức hoạt động và tồ chức QTDN cũng như quản lí nhà nước đối với
hoạt động của các DN.
1.2. HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP
1.2.1. Khái niệm hiệu quả kinh doanh
Khái niệm về hiệu quả kinh doanh toàn diện đầy đủ, hiện nay còn nhiều
quan điểm khác nhau, nhưng trong cơ chế kinh tế thị trường, hoạt động kinh
doanh của các doanh nghiệp đều có mục tiêu bao trùm, lâu dài là tối đa hoá
lợi nhuận. Để đạt được mục tiêu này doanh nghiệp phải xác định chiến lược
kinh doanh trong từng giai đoạn phát triển phù hợp với những thay đổi của
môi trường kinh doanh; phải phân bổ hợp lý, quản trị khoa học và thường
xuyên kiểm tra quá trình sử dụng các nguồn lực. Muốn kiểm tra tính hiệu quả
của hoạt động sản xuất kinh doanh phải đánh giá được mức độ sử dụng hợp lý
các nguồn lực của doanh nghiệp.
Mặc dù có sự thống nhất quan điểm cho rằng phạm trù hiệu quả kinh
doanh phản ánh mặt chất lượng của hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp,
nhưng lại khó tìm thấy sự thống nhất trong quan niệm về hiệu quả kinh
doanh.
Xét trên khía cạnh về hiệu quả kinh tế. Có ý kiến cho rằng: ''Hiệu quả
sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng sản lượng một loại hàng hoá mà
không cắt giảm sản lượng của một loại hàng hoá khác. Một nền kinh tế có
hiệu quả nằm trên giới hạn khả năng sản xuất của nó'' . Thực chất quan điểm
này đề cập đến khía cạnh phân bổ có hiệu quả các nguồn lực của nền xuất xã
11


hội. Theo Manfred Kuhn: ''Tính hiệu quả được xác định bằng cách lấy kết quả
tính theo đơn vị giá trị chia cho chi phí kinh doanh'' .
Xét trên giác độ lý thuyết, hiệu quả kinh doanh chỉ có thể đạt được trên
đường giới hạn năng lực sản xuất của doanh nghiệp. Tuy nhiên, để đạt được

mức hiệu quả kinh doanh này sẽ cần rất nhiều điều kiện, trong đó đòi hỏi phải
dự báo và quyết định đầu tư sản xuất theo qui mô phù hợp với nhu cầu thị
trường. Thế nhưng không phải lúc nào điều này cũng trở thành hiện thực.
Từ các quan điểm trên có thể hiểu một cách khái quát: hiệu quả kinh
doanh là phạm trù phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (nhân, tài, vật
lực, tiền vốn) để đạt được mục tiêu xác định. Trình độ sử dụng các nguồn lực
chỉ có thể được đánh giá trong mối quan hệ với kết quả tạo ra để xem xét xem
với mỗi sự hao phí nguồn lực xác định có thể tạo ra kết quả ở mức độ nào.
Từ những ý kiến nêu trên, luận văn rút ra:
Hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp thể hiện qua công thức sau:
H =K/C
Trong đó:
H - hiệu quả kinh doanh
K. Kết quả đạt được.
C. Hao phí nguồn lực để có được kết quả đó.
Hiệu quả kinh doanh phản ánh mặt chất lượng các hoạt động sản xuất
kinh doanh, trình độ sử dụng các nguồn lực sản xuất trong quá trình kinh
doanh của doanh nghiệp trong sự vận động không ngừng của các quá trình
sản xuất kinh doanh, không phụ thuộc vào qui mô và tốc độ biến động của
12


từng nhân tố.
Hiệu quả của việc bỏ ra một số vốn để thu được kết quả cao hơn cũng có
nghĩa là đã có một sự xuất hiện của giá trị gia tăng với điều kiện H>1, H càng
lớn càng chứng tỏ quá trình đạt hiệu quả cao. Để tăng hiệu quả (H), chúng ta
có thể sử dụng các biện pháp như: giảm đầu vào, đầu ra không đổi; hoặc giảm
đầu vào, tăng đầu ra
Hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh được biểu thị bằng các đại
lượng tương đối như: chỉ số % nghĩa là đạt được một khối lượng kết quả đầu

ra doanh nghiệp đã bỏ ra một lượng các yếu tố đầu vào như thế nào, tổ chức
sử dụng các nguồn lực đó ra sao để đạt được kết quả đó. Vì thế, nó được dùng
làm tiêu chuẩn để đánh giá trình độ và chất lượng sản xuất kinh doanh của các
tổ chức kinh tế.
1.2.2. Các loại hiệu quả kinh doanh
Hiệu quả kinh doanh được đánh giá ở nhiều góc độ, đối tượng, phạm vi
và thời kỳ khác nhau. Nên từng góc độ cụ thể xem xét theo từng loại hiệu quả
kinh doanh khác nhau.
* Hiệu quả đầu tư và hiệu quả kinh doanh
Hiệu quả đầu tư là phạm trù phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực để
đạt được các mục tiêu đầu tư xác định. Hiệu quả đầu tư gắn liền với hoạt động
đầu tư cụ thể. Do đó khi đánh giá hiệu quả đầu tư doanh nghiệp cần đánh giá
theo đối tượng đầu tư.
Hiệu quả kinh doanh là phạm trù phản ánh trình độ sử dụng các nguồn
lực để đạt được các mục tiêu kinh doanh xác định. Hiệu quả kinh doanh gắn
liền với hoạt động KD của DN. Do vây trong quá trình KD, DN phải đánh giá
hiệu quả kinh doanh theo thời gian lịch.
13


* Hiệu quả kinh tế - xã hội và hiệu quả kinh doanh
- Hiệu quả xã hội:
Hiệu quả xã hội là phạm trù phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sản
xuất xã hội nhằm đạt được các mục tiêu xã hội nhất định.
Các mục tiêu xã hội thường là giải quyết công ăn, việc làm; xây dựng cơ
sở hạ tầng; nâng cao phúc lợi xã hội, mức sống và đời sống văn hoá, tinh thần
cho người lao động; đảm bảo và nâng cao sức khoẻ cho người lao động; cải
thiện điều kiện lao động, đảm bảo vệ sinh môi trường;
Trước hết các DN công ích với mục tiêu tối đa hóa lợi ích xã hội cần
đánh giá hiệu quả xã hội.

- Hiệu quả kinh tế:
Hiệu quả kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực để đạt các mục
tiêu kinh tế của một thời kỳ nào đó.
Các mục tiêu kinh tế thường là tốc độ tăng trưởng kinh tế; tổng sản phẩm
quốc nội; thu nhập quốc dân và thu nhập quốc dân bình quân;
Hiệu quả kinh tế gắn với nền kinh tế thị trường thuần túy và thường được
nghiên cứu ở giác độ quản lý vĩ mô.
- Hiệu quả kinh doanh:
Hiệu quả kinh doanh là phạm trù phản ánh trình độ sử dụng các nguồn
lực để đạt được các mục tiêu xác định.
Như vậy hiệu quả kinh tế - xã hội và hiệu quả kinh doanh là hai phạm trù
khác nhau, giải quyết ở hai góc độ khác nhau song có quan hệ biện chứng với
nhau. Hiệu quả kinh tế - xã hội đạt mức tối đa là mức hiệu quả thoả mãn tiêu
14


chuẩn hiệu quả Pareto. Trong thực tế, do các DN cố tình giảm CPKD biên cá
nhân làm cho CPKD này thấp hơn CPKD biên xã hội nên có sự tách biệt giữa
hiệu quả kinh doanh và hiệu quả xã hội. Chính vì thế thường cần các giải
pháp can thiệp đúng đắn của Nhà nước.
Tuy nhiên, với tư cách là một tế bào của nền kinh tế - xã hội, các DN có
nghĩa vụ góp phần vào quá trình thực hiện các mục tiêu xã hội. Nghĩa vụ
đóng góp ở mức độ nào là do pháp luật qui định cho từng loại hình DN (kinh
doanh hay công ích) cũng như cho từng hình thức pháp lý của DN. Mặt khác,
xã hội càng phát triển thì nhận thức của con người đối với xã hội cũng dần
thay đổi, nhu cầu của người tiêu dùng không phải chỉ ở công dụng của sản
phẩm mà còn cả các điều kiện khác như an toàn, chống ô nhiễm môi trường,
Vì vậy, càng ngày các DN càng tự giác nhận thức vai trò, nghĩa vụ, trách
nhiệm của mình đối với việc thực hiện các mục tiêu xã hội vì điều này làm
tăng uy tín, danh tiếng của DN và tác động tích cực, lâu dài đến kết quả hoạt

động KD của chính DN. Vì lẽ đó, càng ngày các DN không chỉ quan tâm đến
hiệu quả kinh doanh mà còn càng quan tâm hơn đến hiệu quả xã hội.
* Hiệu quả kinh doanh tổng hợp và hiệu quả ở từng lĩnh vực
- Hiệu quả kinh doanh tổng hợp:
Hiệu quả kinh doanh tổng hợp phản ánh trình độ sử dụng mọi nguồn lực
để đạt mục tiêu của toàn DN hoặc từng bộ phận của nó.
Do tính chất phản ánh trình độ sử dụng mọi nguồn lực nên hiệu quả kinh
doanh tổng hợp đánh giá khái quát và cho phép kết luận tính hiệu quả của
toàn DN (đơn vị bộ phận của DN) trong một thời kỳ xác định.
- Hiệu quả ở từng lĩnh vực hoạt động
15


Hiệu quả ở lĩnh vực chỉ đánh giá trình độ sử dụng dụng một nguồn lực cụ
thể (lao động, vốn cố định và tài sản cố định, vốn lưu động và tài sản lưu
động) theo mục tiêu đã xác định.
Vì tính chất này mà hiệu quả ở từng lĩnh vực hoạt động không đại diện
cho tính hiệu quả của DN, chỉ phản ánh tính hiệu quả sử dụng một nguồn lực
cá biệt cụ thể. Phân tích hiệu quả từng lĩnh vực là để xác định nguyên nhân và
tìm giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực và do đó góp phần nâng
cao hiệu quả kinh doanh của DN.
Trong nhiều trường hợp có thể xuất hiện mâu thuẫn giữa hiệu quả kinh
doanh tổng hợp và hiệu quả ở từng lĩnh vực hoạt động; khi đó chỉ có chỉ tiêu
hiệu quả kinh doanh tổng hợp là phản ánh tính hiệu quả hoạt động của DN; các
chỉ tiêu hiệu quả từng lĩnh vực chỉ có thể phản ánh hiệu quả ở từng lĩnh vực hoạt
động riêng biệt mà thôi.
Giữa hiệu quả kinh doanh tổng hợp và hiệu quả từng lĩnh vực có mối
quan hệ biện chứng: hiệu quả kinh doanh tổng hợp là kết quả ''tổng hợp'' từ
hiệu quả sử dụng các nguồn lực; hiệu quả sử dụng mỗi nguồn lực là điều kiện
tiền đề góp phần tạo ra hiệu quả KD tổng hợp.

* Hiệu quả kinh doanh ngắn hạn và dài hạn
- Hiệu quả kinh doanh ngắn hạn:
Hiệu quả kinh doanh ngắn hạn là hiệu quả kinh doanh được xem xét,
đánh giá ở những khoảng thời gian ngắn như tuần, tháng, quí, năm, vài năm,
- Hiệu quả kinh doanh dài hạn:
Hiệu quả kinh doanh dài hạn là hiệu quả kinh doanh được xem xét, đánh
giá trong khoảng thời gian dài, gắn với các chiến lược, các kế hoạch dài hạn
16


hoặc thậm chí, nói đến hiệu quả kinh doanh dài hạn người ta hay nhắc đến
hiệu quả lâu dài, gắn với quãng đời tồn tại và phát triển của DN.
1.2.3. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả kinh doanh
Nâng cao HQKD là điều kiện sống còn để DN tồn tại, phát triển và thực
hiện mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận.
Mục tiêu bao trùm, lâu dài của mọi DNKD là tối đa hoá lợi nhuận. Để
thực hiện mục tiêu này, DN phải sản xuất sản phẩm dịch vụ cung cấp cho thị
trường; trên cơ sở sử dụng các nguồn lực sản xuất xã hội nhất định. DN càng
tiết kiệm sử dụng các nguồn lực này bao nhiêu sẽ càng có cơ hội để thu được
nhiều lợi nhuận bấy nhiêu. Thông qua đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh
mà biết hiệu quả sử dụng từng nguồn lực và các nguồn lực ở mức độ nào. Từ
đó mới biết chiến lược có còn đúng ở mức độ nào, phân bổ nguồn lực còn
đúng ở mức độ nào,. để điều chỉnh chiến lược kinh doanh. Và việc, đánh giá
và nâng cao hiệu quả kinh doanh là một yêu cầu tất yếu của hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp.
Điều tất yếu nêu trên thể hiện trên những khía cạnh chủ yếu sau:
- Nguồn lực khan hiếm: Các nguồn lực sản xuất xã hội là một phạm trù
khan hiếm, càng ngày người ta càng sử dụng nhiều các nguồn lực sản xuất
vào các hoạt động sản xuất kinh doanh phục vụ các nhu cầu khác nhau của
con người.

- Nhu cầu tiêu dùng của con người ngày càng tăng và đa dạng. Trong
khi các nguồn lực sản xuất xã hội ngày càng giảm thì nhu cầu của con người
lại ngày càng đa dạng và tăng không có giới hạn. Điều này phản ánh qui luật
khan hiếm. Qui luật khan hiếm buộc mỗi DN phải lựa chọn và trả lời chính
xác ba câu hởi: sản xuất kinh doanh cái gì? Sản xuất kinh doanh như thế nào?
17


Và sản xuất kinh doanh cho ai? Vì thị trường chỉ chấp nhận các DN nào quyết
định sản xuất đúng loại sản phẩm với số lượng và chất lượng phù hợp.
- Yêu cầu cạnh tranh ngày càng cao: Mặt khác, KD trong cơ chế kinh tế
thị trường, mở cửa và ngày càng hội nhập, DN phải chấp nhận và đứng vững
trong cạnh tranh. Muốn chiến thắng trong cạnh tranh DN phải luôn tạo ra và
duy trì các lợi thế cạnh tranh: chất lượng và sự khác biệt hoá, giá cả và tốc độ
cung ứng sản phẩm dịch vụ. Để duy trì lợi thế về giá cả DN phải sử dụng tiết
kiệm các nguồn lực sản xuất hơn so với các DN khác. Chỉ trên cơ sở sản xuất
KD với hiệu quả cao, DN mới có khả năng đạt được điều này.
HQKD là phạm trù phản ánh tính tương đối của việc sử dụng tiết kiệm
các nguồn lực sản xuất xã hội nên là điều kiện để thực hiện mục tiêu bao
trùm, lâu dài của DN. HQKD càng cao càng phản ánh việc sử dụng tiết kiệm
các nguồn lực sản xuất. Vì vậy, nâng cao hiệu quả là đòi hỏi khách quan để
DN thực hiện mục tiêu bao trùm, lâu dài là tối đa hoá lợi nhuận.
1.2.4. Hệ thống chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh
1.2.4.1 Nhóm các chỉ tiêu về khả năng sinh lời
Với một doanh nghiệp khi tham gia vào quá trình hoạt động sản xuất
kinh doanh đều đặt mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận lên cao nhất, phải làm sao
để mỗi đồng vốn khi tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh đều mang
lại lợi nhuận cao nhất. Do đó, chỉ tiêu sinh lời là cơ sở quan trọng nhất để
đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty. Dùng chỉ tiêu
sinh lời có thể phản ánh khái quát và cho phép kết luận về hiệu quả kinh tế

của toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh của công ty.
1.2.4.1.1 Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (ROS)
18


Chỉ tiêu này phản ánh trong một đồng doanh thu mà doanh nghiệp thực
hiện trong kỳ có mấy đồng lợi nhuận. Về lợi nhuận có hai chỉ tiêu là lợi nhuận
trước thuế và lợi nhuận sau thuế, do vậy tương ứng cũng có 2 chỉ tiêu tỷ suất
lợi nhuận trước thuế và sau thuế trên doanh thu:
Lợi nhuận trước thuế
Tỷ suất lợi nhuận trước thuế trên doanh thu =
Doanh thu thuần


Lợi nhuận sau thuế
Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên doanh thu =
Doanh thu thuần
Nhìn chung tỷ suất này cao là tốt nhưng không phải lúc nào giá trị của
nó cao cũng tốt. Vì nếu chỉ tiêu này đạt được cao là kết quả của việc giảm giá
thành thì là tốt nhưng nếu cao do giá bán tăng trong trường hợp các yếu tố đầu
vào không thay đổi sẽ làm giảm tính cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị
trường dẫn đến việc tiêu thụ sản phẩm giảm, làm cho doanh thu và lợi nhuận
cũng giảm theo. Do vậy để đánh giá được chỉ tiêu này tốt hay xấu phải đặt nó
vào điều kiện cụ thể, ngành nghề cụ thể, so sánh năm trước với năm sau và so
sánh với các doanh nghiệp cùng ngành.
1.2.4.1.2. Tỷ suất sinh lời của tài sản (ROA)
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng giá trị tài sản mà doanh nghiệp đã huy
động vào sản xuất kinh doanh tạo ra mấy đồng lợi nhuận trước thuế và lãi
vay. Công thức như sau:
Lợi nhuận trước thuế và lãi vay

Tỷ suất sinh lời của tài sản =
Giá trị tài sản bình quân
1.2.4.1.3. Tỷ suất lợi nhuận vốn kinh doanh
19


Tỷ suất lợi nhuận vốn kinh doanh là chỉ tiêu được dùng để đánh giá khả
năng sinh lời của một đồng vốn đầu tư. Chỉ tiêu này phản ánh cứ 1 đồng vốn
sản xuất bình quân được sử dụng trong kỳ tạo ra mấy đồng vốn lợi nhuận.
Nếu tỷ suất này cao chứng tỏ doanh nghiệp làm ăn có lãi và ngược lại tỷ suất
này thấp chứng tỏ doanh nghiệp sản xuất kinh doanh không hiệu quả.
Cũng như chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu, tỷ suất lợi nhuận
vốn kinh doanh cũng thường được tách thành 2 phần trước và sau thuế:
Lợi nhuận trước thuế
Tỷ suất lợi nhuận trước thuế vốn kinh doanh =
Vốn kinh doanh bình quân
Trong hai chỉ tiêu trên, chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận sau thuế vốn kinh
doanh được các nhà quản trị tài chính sử dụng nhiều hơn, bởi lẽ nó phản ánh
số lợi nhuận còn lại được sinh ra do sử dụng bình quân một đồng vốn kinh
doanh (sau khi đã trả lãi vay ngân hàng và thực hiện nghĩa vụ nộp thuế cho
Nhà nước).
1.2.4.1.4. Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu (ROE)
Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu là chỉ tiêu đánh giá mức độ tạo ra lợi
nhuận thuần cho các chủ doanh nghiệp. Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng
vốn mà chủ sở hữu bỏ vào kinh doanh thì mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận
sau thuế. Công thức xác định như sau:
Lợi nhuận sau thuế
Tỷ suất lợi nhuận sau thuế vốn chủ sở hữu =
Vốn chủ sở hữu bình quân
Khi đánh giá phân tích chỉ tiêu này ta có thể so sánh nó với chỉ tiêu tỷ

suất lợi nhuận vốn kinh doanh. Nếu tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu lớn hơn
tỷ suất suất lợi nhuận vốn kinh doanh thì chứng tỏ việc sử dụng vốn vay là
20


hợp lý và có hiệu quả. Ngược lại, chứng tỏ doanh nghiệp sử dụng vốn vay
không hiệu quả, chi phí sử dụng vốn cao, hiệu quả thấp.
Tuy nhiên chỉ tiêu trên có thể phản ánh đầy đủ khả năng sinh lời của
doanh nghiệp nhưng vẫn không phản ánh toàn diện hiệu quả sử dụng vốn của
doanh nghiệp, do đó ta phải đánh giá một cách tổng quát thông qua nhiều chỉ
tiêu khác.
1.2.4.2 Các chỉ tiêu phản ánh năng lực hoạt động
Các chỉ tiêu này dùng để đo lường hiệu quả sử dụng vốn, tài sản của
một doanh nghiệp bằng cách so sánh doanh thu với việc bỏ vốn vào kinh
doanh dưới các tài sản khác nhau. Nhóm các chỉ tiêu này gồm có:
1.2.4.2.1. Số vòng quay của hàng tồn kho:
Số vòng quay của hàng tồn kho là số lần mà hàng hoá tồn kho bình
quân luân chuyển trong kỳ. Số vòng quay của hàng tồn kho càng cao thì việc
kinh doanh được đánh giá càng tốt, bởi lẽ doanh nghiệp chỉ đầu tư cho hàng
tồn kho thấp nhưng vẫn đạt được doanh số cao. Số vòng quay của hàng tồn
kho được xác định theo công thức sau:
Giá vốn hàng bán
Số vòng quay hàng tồn kho =
Hàng tồn kho bình quân
Trong trường hợp nếu không có thông tin về giá vốn hàng bán thì có
thể thay thế bằng doanh thu thuần từ hoạt động sản xuất kinh doanh. Tuy
nhiên, thông tin về vòng quay hàng tồn kho sẽ có chất lượng kém hơn.
1.2.4.2.2. Thời gian 1 vòng quay hàng tồn kho
Phản ánh số ngày trung bình của một vòng quay hàng tồn kho
21



Số ngày trong kỳ
Thồi gian 1vòng quay hàng tồn kho =
Số vòng quay hàng tồn kho
1.2.4.2.3. Vòng quay các khoản phải thu:
Chỉ tiêu này phản ánh tốc độ chuyển đổi các khoản phải thu thành tiền
mặt của doanh nghiệp và được xác định theo công thức:
Doanh thu thuần
Vòng quay các khoản phải thu =
Số dư bình quân các khoản phải thu
Số dư bình quân các khoản phải thu được tính bằng phương pháp bình
quân các khoản phải thu trên bảng cân đối kế toán.
Doanh thu thuần là tổng doanh thu thuần từ ba loại hoạt động: hoạt
động sản xuất kinh doanh, hoạt động tài chính, hoạt động khác.
Vòng quay này càng lớn chứng tỏ tốc độ thu hồi các khoản thu nhanh là
tốt, vì doanh nghiệp không phải đầu tư nhiều vào các khoản phải thu (không
phải cấp tín dụng cho khách).
1.2.4.2.4. Kỳ thu tiền trung bình:
Kỳ thu tiền trung bình phản ánh số ngày cần thiết để thu được các
khoản phải thu (số ngày của một vòng quay các khoản phải thu). Vòng quay
các khoản phải thu càng lớn thì kỳ thu tiền trung bình càng nhỏ và ngược lại.
Tuy nhiên kỳ thu tiền trung bình cao hay thấp nhiều khi chưa thể kết luận
chắc chắn mà còn phải xem xét lại các mục tiêu và chính sách của doanh
nghiệp như: mục tiêu mở rộng thị trường, chính sách tín dụng của doanh
nghiệp…
Kỳ thu tiền trung bình được xác định theo công thức:
360
22



Số vòng quay hàng tồn kho =
Vòng quay các khoản phải thu
Số dư bình quân các khoản phải thu x 360
=
Doanh thu thuần
1.2.4.2.5. Vòng quay vốn lưu động:
Vòng quay vốn lưu động phản ánh trong kỳ vốn lưu động quay được
mấy vòng. Công thức được xác định như sau:
Doanh thu thuần
Vòng quay vốn lưu động =
Vốn lưu động bình quân
1.2.4.2.6. Thời gian một vòng quay vốn lưu động:
Số ngày một vòng quay vốn lưu động phản ánh trung bình một vòng
quay hết bao nhiêu ngày. Công thức được xác định như sau:
360 (ngày)
Thời gian một vòng quay vốn lưu động =
Số vòng quay vốn lưu động
* Hiệu suất sử dụng vốn cố định:
Hiệu suất sử dụng vốn cố định nhằm đo lường việc sử dụng vốn cố
định đạt hiệu quả như thế nào.
Doanh thu thuần
Hiệu suất sử dụng vốn cố định =
Vốn cố định bình quân
1.2.4.2.7. Vòng quay toàn bộ vốn:
Chỉ tiêu này phản ánh vốn của doanh nghiệp trong một kỳ quay được
bao nhiêu vòng. Qua chỉ tiêu này ta có thể đánh giá được khả năng sử dụng tài
sản của doanh nghiệp hoặc doanh thu thuần được sinh ra từ tài sản mà doanh
23



nghiệp đã đầu tư. Vòng quay vốn kinh doanh càng lớn thì hiệu quả đạt được
càng cao. Công thức như sau:
Doanh thu thuần
Vòng quay vốn kinh doanh =
Vốn kinh doanh bình quân
1.2.4.3. Các chỉ tiêu về khả năng thanh toán:
Các chỉ tiêu về khả năng thanh toán cũng phản ánh một phần hiệu quả
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Thông qua các hệ số này, nhà đầu tư,
nhà cung cấp hàng hoá, ngân hàng, các tổ chức tín dụng có thể phân tích được
khả năng thanh toán nợ của doanh nghiệp để đưa ra những quyết sách tài
chính của mình đối với doanh nghiệp.
1.2.4.3.1. Hệ số khả năng thanh toán tổng quát:
Hệ số khả năng thanh toán tổng quát là mối quan hệ giữa tổng tài sản
mà hiện nay doanh nghiệp đang quản lý sử dụng với tổng số nợ phải trả (nợ
dài hạn, nợ ngắn hạn,…)
Tổng tài sản
Hệ số thanh toán tổng quát =
Nợ ngắn hạn và nợ dài hạn
Nếu hệ số này <1 là báo hiệu sự phá sản của doanh nghiệp, vốn chủ sở
hữu bị mất toàn bộ, tổng số tài sản hiện có (tài sản lưu động, tài sản cố định)
không đủ trả số nợ mà doanh nghiệp phải thanh toán.
1.2.4.3.2. Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn:
Hệ số đánh giá khả năng thanh toán là mối quan hệ giữa tài sản ngắn
hạn và các khoản nợ ngắn hạn. Hệ số thanh toán nợ ngắn hạn thể hiện mức độ
đảm bảo của TSLĐ với nợ ngắn hạn. Nợ ngắn hạn là các khoản nợ phải thanh
24


toán trong kỳ, do đó doanh nghiệp phải dùng tài sản thực có của mình để

thanh toán bằng cách chuyển đổi một bộ phận tài sản thành tiền. Trong tổng
số tài sản mà hiện doanh nghiệp đang quản lý, sử dụng chỉ có TSLĐ là dễ
dàng hơn khi chuyển đổi thành tiền. Do đó, hệ số thanh toán nợ ngắn hạn
được xác định theo công thức:
Tổng tài sản
Khả năng thanh toán nợ ngắn hạn =
Nợ ngắn hạn và nợ dài hạn
Hệ số này không phải càng lớn càng tốt, vì khi đó có một lượng TSLĐ
tồn trữ lớn, phản ánh việc sử dụng tài sản không có hiệu quả vì bộ phận này
không vận động, không sinh lời. Tính hợp lý của hệ số phản ánh khả năng
thanh toán nợ ngắn hạn phụ thuộc vào ngành nghề kinh doanh. Ngành nghề
nào mà TSLĐ chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản thì hệ số này lớn và ngược
lại.
1.2.4.3.3. Hệ số khả năng thanh toán nhanh
Các TSLĐ trước khi mang đi thanh toán cho chủ nợ đều phải chuyển
đổi thành tiền. Trong TSLĐ hiện có thì vật tư hàng hoá tồn kho gồm các loại
vật tư, công cụ, dụng cụ, thành phẩm tồn kho chưa thể chuyển đổi ngay thành
tiền, do đó nó có khả năng thanh toán kém nhất. Vì vậy, hệ số đánh giá khả
năng thanh toán nhanh là thước đo khả năng trả nợ ngay các khoản nợ ngắn
hạn của doanh nghiệp trong kỳ không dựa vào việc bán các loại vật tư hàng
hoá. Tuỳ theo mức độ kịp thời của việc thanh toán nợ, hệ số khả năng thanh
toán nhanh có thể được xác định theo công thức:
Tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn – Vật tư HTK
Khả năng thanh toán nhanh =
Tổng số nợ ngắn hạn
25


Chỉ tiêu này phản ánh khả năng thanh toán các khoản nợ trong một
khoảng thời gian ngắn. Nếu hệ số này quá nhỏ thì doanh nghiệp sẽ gặp khó

khăn trong việc thanh toán công nợ, vì vào lúc cần doanh nghiệp có thể buộc
phải sử dụng các biện pháp bất lợi như bán các tài sản với giá thấp để trả nợ.
Tuy nhiên, độ lớn của hệ số này cũng phụ thuộc vào ngành nghề kinh doanh
và kỳ hạn thanh toán của món nợ phải thu, phải trả trong kỳ.
Ngoài ra, dựa vào tính chất có thể chuyển đổi nhanh các khoản tiền và
tương đương tiền như chứng khoán ngắn hạn, thương phiếu, nợ phải thu ngắn
hạn…, ta có hệ số đánh giá khả năng thanh toán nhanh (tức thời):
(Tiền + Tương đương tiền)
Khả năng thanh toán nhanh (tức thời) =
Nợ ngắn hạn
Thông thường hệ số này bằng 1 là lý tưởng nhất.
1.2.4.3.4. Hệ số khả năng thanh toán nợ dài hạn:
Nợ dài hạn là những khoản nợ có thời gian đáo hạn trên 1 năm, doanh
nghiệp đi vay dài hạn để đầu tư hình thành TSCĐ. Số dư nợ dài hạn thể hiện
số nợ dài hạn mà doanh nghiệp còn phải trả cho chủ nợ. Nguồn để trả nợ dài
hạn chính là giá trị TSCĐ được hình thành bằng vốn vay chưa được thu hồi.
Vì vậy, người ta thường so sánh giữa giá trị còn lại của TSCĐ được hình
thành bằng vốn vay với số dư nợ dài hạn để xác định khả năng thanh toán nợ
dài hạn. Hệ số thanh toán nợ dài hạn được xác định theo công thức:
Giá trị còn lại của TSCĐ được hình thành bằng nợ vay
Khả năng thanh toán nợ dài hạn =
Nợ dài hạn

×